1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học phương tây trước mác sự phát triển của phép biện chứng trong triết học tây âu trước mác

21 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết học phương tây trước mác sự phát triển của phép biện chứng trong triết học tây âu trước mác
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Sở Thích của Bạn
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 36,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi sự vật, hiện tượng đều có quátrình hình thành và phát triển và phép biện chứng cũng không nằm ngoài quiluật đó cũng có quá trình phát triển riêng tương ứng với sự phát triển của tưdu

Trang 1

PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU

Phép biện chứng là một khoa học triết học, xét trên nhiều phương diện,

nó là hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học Nhưvậy, lịch sử phép biện chứng hình thành, phát triển từ khi triết học ra đời, màđỉnh cao của nó là phép biện chứng mácxít

Ngay từ rất sớm trong triết học đã xuất hiện hai phương pháp đối lậpnhau trong việc xem xét thế giới: Phương pháp biện chứng và phương phápsiêu hình

Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật, hiện tượngtrong trạng thái tĩnh tại, không trong mối liên hệ phổ biến, không trong quátrình vận động và phát triển Dựa vào phương pháp siêu hình con người chỉ cóthể nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật mà không nhìn thấy sự phát sinh vàtiêu vong của những sinh vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sinhvật ấy mà quên mất sự vận động của những sinh vật ấy, “chỉ nhìn thấy cây màkhông thấy rừng” Siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái không biến đổitrong không gian, thời gian xác định nên nó chỉ có tác dụng trong một phạm

vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp nàyquan niệm

Trái ngược với phương pháp siêu hình, phương pháp biện chứng nhậnthức đối tượng ở trong các mối quan hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộcnhau Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynhhướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật,hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập

để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng Phương pháp biện chứng thể hiện

tư duy mềm dẻo linh hoạt Nó phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại

Trang 2

Phương pháp tư duy biện chứng dần trở thành công cụ hữu hiệu giúpcon người nhận thức và cải tạo thế giới Mọi sự vật, hiện tượng đều có quátrình hình thành và phát triển và phép biện chứng cũng không nằm ngoài quiluật đó cũng có quá trình phát triển riêng tương ứng với sự phát triển của tưduy con người thể hiện trong lịch sử triết học Vậy tìm hiểu quá trình pháttriển của phép biện chứng cũng là tìm hiểu về sự phát triển của tư duy loài

người chúng ta Trên cơ sở đó mà học viên đã lựa chọn đề tài Sự phát triển

của phép biện chứng trong triết học Tây Âu trước Mác để làm tiểu luận

môn

Mục đích và nhiệm vụ của đề tài giúp làm rõ thêm quá trình hình thành

và phát triển của phép biện chứng trong lịch sử, từ đó cho ta thấy được bứctranh toàn cảnh, hiểu được nguồn gốc ra đời, sự hình thành phát triển củaphép biện chứng duy vật qua quá trình đấu tranh gay gắt với những tư tưởngcủa phép siêu hình cũng như phép biện chứng duy tâm để khẳng định vị trí tolớn của nó trong nhận thức và cải tạo thế giới của con người

Kết cấu đề tài gồm 3 phần : Phần mở đầu, phần nội dung và phần kếtluận Trong phần nội dung gồm có 3 mục, mỗi mục nêu lên một giai đoạn rađời và phát triển của phép biện chứng qua từng thời kỳ trong lịch sử

Do bước đầu nghiên cứu, nên phạm vi đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu sựhình thành và phát triển của phép biện chứng từ triết học Hy Lạp cổ đại đếntriết học cổ điển Đức Trong đề tài khó tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, rấtmong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG

I PHÉP BIỆN CHỨNG THỜI CỔ ĐẠI:

Trong thời kỳ cổ đại, phép biện chứng chất phác, ngây thơ, mà đỉnh caocủa nó là phép biện chứng cổ đại Hy Lạp chiếm vị trí ưu trội Theo quan điểmbiện chứng đó, thế giới là một chỉnh thể thống nhất; giữa các bộ phận của nó

có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau;thế giới và các bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và pháttriển

Những quan niệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kểtrong thế giới quan triết học của người Hy Lạp cổ đại Về thực chất, nhữngquan niệm và tư tưởng biện chứng đó đã xuất hiện cùng với triết học Xét vềtrên nhiều phương diện, có thể đánh giá phép biện chứng là một hiện tượng có

