HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀNKHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TIỂU LUẬN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY ĐỀ TÀI: CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHỤC HƯNG Sinh viên thực hiện: Ngu
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
ĐỀ TÀI: CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG TRIẾT HỌC
TÂY ÂU PHỤC HƯNG
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thùy Linh
Lớp: Chủ nghĩa xã hội khoa học K36
Mã SV: 1655250039
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHỤC HƯNG 6
1.1 Điều kiện về kinh tế- chính trị- xã hội của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng 6
1.2 Quan niệm về chủ nghĩa nhân văn và Phục hưng 7
1.3 Một số đại biểu của triết học nhân đạo Tây Âu thời kỳ Phục hưng 10
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHỤC HƯNG 11
2.1 Đề cao vai trò của con người 11
2.2 Con người có tự do nhận thức 13
2.3 Xây dựng xã hội mới tốt đẹp và con người được hưởng hạnh phúc 15
Chương 3 Ý NGHĨA CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHỤC HƯNG 18
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Lịch sử của xã hội loài người luôn tiến về phía trước, dường như muốn nhấn chìm tất cả vào sự quên lãng nhưng chúng ta vẫn ghi khắc sâu đậm cuộc lội dòng lịch sử vĩ đại của một nền văn hóa mà chính nó đã đánh thức cả châu Âu sau những dặm dài tăm tối của vòng quay lịch sử “Đêm trường Trung cổ”, đó là phong trào văn hóa Phục hưng Trong không khí hừng hực của sự hồi sinh, châu Âu vươn mình đón nhận luồng sinh khí mới, tiến đến những cuộc cách mạng và trí tuệ con người Châu Âu thời đại Phục hưng
là giai đoạn mà con người khát khao vươn lên đạt đến những giá trị to lớn, mạnh mẽ, vĩnh hằng Người ta muốn khôi phục lại tinh thần ấy sau một ngàn năm bị bưng bít, kìm hãm, trói buôc Loài người mãi cảm động và tự hào khi nhắc tên tuổi của những cây đại thụ như Leonardo da Vinci, Galieo Galile, Dante Alighieri, Francois Rabelais, Thomas More, Nicolo Machiavelli,… Phong trào văn hóa là bước khởi đầu để giai cấp tư sản đánh bại chế độ phong kiến và giáo hội Kito trên toàn cõi châu Âu và góp phần quan trọng vào quá trình giải phóng con người Những con người vĩ đại thời Phục hưng đã đóng góp trí tuệ và tài năng tuyệt vời của mình bằng những tác phẩm và công trình bất hủ làm phong phú kho tang văn hóa nhân loại Phong trào phục hưng không chỉ nhằm làm sống lại những tinh hoa của nền văn hóa khuôn vàng thước ngọc thời Hy – La cổ đại mà còn nảy nở trong lòng mình những bước
đi về con đường phía trước Chính phong trào này đã góp phần khép lại một giai đoạn tối tăm của lịch sử, đồng thời soi rọi, làm bừng sáng cho châu Âu tiến nhanh, tiến mạnh vào lịch sử cận đại Đó là lí do thời đại này được thừa nhận là một trong những nền văn hóa rực rỡ của loài người Thời kì Phục hưng là một bước chuyển mang tính tất yếu và bước ngoặc của thời đại Bước ngoặc đó diễn ra trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong triết học châu Âu nói
Trang 4chung và triết học Tây Âu nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu nhất định Trong số đó, chúng ta không thể không nhắc đến “Chủ nghĩa nhân văn” là tư tưởng nổi bật trong xã hội lúc bấy giờ
Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Chủ nghĩa nhân văn
trong triết học Tây Âu Phục hưng”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài khóa luận
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Chủ nghĩa nhân văn trong triết học Tây Âu phục hưng
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong
triết học ở Tây Âu
Về thời gian: Thời kỳ phục hưng (thế kỷ XV - XVI)
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về con người và chủ nghĩa nhân văn trong triết học, đề tài phân tích, đánh giá chủ nghĩa nhân văn trong triết học Tây Âu phục hưng, từ đó nêu ra được những ảnh hưởng tích cực và chỉ ra hạn chế của tư tưởng nhân văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Một là, hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến chủ nghĩa nhân
văn trong thời kỳ phục hưng
