Trong những năm qua, cùng với chính sách đổi mới, mở cửa của chính phủ Việt Nam, các tổ chức PCPNN đã vào Việt Nam với số lượng và giá trị viện trợ ngày càng tăng và đã có những đóng góp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ HỒNG THANH
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 - 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học
Hà Nội-2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ HỒNG THANH
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 - 2013
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Mã số: 60310601
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Đình Chỉnh
Hà Nội-2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình này là do tôi thực hiện; các nội dung, số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác; các tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn đầy đủ Nếu có sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả Luận văn
Lê Hồng Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian học Thạc sỹ tại khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, em đã nhận được sự dạy dỗ, tận tình chỉ bảo và truyền đạt kiến thức của các thầy cô giáo trong khoa Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô
Trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn, em xin chân thành cảm ơn PGS TS Lê Đình Chỉnh đã tận tình hướng dẫn, định hướng nghiên cứu, sửa chữa bài viết và động viên em hoàn thành luận văn của mình
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, ủng
hộ, và đặc biệt, cảm ơn lãnh đạo cũng như các anh chị cán bộ tại Ban điều phối viện trợ nhân dân – PACCOM (thuộc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam) – nơi em công tác trước đây, đã cung cấp số liệu, tài liệu, tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn
Thêm một lời cảm ơn trân trọng nữa, em xin gửi đến Giám đốc chương trình Việt Nam và một số chuyên gia, tình nguyện viên cả người Hàn Quốc lẫn người Việt Nam của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc như: Good Neighbors International, Good People International, Global Civic Sharing, Korea – Vietnam Culture Communication Center, Korea Food for the Hungry International,… đã chia sẻ thông tin, cung cấp hình ảnh và nhiệt tình tư vấn trong quá trình em đi nghiên cứu thực tế
Mặc dù đã cố gắng hết sức mình để hoàn thành luận văn song chắc chắn, việc nghiên cứu của em vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế Kính mong các thầy cô và các bạn tham gia góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô trong khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và PGS TS Lê Đình Chỉnh lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, luôn thành công trong công việc và cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội – 2016 Học viên
Lê Hồng Thanh
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Lịch sử nghiên cứu 11
3 Đối tượng nghiên cứu 14
4 Phạm vi đề tài 14
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16
6 Phương pháp nghiên cứu 17
7 Bố cục của đề tài 17
PHẦN NỘI DUNG 18
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 - 2013 18
1.1 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ trên thế giới và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam 18
1.1.1 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ trên thế giới 18
1.1.2 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam 24
1.1.3 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam 33
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013 39
1.2.1 Thành tựu kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013 39
1.2.2 Những vấn đề đặt ra đối với tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013 45
Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 - 2013 50
2.1 Đóng góp trong việc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế 50
Trang 62.1.1 Viện trợ khẩn cấp 50
2.1.2 Hỗ trợ đào tạo dạy nghề 53
2.1.3 Hỗ trợ phát triển nông thôn tổng hợp 54
2.2 Đóng góp trong việc phát triển xã hội 60
2.2.1 Hỗ trợ phát triển y tế 60
2.2.2 Hỗ trợ phát triển giáo dục 63
2.2.3 Hỗ trợ giao lưu văn hóa và thể thao 67
2.2.4 Hỗ trợ bảo vệ tài nguyên môi trường 70
2.2.5 Hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh 71
2.2.6 Hỗ trợ cô dâu Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc 74
2.2.7 Bảo trợ xã hội 77
Tiểu kết chương 2 81
CHƯƠNG 3: PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM 82
3.1 Đánh giá về vai trò của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013 82
3.1.1 Hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội 82
3.1.2 Bổ sung nguồn vốn viện trợ trong tổng vốn đầu tư nước ngoài cho Việt Nam 84
3.1.3 Hỗ trợ phát triển nguồn lực con người 85
3.1.4 Tăng cường quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới 86
3.2 Một số hạn chế trong quá trình hoạt động tại Việt Nam giai đoạn 2003 - 2013 của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc 87
3.2.1 Hạn chế 87
3.2.2 Nguyên nhân 89
Trang 73.3 Một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của các tổ chức phi chính
phủ Hàn Quốc tại Việt Nam trong thời gian tới 92
3.3.1 Về cơ chế quản lý và xúc tiến vận động viện trợ của Việt Nam 92
3.3.2 Về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc 96
3.3.3 Về việc gây quỹ hoạt động 98
3.4 Bài học kinh nghiệm đối với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam 100
Tiểu kết chương 3 104
PHẦN KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 114
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ngân hàng phát triển châu Á
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ECOSOC United Nations Economic and Social Council
Hội đồng kinh tế - xã hội Liên hợp quốc
FAO
Food and Agriculture Organization of the United
Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổng thu nhập quốc gia
ILO International Labour Organization
Tổ chức Lao động quốc tế
KOCHAM Korean Chamber of Commerce & Industry
Hiệp hội thương mại công nghiệp Hàn Quốc
KOICA Korea International Cooperation Agency
Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc
Trang 9KOTRA Korea Trade - Investment Promotion Agency
Cơ quan xúc tiến thương mại đầu tư Hàn Quốc
Những nước kém phát triển
Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
Hỗ trợ phát triển chính thức
PACCOM People’s Aid Coordinarting Committee
Ban Điều phối viện trợ nhân dân
Liên hợp quốc
UNDP United Nations Development Programme
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
Quỹ Dân số Liên hợp quốc
UNIDO United Nations Industrial Development Organization
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
Trang 10USD United States Dollars
Tổ chức Thương mại thế giới
Tên viết tắt của
các tổ chức PCP
Hàn Quốc
Xin xem trong cuốn Phụ lục kèm theo, Danh sách các
tổ chức PCP Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam tính
đến năm 2013, trang 1 – 5
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức của COMINGO
Biểu 1.2 Số lượng các tổ chức PCPNN tại Việt Nam qua các năm (Nguồn:
Số liệu thống kê của PACCOM)
