1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học kịch bản văn học “tôi và chúng ta” ở lớp 9 theo đặc trưng thể loại

117 954 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra được một phương án dạy học có hiệu quả để có thể giúp chính bản thân mình và các bạn đồng nghiệp vượt qua được những khó khăn tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HUYỀN

DẠY HỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC “TÔI VÀ CHÚNG TA”

Ở LỚP 9 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

Chuyên ngành: LL&PP DH Bộ môn Văn – Tiếng Việt

Mã ngành: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thể hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Hữu Bội

Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nghiệm về nghiên cứu của mình

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Huyền

XÁC NHẬN

CỦA TRƯỞNG KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả tấm lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn khoa học, tận tình và độ lượng của Thầy giáo TS Hoàng Hữu Bội trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, khoa Sau Đại học, các Thầy giáo, Cô giáo khoa Ngữ Văn - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và các Thầy giáo, Cô giáo đã tận tâm giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo và giáo viên trường THCS Trung Lương, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và những người thân yêu, đã luôn ở bên tôi động viên, giúp đỡ, khích lệ tôi trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích nghiên cứu 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Cấu trúc luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13

1.1 Cơ sở lí luận 13

1.1.1 Vấn đề loại thể trong văn học 13

1.1.2 Kịch bản văn học 15

1.1.3 Đặc trưng thể loại của kịch bản văn học 18

1.1.4 Phương pháp dạy kịch bản văn học theo đặc trưng thể loại 27

1.2 Lưu Quang Vũ và kịch bản văn học “Tôi và chúng ta” 33

1.2.1.Vài nét sơ lược về tác giả Lưu Quang Vũ 33

1.2.2 Kịch bản văn học “ Tôi và chúng ta” 34

1.3 Cơ sở thực tiễn 37

1.3.1 Thực trạng dạy học đoạn trích kịch bản văn học “Tôi và chúng ta” 37 1.3.2 Thực trạng cảm thụ văn học của học sinh với kịch bản văn học 39

CHƯƠNG 2 ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC “TÔI VÀ CHÚNG TA” 41

2.1 Trước giờ lên lớp 42

2.1.1 Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài 42

2.1.2 Định hướng cho học sinh những tư liệu liên quan đến bài học 43

2.1.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài 44

Trang 5

2.2 Tổ chức dạy đọc hiểu kịch bản văn học “Tôi và chúng ta” trong giờ học

45

2.2.1 Tạo hứng thú, kích thích nhu cầu học tập cho học sinh 45

2.2.2 Tổ chức cho học sinh cảm nhận tác phẩm bằng các hoạt động nghệ thuật 47

2.2.3 Xây dựng tình huống có vấn đề bằng hệ thống câu hỏi gợi mở 48

2.2.4 Sử dụng lời bình đúng thời điểm 50

2.2.5 Phát huy tinh thần đối thoại trong giờ dạy và học kịch bản văn học 51

2.2.6 Củng cố bài học 53

2.3 Sau giờ học 55

2.3.1 Rèn luyện thói quen học bài ở nhà 55

2.3.2 Ôn lại bài mới học xong trên lớp 56

2.3.3 Đổi mới cách ra đề kiểm tra 57

2.3.4 Thường xuyên cung cấp những thông tin phản hồi hữu ích đến học sinh 59

2.4 Định hướng về nội dung dạy học 60

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71

3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 71

3.1.1 Mục đích, ý nghĩa thực nghiệm 71

3.1.2 Phương pháp thực nghiệm 71

3.1.3 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 72

3.2 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 72

3.2.1 Nội dung thực nghiệm 72

3.2.2 Cách thức tiến hành thực nghiệm 72

3.2.3 Thiết kế dạy học thực nghiệm 73

3.3 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm 94

3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 95

PHẦN KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

1.1 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một vấn đề

đã được đặt ra từ lâu trong thực tế giảng dạy văn học ở trường Trung học Đây cũng là vấn đề quan tâm của nhiều giáo viên trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học