Trang 5- Hai là, phân tích tư tưởng nhân đạo nổi bật trong thời kỳ này ở Tây Âu
- Ba là, trình bày rõ tầm ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn gắn liền với
chủ nghĩa nhân đạo tư sản
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp logic- lịch sử, là sự thống nhất giữa phương pháp logic và phương pháp lịch sử
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa nhân văn trong triết học Tây
Âu phục hưng
Chương 2 Nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn trong triết học Tây Âu phục hưng
Chương 3 Ý nghĩa của chủ nghĩa nhân văn trong triết học Tây Âu phục hưng
Trang 6B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN
TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHỤC HƯNG
1.1 Điều kiện về kinh tế- chính trị- xã hội của triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng
Về kinh tế:
Bắt đầu từ thế kỉ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ
và các đạo luật hà khắc Trung cổ đã bước vào thời kì tan rã Thời kì phục hưng là giai đoạn quá độ của Phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa Người nông dân bị đuổi ra khỏi ruộng đất của họ, bạo lực của kẻ cường quyền đã tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất Nhiều công trường thủ công xuất hiện, ban đầu ở Italia, sau đó lan sang Anh, Pháp và các nư ớc khác, thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển.Các công trường thủ công dần dần át cách làm ăn kiểu phường hội phong kiến
Những phát kiến về đường biển, tìm ra những miền đất mới, phát hiện ra châu Mỹ càng tạo điều kiện phát triển cho nền sản xuất theo ướng tư bản chủ nghĩa Thương mại, thị trường trao đổi hàng hoá giữa các nước được mở rộng; giao lưu quốc tế được tăng cường, nhờ đó mà các nước phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thi nhau xâm chiếm thuộc địa để mở rộng việc khai thác thiên nhiên và thị trường tiêu thụ hàng hoá
Về chính trị - xã hội:
Phong trào chống phong kiến của nông dân, thợ thủ công trào dâng khắp Châu Âu Giai cấp tư sản trở thành kẻ đồng minh Người ta không chỉ đòi xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chướng ngại trên con đường phát triển theo xu hướng TBCN mà còn chĩa mũi nhọn vào giáo hội La Mã, thành luỹ tinh thần của chế độ phong kiến
Trang 7Sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt Giai cấp tư sản xuất hiện gồm các chủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, thuyền buôn Vai trò và vị trí của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn Trong khi người nông dân do không còn ruộng đất phải ra thành phố kiếm kế sinh nhai bằng cách làm thuê cho các công trường, xưởng thợ Họ là tiền thân của giai cấp vô sản sau này
Về khoa học:
Do đòi hỏi của thực tiễn sản xuất vật chất, các ngành khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển và đây cũng là thời kỳ gặt hái bội thu về các thành tựu khoa học kỹ thuật như sử dụng năng lượng nước, dệt, khai mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí, in ấn, hàng hải… Chẳng hạn với việc sử dụng năng lượng nước đã cho phép thay thế dần sức người và sức súc vật trong sản xuất Chính sự phát triển của khoa học tự nhiên và kỹ thuật đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống thần học và chủ nghĩa duy tâm
1.2 Quan niệm về chủ nghĩa nhân văn và Phục hưng
1.2.1 Khái niệm chủ nghĩa nhân văn
Chủ nghĩa nhân văn là trào lưu tư tưởng và văn hoá thời Phục hưng ở châu
Âu Đây là một phong trào chống Thiên chúa giáo nhằm đề cao con người, giải phóng cá nhân khỏi sự đè nén tinh thần của chế độ phong kiến, chống chủ nghĩa kinh viện và giáo hội, hướng con người vào xây dựng cuộc sống thực tại
Lịch sử ra đời của chủ nghĩa nhân văn được xác lập từ khi xuất hiện phong trào Phục hưng Với lý do khôi phục lại nền văn hoá cổ đại, các nhà nhân văn
đã khởi xướng phong trào Renaissance (Phục hưng) khôi phục các giá trị văn hóa cổ đại - những gì mà Chúa đã cho phép - nên giáo hội không có cách gì
Trang 8ngăn cản Chủ nghĩa nhân vă n khởi phát ở Ý và được thực hiện bởi những nhà
tư tưởng, những cá nhân ưu tú, uyên bác, giàu tinh thần cách mạng và canh tân Hơn nữa, họ còn có quyết tâm mạnh mẽ để thực hiện lý tưởng nhân văn