Bảng 1.3 Số lượng các tổ chức PCPNN và tổng giá trị viện trợ giải ngân giai đoạn 2003 -2013 (Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM)
Biểu 1.4 Tỷ lệ viện trợ giải ngân của các tổ chức PCPNN giai đoạn 2003 –
2013 theo lĩnh vực hoạt động, đơn vị tính: % [21, tr 3]
Biểu 1.5 Tỷ lệ viện trợ giải ngân của các tổ chức PCPNN giai đoạn 2003 –
2013 phân theo khu vực địa lý, đơn vị tính: % (Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM)
Biểu 1.6 Số lượng các tổ chức PCP Hàn Quốc so với các tổ chức PCPNN tại Việt Nam, giai đoạn 2003 – 2013 (Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM) Biểu 1.7 Giá trị viện trợ giải ngân của các tổ chức PCP Hàn Quốc so với các
tổ chức PCPNN tại Việt Nam, giai đoạn 2003 – 2013 (đơn vị tính: triệu USD) Bảng 1.8 Danh sách các tổ chức PCP Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2013 (Nguồn: PACCOM)
Biểu 2.1 Giá trị viện trợ khẩn cấp của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam từ năm 2006 – 2013 (đơn vị tính: USD)
Biểu 2.2 Giá trị giải ngân trong lĩnh vực phát triển nông thôn tổng hợp do các
tổ chức PCP Hàn Quốc viện trợ cho Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013 (đơn vị tính: USD)
Biểu 2.3 Giá trị giải ngân các dự án trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2003 – 2013
do các tổ chức PCP Hàn Quốc viện trợ cho Việt Nam (đơn vị tính: USD)
Trang 12Biểu 2.4 Giá trị giải ngân các dự án trong lĩnh vực giáo dục giai đoạn 2003 –
2013 do các tổ chức PCP Hàn Quốc viện trợ cho Việt Nam (đơn vị tính: USD)
Bảng 2.5 Giá trị giải ngân các dự án trong lĩnh vực bảo trợ xã hội giai đoạn
2003 – 2013 do các tổ chức PCP Hàn Quốc viện trợ cho Việt Nam (đơn vị tính: USD)
Biểu 2.6 Tỷ lệ viện trợ giải ngân trong lĩnh vực bảo trợ xã hội của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam, giai đoạn 2003 – 2013 (đơn vị tính: %) Biểu 3.1 Tỷ lệ viện trợ giải ngân của các tổ chức PCP Hàn Quốc theo lĩnh vực giai đoạn 2003-2013 (đơn vị tính: %)
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều biến động lớn, khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng, sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước, các khu vực càng trở nên gay gắt Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu như thiên tai lớn xảy ra thường xuyên và bất quy luật, môi trường suy thoái nghiêm trọng, dân số và đại dịch HIV/AIDS bùng nổ, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột tôn giáo, sắc tộc xảy ra ở nhiều nơi, Kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ và khả năng phục hồi chậm hơn so với dự kiến Trong tình hình đó, nhu cầu về viện trợ nhân đạo, giúp đỡ người nghèo, nạn nhân thiên tai và chiến tranh ngày càng lớn Chính vì vậy, các tổ chức PCP trên thế giới phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng và ngày càng có vai trò quan trọng hơn ở mỗi nước cũng như trên toàn thế giới trong thời gian tới Vị thế của các tổ chức PCP, các tổ chức xã hội dân sự ngày càng được nâng cao trong cộng đồng các nước tài trợ và trên trường quốc tế, đã khẳng định được vai trò trong thúc đẩy phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và tham gia xây dựng chính sách, đảm bảo quyền con người, thúc đẩy quan hệ thương mại bình đẳng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển
Trong những năm qua, cùng với chính sách đổi mới, mở cửa của chính phủ Việt Nam, các tổ chức PCPNN đã vào Việt Nam với số lượng và giá trị viện trợ ngày càng tăng và đã có những đóng góp nhất định cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam
Trong giai đoạn 2003 – 2013, số lượng các tổ chức PCPNN có quan hệ với Việt Nam đã tăng gần gấp đôi, từ 540 tổ chức năm 2003 lên khoảng 990
tổ chức vào năm 2013 Trong đó, 40% là các tổ chức thuộc khu vực Bắc Mỹ,
Trang 1418% là các tổ chức thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương và quốc tế [22,
tr 12] Có thể thấy, quan hệ đối tác giữa Việt Nam với các tổ chức PCP có các quốc tịch khác nhau khá đa dạng, trong đó, khối các tổ chức PCP Hàn Quốc giữ một vị trí khá quan trọng trong khoảng 10 năm trở lại đây
Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc đã có sự phát triển nhanh chóng và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực trong hơn 20 năm qua kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992 và nhất là sau khi nâng cấp quan hệ thành đối tác hợp tác chiến lược năm 2009 Mối quan hệ đó đã, đang và sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước, góp phần tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới Trong mối quan hệ đó, có sự đóng góp không nhỏ từ các tổ chức PCP Hàn Quốc Theo số liệu thống kê (lưu trữ nội bộ) từ Ban Điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM), trong 10 năm qua (2003 – 2013) có khoảng 40 tổ chức PCP Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam với tổng giá trị viện trợ giải ngân đạt gần 60 triệu USD Đó là những đóng góp tuy không lớn nhưng hết sức hiệu quả, thiết thực và đầy ý nghĩa Nghiên cứu về vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc đối với Việt Nam chính là để hiểu sâu hơn về thực tiễn hoạt động của các tổ chức này, cũng chính là một cách nhìn nhận, đánh giá, học hỏi văn hóa chia sẻ cộng đồng từ một quốc gia, một dân tộc khác
Xuất phát từ những lý do thực tiễn trên, trong Luận văn này, tôi thực sự mong muốn nghiên cứu về vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm qua (2003 – 2013) Trên cơ sở đó, đánh giá được những thành tựu cũng như hạn chế trong hoạt động của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam và rút
ra một số đề xuất cho hướng hợp tác bền vững trong thời gian tới giữa Việt Nam với các tổ chức PCP Hàn Quốc để tăng cường hơn nữa mối quan hệ đã
Trang 15được xác định là đối tác hợp tác chiến lược giữa hai quốc gia bạn bè phương Đông có nhiều điểm tương đồng về văn hóa
2 Lịch sử nghiên cứu
Tại Việt Nam, biết và hiểu về hoạt động của các tổ chức PCPNN không
có tính phổ biến, chỉ một số ít cơ quan liên quan và một số ít cá nhân quan tâm cũng như nắm vững Lấy các tổ chức PCPNN làm đối tượng nghiên cứu khoa học lại càng không nhiều Hơn nữa, để nghiên cứu về PCP phải có tính thời sự và cập nhật thông tin thường xuyên, liên tục, do vậy, đòi hỏi những người làm công tác nghiên cứu ở mảng đề tài này phải đầu tư không ít thời gian, công sức Tuy nhiên, nhận thức rõ những đóng góp hết sức tích cực và tiềm năng của các tổ chức PCPNN bên cạnh những nguồn viện trợ khác, cũng
đã có những tổ chức, cá nhân nghiên cứu về vấn đề này
Một số công trình được xuất bản thành sách, cung cấp thông tin chung
về các tổ chức PCP hoạt động tại Việt Nam như:
- Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam [Nguyễn
Văn Thanh (chủ biên); NXB Chính trị quốc gia; 1995] Giới thiệu khái quát
về tổ chức và hoạt động của các tổ chức PCP trên thế giới, tổ chức PCPNN đang hoạt động ở Việt Nam, các dự án mà các tổ chức này thực hiện ở Việt Nam
- Giáo trình quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ: Đào tạo
đại học Hành chính [Phạm Kiên Cường (chủ biên), Hoàng Văn Chức, Đinh