ý nghĩa thế giới quan rộng lớn cũng như triết học

Khi đánh giá chung về các hình thức của phép biện chứng Hy Lạp cổđại, trước hết cần phải lưu ý rằng, nói tới phép biện chứng ở giai đoạn này,chúng ta cần phải hiểu nó theo hai nghĩa: thứ nhất, đó là giai đoạn đầu tiêntrong lịch sử nhận thức mang tính biện chứng về sự phát triển của hiện thực,

và thứ hai, đó là phép biện chứng theo nghĩa cổ điển của từ đó

Theo V.I.Lênin, quan điểm biện chứng về sự phát triển dựa trên họcthuyết về mâu thuẫn, về các mặt đối lập, về sự thống nhất và đấu tranh củacác mặt đối lập đó Khi xác định quan điểm phát triển và khi phân biệt cácquan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển, V.I.Lênin đã coi phépbiện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là khởi nguyên lịch sử củamột hình thái mới

Trang 4

V.I.Lênin đánh giá phép biện chứng là “học thuyết về sự phát triển,dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện…”(1) Với tưcách là một học thuyết hoàn chỉnh và sâu sắc như vậy, học thuyết này (khácvới quan niệm siêu hình về phát triển) xem “sự phát triển… là sự thống nhấtcủa các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lậpbài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)”(2), “Theo

nghĩa đen, phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất

thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhâncủa phép biện chứng”(4)…

V.I.Lênin định nghĩa phép biện chứng là “học thuyết vạch ra rằngnhững mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất…tại sao lý trí con người không nên xem những mặt đối lập ấy là chết, cứng đờ,

mà là sinh động, có điều kiện năng động, chuyển hóa lẫn nhau”(5)

Như vậy toàn bộ vấn đề của phép biện chứng là vấn đề lý giải về sựphát triển, về tính chất mâu thuẫn của tự nhiên và tư duy, về sự đấu tranh vàđồng nhất (thống nhất) của các mặt đối lập, và các vấn đề gắn liền với nó (vấn

đề về sự thống nhất và về mối quan hệ qua lại, về sự phủ định, về tính chấttiệm tiến của sự phát triển…)

Phép biện chứng mácxít, khoa học, hiện đại dựa trên truyền thống tưtưởng biện chứng nhiều thế kỷ, bắt nguồn từ biện chứng Hy Lạp cổ đại, coi

nó với tư cách là khởi nguyên của mình Hêghen đã nhiều lần viết về ý nghĩa

to lớn của truyền thống này, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin cũng đã nóinhiều lần về nó Chẳng hạn, C.Mác đã viết về truyền thống này, khhi ôngđánh giá tác phẩm viết về Hêraclit của Ph.Ăngghen cũng đã đề cập tới vấn đề

1() V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.23, tr.53.

2() Lịch sử phép biện chứng, tập I, Nxb Chính trị quốc gia, HN-1998, t.29, tr.379.

3() Lịch sử phép biện chứng, tập I, Nxb Chính trị quốc gia, HN-1998, t.29, 268.

4(), (5) Lịch sử phép biện chứng, tập I, Nxb Chính trị quốc gia, HN-1998, tr.240, 116-117.

5

Trang 5

này trong nhiều tác phẩm của ông, khi xác định phép biện chứng là khoa học

“về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên,của xã hội loài người và của tư duy”(6)

Ph.Ăngghen đã nhận thấy nguồn gốc lịch sử của nó trong học thuyếtcủa các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và đã khẳng định rằng “Những nhà triếthọc Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh…”(7)

Như vậy, với nghĩa đầu tiên đã nêu ở trên, phép biện chứng Hy Lạp cổđại phải được coi là một giai đoạn xác định, hơn nữa là giai đoạn mang tínhxuất phát điểm đối với triết học Tây Âu trong quá trình lý giải về sự phát triểntrong lịch sử của môn khoa học về các quy luật phổ biến, về sự phát triển của

tự nhiên, của xã hội và của tư duy con người

Khi phản ánh tính chất biện chứng của tự nhiên, xã hội và tư duy, phépbiện chứng tự phát đó của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã tồn tại dưới haihình thức: Phép biện chứng khẳng định và phép biện chứng phủ định Với tưcách là phép biện chứng khẳng định, nó được thể hiện rõ nét nhất ở Hêraclit;còn với tư cách là phép biện chứng phủ định, nó được thể hiện ở trường pháiÊlê

