( ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ) ( ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ) ( ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ) ( 2 ) TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Chủ đề So sánh triết học phương Đông và triết học phươ.
Trang 1ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Trang 2ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
3 Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu 4
II Những đặc điểm cơ bản của triết học Phương Tây 62.1 Triết học Hy Lạp cổ đại 62.2 Triết học Tây Âu thời trung cổ 72.3 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng 82.4 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại 82.5 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức 9
CHƯƠNG II: SO SÁNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC
Trang 3ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIÉT HỌC
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc biệt
sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa
lý dân số mà hơn cả là phương thức của sản xuất
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ đượcthay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vàokhoảng thế kỷ VIII - VI trước công nguyên ở Ân Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và
La Mã cổ đại và ở các nước khác
Theo quan điểm của mác xít triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết vềnhững nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thếgiới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Như vậy triếthọc là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc biệt sự tồn tạinày ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý dân số
mà hơn cả là phương thức của sản xuất của phương Đông là phương thức sản xuất nhỏ cònphương Tây là phương thức sản xuất của tư bản do vậy mà cái phản ánh ý thức cũng khác:văn hoá phương Đông mang nặng tính chất cộng đồng còn phương Tây mang tính cá thể
Bên cạnh đó, nền văn hóa của Việt Nam cũng chịu sự ảnh hưởng khá sâu sắc từ nềntriết học phương Đông, vì thế, nghiên cứu về những đặc điểm, đặc trưng riêng của triết họcphương Đông trong mối quan hệ với những đặc điểm đặc thù của triết học phương Tây, đặcbiệt là nghiên cứu về những giá trị tư tưởng mang tính nhân văn trong thời khai sáng sẽ giúpcho chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn về những giá trị của bản sắc văn hoádân tộc Việt Nam Từ những lý do đó đã thúc đẩy em muốn tim hiểu sâu hơn về triết học
nên em đã chọn đề tài cho bài tiểu luận của mình là: “So sánh triết học phương Đông và
triết học phương Tây”
2 Thực trạng đề tài
Việc tìm hiểu sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời
cổ đại cũng đã được đề cập ở các mức độ và quy mô khác nhau Vì vậy đề tài chỉ tập trungvào phân tích, so sánh sự khác nhau giữa hai nền triết học ở một số khía cạnh: đối tượng,qui mô, tư tưởng về nhận thức, tư tưởng biện chứng, vấn đề con người, sự phân chia cáctrường phái triết học và tiến trình phát triển, hệ thống thuật ngữ
Trang 4ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
4
1 Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
3.1 Mục đích của tiểu luận
Làm rõ những đặc điểm của hai nền triết học phương Đông và phương Tây thời cổđại, từ đó thấy được những nét đặc sắc riêng của mỗi nền triết học tuy mỗi nền triết học cóđặc điểm riêng nhưng cả hai trường phái triết học phương Tây và triết học phương Đôngluôn phát triển đan xen, bổ trợ cho nhau cùng phát triển và không ngừng đóng góp nhữnggiá trị quý giá vào trong kho tàng triết học của nhân loại
3.2 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Phương pháp: Tiểu luận sử dụng chủ yếu các phương pháp kết hợp giữa phân tích và
