Đề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịchĐề cương môn thực hành dịch
Trang 1NỘI DUNG
Trang
1 Giáo dục việt nam xếp hạng sau Campuchia 4
2 Vietnam education ranks below Cambodia 5
3 Vietnam higher education reform to focus on Management 6
4 Cải cách nền giáo dục đại học ở Việt Nam để tập trung vào quản lý 8
5 Phong Nha – Ke Bang national park 9
6 Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 11
7 Những thách thức và xu thế phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới 13
8 The challenges and developing trends in the new period of Vietnam culture 14
9 The current situation of environment pollution in Vietnam 15
10 Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam 17
11 Những bất cập trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 19
12 Inadequacies in urbanization process in Vietnam 21
13 5 major problems of urbanization 23
14 5 vấn đề lớp của đô thị hóa 25
15 Population of Vietnam 2013 27
16 Dân số Việt Nam năm 2013 29
17 Dân số cán mốc 90 triệu người 31
18 Vietnam population level officials 90 million 33
19 Hiện trạng môi trường Việt Nam và những lời báo động 35
20 Environment status in Vietnam and alarms 37
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
1 Giáo dục việt nam xếp hạng sau
5 The current situation of
environment pollution in Vietnam Mã Thị Nam
6 Những bất cập trong quá trình đô
7 5 major problems of urbanization Lê Thị Cẩm
8 Population of Vietnam 2013 Phạm Thị Thu Trang
Trang 39 Dân số cán mốc 90 triệu người Phạm Thị Thu Trang
10 Hiện trạng môi trường Việt Nam
và những lời báo động
Lê Thị Cẩm Phạm Thị Thu Trang
Trang 4( Translated by Phạm Thị Ngọc)
(Giáo dục) - Tính hiệu quả của hệ thống giáo dục Việt Nam chỉ xếp thứ 7 trong số 8 nước ASEAN được xếp hạng mà Báo cáo về Tính Cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố
Theo đó WEF ghi nhận Singapore, Malaysia và Brunei Darussalam lần lượt đứng đầu trong khi Campuchia đứng thứ 6, Việt Nam thứ 7 và Thái Lan ở cuối bảng Lào và Myanmar không được WEF xếp hạng
Kết quả xếp hạng này dường như trái ngược với những bản báo cáo thành tích về số lượng dày đặc các học sinh giỏi, học sinh tốt nghiệp, Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư tại Việt Nam
Thế nhưng báo cáo này xem ra có phần phù hợp với nhận xét của Giáo sư Thomas J.Vallely trước đó từng chỉ ra 5 ngộ nhận của Việt Nam
về việc làm như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Trong số này Giáo sư Thomas J.Vallely cho rằng Việt Nam ngộ nhận vì nghĩ bộ tiêu chuẩn mà các trường ở Việt Nam đang áp dụng sẽ tạo ra chất lượng cao Song, vấn đề khó nhất, lớn nhất là làm thế nào để quản trị, quản lý trường đại học (Việt Nam nên so sánh hệ thống đại học của mình với các nước khác)
Hai là, việc tăng nguồn lực vật chất là có thể tạo ra chất luợng cao hơn hiện có Giáo sư Thomas J.Vallely rất hoài nghi về khả năng Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam vay để phát triển giáo dục Giáo sư cho rằng, nếu tiếp tục thì sẽ không thành công, không hiệu quả Kinh nghiệm ở Trung Quốc là khó áp dụng ở Việt Nam
(Source: nam-xep-hang-sau-campuchia-2354280/)
http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/giao-duc/giao-duc-viet-VIETNAM EDUCATION RANKS BELOW CAMBODIA
Trang 5(Education) The effect of Vietnam’s education system just ranks number 7 among 8 ASEAN coutries which are graded It has announced
by report on the global competition of the WEF (World Economic Forum)
According to report, WEF has certified that Singapore, Malaysia and Brunei Darussalam head each of the list whereas Cambodia is graded sixth, Vietnam puts below Cambodia and the last one is Thailand Laos and Myanmar are not ranked in WEF’s table
This ranking seems opposite results with the achievement accounts about the dense quanlity of proficient learners, graduated learnrs, Masters, Doctors, Professors in Vietnam