Thị Minh Tuyết; NXB Khoa học và Kỹ thuật; 2010] Khái quát về tổ chức PCP trên thế giới, tổ chức PCP ở Việt Nam Trình bày nội dung quản lí nhà nước đối với các tổ chức PCP
- Các tổ chức phi chính phủ quốc tế: Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và
tác động chủ yếu [Đinh Quý Độ (chủ biên), Phạm Thái Quốc, Nguyễn Mạnh
Trang 16Hùng ; NXB Khoa học xã hội; 2012] Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các tổ chức PCP quốc tế Một số đặc trưng nổi bật và những tác động chủ yếu của các tổ chức PCP quốc tế đối với nền kinh tế và chính trị thế giới Tìm hiểu chính sách của một số quốc gia cũng như kiến nghị về chính sách của Việt Nam đối với các tổ chức PCP quốc tế
- Sổ tay hướng dẫn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
[Đôn Tuấn Phong (chủ biên), Phạm Anh Đào, Đỗ Thị Kim Dung; NXB Chính trị Quốc gia; 2013] Đây là cuốn sổ tay hướng dẫn các tổ chức PCPNN trong việc tiến hành các thủ tục hành chính liên quan đến triển khai hoạt động tại Việt Nam Đây cũng là cuốn sách cũng cung cấp đầy đủ nhất danh mục và thông tin chung về các tổ chức PCPNN đang hoạt động tại Việt Nam
Một số công trình luận văn, luận án nghiên cứu về hoạt động của các tổ chức PCPNN như:
- Huy động nguồn lực phi chính phủ quốc tế trong phát triển kinh tế-xã
hội ở một số nước châu Á đang phát triển [Nguyễn Song Bình; LATS chuyên
ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế, Học viện Khoa học xã hội; năm bảo vệ 2013] Luận án nghiên cứu lý luận liên quan đến các tổ chức PCP
và huy động nguồn lực PCP quốc tế; nghiên cứu điển hình là Trung Quốc, Nepal và Indonesia; đưa ra giải pháp tổng thể cho các đối tượng khác nhau liên quan đến công tác PCP quốc tế ở Việt Nam
- Tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn viện trợ phi
chính phủ của nước ngoài tại Việt Nam [Nguyễn Thị Như Ái; Luận văn thạc
sỹ chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội; năm bảo vệ 2004] Luận văn trình bày tổng quan về nguồn vốn viện trợ PCPNN cũng như vai trò của nguồn vốn này đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; phân tích thực trạng thu hút và sử
Trang 17dụng nguồn vốn viện trợ PCPNN ở Việt Nam, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này đạt hiệu quả cao hơn
- Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam
(1996 – 2006) [Chử Thị Thu Hà; Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Khoa học
Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội; năm bảo vệ 2007] Luận văn trình bày tổng quan về hoạt động của các tổ chức PCP trên thế giới, các tổ chức PCPNN tại Việt Nam; tập trung đánh giá hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam giai đoạn 1996-2006 trong việc hỗ trợ các nguồn lực để giúp xóa đói giảm nghèo, hướng đến sự phát triển bền vững; đưa ra một số nhận xét và đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng công tác quản lý, vận động và sử dụng viện trợ PCPNN trong thời gian tới Nghiên cứu về các tổ chức PCP Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam, có
thể nói đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu hệ thống
và toàn diện về vấn đề này Chỉ đến năm 2014, sau thành công của Hội nghị
Quốc tế lần thứ 3 về hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức PCPNN (tổ chức tại Hà Nội, tháng 11/2013), xác định rõ tầm quan trọng và tiềm năng của việc tranh thủ nguồn viện trợ từ các tổ chức PCP Hàn Quốc, Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) thuộc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) đã tổ chức 2 Hội thảo về hợp tác giữa PACCOM với các tổ chức PCP Hàn Quốc Tại Hội thảo, đại diện một số tổ chức PCP Hàn Quốc, đại diện Cơ quan hợp tác phát triển Hàn Quốc (KOICA) và đại diện PACCOM đã
có một số bài tham luận liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam
Ngoài ra, có một số bài viết trên các tạp chí, trang báo mạng cũng điểm qua về hoạt động viện trợ của các tổ chức PCP Hàn Quốc, nêu lên ý nghĩa
thiết thực của một gói viện trợ cụ thể nào đó, tuy nhiên, chưa có bài báo nào
Trang 18phân tích hay nghiên cứu sâu về hiệu quả viện trợ cũng như vai trò của các
tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam
Như vậy, “Vai trò của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc đối với công
cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn
2003 – 2013” là đề tài nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng góp phần tổng hợp và đi sâu phân tích cũng như rút ra hiệu quả hoạt động và vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu cụ thể và trực tiếp mà đề tài xác định là vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam Để làm bật lên được vấn
đề này, đề tài tập trung vào tìm hiểu và phân tích những đóng góp của các tổ chức PCP Hàn Quốc đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam trong một thập kỷ qua trên mọi lĩnh vực: phát triển kinh
tế, giao lưu văn hóa, giải quyết các vấn đề xã hội,
Chọn mốc nghiên cứu đến năm 2013 cũng là thời điểm liền kề ngay sau
kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hàn Quốc (1992 – 2012)
Trang 19Chúng ta sẽ có chỗ đứng hợp lý để nhìn nhận về thực trạng mối quan hệ này
và đưa ra đánh giá về những hợp tác, chia sẻ trong 10 năm trở lại đây giữa hai nước mà trong đó, đóng góp từ khối các tổ chức PCP Hàn Quốc là không hề nhỏ
Hơn thế nữa, nghiên cứu này cần các số liệu cụ thể, chính xác để làm căn cứ khoa học, cho nên, chọn mốc nghiên cứu 2003 – 2013 cũng chính là để
kế thừa những số liệu được thống kê và công bố tại Hội nghị quốc tế lần thứ 3
về hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức PCPNN (tổ chức ngày 29/11/2013 tại Hà Nội) Hội nghị này được tổ chức 10 năm một lần và cho đến nay đã tổ chức được 3 lần để tổng kết công tác vận động viện trợ PCPNN tại Việt Nam (lần 1: giai đoạn 1983 – 1993 ; lần 2: giai đoạn 1993 – 2003 ; lần 3: giai đoạn 2003 – 2013)
28-Thêm một lưu ý nữa trong phạm vi các tổ chức PCP Hàn Quốc mà đề tài chọn để nghiên cứu là bao gồm các tổ chức có đăng ký hoạt động chính thức tại Việt Nam với cơ quan quản lý và cả những tổ chức chưa đăng ký nhưng thực tế có triển khai các chương trình/ dự án viện trợ cho Việt Nam và được các địa phương hưởng lợi thống kê Ngoài ra, đề tài còn thống kê cả những khoản viện trợ do cá nhân người Hàn Quốc, do một đoàn thể, một quỹ của Hàn Quốc, do chương trình phúc lợi xã hội dân sự của công ty, doanh nghiệp, tập đoàn Hàn Quốc và những khoản viện trợ khác mà có điểm chung
là viện trợ không qua kênh chính phủ, không phải ODA hay FDI Những
khoản viện trợ dạng này có một thuật ngữ gọi là viện trợ “ngoài luồng” và
đều được coi là viện trợ PCPNN, đúng như phạm vi điều chỉnh và đối tượng
áp dụng được nêu rõ trong Nghị định 12/2012/NĐ-CP, ngày 01/3/2012 của
Chính phủ: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài là “các tổ chức phi chính phủ,
tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân, hoặc các hình thức tổ chức xã hội, phi lợi nhuận khác, được thành lập theo luật pháp nước ngoài,
Trang 20có hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác tại Việt Nam” [46, tr 1].