Loại thể văn học thuộc về ý thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể Tác phẩm văn học tồn tại trong những hình thức của các loại thể văn học Không có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của loại thể Vì vậy tìm hiểu một tác phẩm văn học về nội dung cũng như nghệ thuật không thể xem nhẹ đặc trưng loại thể Nói cách khác là phải vận dụng kiến thức lý luận văn học về thể loại trong việc dạy học văn Đây là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận Bởi tác phẩm văn học nào cũng thuộc một loại thể nhất định Mỗi loại thể

có những đặc điểm thi pháp riêng Có xác định được thể loại thì mới có thể hiểu thấu đáo giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Đã có nhiều tài liệu bàn về dạy học tác phẩm văn học theo thể loại, nhất là

đã có nhà sư phạm bàn về dạy tác phẩm văn học theo loại hình KỊCH Song vấn

đề dạy học kịch theo đặc trưng thể loại ở các tác phẩm của nhà viết kịch lỗi lạc Lưu Quang Vũ thì chưa có nhiều tài liệu bàn tới Bởi thế chúng tôi mạnh dạn chọn

đề tài này để nghiên cứu – Đề tài “ Dạy học kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

ở lớp 9 theo đặc trưng thể loại”

1.2 “Tôi và chúng ta” là một trong số ít kịch bản văn học được đưa vào

chương trình dạy học Trung học Khi giảng dạy tác phẩm này, mặc dù giáo viên đã vận dụng các phương pháp dạy học mới, song vẫn còn nhiều vướng mắc, hiệu quả giảng dạy chưa cao Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi thấy học sinh chưa thực sự hứng thú và còn gặp nhiều khó khăn trong việc cảm thụ

Trang 7

kịch bản văn học: học sinh không nắm được đặc trưng thể loại, không hiểu thấu đáo ý nghĩa hàm ẩn sau ngôn ngữ kịch… Thực tế đó đã thôi thúc chúng

tôi đến đề tài: “Dạy học kịch bản văn học “Tôi và chúng ta” ở lớp 9 theo đặc trưng thể loại” Chọn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra được

một phương án dạy học có hiệu quả để có thể giúp chính bản thân mình và các bạn đồng nghiệp vượt qua được những khó khăn trong quá trình dạy học kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ

- Cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” của các tác giả

Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lí, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn và Đàm Gia Cẩn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1971 Cuốn sách góp phần làm rõ nhiều vấn đề trong mối quan hệ giữa loại thể và PPDH Văn Các tác giả đi sâu vào ba thể loại: tự

sự, trữ tình và kịch, sau đó gợi ý phân tích nhiều thể nhỏ cụ thể như: thơ, biền văn (hịch, cáo, phú, văn tế, ), truyện, kí, kịch, Tác giả Trần Thanh Đạm khẳng định: “Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng tiếp nhận theo loại thể và người dạy cũng giảng dạy theo loại thể [20, tr 30] Giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể chính là một phương diện lớn của việc giảng dạy tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình thức với nội dung, một sự giảng dạy đi đúng với quy luật và bản chất của văn học, đồng thời đảm bảo hiệu quả giáo dục cao nhất [20, tr 44] Cũng trong cuốn sách này, tác giả Huỳnh Lý có bài Kịch và giảng dạy kịch đề cập đến nhiều vấn đề khi giảng dạy kịch: khái niệm về kịch, vị trí của kịch trong các loại hình nghệ thuật, đặc trưng của kịch

mà người giảng dạy kịch cần chú ý, sự khác nhau giữa bi kịch và hài kịch, quá

Trang 8

trình phát triển của kịch nói ở nước ta, những vở kịch trong chương trình văn học cấp III Từ đó, tác giả nhận định: “Chúng ta không giảng dạy kịch với tính cách là một loại hình nghệ thuật mà chỉ giảng dạy kịch bản về phương diện văn học [20, tr 239]

Có thể nói, cuốn sách đã giúp GV thuận tiện hơn khi tiếp cận tác phẩm văn học từ đặc trưng loại thể

- Với cuốn “Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài” - NXB Giáo dục,

2003, tác giả Phùng Văn Tửu đã có những đóng góp quan trọng cho việc dạy kịch có hiệu quả Ông viết: “Khi giảng kịch, chúng ta chú ý đến đặc trưng của loại hình nghệ thuật này để học sinh khỏi rơi vào tình trạng thấy học kịch chẳng khác gì học truyện ngắn hay tiểu thuyết ” [18]