ấy "Tinh thần nhân văn trước hết là một tinh thần tranh đấu Tranh đấu cho giai tầng tư sản các thành thị chống phong kiến Tranh đấu cho dân tộc Ý chống lại cuộc xâm lăng của những dị tộc"
Mối liên hệ giữa khái niệm nhân văn với các khái niệm: nhân đạo, nhân bản Chúng ta thấy rằng, khái niệm nhân văn nghiêng về tư tưởng coi con người là một chủ thể văn hoá; yêu cầu đối xử với con người trên bình diện văn hoá: coi trọng con người, coi trọng tự do và vai trò cá nhân của con người trong xã hội Phương Tây thường đồng nhất khái niệm nhân văn với nhân đạo Thuật ngữ Humanism (Anh), Humanisme (Pháp) và Gumanizm (Nga) có nghĩa chung là nhân văn = nhân đạo Khái niệm nhân văn được phương Đông dùng có nội dung là văn hoá, giáo hoá "Sách Kinh Dịch có viết: "Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ", nghĩa là: xem xét nhân văn để giáo hoá cho toàn thiên hạ"(2, tr.173) Thuật ngữ nhân văn trong bài viết này được sử dụng với ba cơ sở khoa học: Thứ nhất, các khái niệm trong lịch sử có sự chuyển dịch từ truyền thống đến hiện đại Thứ hai, nhân văn là hệ tư tưởng bắt đầu từ thời Phục hưng với nghĩa cơ bản là sự đánh giá con người trong tư cách một chủ thể văn hoá Thứ ba, khái niệm nhân đạo được tách ra khỏi nhân văn nhằm biểu hiện phẩm chất con người với tư cách một chủ thể nhân ái Còn khái niệm nhân bản, khái niệm này nhằm xem xét bản chất con người trên bình diện triết học Khái niệm nhân bản thuộc quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Marx Các nhà triết học của trường phái này coi bản chất con người
có nguồn gốc từ tự nhiên Để chống lại quan niệm duy tâm về con người (tức
là chống lại sự tách rời giữa tâm và vật), các nhà triết học nhân bản lại đồng nhất con người với tự nhiên, coi bản chất con người là có tính sinh học Đại
Trang 9biểu lớn nhất của chủ nghĩa nhân bản là L.Fuerbach và Tsécnưsépxki Thiếu sót cơ bản của chủ nghĩa nhân bản là còn xem xét con người một cách trừu tượng; tách rời khỏi các quan hệ xã hội Như vậy, do bó hẹp con người trong bản chất sinh học nên chủ nghĩa nhân bản không thể tiếp cận các quy luật đích thực của xã hội Từ đó, dễ dẫn chủ nghĩa nhân bản đến phương diện duy tâm về lịch sử
1.2.2 Khái niệm về thời kỳ phục hưng
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Phục Hưng (tiếng Ý: Rinascimento) là một phong trào văn hóa trải dài từ thế kỷ 14 đến thế kỷ
17, khởi đầu tại Florence (Ý) vào hậu kỳ Trung Cổ và sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu
Thuật ngữ này cũng được dùng một cách không rõ ràng để chỉ một thời kỳ lịch sử, mặc dù những thay đổi của Phục Hưng không đồng đều ở khắp châu
Âu, đây là cách sử dụng thông dụng của thuật ngữ Thuật ngữ Rinascenza (tái sinh) được nhà sử học Giorgio Vasari dùng ban đầu vào năm 1550 để chỉ sự hồi sinh và phát triển rực rỡ các hoạt động nghệ thuật và khoa học bắt đầu tại
Ý vào thế kỷ 13
Sau đó, thuật ngữ Renaissance được Jules Michelet dùng trong tiếng Pháp và nhà sử học Thụy Sĩ Jacob Burckhardt phát triển (khoảng những năm 1860) Tái sinh ở đây có hai nghĩa: Một là sự khám phá lại các sách vở cổ điển và đem ứng dụng vào trong khoa học và nghệ thuật; hai là để chỉ kết quả của các hoạt động văn hóa đó mang lại sự hồi sinh cho văn hóa châu Âu nói chung Như vậy Phục Hưng có thể hiểu theo hai cách chính, tuy khác biệt nhưng đều có ý nghĩa là sự tái sinh của nền giáo dục cổ điển Tây phương thông qua sách vở, tài liệu kinh điển của phương Tây và hồi sinh của văn hóa châu Âu nói chung
Trang 10Thời kỳ Phục Hưng được gọi như thế vì đặc tính cơ bản của thời kỳ này là
sự hồi sinh của tinh thần thời kỳ Cổ đại Chủ nghĩa Nhân văn chính là phong trào tinh thần cơ bản của thời kỳ này Việc hồi sinh thể hiện ở chỗ nhiều yếu
tố của tư tưởng thời kỳ Cổ đại được tái khám phá và sống lại (văn học, tượng đài kỷ niệm, tác phẩm điêu khắc, triết học )
Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV - XVI) Tính chất quá độ đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá
tư tưởng thời kì này
1.3 Một số đại biểu của triết học nhân đạo Tây Âu thời kỳ phục hưng