Nevertheless, this report apparently has suitable part with the comment of Professor Thomas J.Vallely previously He has brought out
5 misconceptions of Vietnam on how to improve the quality of higher education in Vietnam at present
Professor Thomas J.Vallely believes that Vietnam mistooks because they thought that the register which is being applied at the Vietnam’s universities will create high quality However, the most difficult and biggest problem is how to control and manage these universities (Vietnam should compare their university systems in other countries)
Secondly, the increase in material resources may make better existing quality Professer Thomas J.Vallely strongly has doubts about the possibility of World Bank loan to Vietnam for educational development In his opinion, if Vietnam continue to do in that way, it will not successful and effective Experience in China is difficult to apply
in Vietnam
Trang 6VIETNAM HIGHER EDUCATION REFORM TO FOCUS ON
MANAGEMENT
( Translated by Phạm Thị Ngọc)
Deputy Prime Minister and Minister of Education and Training Nguyen Thien Nhan has launched a higher education reform campaign for the 2010 - 2012 period
Nhan called upon students, lecturers, educational administrators and authorities to become actively involved in the campaign at a video conference in Hanoi last Saturday that drew the participation of approximately 1,400 representatives from ministries and academia
Nhan said the new campaign, instituted under the instructions of the Prime Minister, targeted educational administration in light of plenty of existing schemes aimed at improving teaching quality, curricula, and the application of science and technology in education that have failed to produce visible results
"Despite many efforts, the proportion of university faculty holding doctoral degrees has increased only slightly in 23 years, while the scope and scale of the educational sector had been widened considerably," Nhan said "Students still lack books and the IT application in education has yet
to bring about any mighty changes." The development of education was not only influenced by teaching methods but also by educational administration
"There's still no effective administrative co-operation among universities and among the Ministry of Education and other ministries That's why we don't have a uniform quality assessment system applied to the whole higher education system in Vietnam," Nhan said
He urged further decentralisation of administration, or it would take ministry inspectors at least two years just to make the rounds of 375 universities and colleges nationwide
Trang 7Da Nang University rector Bui Van Ga agreed, and called for increased recognition of the importance of fairer compensation for good faculty members.
(Source: higher-education-reform-to-focus-on-management)
Trang 8https://www.nesovietnam.org/tin%20tuc/tin-tuc-2010/vietnam-CẢI CÁCH NỀN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM ĐỂ TẬP
TRUNG VÀO QUẢN LÝ
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã đưa ra một chiến dịch cải cách nền giáo dục đại học trong giai đoạn 2010 - 2012
Ông kêu gọi các sinh viên, giảng viên, quản lý giáo dục và các cơ quan chức năng tích cực tham gia chiến dịch tại một hội nghị video tại Hà Nội hôm thứ Bảy đã thu hút sự tham gia của khoảng 1.400 đại biểu đến từ các Bộ, học viện
Ông cho biết chiến dịch mới được thiết lập theo hướng dẫn của Thủ tướng Chính phủ nhằm mục đích quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy, chương trình giảng dạy, ứng dụng khoa học và công nghệ trong giáo dục ở nhiều chương trình hiện có, đã thất bại trong việc tạo ra kết quả có thể nhìn thấy
"Mặc dù có nhiều nỗ lực, tỷ lệ giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ
đã chỉ tăng nhẹ trong 23 năm trong khi phạm vi và quy mô của ngành giáo dục đã được mở rộng đáng kể", Ông nói "Các sinh viên vẫn còn thiếu sách và ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục, vẫn chưa mang lại bất kỳ thay đổi mạnh mẽ" Sự phát triển của giáo dục không chỉ chịu ảnh hưởng của phương pháp giảng dạy mà còn ở quản lý giáo dục
"Vẫn chưa có hiệu quả hành chính hợp tác giữa các trường đại học
và giữa Bộ Giáo dục và các bộ ngành khác Đó là lý do tại sao chúng tôi không có một hệ thống đánh giá chất lượng thống nhất áp dụng cho toàn
bộ hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam"
Ông kêu gọi phân cấp quản lý, hoặc nó sẽ có thanh tra Bộ ít nhất hai năm chỉ để thanh tra 375 trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc
Hiệu trưởng Đại học Đà Nẵng - Bùi Văn Ga đồng ý, và kêu gọi các nước công nhận tầm quan trọng trong việc bồi dưỡng công bằng hơn cho các giảng viên tốt
Trang 9PHONG NHA – KE BANG NATIONAL PARK
The karst formation of Phong Nha-Ke Bang National Park has evolved since the Palaeozoic (some 400 million years ago) and so is the oldest major karst area in Asia Subject to massive tectonic changes, the park’s karst landscape is extremely complex with many geomorphic features of considerable significance The vast area, extending to the border of the Lao People’s Democratic Republic, contains spectacular formations including 65 km of caves and underground rivers
Phong Nha - Ke Bang National Park is located in the middle of the Annamite Mountain Range in Quang Binh province, Vietnam and shares its boundary with the Hin Namno Nature Reserve in the Lao PDR to the west The property comprises an area of 85,754 ha and contains terrestrial and aquatic habitats, primary and secondary forest, sites of natural regeneration, tropical dense forests and savanna and is rich in large
( Translated by Phạm Thị Ngọc)
The property contains and protects over 104 km of caves and underground rivers making it one of the most outstanding limestone karst ecosystems in the world The karst formation has evolved since the Palaeozoic period (some 400 million years ago) and as such is the oldest major karst area in Asia Subject to massive tectonic changes, the karst landscape is extremely complex, comprising a series of rock types that are interbedded in complex ways and with many geomorphic features The karst landscape is not only complex but also ancient, with high geodiversity and geomorphic features of considerable significance
The karst formation process has led to the creation of not only underground rivers but also a variety of cave types including; dry caves, terraced caves, suspended caves, dendritic caves and intersecting caves With a length of over 44.5 km the Phong Nha cave is the most famous of
Trang 10the system with tour boats able to penetrate inside to a distance of 1,500m.
A large number of faunal and floral species occur within the property with over 568 vertebrate species recorded comprising 113 mammals, 81 reptiles and amphibians, 302 birds and 72 fish This impressive level of biodiversity and species richness includes a number of endemic species as well as threatened species including tiger, Asiatic black bear, Asian elephant, giant muntjac, Asian wild dog, gaus and the recently discovered sao la
( Translated by Mã Thị Nam)
(Sourcehttp://whc.unesco.org/en/list/951)
Trang 11VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ BÀNG
Sự hình thành đá vôi của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng đã phát triển kể từ khi thuộc về cổ sinh giới (khoảng 400 triệu năm trước) và
do đó là khu vực núi đá vôi lớn lâu đời nhất ở châu Á Thể thay đổi kiến tạo lớn, cảnh quan núi đá vôi của khu vườn vô cùng phức tạp,với nhiều tính năng địa hình có ý nghĩa đáng kể Các khu vực rộng lớn, kéo dài đến biên giới của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, có hình hài ngoạn mục bao gồm 65 km các hang động và sông ngầm
Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở giữa dãy núi Trường Sơn ở tỉnh Quảng Bình, Việt Nam, chung ranh giới với bảo tồn thiên nhiên Hin Namno ở Lào, về phía tây Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng có diện tích 85.754 ha, bao gồm cả môi trường sống trên cạn và thủy sản, rừng nguyên sinh và thứ cấp, các vị trí tái sinh tự nhiên, rừng rậm nhiệt đới và hoang mạc rộng lớn
Tài sản có chứa và bảo vệ hơn 104 km các hang động và sông ngầm làm cho nó trở thành một trong những hệ sinh thái núi đá vôi nổi bật nhất trên thế giới Sự hình thành đá vôi đã phát triển từ giai đoạn thuộc về cổ sinh giới ( khoảng 400 triệu năm trước) và như vậy là các khu vực núi đá vôi lớn lâu đời nhất ở châu Á Chủ thể đối với sự thay đổi kiến tạo lớn , cảnh quan núi đá vôi là vô cùng phức tạp , bao gồm một loạt các loại đá được xen kẻ theo những cách phức tạp và có nhiều tính năng địa hình Cảnh quan núi đá vôi không chỉ phức tạp mà còn cổ xưa , với độ dốc địa hình cao và các tính năng địa hình có ý nghĩa đáng kể
Quá trình hình thành đá vôi đã dẫn đến việc tạo ra không chỉ những dòng sông ngầm mà còn có một loạt các loại hang động bao gồm: hang khô , hang động bậc thang , hang động bị đình chỉ, hang động đuôi gai và các hang động giao nhau Với chiều dài hơn 44,5 km , động Phong Nha
Trang 12nổi tiếng nhất của hệ thống với các tàu thuyền du lịch có thể thâm nhập vào bên trong để một khoảng cách 1.500 m
Một số lượng lớn các loài động vật và thực vật xảy ra trong tài sản với hơn 568 loài có xương sống được ghi lại bao gồm 113 loài thú, 81 loài bò sát và lưỡng cư , 302 loài chim và 72 loài cá Đây là cấp độ ấn tượng của đa dạng sinh học và các loài phong phú bao gồm một số loài đặc hữu cũng như các loài bị đe dọa bao gồm hổ , gấu ngựa , voi châu Á, khổng lồ hoẵng , con chó hoang dã châu Á , Gaus và gần đây phát hiện ra sao la
Trang 13
NHỮNG THÁCH THỨC VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
( Translated by Mã Thị Nam)
Nghị quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng đã nhận định về bối cảnh phát triển của đất nước khi hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thế giới, còn trong nước thì những thành tựu, kinh nghiệm của gần 30 năm đổi mới đất nước đã tạo ra thế và lực mới cùng sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước Từ góc độ văn hóa, có thể thấy xuất hiện những thuận lợi, thời cơ, trong đó hòa bình, hợp tác, phát triển, toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hội nhập và phát triển văn hóa
Tuy nhiên, quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở nước ta cũng đang đứng trước những nguy cơ, thách thức không nhỏ Với tiến trình toàn cầu hóa, nước ta sẽ chịu tác động tiêu cực trên mọi mặt mà các nước trên thế giới gặp phải Văn hóa của các nước lớn, giàu có, nhất là Mỹ, lan tỏa rộng, tác động sâu đến đời sống văn hóa của nhân dân Sự tiếp thụ thiếu chọn lọc văn hóa ngoại lai sẽ làm tha hóa văn hóa dân tộc Tác động tiêu cực của kinh tế thị trường càng làm cho văn hóa biến dạng, nhiều mặt xuống cấp, kéo theo sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống
Nhìn chung, tình hình và xu hướng nêu trên sẽ tạo ra cả những thời
cơ và thách thức đan xen đối với sự phát triển của đất nước trong những năm tới Cũng vì vậy, trên bình diện văn hóa, sự phát triển mạnh lên, phong phú, đa dạng, hiện đại hơn là xu hướng tất yếu, trong đó đan xen mặt tích cực và mặt tiêu cực
(Source:
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/20948002-.html)
Trang 14THE CHALLENGES AND DEVELOPING TRENDS IN THE NEW
PERIOD OF VIETNAM CULTURE
Resolution of the Eleventh Congress Party has identified the
development context of the country's peace , development and
cooperation remain the trend of the world's largest , is in the country, the achievements and experiences of nearly 30 years of innovation this