Điều đó có nghĩa là, ông muốn nhấn mạnh đến đặc trưng loại thể của kịch khi giảng dạy Phân tích một đoạn kịch phải gắn liền với kết cấu, với bối cảnh, không gian, thời gian, lời thoại nhân vật, hành động, xung đột Tất cả những yếu tố trên là những định hướng ban đầu giúp ta tiếp cận kịch bản văn học còn hướng tiếp nhận tác phẩm kịch theo đặc trưng loại thể thì chưa được chỉ ra rõ ràng, cụ thể

- Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)” - NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 cũng khẳng

định: “Việc xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong quá trình phát triển khoa học PPDH tác phẩm văn chương” [3, tr 99] Từ đây tác giả đưa ra phương pháp, biện pháp cụ thể dạy học tác phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình, các tác phẩm văn học nước ngoài Còn riêng với tác phẩm kịch, ông mới chỉ dừng lại ở mức

độ khơi gợi chứ chưa đưa thành một chương của cuốn sách

- Tài liệu Bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, SGK lớp 11 môn Ngữ văn - NXB Giáo dục, 2007, cũng nêu rõ: “Khi giảng kịch, phải làm sao để học sinh cảm nhận được đặc trưng của thể loại, tránh học kịch mà như học tiểu thuyết hay truyện ngắn ” [19, tr 192]

Trang 9

Rõ ràng, phân tích một tác phẩm văn chương không thể không chú ý tới đặc trưng loại thể của nó Ý thức về loại thể giúp người dạy, người học định hướng đúng việc phân tích tác phẩm văn học Tùy thuộc vào thể loại của đối tượng phân tích mà tìm cách tiếp cận cho phù hợp

2.2 Những ý kiến phẩm bình về kịch của Lưu Quang Vũ

- Cuốn “Lưu Quang Vũ – về tác gia và tác phẩm” của Lý Hoài Thu – Lưu

Khánh Thơ, NXB Giáo dục (2007) có bài viết “ Con đường sáng tạo của một tài năng” của nhà nghiên cứu Ngô Thảo bàn về phong cách kịch Lưu Quang

Vũ Theo tác giả, phong cách kịch Lưu Quang Vũ có những điểm nổi bật sau: + Phạm vi đề tài rộng rãi: từ cổ tích dân gian, từ lịch sử, dã sử đến các đề tài hiện đại

+ Lưu Quang Vũ có khả năng đặc biệt trong việc tạo tình thế kịch Trong mỗi tình thế kịch, điều đáng quý là Vũ đã tạo dựng được một thế giới nhân vật Hàng loạt các nhân vật truyền thuyết, lịch sử được Vũ làm mới lại và định hình trong những đường nét được chấp nhận Mỗi vở kịch Lưu Quang Vũ đều xây dựng được những nhân vật đáng nhớ

+ Lưu Quang Vũ có biệt tài xây dựng những nhân vật phụ có tính cách, có

cá tính và rất “sống” Vũ đặc biệt chú ý quá trình phát triển của tính cách nhân vật Nếu bố cục vở kịch của Vũ thường không có gì rối rắm thì trong phân tích tâm lí, ông lại chú ý đến những bước phát triển tâm lí, đột biến, những điểm ngoặt trong tính cách tạo nên những xen kịch bất ngờ, lý thú mà sâu sắc

+ Nét đặc sắc nổi bật của kịch Lưu Quang Vũ là ngôn ngữ nhân vật thường không chỉ tự nhiên, gọn, sáng sủa mà còn nhiều sức gợi nghĩ…Ngôn ngữ kịch của ông thường tự nhiên nhiều lang ý tứ

- Cuốn “Lưu Quang Vũ tác phẩm chọn lọc” – nhà xuất bản Giáo dục Việt

Nam (2009), có bài viết mở đầu “Lưu Quang Vũ – Tài năng và lao động nghệ thuật” đã đánh giá “Kịch là nơi Lưu Quang Vũ có thể bộc lộ trực tiếp hơn những khám phá và nhận thức của mình, là nơi ông có thể đóng góp được một cách