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu sâu về tình hình hoạt động của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam trong 10 năm qua (2003 – 2013), đưa ra các kết luận về vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, nhằm hiểu biết về PCP Hàn Quốc, trân trọng văn hóa chia sẻ cộng đồng cũng như những đóng góp của người Hàn Quốc đối với Việt Nam và đưa ra phương hướng hợp tác chiến lược trong thời gian tới để tranh thủ tối đa nguồn viện trợ tiềm năng này, đồng thời, tăng cường quan hệ ngoại giao, tăng cường sự thân thiết, gắn bó, ủng hộ giữa hai dân tộc, góp phần vào ổn định tình hình khu vực
và hòa bình thế giới
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ đặt ra cho nghiên cứu đề tài này bao gồm:
+ Tìm hiểu khái quát về các tổ chức PCP nói chung và các tổ chức PCP Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2013;
+ Phân tích những đóng góp để làm bật lên vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013;
+ Rút ra các nhận xét về hiệu quả hoạt động của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam trong thời gian tới;
+ Rút ra bài học kinh nghiệm cho các tổ chức PCP Việt Nam
Trang 216 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về vai trò của các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam thông qua việc phân tích sự đóng góp trong mọi phương diện kinh tế - xã hội
là việc nghiên cứu vừa có tính chất toàn diện vừa có tính thời sự và mang tính
xã hội học cao, lại được nhìn dưới góc độ văn hóa, cụ thể là văn hóa giao lưu, hợp tác quốc tế, bởi vậy, đề tài sử dụng kết hợp và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau tùy theo nhiệm vụ giải quyết vấn đề của từng chương mục:
- Phương pháp lịch sử - logic;
- Phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin;
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội
dung đề tài có kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về các tổ chức phi chính phủ và tình hình kinh tế -
xã hội Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013
Chương 2: Thực trạng đóng góp của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2003 – 2013
Chương 3: Phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc tại Việt Nam trong thời gian tới Bài học kinh nghiệm đối với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam
Trang 22PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 - 2013 1.1 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ trên thế giới và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
1.1.1 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ trên thế giới
* Khái niệm
Tên gọi tổ chức phi chính phủ (tiếng Anh: Non-Govermental Organization – NGO; tiếng Pháp: Organisation Non Gouvernementale – ONG) được sử dụng lần đầu tiên từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai với sự
ra đời của Liên hợp quốc Tại Điều 71, chương 10 Hiến chương của Liên hợp quốc có đề cập đến vai trò tư vấn của các TCPCP đối với Hội đồng kinh tế và
xã hội (ECOSOC)
ECOSOC đưa ra định nghĩa đầu tiên về tổ chức PCP quốc tế tại bản
chính sách số 288 (X), tháng 2/1950: “bất cứ tổ chức quốc tế nào không do
các thỏa thuận liên chính phủ lập nên sẽ được coi là một tổ chức phi chính phủ, kể cả các tổ chức chịu nhận những người được các nhà cầm quyền chỉ định làm thành viên, miễn là với tư cách đó, họ không can thiệp vào việc tự
do bày tỏ quan điểm của tổ chức đó”
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về loại hình tổ chức PCP
như sau: “tổ chức PCP là thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ
văn hoá xã hội, uỷ hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân
mà theo pháp luật không thuộc khu vực nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận Loại hình tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận hay nhà thờ” [8, tr 11-12]
Trang 23Năm 1993, Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra
khái niệm cụ thể hơn: “Các tổ chức PCP là những tổ chức tư nhân, tự
nguyện, không vì lợi nhuận và được hỗ trợ ít ra là một phần bởi sự đóng góp
tự nguyện của công chúng” [43]
Như vậy theo các khái niệm trên, tổ chức PCP là tên gọi chung của một loại hình tổ chức hoạt động song song và bổ trợ cho các chương trình kinh tế -
xã hội của nhà nước do nhân dân lập nên trên cơ sở tiền của, công sức của nhân dân Loại hình tổ chức này bao gồm nhiều hình thức tổ chức khác nhau như Hội, Đoàn, Hiệp hội, Quỹ, Câu lạc bộ, Viện, Trung tâm hoặc có thể chỉ
tư trực tiếp (FDI), viện trợ PCP là dạng viện trợ không hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, có thủ tục nhanh gọn và đơn giản Quy mô dự án thường không lớn, thời gian thực hiện thường không dài nhưng đáp ứng kịp thời, sát với nhu cầu và phù hợp với khả năng quản lý, sử dụng của nơi nhận viện trợ Hiện nay, nhiều nước phát triển đã dành một phần viện trợ ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức PCP Số tiền viện trợ thông qua tổ chức PCP khá lớn, ngày một tăng và trên thực tế đã hỗ trợ đáng kể cho các chương trình kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Tổ chức PCP còn nhận sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức tôn giáo, từ các quỹ từ thiện tư
Trang 24nhân, từ ngân sách các chương trình trách nhiệm xã hội dân sự của doanh nghiệp, từ quyên góp với nhiều hình thức khác nhau
Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCP có thể khái quát là: Phát triển
kinh tế - xã hội (gồm: Tài chính vi mô, Dạy nghề, Phát triển nông thôn tổng
hợp, Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống, Phát triển doanh nghiệp,…); Giải quyết các vấn đề xã hội (gồm: Phòng chống buôn bán người, Người khuyết tật, HIV/ AIDS, Khắc phục hậu quả chiến tranh, Giới và bình đẳng giới, Bảo trợ xã hội,…); Xây dựng năng lực tổ chức và hỗ trợ tư pháp; Y
tế (gồm: Khám chữa bệnh miễn phí, Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Dinh
dưỡng, Sức khỏe sinh sản, Xây dựng cơ sở hạ tầng y tế, Giáo dục – Đào tạo y
tế, Nước sạch và vệ sinh,…); Giáo dục – Đào tạo (gồm: Cấp học bổng, Xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục, Tăng cường chất lượng giáo dục, Giáo dục đặc biệt, Đào tạo ngoại ngữ, Đào tạo giáo viên, Đào tạo ở nước ngoài,…); Tài