Chúng ta có thể kể đến một sô nhà triết học tiêu biểu trong thời kỳ phục hưng ở Tây Âu lúc bấy giờ như: Nicôlai Côpécnic (1473- 1543), Giócđanô Bruno (1548- 1600), Lê-ô-na-đô Đơ Vanh Xi (1452- 1519), Galiêô Galile
(1564-1642), Pêtrô Pômpônátxi (1462- 1525), Tomat Moro (1478- 1535) và Tôm-ma-dô Campanhella (1568- 1639)
Trang 11Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN
TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHỤC HƯNG
Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa nhân văn được sinh ra trong thời kỳ phục hưng ở châu Âu Chủ nghĩa nhân văn - đó là đỉnh cao của những lý tưởng, lý luận, quan điểm nhằm kêu gọi, thức tỉnh và phục vụ cho lợi ích của loài người tiến bộ, đặc biệt là những người lao động, để giúp con người tự khẳng định những giá trị cao đẹp, tài năng và nhân phẩm của bản thân Với mục đích cao
cả ấy, chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đã tập hợp được lực lượng hùng hậu với những con người tài giỏi, tâm huyết và xây dựng nên một hệ thống lý luận phong phú, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn Từ những cơ sở thực tiễn và lý luận ấy, nội dung chính của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng gồm:
2.1 Đề cao vai trò của con người
Bước sang thời phục hưng, sự phát triển to lớn của sản xuất và khoa học
đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con người Vì vậy, thời kỳ này ở Italia, đã dấy lên khẩu hiệu con người hãy thờ phụng chính bản thân mình, chiêm“
ngưỡng cái đẹp của chính mình" Hình ảnh bức tượng "Người khổng lồ" (Davit) của nhà điêu khắc Mikenlan Giêlô đã trở thành biểu tượngcủa con người thời Phục hưng và cận đại Đó là con người tràn đầy sức sống và hoài bão tự do Giờ đây, không phải quan hệ giữa chúa và thế giới mà chính là vấn
đề quan hệ giữa con người và thế giới trở thành trung tâm của các quan niệm triết học Nhiều nhà tư tưởng đã ý thức được sự cần thiết phải xây dựng một
"triết học thực tiễn, nhờ đó con người hiểu biết sức mạnh của tất cả các sự vật khác xung quanh ta cũng thấu đáo như những công việc của những người thợ thủ công, bằng cách đó, chúng ta có thể sử dụng chúng trong các hoạt động của mình, đồng thời biến mình thành những chủ nhân và chúa tể của giới tự nhiên"
Trang 12Trong thế giới quan của các nhà nhân đạo từ Đantê Aligiêri đến Pêtrarca,
từ Kolintari đến Lôrenxô Vanta đều toát lên quan niệm tự nhiên thần luận, không coi thượng đế là đấng tối cao tạo ra thế giới trong vòng một tuần như kinh thánh dạy Họ khơi dậy những tinh hoa của nền văn minh cổ đại, ca ngợi sức mạnh về vẻ đẹp của con người Tư tưởng nhân văn thời Phục hưng đã làm đảo lộn vũ trụ quan và nhân sinh quan của Kitô giáo Con người không còn lấy Thượng đế, mà lấy chính mình làm trung tâm và thước đo tất thảy mọi vật Các giá trị hiện thực của con người được đề cao Hình tượng con người cường tráng ngẩng cao đầu đòi tự đo và công lý, không khuất phục trước mọi trở ngại đã trở thành phương châm tư tưởng và văn hoá thời kỳ này Nó nhanh chóng tụ hợp được mọi tầng lớp tiến bộ trong xã hội, nhất là tầng lớp thị dân đang lớn mạnh muốn xoá bỏ mọi xiềng xích gông cùm của giáo lý trung cổ đã chào đón và ủng hộ nhiệt thành Điều đó được thể hiện rõ trong thế giới quan của nhiều nhà tư tưởng lớn ở Italia thời kỳ Phục hưng
Lêôna Đờ Vankxi tiếp thu tư tưởng của các nhà nhân đạo, khẳng định con
người là vũ khí vĩ đại nhất của tạo hoá Dựa trên các sự vật tự nhiên, con người sáng tạo ra các sự vật mới phục vụ cho cuộc sống của mình Là một nhà hội hoạ nổi tiếng, ông coi trọng hoạt động nghệ thuật của con người, vì
"Thượng đế như người thợ cá và hoạ sĩ tối cao, hoạt động nghệ thuật là phương thức nhận thức Thượng đế Tuy nhiên, theo Lêôna Đờ Vanhxi, khoa học chỉ có khả năng khám phá ra các đặc tính thuộc về lượng của các sự vật, phát hiện ra các quy luật chung của thế giới Chỉ có nghệ thuật mới có thể nhận thức các đặc tính thuộc về chất của các sự vật, cho chúng ta một bức tranh sinh động về thế giới Cố nhiên, quan niệm này của ông còn nhiều hạn chế, nhưng xét theo một khía cạnh nào đó thì nó chỉ ra sự khác nhau tương đối giữa khoa học và nghệ thuật, và điều đó mang tính hợp lý nhất định