Trang 10

trực tiếp và tích cực hơn cho cuộc sống” và “Viết kịch là để sống cho mọi người Chọn cho mình con đường viết kịch, Lưu Quang Vũ đã tìm ra con đường ngắn nhất để đến với công chúng khán giả, để có dịp được bộc lộ những gì mình đang ấp ủ Mỗi một vở kịch là một mặt cắt của hiện thực, ở đó hiện lên những số phận, những cảnh đời khác nhau Có niềm vui, nỗi buồn, có khổ đau, hạnh phúc Ngòi bút của ông khi đau đớn xót xa, lúc thâm trầm sâu lắng, khi mạnh mẽ đanh thép, lúc lại nghiệt ngã chua cay hoặc cao giọng phê phán Ông gửi gắm trong đó những tâm tư, tình cảm, khát vọng, những trăn trở về tình yêu, hạnh phúc, những suy tư về lẽ sống, lẽ làm người, cả những dự cảm về sự sống và cái chết…

Trong khoảng thời gian ngắn gần 10 năm, Lưu Quang Vũ đã sáng tác được hơn 50 vở kịch, một khối lượng đồ sộ khiến nhiều người kinh ngạc Ông được đánh giá là “nhà viết kịch xuất sắc của thời kỳ hiện đại” Nhà phê bình sân khấu Ngô Thảo – nguyên Phó Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đã nhận xét: “Có đến ba phần tư số nghệ sĩ Nhân dân, nghệ sĩ ưu tú của Việt Nam (ở lĩnh vực sân khấu) phải hàm ơn Lưu Quang Vũ” Trong lịch sử sân khấu nước

ta, thời kỳ của Lưu Quang Vũ có lẽ là thời kỳ sôi động, giàu sức sống nhất, thu hút đông đảo người xem nhất Những năm 80, kịch của Lưu Quang Vũ xuất hiện đã làm thay đổi tư duy của người biểu diễn cũng như của công chúng yêu sân khấu Nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình đã đánh giá cao tài năng, tâm huyết và những đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với nền sân khấu nói riêng và với nền văn học nước nhà nói chung Ông cũng là một trong những người tiên phong trong phong trào đổi mới văn hóa văn nghệ, dùng ngòi bút của mình góp phần đem lại những điều tốt đẹp cho cuộc sống

Lưu Quang Vũ đã góp phần đem đến cho sân khấu những năm 80 của thế

kỷ XX một sức sống mới Ông đã kết hợp và phát huy được những thế mạnh của mình khi đến với loại hình nghệ thuật có tính chất tổng hợp như sân khấu

Trang 11

Kịch của Lưu Quang Vũ khai thác nhiều đề tài, đi vào khám phá muôn mặt của đời sống xã hội và con người Căn cứ vào cốt truyện của kịch bản, có thể phân chia, sắp xếp kịch Lưu Quang Vũ ra làm nhiều loại: Loại dựa vào một số tích

cũ của văn học dân gian rồi viết lại; Loại dựa vào một cốt truyện văn học để chuyển thành kịch; Loại sáng tác về đề tài hiện đại tiêu biểu như kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

Năm 1984, vở “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ đã gây được tiếng

vang lớn, được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt Với vở kịch này Lưu Quang

Vũ đã mở đầu cho đề tài đổi mới trong cơ chế sản xuất và quản lý, góp một tiếng nói quan trọng đấu tranh chống tiêu cực, xây dựng hình tượng con người mới trong cơ chế mới Vở kịch đã chứng tỏ một sự nhạy bén trong những vấn

đề thời sự, tạo ra sự tranh luận sôi nổi, gay gắt về vấn đề đổi mới Vở kịch là tiếng nói nghệ thuật về những điều mà mọi người đang trăn trở, những điều mà những người can đảm đã nghĩ, đã làm và có khi là phải trả giá cho những việc làm đó Lưu Quang Vũ đã công khai bảo vệ tư tưởng mới, lối nghĩ mới, cách làm ăn năng động sáng tạo, đồng thời phê phán cơ chế quan liêu bao cấp trong lĩnh vực quản lý kinh tế và cả trong lĩnh vực tinh thần Với vở kịch này Lưu Quang Vũ được coi là một trong những tác giả mở đầu cho đề tài đổi mới Với