tổng hợp, lịch sử và logic, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa dựa trên lập trường của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin
Phạm vi: Nghiên cứu những đặc điểm của triết học phương Đông và triết học phươngTây cổ đại
3.3 Kết cấu tiểu luận
Tiểu luận gồm 3 phần: Phần mở đầu Nội dung và kết luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
I Những đặc điểm cơ bản của triết học phương Đông cổ đại
1.1 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học Ấn Độ là một trong những trào lưu triết học xuất hiện, phát triển từ rất sớm.Được hình thành từ khoảng cuối của thiên niên kỷ thứ hai và thời kì đầu của thiên niên kỷthứ nhất, trước công nguyên Trải qua hàng ngàn năm đến nay, triết học Ấn Độ trở thanhmột kho tàng đồ sộ, với những nền tảng tư tưởng quý báu của nhân loại, thể hiện ở quy mô,
số lượng tác phẩm, sự đa dạng của các trường phái triết học Ngoài ra, triết học Ấn Độ cũng
Trang 5ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
5
rất phong phú trong cách thể hiện, sự sâu rộng về nội dung phản ánh Nội dung triết học Ấn
Độ đều dựa vào tri thức đã có trong kinh Vêđa, đồng thời triết học Ấn Độ cũng lấy các tưtưởng của kinh Vêđa làm điểm xuất phát Ngoài ra, triết học Ấn Độ thường lấy các luậnthuyết trước làm điểm dựa cho các luận thuyết sau đó
Vấn đề con người được triết học Ấn Độ đặc biệt chú ý Hầu như tất cả các trườngphái triết học thời bấy giờ đều quan tâm, tập trung giải quyết vấn đề về “nhân sinh” đồngthời tìm con đường “giải thoát” con người thoát khỏi nỗi khổ trầm luân diễn ra trong đờisống trần tục Tuy nhiên, sự hạn chế trong nhận thức, sự chi phối bởi lập trường giai cấp,của những tư tưởng tôn giáo, nên hầu hết các học thuyết triết học Ấn Độ đều đi tìm nguyênnhân để lý giải cho sự khổ đau của con người ở trong ý thức, trong sự “vô minh”, sự “hammuốn” của con người chứ không phải từ đời sống kinh tế - xã hội Đây cũng chính lànguyên nhân mà “con đường giải thoát con người” đều yếm thế và thường mang đậm sắcthái duy tâm
Đặc điểm chủ đạo của triết học Ấn Độ thời bấy giờ là các nghi lễ huyền bí của kinhVêđa; hiện thực pha trộn các quan niệm huyền thoại; trần tục trực quan xen lẫn cái ảo tưởng
xa xôi; cái bi kịch của cuộc đời lại có sự đan xen của cái thần tiên cõi Niết Bàn Do đó, cáctrường phái triết học thời bấy giờ được thực hiện một cách rạch ròi, tách bạch nhau màchúng đan xen, xen kẽ lẫn nhau trong quá trình vận động và phát triển của chúng Đó cũngchính là nguyên nhân khiến cho triết học Ấn Độ có một vẻ đẹp uyển chuyển, huyền bí, thâmtrầm mang đậm nét của triết học Phương Đông Đây nền triết học lớn của Phương Đông đã
để lại nhiều nền tảng tư tưởng quý báu cho nhân loại
1.2 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại
Triết học ở Trung Quốc thấm đượm tinh thần nhân văn, nổi bật có Nho gia, là mộthọc thuyết tiêu biểu, coi chủ thể của đối tượng nghiên cứu chính là con người.triết học Nhogia đã tách con người khỏi động vật và thần linh Họ cho rằng: “con người có khí, có sinh,
có trí thì cũng có nghĩa, bởi vậy là vật quý nhất trong thiên hạ" (Tuân Tử-Vương Chế).Trường phái Nho gia cho rằng vũ trụ là trời - đất- người gộp cùng một thể Con người đượcxếp ngang hàng với trời - đất tạo thành bộ “tam tài” Như vậy, giá trị của con
Trang 6ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIÉT HỌC
người đã được triết học Trung Quốc khẳng định từ rất sớm, đây chính là tính nhân vănthấm nhuần tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” Đó cũng chính là cơ sở cho sự ra đời củanhững mệnh đề khác như: tâm, tính, tình, lý, khí, lương tri, “thiên nhân cảm ứng” đềuphục vụ cho giải quyết vấn đề nhân sinh của con người và xã hội Còn triết học về sự pháttriển tự nhiên còn rất mơ hồ, mờ nhạt