Hêraclit (khoảng 530-470 tr.CN) Hêraclit được coi là đại biểu vĩ đạinhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong giai đoạn đầu của triếthọc Hy Lạp cổ đại

Về bản nguyên của thế giới, Hêraclit cho lửa là nguồn gốc của mọi sựvật hiện tượng Với ông, mọi sự vật đều trao đổi với lửa và lửa trao đổi vớimọi sự vật Lửa ở Hêraclit là vĩnh cửu và có tính chất thần thánh Cả vũ trụvới ông như là ngọn lửa vĩnh viễn cháy Lửa không chỉ là khởi nguyên của vũ

6() C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.201.

7() C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.34.

Trang 6

trụ mà còn là cơ sở của linh hồn con người Ông có tư tưởng duy vật nhưngcòn thô sơ, đã đồng nhất toàn bộ thế giới với lửa.

Tư tưởng biện chứng : Hêraclit có những tư tưởng biện chứng chấtphác Theo ông, đất chết đi thì sinh ra nước; nước chết đi thì sinh ra khôngkhí; không khí chết đi thì sinh ra lửa và ngược lại Đây là quy luật của tựnhiên mà ông gọi là logos Logos là quy luật của vũ trụ Tư tưởng biện chứngcủa ông còn được thể hiện ở chỗ: ông đã phát hiện ra mọi sự vật hiện tượngđều thay đổi, đều “chảy” như nước chảy trong dòng sông Ông đã phần nàothấy được sự thống nhất của các mặt đối lập: cái đói làm cho cái no có giá trị;bệnh tật làm cho sức khỏe quý hơn… Quan điểm biện chứng này còn thô sơ,chất phác nhưng chứa đựng tư tưởng quý giá về sự vận động, phát triển khôngngừng của sự vật Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đánh giá cao tư tưởngbiện chứng này và coi đó là hình thức đầu tiên trong lịch sử của phép biệnchứng duy vật: “Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất

là đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên

đã được Hêraclit trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời

lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi,

mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”(8)

Về nhận thức luận: Hêraclit đã phân biệt nhận thức cảm tính với nhậnthức lý tính Nhận thức cảm tính, theo ông không thể đạt được logos Để đạtđược logos phải dùng trí tuệ, nhưng không phải bất kỳ ai cũng có thể đạt đượclogos Nhận thức được logos là hết sức khó khăn vì bản thân thế giới luôn bímật Hơn nữa khi nhận thức logos, con người còn bị ảnh hưởng của các nhà

tư tưởng co uy tín khác… Mặc dù ông chưa nhận thấy mối quan hệ giữa nhậnthức cảm tính và nhận thức lý tính, và tư tưởng nhận thức của ông còn giảnđơn, nhưng nhìn chung là đứng trên tinh thần duy vật có tiến bộ so thời đại

8() C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.35.

Trang 7

Về chính trị - xã hội, theo Hêraclit, con người về bản tính là bình đẳng.

Sự bất bình đẳng của con người, theo ông là hậu quả của sự bất bình đẳng vềlợi ích Phần lớn mọi người trong xã hội, theo ông là sống không theo logos

mà theo sự tính toán Họ bị trói buộc bởi những mong muốn cá nhân củamình Hạnh phúc với ông, không phải là sự thỏa mãn về thể xác mà là ở sựsuy tư, suy nghĩ, ở việc biết nói sự thật, biết hành động theo tiếng nói của tựnhiên Ông coi thường người lao động nhưng cũng không ủng hộ chủ nô quýtộc Ông đề cao các nhà thông thái – những người sống theo logos Ông cónhững tư tưởng tiến bộ ủng hộ luật thành văn, ủng hộ cuộc đấu tranh bảo vệpháp luật, mặc dù pháp luật theo ông có nguồn gốc từ thần thánh Hêraclit làngười đấu tranh chống lại triết học duy tâm của Pitago Nhìn chung so vớinhững tư tưởng đương thời thì tư tưởng của ông có tiến bộ, nhưng do xuấtthân từ tầng lớp quý tộc nên ông còn có tư tưởng coi thường quần chúng,chưa đánh giá hết vai trò của những người lao động, mặc dù ông không bảo

vệ lập trường của phái chủ nô quý tộc

Đánh giá mặt tích cực và sự hạn chế của quan điểm biện chứng chấtphác thời cổ đại, Ph.Ăngghen cho rằng trong quan điểm đó, chúng ta thấy mộtbức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác độngqua lại, sự vận động và phát triển, nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệcũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển

II PHÉP BIỆN CHỨNG THẾ KỶ XIV – XVIII:

Lịch sử triết học Tây Âu thế kỷ XIV-XVIII đã có nhiều đại biểu nổitiếng đưa ra những tư tưởng góp phần phát triển tư tưởng biện chứng Do đó

có thể coi thế kỷ XIV-XVIII là một giai đoạn xác định trong lịch sử phát triểncủa phép biện chứng trong triết học Tây Âu trước Mác, mặc dù không thể bác

bỏ được sự thống trị của phương pháp tư duy siêu hình trong trí óc của đại đa

số các nhà triết học thế kỷ XVII và XVIII Đây là giai đoạn thứ hai, sau thời

Trang 8

kỳ cổ đại của lịch sử phép biện chứng tiền mácxít ở Tây Âu Giai đoạn này bathời kỳ:

Thời kỳ thứ nhất, bao gồm sự phát triển các tư tưởng biện chứng ở thời

kỳ Phục hưng (thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XVII) Đặc điểm đặc trưng của phépbiện chứng ở thời kỳ này là dù còn thể hiện dưới hình thức thần học(Cudanxki, Biômê…) hay dưới hình thức phiếm thần (Brunô…), song nó đãđược các nhà sáng lập sử dụng như một phương pháp xác định, như tổng thểcác nguyên tắc xác định khi nghiên cứu các vấn đề triết học khác nhau (chủyếu các vấn đề bản thể luận và nhận thức luận), cũng như các vấn đề khoa học

tự nhiên và khoa học xã hội

Thời kỳ thứ hai, phép biện chứng ở thời kỳ thống trị của các hệ thốngsiêu hình học (thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII) Điển hình của thời kỳ này cócác nhà triết học: Ph.Bêcơn, Đêcáctơ, Paxcan, Xpinôda, Giôn Tôlăng, Lépnít.Với tư cách là phương pháp của khoa học tự nhiên thực nghiệm và của triếthọc kinh nghiệm chủ nghĩa được “xây dựng trên” chúng, phương pháp siêuhình học thế kỷ XVII-XVIII một mặt, hóa ra là đối lập với phép biện chứngthời Phục hưng, mặt khác, gắn liền với nó với tư cách là tiền đề của nó đã bịchính nó phủ định và “lột bỏ” Phương pháp này bị lâm vào tình trạng mâuthuẫn “về phương pháp luận nội tại” đặc biệt với một biến thể khác của chínhcách tiến cận siêu hình học mà đã thống trị trong các hệ thống duy lý chủnghĩa – tư biện lớn thế kỷ XVII và ở một phương diện nào đó có liên quan vớiphương pháp luận của triết học kinh viện trung cổ

Đây là thời kỳ thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa duytâm, của những tư tưởng vô thần đối với hữu thần luận Chủ nghĩa duy vậtthời kỳ này mang hình thức của chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc.Phương pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh vực tư duy triết học vàkhoa học

Trang 9

Thời kỳ thứ ba, sự khủng hoảng của siêu hình học và sự tăng cường các

xu hướng biện chứng (thế kỷ XVIII) Khởi đầu thời kỳ này có liên quan tớinhững thập niên cuối cùng của thế kỷ XVII, khi mà nó được đánh dấu bởi cácluận điểm phương pháp luận rất sâu sắc của Lépnít Nhà tư tưởng này dườngnhư mở ra một giai đoạn phát triển mới của phép biện chứng, khi mà nó chínmùi tới mức “chui ra” khỏi cái vỏ siêu hình và đi vào một khoảng không tồntại độc lập Ở một chừng mực nào đó Lépnít đã giải phóng phương pháp luậnlôgíc hình thức khỏi tính hủ lậu siêu hình, qua đó chuẩn bị tương lai “phục vụchân thực” cho phương pháp biện chứng của nó Ông đã sáng suốt chỉ ra cácmối liên hệ biện chứng giữa các nguyên tắc phương pháp khác nhau củamình, áp dụng từng cặp nguyên tắc giống như các cặp phạm trù lôgíc sau này