“Tôi và chúng ta”, Lưu Quang Vũ đã nói lên niềm khát khao của cả cộng đồng

“Như một hồi kèn khởi động cho cả đất nước bước vào thời kỳ mới mạnh mẽ

và bão táp dưới ngọn cờ của Đảng” (Vũ Hà, báo Hà nội mới, ngày 10/10/2000) Trong nhiều vở kịch của mình Lưu Quang Vũ đã thể hiện tư tưởng cái triết

lý phương Đông sâu sắc Đó là nỗi trăn trở về sự sống và cái chết Có thể nói đây là tư tưởng xuyên suốt trong kịch của ông, nó chi phối những tư tưởng khác như ý tưởng về cái thiện, cái ác, về lòng tốt, về lẽ sống, lẽ làm người Năm 18 tuổi, chàng thanh niên Lưu Quang Vũ đã ghi những dòng nhật ký tràn đầy dự cảm lo âu về cuộc sống và cái chết: “Rất có thể một điều vô lý nào đó tới cắt đứt cuộc đời ta Cái chết, ta không sợ nó nhưng nếu chết bây giờ thì uổng quá

Trang 12

Chưa làm được gì cả, ăn hại 17 năm thế rồi chết ư? Thần chết ơi, ta chẳng cần nhiều đâu Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có thể coi là đã làm được chút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt” Và chính “tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh”, những dự cảm tưởng như mơ hồ ấy đã đeo đẳng Lưu Quang Vũ suốt cả cuộc đời, như là một ám ảnh định mệnh

Có thể nói kịch Lưu Quang Vũ đã bắt đúng mạch của cuộc sống, đáp ứng được những điều mọi người trăn trở, những tâm sự đau đớn của khán giả Vì thế mà ông đã gặt hái được rất nhiều thành công giữa lúc sân khấu đang “đói” những kịch bản hay, theo sát cuộc sống đương thời Kịch Lưu Quang Vũ là tiếng nói trẻ trung, nhiệt tâm, sức lực, sự hiểu biết cuộc sống của người nghệ sĩ đồng thời cũng là kết quả của một tình yêu, của lòng say mê và khát vọng nghệ thuật Trên đôi vai lực lưỡng của mình, Lưu Quang Vũ đã gánh đỡ cả một nhu cầu to lớn về kịch bản cho hàng chục đoàn kịch trong cả nước Có thể nói Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch sáng giá nhất trong những năm 80 của thế kỷ XX đầy biến động Chính sự sáng suốt của lý trí và chất men say của thơ đã tạo nên những nét đặc sắc trong kịch của ông và làm nổi bật chân dung của một người nghệ sĩ tài năng, một hiện tượng độc đáo của nền văn học nghệ thuật nước nhà

2.3 Những tài liệu hướng dẫn dạy học kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

- Sách giáo viên Ngữ văn 9 tập 2 (NXB Giáo dục Việt Nam, 2013) đã trình bày như sau:

+ Tên bài học: Bài 33: TÔI VÀ CHÚNG TA (Trích cảnh ba)

+ Kết quả cần đạt: Hiểu được tính cách của các nhân vật tiêu biểu Hoàng Việt, Nguyễn Chính; từ đó thấy được cuộc đấu tranh gay gắt giữa những con người mạnh dạn đổi mới với những kẻ mang tư tưởng bảo thủ, lạc hậu Hiểu thêm về đặc điểm của thể loại kịch

+ Nôi dung bao gồm:

 Giới thiệu vài nét cơ bản về tác giả và tác phẩm

Trang 13

Hướng dẫn HS xác định các vấn đề cơ bản về nguyên tắc, cơ chế; chủ nghĩa tập thể; ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước những năm bấy giờ; phân tích: tình huống kịch, mẫu thuẫn cơ bản, tính cách của các nhân vật tiêu biểu và trình bày cảm nhận

+ Luyện tập: Gợi ý cho HS trình bày tóm tắt sự phát triển của mâu thuẫn kịch trong đoạn trích theo yêu cầu của SGK