nguyên – Môi trường (gồm: Biến đổi khí hậu, Phòng ngừa thảm họa môi
trường, Bảo vệ môi trường, Bảo vệ động vật hoang dã, Giáo dục truyền thông
về môi trường,…); và một số lĩnh vực khác như: Viện trợ khẩn cấp, Viện trợ
cá nhân, Tình nguyện viên, Văn hóa - thông tin - truyền thông,…
* Lịch sử hình thành và phát triển
Hoạt động nhân đạo và từ thiện đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, nó gắn với con người có ý thức, với những tín điều thiêng liêng Phương Đông và phương Tây, nhà thờ và đền chùa, Thiên chúa giáo, Phật giáo và Hồi giáo gặp nhau ở khái niệm thiện và ác, khuyến khích điều lành, ngăn ngừa điều dữ Nhiều bộ lạc từ xa xưa đã có quy ước vụ thu hoạch đầu tiên phải dành cho các chức sắc tôn giáo và người nghèo Ông bụt, bà tiên, chuyện Tấm Cám ở phương Đông, ông già Noel và cô bé Lọ Lem ở phương Tây đều thể hiện những ước mơ chung về cái Thiện [29, tr 9] Như vậy, phôi
Trang 25thai của hoạt động từ thiện chính là xuất phát từ lòng nhân ái Đây là hoạt động thể hiện tính nhân văn sâu sắc của con người và phát triển theo sự tiến
bộ của xã hội
Từ 1400 năm trước Công nguyên, những người thợ đẽo đá Ai Cập đã lập quỹ tập thể để cứu trợ khi xảy ra tai nạn Ở Hy Lạp cổ đại, người dân đã đóng nguyệt liễm để giúp vào việc mai táng hoặc khi một thành viên gặp phải khó khăn Những thợ mộc, thợ rèn, thợ gốm, thợ thuộc da thời La Mã tám thế
kỷ trước công nguyên cũng đã lập phường, lập hội tương tế Vào thế kỷ XI và XII, dưới ảnh hưởng của Giáo Hội, nhiều tổ chức từ thiện, cứu trợ ra đời ở Châu Âu, nhất là trong giới thợ thuyền [29, tr 11]
Từ năm 1516, ở phương Tây, những nhà xã hội học không tưởng như Thomas More (1478 – 1535) đã nêu ra ý tưởng về nhà tế bần, nhà nuôi trẻ mồ côi, viện dưỡng lão, lớp dạy nghề,… và sau này đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học Mác, Ăng ghen cũng như đã được Lê Nin, Hồ Chí Minh nhân lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa
Năm 1859, chính phủ Thụy Sỹ nảy ra sáng kiến mời 17 quốc gia hội nghị Geneve để thành lập một tổ chức quốc tế giúp đỡ nạn nhân chiến tranh
và tù binh, chính thức ra đời năm 1864 dưới tên Hội Chữ thập đỏ quốc tế [29,
tr 12] (nay là Hội Chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế)
Tuy có gốc tích từ xa xưa nhưng phải đến sau chiến tranh thế giới lần thứ I và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các tổ chức PCP mới thực
sự trở thành một lực lượng xã hội rộng khắp thế giới, ở cả các nước công nghiệp phát triển lẫn các nước đang phát triển [29, tr 13] Bởi hai cuộc chiến
tranh đế quốc thực sự là những tai họa thảm khốc của nhân loại Con người đứng trước thảm cảnh chết chóc, ly tán, bệnh tật, đói rách Ngoài ra, hậu chiến tranh còn nhiều hiểm họa khác đe dọa cuộc sống con người: môi trường suy
Trang 26thoái, tài nguyên cạn kiệt, khoảng cách giàu nghèo, nợ nần, giá cả, dịch bệnh, dân số,… và những đòi hỏi của một trật tự thế giới mới công bằng
Trước tình hình đó, những tổ chức PCP ra đời mang nhiều tên gọi khác nhau tùy theo mục tiêu khi thành lập: cứu trợ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ môi trường, cứu đói, giúp đỡ người tàn tật, thầy thuốc không biên giới, chữ thập đỏ, một mái ấm cho trẻ bụi đời, cứu giúp người lưu lạc… Nhưng tất
cả các tổ chức đó đều mang những tính chất chung là tự nguyện, không vụ lợi
và không phải do chính phủ lập nên và vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội
Từ thập kỷ 1960 trở lại đây, các tổ chức PCPNN vươn tới các nước kém phát triển ở Mỹ Latinh, châu Phi, châu Á, châu Đại Dương Đồng thời nhân dân các nước này cũng thành lập các tổ chức PCP để góp phần cùng chính phủ giải quyết những vấn đề xã hội Cũng vào thời kỳ này, hoạt động PCP chuyển dần từ cứu trợ nhân đạo sang phát triển, trở thành một trào lưu thế giới rộng khắp, liên kết các tổ chức PCP quốc tế với các tổ chức PCP quốc gia, có ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt quốc tế và đời sống xã hội các nước
Ở Mỹ, năm 1991 có tới 1,2 triệu tổ chức PCP với 260 triệu hội viên và hàng năm quyên góp được hàng trăm tỷ USD Ở Anh, năm 1992 có 400.000
tổ chức PCP trong đó có khoảng 100 tổ chức có hoạt động quốc tế Ở Pháp,
có tới 700.000 hội với 520 tổ chức có hoạt động quốc tế Ở Canada có 40.000
tổ chức vào năm 1988 trong đó có 300 tổ chức hoạt động ở nước ngoài Ở Bỉ
có 50.000 tổ chức, Đức có 4.800 tổ chức, Thụy Sỹ có 26.000 tổ chức…[29, tr
16-17]
Theo số liệu nghiên cứu của một số tổ chức PCP, ở Thái Lan, năm
1984 có khoảng 15.000 hội hoặc quỹ mang tính chất PCP của người Thái; ở Philippines (số liệu chưa đầy đủ) là từ 40.000 đến 50.000 tổ chức; ở
Trang 27Indonesia, số tổ chức PCP địa phương không xác định được cụ thể vì nhiều tổ chức không đăng ký chính thức, tuy nhiên, theo ước tính, Indonesia có khoảng 3.000 đến 4.000 TCPCP quốc gia và địa phương; ở Trung Quốc có 180.000
tổ chức (1993); ở Ấn Độ có tới hàng trăm ngàn tổ chức PCP ở nông thôn Số lượng tổ chức PCP ở Myanmar và Malaysia không nhiều nhưng ngược lại Bangladesh giữ kỷ lục về số lượng tổ chức PCP, nhiều đến mức mà người ta thường nói quá lên rằng nó nhiều tương đương với tỷ lệ dân số, Ở Chi Lê có 27.000 TCPCP, ở Argentina vào đầu năm những năm 1980 có 2.000 tổ chức Phong trào thành lập các tổ chức PCP cũng xuất hiện từ cuối những năm
1970 ở Đông Âu và bùng nổ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở những nước này sụp đổ; Hungary có 6.000 quỹ và 11.000 hội; Ba Lan, Rumani và các nước thuộc Liên Xô cũ cũng xuất hiện hàng loạt các tổ chức PCP Ngay cả Nhật Bản (một nước được coi là chậm phát triển về loại hình tổ chức này) đến năm 1992 đã có 179 TCPCP và đến nay đã lên tới 278 tổ chức [29, tr 32-
34]
Khối lượng viện trợ của các tổ chức PCP cho các nước đang phát triển ngày càng tăng cùng với sự gia tăng về lĩnh vực hợp tác của các tổ chức này Hoạt động của tổ chức PCP đã chuyển theo hướng giảm viện trợ nhân đạo và tăng viện trợ phát triển bền vững Các tổ chức PCP ngày càng đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, môi trường, nhân đạo… tại nhiều nước trên thế giới Các tổ chức PCP đang tham gia sâu vào nhiều lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ phụ nữ, cứu trợ trẻ em,