country and created new momentum and greater synergy than before From the cultural perspective , we can see the appearance of favorable opportunities, including peace, cooperation , development , globalization and scientific revolution - powerful technology development ,
accelerating the process of the information society and knowledge
economy , creating favorable conditions for the exchange , integration and cultural development
However, the process of building and developing culture in our
country is facing and the risks and the challenges are not small With the process of globalization , our country will have a negative impact on all aspects of the world that the country faced The culture of the great
country , rich , especially the U.S , spread wide , deep impact on the cultural life of the people The continued lack of receptor selectivity foreign culture will alienate ethnic culture The negative impact of the market economy makes cultural distortion , multifaceted degradation , leading to the decline of ideology , ethics and lifestyle
Overall, the situation and the above trends will create both
opportunities and challenges intertwined with the development of the country in the coming years Just so , at the level of culture , the
development of strong , rich , diverse , more modern is the inevitable trend , which mix positive and negative aspects
Trang 15THE CURRENT SITUATION OF ENVIRONMENT POLLUTION
IN VIET NAM
( Translated by Mã Thị Nam)
In recent years, economic development has led to the increase in irrational use of natural resources and fuel as well as environmental pollution Apparently, environmental pollution and economic development is a paradoxical development of the country
Along with environmental pollution in mining, land environment is degraded due to the abuse fertilizers, pesticides, high-yield product development It makes soils exhausting quickly, reduces soil fertility and degraded soils The natural forests are destroyed, the quality of forests degrade, the areas of forest cover also decreased rapidly Rich forests and primary forests accounts for a small number whereas secondary forests account for the majority of forest areas The switch of using poor forests
to grow industrial plants; green-cover bare lands and hills; develop industrial zones, hydroelectric, traffic structure, tourist bases and coastal cities have accounted for a large area of land and caused environmental pollution These activities occupy an area of coastal casuarinas, breaking the natural guarding wall against storms and seawater Floods, water logging seriously occurs partly due to natural disasters, climate change and partly due to human beings’ lack of awareness
Air, dust, noise pollution and solid waste containing hazardous substances are increasing The increase in exhaust emission from vehicles
in cities, from industrial zones has direct impacts on the health of labors and surrounding communities Waste and solid wastefrom the manufacturing facilities, industrial zones, residential areas is rarely collected and treated According to regulations, all of industrial zones must have classified solid waste classification and transit area However,
Trang 16in reality, there are only a few of industrial zones constructing this category
Vietnam is among the top 10 countries in the world seriously affected
by natural disasters Every year, it is estimated thatVietnam has a total asset loss of approximately 1.5% of GDP, of which over 70% of the loss belongs to the central provinces
According to the World Economic Forum, Vietnam currently ranks the bottom among the ASEAN countries in environmentalsustainability
(Source: current-stituation-of-environment-pollution-in-Viet-Nam-.aspx)