Qua việc khảo sát, chúng tôi nhận thấy: Bài học tập trung, bám sát vào các câu hỏi trong SGK và có hướng theo đặc trưng thể loại kịch Nhưng, từ việc soạn bài ở nhà HS sẽ đọc lại phần bài đã soạn chứ không cần suy nghĩ thêm các vấn đề mới hay lựa chọn một cách trình bày mới sao cho dễ học, dễ nhớ hơn

Và chưa có nội dung khắc sâu kiến thức về thể loại kịch

- Trong cuốn “Dạy – học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Ngữ văn 9” tập 2 (Chủ biên Nguyễn Khắc Phi, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011) đã xác định cụ thể kiến thức và kĩ năng bài học qua ba ý: nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa đoạn trích Cuối cùng là hướng dẫn tự học với hai câu trình bày: trình bày tóm tắt sự phát triển mẫu thuẫn kịch và trình bày cảm nhận về cuộc đấu tranh giữa hai phái So với SGK thì

ở đây bài học được định hướng theo đặc trưng thể loại rõ ràng hơn

- Trong cuốn “Thiết kế bài học Ngữ Văn 9 theo hướng tích hợp” ( Hoàng Hữu Bội, NXB Giáo dục, 2005) đã nêu rõ định hướng dạy học, đó là: dẫn dắt

HS đi từ văn bản tới việc tái hiện cuộc xung đột “nảy lửa” diễn ra giữa phái đổi mới và phái bảo thủ tại phòng làm việc của Giám đốc xí nghiệp; sau đó nhận xét về tính cách một số nhân vật tiêu biểu cho những phái; cuối cùng rút ra chủ

đề của cảnh ba vở kịch Tôi và chúng ta Từ định hướng đó, tác giả triển khai tiến trình bài học qua bốn ý cụ thể:

+ Tiếp xúc bước đầu với văn bản ( đọc văn bản; tìm hiểu vài nét về tác giả

và tác phẩm; tóm tắt kịch bản Tôi và chúng ta)

+ Thâm nhập vào cuộc tranh luận “nảy lửa” giữa phái đổi mới và phái bảo thủ ( hai gợi dẫn)

Trang 14

+ Nhận xét tính cách của các nhân vật ( một gợi dẫn)

+ Tìm hiểu nội dung tư tưởng của cảnh ba ( một gợi dẫn)

Với bốn gợi dẫn, tác giả đưa HS đến những nội dung cơ bản của bài học qua việc bám sát vào lời nói, hành động và xung đột của các nhân vật, để từ đó hiểu nội dung tư tưởng của đoạn trích Về cơ bản, tác giả cũng đã hướng HS đến những đặc trưng của thể loại kịch

- Cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn Trung học cơ sở 9, tập 2 ( Nguyễn Văn Đường (chủ biên), NBX Hà Nội,2012) đã có một điểm mới là dạy tích hợp với nhiều bài học ( Tích hợp với đoạn kịch Bắc Sơn, đoạn kịch Ông Giuốc – đanh học làm quý tộc, với bài Tổng kết phần Văn học và bài Kiểm tra tổng hợp) Việc dạy tích hợp này sẽ tạo điều kiện cho HS được so sánh với các kịch bản văn học khác Định hướng dạy học trong cuốn sách này cũng đưa đoạn trích vào tìm hiểu theo thể loại nhưng trong hoạt động bốn còn bị trùng lặp ở việc phân tích, tìm hiểu nhân vật Hoạt động tổng kết và luyện tập được mở rộng hơn với sáu nội dung:

1 Dự đoán xu thế và kết quả của cuộc đấu tranh trong vở kịch như thế nào

2 Mâu thuẫn trong đoạn trích vở kịch đã giải quyết đến mức nào? Vì sao?

3 Tính cách các nhân vật và mâu thuẫn kịch được giải quyết và làm rõ chủ yếu bằng phương tiện gì?

4 Đọc lại nội dung Ghi nhớ trong SGK

5 Tập diễn đoạn kịch trên trong buổi ngoại khóa

6 Chuẩn bị soạn bài Tổng kết Văn học

Trong nghiên cứu khoa học thì việc xác định, định hướng nghiên cứu là công việc rất quan trọng Vì có định hướng đúng thì mới có những biện pháp , phương pháp nghiên cứu phù hợp Những định hướng trên sẽ giúp chúng tôi biết được những người nghiên cứu trước tìm hiểu, nghiên cứu và giải quyết vấn