Vấn đề trọng tâm mang đậm tính nhân văn trong triết học Trung Quốc đó là vấn đề
về đạo đức con người và xã hội Họ luôn coi trọng việc tìm tòi, xây dựng nên nhữngnguyên lý,chuẩn mực đạo đức để thích nghi trong lịch sử đồng thời cũng để bảo vệ lợi íchgiai cấp thống trị Tiêu biểu như : Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho gia; Vô vi của Đạo gia;Kiêm ái của Mặc gia; Công và Lợi của Pháp gia Các trường phái triết học Trung Quốcthời bấy giờ thường đưa ra các nguyên tắc đạo đức gắn liền với với mặt xã hội của conngười mà coi nhẹ thuộc tính tự nhiên của con người
Ngoài ra, triết học Trung Quốc còn nổi bật với các chuẩn mực đạo đức, họ thườngđem luân thường đạo lý của con người mà gán cho vạn vật trong trời đất, biển trời thànhhóa thân của đạo đức rồi lấy thiên đạo chứng minh cho nhân thế Ý thức đạo đức Nho giabiểu hiện là nhân sinh quan, vũ trụ quan, nhận thức luận Họ tranh luận xung quanh vấn
đề thiện - ác, cho rằng “người tận tâm thì biết được tính của mình, biết được tính của mìnhthì biết được trời” Chính vì điều này mà trong suốt lịch sử hình thành và phát triển củatriết học Trung Quốc đều theo đuổi cái vương quốc luân lý đạo đức, là cái “trời phú” Coithực hành về đạo đức là căn bản quan trọng nhất của hoạt động thực tiễn của conngười.Đây được xem là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luậncũng như sự lạc hậu về khoa học thực chứng ở Trung Quốc lúc bấy giờ.Triết học TrungQuốc còn chú ý đến sự hài hòa, thống nhất giữa các mặt đối lập, đều xem xét một cáchbiện chứng về sự vận động và phát triển của vũ trụ, xã hội, nhân sinh Mặt khác, chú ý đếncác mặt đối lập thống nhất trong mỗi của sự vật, hiện tượng, lấy vấn đề điều hoà mâuthuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề Tính tổng hợp và tính quán xuyến củahàng loạt các phạm trù “Tri hành hợp nhất”, “Tâm vật dung hợp”, “Thể dụng hợp nhất”,
“Thiên nhân hợp nhất”, “Cảnh và tình hợp nhất” đã thể hiện sự hài hòa thống nhất của tưtưởng triết học của Phật giáo, Nho gia, Đạo gia thời bấy giờ
II Những đặc điểm cơ bản của triết học Phương Tây
2.1 Triết học Hy Lạp cổ đại
Đây là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ, lâu dài và sâu sắc các quan hệ
xã hội dẫn đến sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp - với sự thuận lợi về điềukiện
Trang 7ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIÉT HỌC
7
6
Trang 8thiên nhiên, địa lý nên Hy Lạp nhanh chóng phát triển về mọi mặt, mở rộng lãnh thổ, có
cơ hội tiếp thu nhiều giá trị văn hoá khác nhau trở thành chiếc nôi của nền văn minh Châu
Âu nói riêng cũng như của cả nhân loại nói chung Như Ph.Ăngghen nhận xét: “Không cóchế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp,không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh
Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”Hy Lạp cổ đại được mệnhdanh là đất nước của những áng thi ca, những tác phẩm thần thoại bất hũ Thần thoạikhông chỉ là nơi để con người tưởng tượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí,
mà còn là nơi để thể hiện đời sống tâm linh, nơi hình thành số phận biểu hiện muôn mặtcủa cuộc sống thực tiễn thường ngày Ngoài ra, thần thoại cũng là nơi đánh dấu sự ra đờicủa tư duy triết học và từng bước triết học phát triển lớn mạnh rồi tách khỏi thần thoại,độc lập tư duy về tự nhiên, về con người, về xã hội, về đạo đức, về lẽ sống, về chân
lý, .Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người để phục vụ vấn đề buôn bán, vượt biểnđến các nước phương Đông nên những tinh hoa về toán học, thiên văn học, địa lý, hệthống đo lường, lịch pháp hình thành