ở Hêghen Các đại biểu của tư tưởng biện chứng thời kỳ này như Rútxô,Điđơrô, Rôbinê và Đêsam Thời kỳ này diễn ra việc phục hồi tồn tại độc lậpcủa phép biện chứng, nhưng trên một cơ sở mới, hoàn hảo hơn nhiều của chủnghĩa duy vật và khoa học tự nhiên mới

Như vậy, lịch sử phép biện chứng không bị gián đoạn ngay cả ở thờiđại thống trị của phương pháp tư duy siêu hình Các vấn đề của phép biệnchứng là bất khả loại trừ Do vậy thậm chí sự phát triển của các học thuyếttriết học phi biện chứng dưới hình thức khác nhau cũng gắn liền với việc đặt

ra các vấn đề tạo thành nội dung của phép biện chứng Và, vì đã luận chứngcho tính tất yếu phải lý giải thế giới bằng chính bản thân nó, nên chủ nghĩaduy vật siêu hình đã giữ một vai trò to lớn trong sự chuẩn bị lịch sử cho phépbiện chứng duy vật Đó là biện chứng hiện thực của sự tiến bộ lịch sử triếthọc Ở giai đoạn phát triển tiến theo, đó là giai đoạn kết thúc trong lịch sửphép biện chứng tiền mácxít là phép biện chứng của chủ nghĩa duy tâm cổđiển Đức

Trang 10

III PHÉP BIỆN CHỨNG CỔ ĐIỂN ĐỨC:

Triết học cổ điển Đức kết thúc thời đại phát triển phương pháp tư duybiện chứng trực tiếp trước khi chủ nghĩa Mác xuất hiện Thành tựu quan trọngnhất của nó là xây dựng được phép biện chứng với tư cách là lý luận pháttriển, nhận thức luận và lôgíc Nếu phép biện chứng trong triết học cổ đại chủyếu được nghiên cứu trên cơ sở kinh nghiệm hàng ngày; còn phép biện chứngtrong các thời đại lịch sử tiếp theo về căn bản đã bị phương pháp tư duy siêuhình thay thế và chỉ được phát triển không đều trong một số học thuyết triếthọc lớn riêng biệt; phương pháp tư duy biện chứng trong chủ nghĩa duy tâm

cổ điển Đức đã trở thành một lý luận được xây dựng một cách có hệ thống.Các nhà kinh điển của chủ nghĩa duy tâm Đức đã áp dụng có ý thức phép biệnchứng vào các lĩnh vực nhận thức khác nhau, hình thành nên các quy luật pháttriển chung nhất của nhân thức, của văn hóa tinh thần, và ở một chừng mựcnhất định là của hiện thực vật chất Trong khuôn khổ của trào lưu triết họcnày – trào lưu do I Cantơ khởi xướng, được I.G.Phictơ và Ph.V.I.Senling kếtục, G.V.Ph.Hêghen kết thúc – lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng triết học,phép biện chứng đã được thể hiện với tư cách là lôgíc biện chứng, lôgíc khắcphục giới hạn do lôgíc hình thức truyền thống thiết lập; trở thành hệ thốngphạm trù có đặc trưng là liên quan mật thiết với nhau, biến đổi và phát triểntrong tiến trình nhận thức ngày một tiến bộ theo lịch sử

V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, chính nhờ phép biện chứng do các nhà kinhđiển của triết học Đức xây dựng mới có thể chuyển từ chủ nghĩa duy vật siêuhình sang thế giới quan triết học khoa học duy vật biện chứng “…Mác khôngdừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII, ông còn đẩy triết học tiến lên nữa.Ông làm cho triết học thêm phong phú với những thành quả của triết học cổđiển Đức và nhất là hệ thống triết học của Hêghen, hệ thống này chính nó lạiđưa tới chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc Trong số những thành quả đó thì thành

quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình

Ngày đăng: 02/07/2023, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS, TS. Trần Văn Phòng – Triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội-2006 Khác
2. GS, TS. Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên) – Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội-2002 Khác
3. Đỗ Minh Hợp – Lịch sử triết học đại cương, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010 Khác
4. Lịch sử phép biện chứng tập 1, tập 2, tập 3 – Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô (Viện Triết Học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội-1998 Khác
5. Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w