kế hoạch hóa gia đình, chữ thập đỏ, bảo vệ môi trường… Tiếng nói của tổ chức PCP đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của cộng đồng quốc
tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc, UNDP và đặc biệt các tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như WB và IMF quan tâm Năm 1986, UNDP thành lập riêng một vụ chuyên theo dõi và phối
Trang 28hợp hoạt động với các tổ chức PCP WB hàng năm đều tổ chức các Hội nghị
tư vấn với các tổ chức PCP Hàng nghìn tổ chức PCP có quy chế tham khảo ý kiến với ECOSOC Sự tham gia của các tổ chức PCP trên các diễn đàn khác
về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một tăng, đồng thời tổ chức những diễn đàn riêng của mình song song với những Hội nghị quốc tế Với tiếng nói của mình, tổ chức PCP đã đóng góp đáng kể vào sự thành công của nhiều Hội nghị quốc tế lớn trong những năm qua như Hội nghị thế giới về phụ nữ, Hội nghị thế giới về dân số và phát triển, Hội nghị thượng đỉnh về phát triển xã hội, Hội nghị thế giới về môi trường…
1.1.2 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” xuất hiện ở Việt Nam, đầu tiên dùng trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992, sau đó là Luật Hợp tác xã năm 1996
và một số văn bản pháp quy gần đây
Theo một báo cáo của tổ chức Medical Committee Netherlands – Vietnam (MCNV) thì Secours Populaire Francais có thể là tổ chức PCPNN đầu tiên hoạt động tại Việt Nam vào năm 1948 Còn theo dữ liệu lưu trữ của PACCOM thì tổ chức PCPNN đầu tiên đến Việt Nam là tổ chức CMA (Christian Missionnary Alliance) Tổ chức này đến Việt Nam từ năm 1911 với mục đích chính là truyền giáo sau đó mới là hoạt động từ thiện trong lĩnh vực xã hội Phần lớn các tổ chức PCPNN đến Việt Nam sau cuộc kháng chiến chống Pháp và tăng mạnh khi quân đội Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam Hoạt động của các tổ chức PCPNN trong thời kỳ này là hoạt động mang tính chất nhân đạo và được thực hiện thông qua các phái bộ của Nhà thờ Công giáo La mã Chính vì thế, hầu hết các tổ chức PCPNN đầu tiên đến Việt Nam
là các tổ chức có liên quan đến tôn giáo
Trang 29Sau tháng 7/1954 đến năm 1975, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền với hai chế độ khác nhau Miền Bắc giải phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam trong sự thống trị của đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Sự khác biệt về chế độ chính trị và hoàn cảnh
xã hội giữa hai miền khiến cho tình hình hoạt động của các tổ chức PCPNN ở hai miền không giống nhau
Trước tháng 5 năm 1975, nhiều tổ chức PCPNN đã hoạt động tại miền Nam Việt Nam, chỉ có rất ít tổ chức PCPNN viện trợ cho miền Bắc Việt Nam
Ở miền Nam, từ năm 1954 các tổ chức PCPNN đã vào hoạt động và tăng mạnh khi quân Mỹ ồ ạt đổ quân vào Từ năm 1954 đến năm 1960 có 9 tổ chức PCPNN Riêng hai năm 1965 – 1967, thời gian mà Mỹ đang tiến hành chiến tranh cục bộ, có thêm 19 tổ chức Từ năm 1968 đến 1974 có thêm 18 tổ chức triển khai các chương trình ở miền Nam Việt Nam Tính đến cuối năm
1974, ở miền Nam có tất cả 60 tổ chức PCPNN hoạt động trong đó tổ chức PCP của Mỹ chiếm hơn một nửa với 32 tổ chức [13, tr 35] Các tổ chức này
hoạt động chủ yếu trong vùng Mỹ ngụy chiếm đóng với mục đích chính là cứu trợ những người tị nạn di cư từ Bắc vào Nam Ngoài ra, các tổ chức PCPNN còn tham gia cứu trợ những nạn nhân chiến tranh bằng việc cung cấp lương thực và các dịch vụ y tế Những hoạt động viện trợ đó trên thực tế đã đáp ứng phần nào nhu cầu bức thiết của các khu dân cư và các cộng đồng nghèo Tuy nhiên, bên cạnh những tổ chức thực sự hoạt động mang tính chất nhân đạo, giúp đỡ những người nghèo khổ thì cũng có một số tổ chức PCP của Mỹ hoạt động mang tính chất tiếp tay cho cuộc chiến tranh xâm lược của
đế quốc Mỹ Chính vì thế, phần lớn các chương trình/ dự án của những tổ chức đó được thực hiện gắn với các chiến lược chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Trang 30Các tổ chức PCPNN vào miền Bắc muộn hơn so với miền Nam và với
số lượng khá khiêm tốn Trước năm 1965, miền Bắc chỉ nhận được sự giúp đỡ của các nước XHCN thông qua những hội ái hữu và một số tổ chức PCPNN
có trụ sở ở Geneve và Pari, đã từng có quan hệ với chính phủ miền Bắc Việt Nam thông qua Ủy ban Đoàn kết trong thời kỳ chống Pháp Sau năm 1965, số lượng viện trợ cho miền Bắc Việt Nam từ Hội Hữu nghị của các nước phương Tây bắt đầu xuất hiện và ngày càng tăng lên với các chuyến hàng viện trợ thuốc chữa bệnh và phương tiện y tế của các vùng bị đánh bom
Điều đáng ghi nhận về vai trò của một số tổ chức PCPNN đối với Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 không chỉ là sự giúp đỡ về mặt vật chất mang tính chất cứu trợ cho những nạn nhân của chiến tranh mà còn là sự ủng hộ và giúp đỡ về mặt tinh thần
Sau ngày 30/4/1975, hầu hết các tổ chức PCPNN ở miền Nam đã đóng cửa văn phòng và rút nhân viên về nước Mặc dù vậy, vẫn có một số tổ chức PCPNN sau khi chuyển văn phòng đại diện sang Lào và Thái Lan vẫn tiếp tục cung cấp viện trợ nhân đạo và cứu trợ không thường xuyên cho nhân dân Việt Nam
Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986 là giai đoạn tình hình kinh tế - xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ đầy gian nan và phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua chiến tranh nên càng nặng nền hơn Thêm vào đó, năm 1979 chúng ta phải đối phó với hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc nên tình hình kinh tế ngày càng xấu đi, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn Trong bối cảnh lịch sử như vậy, nhân dân Việt Nam rất cần sự ủng hộ và giúp
đỡ của bạn bè quốc tế
Trang 31Từ năm 1976 đến năm 1978, nhiều tổ chức PCPNN từng hoạt động tại miền Nam giai đoạn trước đã dần trở lại và mở rộng phạm vi hoạt động ra miền Bắc Một số tổ chức PCP quốc tế mới cũng xuất hiện thêm Các tổ chức này đã giúp nhân dân Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh, cứu trợ cho những vùng bị thiên tai, giúp đỡ những người khuyết tật, người từ các trại tị nạn trở về