2.2 Triết học Tây Âu thời trung cổ
Xã hội Tây Âu thời trung cổ là giai đoạn tiếp nối sự phát triển lịch sử xã hội loàingười thời cổ đại Trong giai đoạn này, hệ tư tưởng tôn giáo nắm quyền thống trị xã hội.Tôn giáo áp đặt, thực hiện chi phối lên triết học, tư tưởng khoa học và sự tự do Giai đoạn
này được gọi là “đêm trường trung cổ”, xã hội lúc bấy giờ bị chìm đắm, ngưng trệ bởi
hệ tư tưởng của tôn giáo, của tư tưởng mang tính duy tâm, thần học đặc biệt là chủ nghĩangu dân.Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa kinh viện là triết học chính thống, đã không chấpnhận cái mới và sự tiến bộ xã hội Triết học nhẳm phục tùng cho thần học với phươngpháp mang tính hình thức, viển vông không thực tế Cuộc đấu tranh diễn ra giữa haitrường phái triết học là trường phái duy danh với trường phái duy thực; phản ánh cuộcđấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm Với việcthừa nhận sự vật có trước, khái niệm có sau, học thuyết duy danh mang khuynh hướngduy vật.Với việc xem cái chung là tồn tại độc lập, là cái có trước, sinh ra cái riêng, khôngphụ thuộc cái riêng của trường phái duy thực do đó họ mang khuynh hướng duy tâm Sựnhận thức thế giới thông qua kinh nghiệm, thực nghiệm, là sự giải phóng, sự đề cao thầnhọc, sự tối tăm, trì trệ ra đời từ cuộc đấu tranh đó Đây cũng chính là nền tảng cho nhữngmầm mống chuẩn bị cho sự sụp đổ của chủ nghĩa kinh viện Đồng thời chứng kiến sự pháttriển lên một bước mới của triết học, khoa học mới, tiến bộ trong thời kỳ Phục hưng
Ngoài ra, vấn đề con người dũng được đề cập đến trong thời kì này Điểm nổi bậttrong thời kì này đó là họ xem con người là sản phẩm của Thượng đế sáng tạo ra.và sắp
Trang 9đặt mọi thứ như: số phận, may rủi, nỗi buồn lẫn niềm vui của con người đều do Thượng
đế sắp đặt Con người lúc này trở nên nhỏ bé trong cuộc sống thực tại, nhưng phải miễncưỡng chấp nhận không có sự lựa chọn nào khác đành bằng lòng với cuộc sống tạm bợtrên trần thế, hướng tới hạnh phúc vĩnh cửu khi ở thế giới bên kia Con người mất dần ýchí đấu tranh để tự giải thoát cho mình Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời,khoa học kỹ thuật cũng như triết học được xác lập vị thế của mình bởi sự tiến bộ của nó,nhờ đó, con người mới có thể thoát ra khỏi sự kìm hãm chi phối của triết học kinh viện vàthế giới quan thần học trung cổ Mặc dù quá trình phát triển của triết học Tây Âu thờitrung cổ rất phức tạp, đầy mâu thuẫn, nhưng nó vẫn tuân theo quy luật phát triển kế thừaliên tục của lịch sử cũng như của các hình thái ý thức xã hội Là giai đoạn chuẩn bị chonhững hạt nhân tiến bộ, hợp lý đánh giấu sự phục hồi chủ nghĩa duy vật cổ đại phát triểnvới những thành tựu rực rỡ nhất trong thời kỳ Phục hưng
2.3 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng
Đây là thời kỳ thế giới quan triết học giai cấp tư sản đang dần hình thành và pháttriển Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra phức tạp,hơnnữa do ảnh hưởng của tôn giáo, đặc biệt là của thần học lúc bấy giờ nên chủ nghĩa duy vậtthời kỳ này chưa triệt để, nó vẫn mang tính hình thức phiếm luận Mặc dù vậy, tư tưởngduy vật vẫn giữ vai trò chi phối trong thời kỳ này Một điểm nổi bật của nền triết học thời
kỳ này là việc đề cao vai trò của con người, quan tâm đến việc giải phóng con người,hướng đến tự do, hạnh phúc Ngoài ra, giữa triết học và khoa học tự nhiên lúc này vẫnchưa có sự phân chia rạch ròi cụ thể, các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học đã cónhững khái quát mới về triết học Có thể nói triết học thời kỳ Phục hưng đã tạo ra mộtbước ngoặt mới trong sự phát triển của triết học sau “đêm trường trung cổ” Nó tạo tiền đềcho triết học tiếp tục phát triển vào thời cận đại