Trang 17http://vea.gov.vn/en/EnvirStatus/C-CEnvironment/Pages/The-HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Trong những năm gần đây, phát triển kinh tế đã dẫn đến sự gia tăng trong việc sử dụng không hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhiên liệu cũng như môi trường ô nhiễm Rõ ràng, tình trạng ô nhiễm môi trường và phát triển kinh tế là một nghịch lý phát triển của đất nước Cùng với ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản, môi trường đất bị suy thoái do việc lạm dụng các loại phân bón, thuốc trừ sâu, phát triển sản phẩm có năng suất cao Nó làm cho đất cạn kiệt một cách nhanh chóng, làm giảm độ phì của đất và suy thoái đất Rừng tự nhiên bị phá hủy, chất lượng rừng suy giảm, các khu vực rừng che phủ cũng giảm đáng kể rừng giàu và rừng nguyên sinh chiếm một số nhỏ trong khi đó rừng thứ sinh lại chiếm phần lớn diện tích rừng Việc chuyển đổi sử dụng rừng nghèo để trồng cây công nghiệp; xanh-bao gồm các vùng đất trống, đồi núi , phát triển các khu công nghiệp, thủy điện, cơ cấu giao thông, cơ
sở du lịch và ven biển các thành phố đã chiếm một diện tích lớn đất và gây ô nhiễm môi trường Những hoạt động này chiếm một diện tích phi lao ven biển, phá vỡ bức tường bảo vệ tự nhiên chống lại các cơn bão và nước biển Lũ lụt ngập úng nghiêm trọng xảy ra một phần là do thiên tai, biến đổi khí hậu và một phần do thiếu ý thức của con người
Không khí, bụi, ô nhiễm tiếng ồn và chất thải rắn có chứa các chất độc hại ngày càng tăng Sự gia tăng khí thải từ các phương tiện trong thành phố, khu công nghiệp có tác động trực tiếp đến sức khỏe của người lao động và cộng đồng xung quanh Xử lý chất thải và chất thải rắn từ các
cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, khu dân cư là rất hiếm khi thu thập và
xử lý Theo quy định, tất cả các khu công nghiệp phải được phân loại chất thải rắn và khu vực chuyên chở Tuy nhiên, trong thực tế, chỉ có một số ít
Trang 18Việt Nam là một trong 10 quốc gia hàng đầu trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai Mỗi năm, người ta ước tính rằng Việt Nam
có tổng tài sản thiệt hại khoảng 1,5 % GDP, trong đó hơn 70 % của sự mất mát thuộc về các tỉnh miền Trung.Theo các diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam hiện đang đứng phía dưới các nước ASEAN trong môi trường phát triển bền vững
Trang 19NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Ở VIỆT NAM
( Translated by Lê Thị Cẩm)
Mặc dù quá trình đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra khá sớm và tăng nhanh những năm gần đây, nhưng tốc độ đô thị hóa vẫn thuộc trong nhóm thấp của thế giới Không những thế, quá trình đô thị hóa cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế
Thực trạng đô thị hóa tại Việt Nam
Tại Việt Nam quá trình đô thị hóa được gắn liền với công cuộc công nghiệp hóa đất nước Do chú trọng quá nhiều vào việc “công nghiệp hóa” cộng với chất lượng quy hoạch không cao, nên quá trình này đang bộc lộ nhiều bất cập đáng lo ngại Cụ thể là:
- Số lượng các đô thị tăng lên nhanh chóng: Trong những năm gần đây, số lượng đô thị ở nước ta tăng nhanh, nhất là ở các thành phố thuộc tỉnh Năm 1986 cả nước có 480 đô thị, năm 1990 là 500 đô thị, đến năm
2007 là 729 đô thị và đến năm 2012 cả nước đã có 755 đô thị Trong đó,
có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh), 13 đô thị loại
I trong đó có 03 thành phố trực thuộc Trung ương (Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) và 10 thành phố trực thuộc tỉnh, 10 đô thị loại II còn lại là các
đô thị loại III, IV và V Tuy vậy, việc xếp loại đô thị vẫn còn nhiều tiêu chí chưa đáp ứng như quy mô đô thị, kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
- Sự gia tăng dân số đô thị: Quy mô dân số đô thị ở nước ta liên tục tăng, đặc biệt là từ sau năm 2000 Tính đến năm 2010, dân số đô thị tại Việt Nam là 25.584,7 nghìn người, chiếm 29,6% dân số cả nước Sự gia tăng dân số đô thị cả nước do 3 nguồn chính đó là: (i) Gia tăng tự nhiên ở khu vực đô thị; (ii) Di cư từ khu vực nông thôn ra thành thị; (iii) Quá trình mở rộng địa giới của các đô thị Khi các đô thị của Việt Nam ngày