Đến đầu năm 1979, việc Việt Nam đưa quân giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của Khơ me đỏ đã khiến Mỹ và các nước phương Tây áp dụng chính sách bao vây, cấm vận Nhiều tổ chức bạn bè, đặc biệt là ở phương Tây tỏ ra hoang mang, hoài nghi, cho rằng Việt Nam muốn làm bá chủ Đông Dương khiến Việt Nam bị cô lập trên trường quốc tế Giai đoạn này được coi là điểm thấp nhất trong lịch sử hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam Nhiều tổ chức tạm ngừng hoạt động, một số tổ chức hoạt động cầm chừng
Trong bối cảnh đó, đã có một số tổ chức PCPNN rất nỗ lực giúp đỡ Việt Nam bằng việc vào Việt Nam tìm hiểu tình hình rồi vận động dư luận quốc tế, tuyên truyền cho hình ảnh một đất nước và con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa đồng thời triển khai một số chương trình cứu trợ nhân đạo cho Việt Nam
Nhận thức được ý nghĩa của việc tranh thủ nguồn ủng hộ của bạn bè quốc tế, năm 1979, Bộ Tài chính lập ra Ban tiếp nhận viện trợ để tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận viện trợ từ các tổ chức nước ngoài, trong đó bao gồm cả các tổ chức PCPNN
Cuối năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam để ra chủ trương đổi mới với nhiều chính sách đổi mới, đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, mở ra cơ hội cho các tổ chức PCPNN giúp Việt Nam
Trang 32Tháng 10/1988, tổ chức PCP của Bỉ (CIDSE) trở thành tổ chức PCPNN đầu tiên có đại diện tại Hà Nội Đến năm 1989, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia thì quan hệ của Việt Nam với các nước tài trợ phương Tây đã bình thường hóa trở lại
Giai đoạn trước năm 1989, Việt Nam chưa có một khuôn khổ pháp lý
rõ ràng để điều chỉnh hoạt động của các tổ chức PCPNN Viện trợ PCPNN chủ yếu do Ban tiếp nhận viện trợ thuộc Bộ Tài chính làm thủ tục rồi xin ý kiến Chính phủ Vì vậy, giai đoạn trước 1989, các tổ chức PCPNN chưa có nhiều hoạt động tại Việt Nam, giá trị viện trợ còn rất khiêm tốn, hình thức viện trợ chủ yếu bằng vật chất, viện trợ mang tính chất cứu trợ nhân đạo là chính
Tuy nhiên, cùng với thời gian, Đảng và Nhà nước nhận thấy viện trợ PCPNN là một nguồn lực cần được coi trọng Vì vậy, Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo công tác xây dựng các văn bản pháp quy liên quan tới hoạt động của các tổ chức PCPNN, bắt đầu hình thành khung pháp lý cho hoạt động này
Đầu tiên là Quyết định số 51/HĐBT ngày 25/5/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) giao cho Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam (năm 1994 được đổi thành Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam) làm cơ quan đầu mối trong quan hệ với các
tổ chức PCPNN, đồng thời, giao cho các ngành, địa phương trực tiếp quan hệ
và quản lý viện trợ của các tổ chức PCPNN tại ngành hoặc địa phương mình
Để thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định 51/HĐBT, ngày 10/6/1989, Liên hiệp đã thành lập bộ phận chuyên trách về hoạt động của các
tổ chức PCPNN là Ban Điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM)
Một mốc quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động viện trợ PCPNN là ngày 24/4/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
Trang 3359/QĐ-TTg thành lập Ủy ban Công tác về các tổ chức PCPNN (COMINGO) COMINGO là cơ chế hoạt động liên ngành nhằm giúp Thủ tướng chỉ đạo, giải quyết những vấn đề liên quan đến các tổ chức PCPNN Trong nội bộ COMINGO còn có Nhóm công tác gồm đại diện cấp Vụ của các cơ quan thành viên và tổ công tác 4T để quản lý về hoạt động viện trợ PCPNN tại các địa phương Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và vấn đề Tôn giáo.
Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức của COMINGO
Một bước ngoặt nữa trong công tác quản lý và vận động viện trợ PCPNN ở Việt Nam là việc Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 340/TTg ngày 24/5/1996 ban hành Quy chế về hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam Lần đầu tiên Việt Nam có một quy chế với những quy định khá rõ ràng liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam Theo đó, các tổ chức PCPNN khi vào Việt Nam sẽ có những quyền hạn và nghĩa vụ nhất định Nếu cam kết triển khai hoạt động lâu dài, các tổ chức PCPNN sẽ được cấp Giấy phép hoạt động, Giấy phép lập văn phòng Dự án và Giấy phép
Trang 34lập văn phòng Đại diện, đồng thời trong quá trình hoạt động phải tuân thủ pháp luật Việt Nam
Với việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về hoạt động của các
tổ chức PCPNN tại Việt Nam và việc Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (1995), nhiều tổ chức PCPNN đã tiến hành việc xin cấp phép hoạt động trở lại, hoạt động mới và hoạt động lâu dài tại Việt Nam Các tổ chức cũng liên tục tăng mạnh về số lượng Từ 250 tổ chức năm 1995 lên 400 tổ chức năm 1996 (tăng 60%) và lần lượt tăng thêm vào các năm sau đó Cụ thể, năm
1997 tăng thêm 50 tổ chức (tương đương 13%), năm 1998 tăng 30 tổ chức (tăng xấp xỉ 7%), năm 1999 tăng 2 tổ chức (tăng 0,4%), năm 2000 có 7 tổ chức ngừng hoạt động (giảm so với năm trước 1%) nhưng một năm sau số lượng các tổ chức PCPNN lại tăng mạnh trở lại Năm 2001 có thêm 16 tổ chức mới xin phép hoạt động (tăng lên 3%), năm 2002 tăng thêm 23 tổ chức (tăng xấp xỉ 5%)
Biểu 1.2 Số lượng các tổ chức PCPNN tại Việt Nam qua các năm
(Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM)
Trang 3510 năm trở lại đây (2003 – 2013), hoạt động PCPNN tại Việt Nam diễn
ra sôi nổi hơn, số lượng tổ chức tăng nhanh, giá trị viện trợ ngày càng cao và đóng góp tích cực cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế -
Bảng 1.3 Số lượng các tổ chức PCPNN và tổng giá trị viện trợ
giai đoạn 2003 – 2013 (Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM)
Trong giai đoạn 2003 - 2013, lĩnh vực y tế có giá trị giải ngân hơn 800 triệu USD chiếm 34% tổng giá trị viện trợ, thông qua nhiều chương trình, dự