2.4 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại
Thời kỳ cận đại là thời kì các tư tưởng triết học trong thời kỳ Phục hưng tiếp tụcphát triển trong giai đoạn mới - giai đoạn cách mạng tư sản gắn liền sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học tự nhiên Đây là thời kỳ thắng thế của chủ nghĩa duy vật, của khoa học.Thời kỳ này là thế giới quan của giai cấp tư sản là chủ nghĩa duy vật Đây được coi là vũkhí tư tưởng của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và giáo hội, hìnhthành xã hội tư bản Giai đoạn này cũng đánh dấu quá trình phân ngành sâu sắc và pháttriển một cách mạnh mẽ của khoa học tự nhiên làm nền tảng vững chắc cho chủ nghĩa duyvật thời bấy giờ Triết học thời kỳ này đặc biệt chú ý đến nhận thức luận và phương pháp
Trang 10nhận thức Vị trí con người và giải phóng con người khỏi sự thống trị của giáo hội phongkiến, con người được tự do, bình đẳng và hạnh phúc được các nhà triết học trong thời kỳnày đề cao Đây chính là mục tiêu của cách mạng tư sản đặt ra đã cổ vũ mạnh mẽ quầnchúng nhân dân đứng lên làm cách mạng Tuy nhiên, do bị ảnh hưởng sâu sắc của chủnghĩa duy tâm và tôn giáo nên các nhà triết học thời kì này vẫn bị rơi vào phiếm thần luận,
vô thần Ngoài ra, cũng do giai cấp tư sản vẫn cần đến tôn giáo cho nên có lập trườngthiếu triệt để
2.5 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức nghiên cứu toàn bộ quan hệ con người với tự nhiên theoquan điểm biện chứng Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, cùng với tìnhhình thực tiễn ở Châu Âu cuối thế kỷ XVIII, đã cho ta thấy được sự hạn chế của bức tranh
cơ học về thế giới Các nhà triết học cổ điển Đức tiếp thu những tư tưởng biện chứng, xâydựng phép biện chứng trở thành một phương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu cáchiện tượng tự nhiên và xã hội Những quy luật, các căp phạm trù cơ bản của phép biệnchứng được Hê ghen phát hiện rồi phân tích, từ đó xây dựng thành một hệ thống trở thànhmột phương pháp luận, một cách tư duy, quan niệm về tất thảy mọi sự vật trong thế giớihiện thực Phương pháp tư duy biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, về sau đượcC.Mác cải biến duy vật, phát triển tiếp, trở thành linh hồn của chủ nghĩa Mác Như vậy,Triết học là một khoa học bao gồm hệ thống lí luận chung nhất về thế giới và vị trí, vai tròcủa con người trong thế giới đó Triết học là một hình thái ý thức xã hội, vừa phản ánh xãhội vừa chịu sự chi phối của xã hội; sự quy định của cơ sở hạ tầng Đây chính là điểmchung của triết học trong mọi thời đại trong đó có cả triết học phương Đông lẫn triết họcphương Tây cổ đại Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,bối cảnh lịch sử khác nhau nên cả triết học phương Đông và phương Tây đều có nhữngnét đặc thù tạo nên thiên hướng riêng
Trang 11ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
1 1
triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội, văn hoá, bối cảnh lịch sử, khác nhau nên triết học phương Đông vàphương Tây cổ đại có những nét đặc thù, riêng biệt, tạo nên thiên hướng riêng của nó.Dựa vào phần khái quát chung làm cơ sở nền tảng, sự khác nhau giữa triết học phươngĐông và triết học phương Tây thời cổ đại được phân tích cụ thể ở mục tiếp theo
CHƯƠNG II: SO SÁNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC
PHƯƠNG TÂY
1 Sự giống nhau
C.Mác đã viết: Để hiểu rõ tư tưởng của một thời đại nào đó thì chúng ta phải hiểu được điều kiện sinh hoạt vật chất của thời đại đó Bởi vì, theo C.Mác, tồn tại xã hội luôn quyết định ý thức xã hội, do đó nó phản ánh tồn tại xã hội - những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Chính vì thế, các trào lưu triết học Phương Đông và Phương Tây đều được nảy sinh trên những điều kiện kinh tế - xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định Xét trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, thì triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, do đó các học thuyết triết học Đông - Tây đều chịu sự quyết định của cơ sở hạ tầng và đến lượt nó cũng có vai trò hết sức to lớn đối với cơ sở hạ tầng
Triết học Phương Đông và Phương Tây đều được hình thành, phát triển trong cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy tâm, giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng Thực chất cuộc đấu tranh này là một phần cuộc đấu tranh tư tưởng của những giai cấp đối kháng trong xã hội Những quan niệm duy vật thường gần gũi và gắn liền với những lực lượng tiến bộ trong xã hội và ngược lại những quan niệm duy tâm thường gần gũi và gắn liền với lực lượng lạc hậu, bảo thủ trong xã hội
Triết học Phương Đông và Phương Tây có thể sử dụng những khái niệm, phạm trù khác nhau nhưng đều phải bàn đến vấn đề cơ bản của triết học, đồng thời đều tuân theo những phương pháp chung trong nhận thức thếgiới: Phương pháp biện chứng hoặc
Phương pháp siêu hình
Triết học Phương Đông và Phương Tây đều bàn đến vấn đề con người ở những khía cạnh khác nhau, mức độ đậm nhạt khác nhau và qua những thời kỳ lịch sử khác nhauđều có cách đánh giá khác nhau về con người
Các học thuyết triết học ở Phương Đông hay Phương Tây đều có khuynh hướng chung là xâm nhập lẫn nhau, vừa có sự kế thừa giữa các học thuyết, hoặc trong sự phát triển của
Trang 12học thuyết đó, vừa có sự đào thải, lọc bỏ những quan niệm lạc hậu, hoặc những quan niệm
không phù họp với nhãn quan của giai cấp thống trị
Mỗi học thuyết trong triết học ở Ph ươn g Đông hay Ph ươ ng Tây cũng vậy, đều có những
mặt tích cực và hạn chế của nó nhung đã góp phần tạo nên những giá trị văn minh nhân loại
2 Sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh sự tồn tại xã hội, đặc biệt sự tồntại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tụ nhiên, địa lý
dân số mà hơn cả là phuơng thức của sản xuất Theo quan điểm của mác xít, triết học là
một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và
nhận thức về thái độ của con nguời đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung
nhất của tụ nhiên, xã hội và tu duy
Sự khác biệt căn bản của triết học phương Tây và phương Đông còn đuợc thể hiện
cụ thể như sau:
Triết học phương Đông Triết học phương Tây
Thứ nhất - Triết học ph ươ ng Đông nhấn mạnh sự
thống nhất trong mối quan hệ giữa connguời và vũ trụ với công thức thiên địanhân là một nguyên tắc “thiên nhân họpnhất” Cụ thể là:
Triết học Trung quốc là nền triết học cótruyền thống lịch sử lâu đời nhất, hìnhthành cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên
kỷ I tr ư ớc công nguyên Đó là những khotàng tu tuởng phản ánh lịch sử phát triểncủa những quan điểm của nhân dânTrung hoa về tụ nhiên, xã hội và quan hệcon nguời với thế giới xung quanh, họ coicon nguời là tiểu vũ trụ trong hệ thốnglớn trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với
ta là một Nhu vậy
- Đối với ph ươn g Tây lại nhấnmạnh tách con nguời ra khỏi vũ trụ,coi con nguời là chủ thể, chúa tể đểnghiên cứu chinh phục vũ trụ thếgiới khách quan Và cũng chính từthế giới khách quan khách nhau nêndẫn đến huớng nghiên cứu tiếp cậncũng khác nhau:
Từ thế giới quan triết học “thiênnhân họp nhất” là cơ sở quyết địnhnhiều đặc điểm khác của triết họcph
ươn g Đông nhu: lấy con nguờilàm đối t ư ợng nghiên cứu chủ yếutính chất huớng nội; hay nhu nghiêncứu thế giới cũng là