án và các khoản viện trợ như phát triển hạ tầng y tế, đào tạo cán bộ, hỗ trợ các trung tâm kiểm soát dịch bệnh Các lĩnh vực khác như giải quyết các vấn đề xã hội, phát triển kinh tế và giáo dục chiếm khoảng từ 16-20% giá trị viện trợ, lần lượt đạt hơn 500 triệu USD, hơn 450 triệu và 350 triệu USD
Trang 36Hơn 150 triệu USD được dành cho hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Phần còn lại được phân bổ lần lượt cho các lĩnh vực khác [24, tr 3]
Biểu 1.4 Tỷ lệ viện trợ giải ngân của các tổ chức PCPNN
giai đoạn 2003 – 2013 theo lĩnh vực hoạt động, đơn vị tính: % [24, tr 3]
Hoạt động viện trợ của các tổ chức PCP được triển khai tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở hầu hết các bộ, ban ngành, tổ chức nhân dân Tuy còn ở mức độ khác nhau, tất cả các tỉnh, thành phố và các bộ, ban ngành và tổ chức nhân dân, các tổ chức hội Trung ương đều đã có quan
hệ viện trợ với các tổ chức PCP thuộc các quốc tịch khác nhau Một số tỉnh/thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Khánh Hòa, Thái Nguyên… đã tăng cường hợp tác và giá trị viện trợ PCPNN đạt quy mô khá lớn
Trang 37Biểu 1.5 Tỷ lệ viện trợ giải ngân của các tổ chức PCPNN
giai đoạn 2003 – 2013 phân theo khu vực địa lý, đơn vị tính: %
(Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM)
Ngày 01/3/2012, Chính phủ ban hành Nghị định 12/2012/NĐ-CP thay thế Quyết định 340/TTg trước đây, với một số nội dung cải tiến mới được coi
là một dấu mốc, khép lại chặng đường hoạt động đã qua và mở ra tương lai mới trong hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam Qua 1 năm thực hiện Nghị định 12, COMINGO đã tổ chức Hội nghị Quốc tế lần thứ 3 về hợp tác giữa Việt Nam với các TCPCPNN, nhìn lại quá trình 10 năm hoạt động PCPNN gần đây (2003 – 2013) và có thể khẳng định các tổ chức PCPNN đã hoạt động cũng như đóng góp rất tích cực cho Việt Nam thời gian qua
1.1.3 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam
Năm 1992, Việt Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, từ đó, các tổ chức PCP Hàn Quốc bắt đầu đến và hoạt động tại Việt Nam một cách chính thức, có đăng ký với cơ quan quản lý của Việt Nam Tổ chức PCP Hàn Quốc được cấp Giấy phép Hoạt động tại Việt Nam sớm nhất là năm 1997
Trang 38Thời gian đầu, số lượng các tổ chức PCP Hàn Quốc tại Việt Nam không nhiều, chỉ đạt khoảng trên dưới 10 tổ chức/ năm Sau khi Việt Nam – Hàn Quốc nâng cấp quan hệ thành đối tác hợp tác chiến lược năm 2009, số lượng các tổ chức PCP Hàn Quốc đã bắt đầu tăng dần lên và thường giữ ở mức trên dưới 20 tổ chức hoạt động/ năm
Theo dữ liệu của PACCOM, tính đến năm 2013, có tổng số 40 tổ chức PCP Hàn Quốc có quan hệ và đã đăng ký chính thức hoạt động tại Việt Nam qua cơ sở pháp lý là Giấy phép hoạt động Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó,
có một số tổ chức chỉ hoạt động một vài năm rồi dừng Tính riêng năm 2013, chỉ còn 23 tổ chức PCP Hàn Quốc đang triển khai hoạt động tại Việt Nam So với tổng số các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam, số lượng các tổ chức PCP Hàn Quốc như vậy là chỉ chiếm một phần rất nhỏ, nhưng 10 năm qua (2003 – 2013) số lượng các tổ chức liên tục tăng theo từng năm và không có dấu hiệu giảm
Biểu 1.6 Số lượng các tổ chức PCP Hàn Quốc so với các TCPCPNN
tại Việt Nam, giai đoạn 2003 – 2013 (Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM)
Trang 39Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCP Hàn Quốc khá đa dạng, gần như ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng có dù nhiều hay ít chương trình/ dự án được triển khai Tuy nhiên, tập trung nhất là các lĩnh vực: y tế, giáo dục - đào tạo, bảo trợ xã hội, viện trợ khẩn cấp, phát triển nông thôn tổng hợp Một số tổ chức PCP Hàn Quốc triển khai hoạt động cùng lúc nhiều lĩnh vực
Địa bàn hoạt động được các tổ chức PCP Hàn Quốc quan tâm chủ yếu
ở miền Nam và miền Bắc, một số ít có hoạt động ở miền Trung Trong đó, khu vực đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ có số lượng tổ chức triển khai hoạt động đông nhất, các khu vực khác khá ít, còn Tây Nguyên chưa có tổ chức nào hoạt động Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nơi hầu hết các tổ chức PCP Hàn Quốc đặt trụ sở điều hành, chỉ một số tổ chức đặt luôn trụ sở tại các địa phương triển khai dự án như Thái Nguyên,Vĩnh Phúc, Bến Tre, Cần Thơ,…
Tháng 9/2013, cùng với chuyến thăm cấp Nhà nước của tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye, “Chương trình Hạnh phúc” – hỗ trợ Việt Nam phát triển vùng tổng hợp bằng nguồn vốn ODA của chính phủ Hàn Quốc đã được ký kết Trong Chương trình đó, chính phủ Hàn Quốc quan tâm đến việc viện trợ cho hai địa bàn trọng điểm là Quảng Trị và Lào Cai Theo xu thế đó, các TCPCP Hàn Quốc cũng bắt đầu khảo sát và triển khai hoạt động tại hai địa bàn này, đồng thời, mở rộng hoạt động dần hướng về khu vực miền Trung
và miền núi phía Bắc
Khoảng 10 năm trở lại đây (2003 – 2013), tổng giá trị viện trợ giải ngân của các tổ chức PCP Hàn Quốc đạt gần 60 triệu USD, chiếm hơn 2% so với tổng giá trị viện trợ giải ngân của các tổ chức PCPNN cho Việt Nam
Trang 40Biểu 1.7 Giá trị viện trợ giải ngân của các tổ chức PCP Hàn Quốc so với các
tổ chức PCPNN tại Việt Nam, giai đoạn 2003 – 2013 (đơn vị tính: triệu USD)
(Nguồn: Số liệu thống kê của PACCOM)
Nhìn chung, số lượng các tổ chức PCP Hàn Quốc hoạt động ở Việt Nam chưa nhiều, giá trị tài trợ đạt ở mức trung bình Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức PCP Hàn Quốc được các đối tác Việt Nam đánh giá tốt; các chương trình/ dự án quy mô nhỏ nhưng hiệu quả, thiết thực, đáp ứng kịp thời những nhu cầu thiết yếu của người hưởng lợi
Lào Cai, Thái Bình và Hà Nội
3 GCS
Giáo dục-đào tạo và dạy nghề, hỗ trợ trẻ em khuyết tật (không bao gồm vấn đề con nuôi), phát triển nông thôn
Hà Nội, Bắc Ninh
4 AHF Hỗ trợ y tế và giáo dục
Phú Yên, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thái Bình, Hải Dương (dừng hoạt động tại: Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Tp.HCM)
5 Sunny Korea Y tế Đà Nẵng, Hà Nội
6 KEHC Giáo dục, cung cấp nước sạch, y tế Bến Tre
7 GNI Phát triển nông thôn và giáo dục Hoà Bình, Hà Nội, Tuyên
Quang, Thanh Hoá