đề ở mức độ nào, học đã có những ý kiến, luận điểm và kết luận ǵ Từ đây, chúng tôi sẽ kế thừa những thành tựu đó và phát triển thêm sao cho phù hợp

Trang 15

với đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu Đây sẽ là cơ sơ để chúng tôi xây dựng chương hai: Định hướng dạy học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Kịch bản văn học: “Tôi và chúng ta” và phương pháp dạy học kịch bản văn học này theo loại thể

- Phạm vi nghiên cứu:

Đoạn trích “Tôi và chúng ta” ( trích cảnh ba) trong SGK; hoạt động dạy

và học trích đoạn kịch bản văn học ấy của giáo viên và học sinh lớp 9

4 Mục đích nghiên cứu

Tìm ra một phương pháp, phương án hoặc đề xuất những định hướng, một

số biện pháp, kĩ thuật dạy học vừa phù hợp với đặc điểm thể loại của kịch bản văn học đó, vừa phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của học sinh lớp 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, cần giải quyết ba nhiệm

vụ sau:

5.1 Nghiên cứu vấn đề trên bình diện lí thuyết

- Loại thể trong văn học Việt Nam

- Đặc trưng của loại hình kịch

- Phương pháp dạy kịch bản văn học theo loại thể

5.2 Nghiên cứu vấn đề trên bình diện thực tiễn

- Vị trí của tác phẩm “Tôi và chúng ta” ( Lưu Quang Vũ) trong chương

trình Ngữ văn cấp THCS

- Hiểu biết của HS lớp 9 với kịch bản văn học và kịch của Lưu Quang Vũ,

đặc biệt là kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

- GV với việc dạy đoạn trích kịch bản “Tôi và chúng ta” ở trên lớp

5.3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

Luận văn sẽ đề xuất cách thức tổ chức dạy học, thiết kế bài học trích đoạn

kịch bản văn học “Tôi và chúng ta” và tiến hành dạy thực nghiệm để kiểm

chứng tính khả thi và hiệu quả của thiết kế mà luận văn đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ trên chúng tôi vận dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp đọc và xử lí tư liệu được tác giả sử dụng trong quá trình làm luận văn Tác giả đã tìm tòi, tra cứu các tài liệu liên quan đến đề tài để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài

- Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng để giới thuyết lịch sử vấn

đề và xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài; phân tích các số liệu khảo sát xây dựng

cơ sở thực tiễn cho đề tài

- Phương pháp hệ thống, thống kê các tài liệu nghiên cứu về dạy học theo đặc trưng thể loại, về tác giả Lưu Quang Vũ và trích đoạn “Tôi và chúng ta”

- Phương pháp so sánh khi tiến hành phân tích tài liệu và kết quả thực nghiệm

- Phương pháp tổng hợp các lí thuyết để tập hợp các ý kiến, phân tích phục

vụ yêu cầu của luận văn

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong trường trung học hiện nay bằng cách dự giờ, phiếu khảo sát điều tra Từ đó rút ra các kết luận đáng tin cậy

7 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc của luận văn gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận.Phần nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Định hướng dạy học kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Ngoài ra, luận văn còn phần phụ lục và tài liệu tham khảo

Trang 18

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Vấn đề loại thể trong văn học

Theo cuốn “150 thuật ngữ văn học” ( Lại Nguyên Ân biên soạn, NXB

Đại học quốc gia Hà Nội, 2011): “Phạm trù phân loại các tác phẩm văn học, vốn dĩ đa dạng đồng thời có sự giống nhau, từng nhóm một, theo một dấu hiệu nhất định Các nhóm lớn nhất là những “loại”; mỗi loại gồm những nhóm nhỏ hơn là những “thể” (hoặc “thể loại”, “thể tài”)” [1,tr.190]

Trong lịch sử văn học, ở cấp độ phân chia những loại, có uy tín nhất là cách phân chia của Aristoteles, theo đó toàn bộ các tác phẩm văn học gồm ba loại lớn:

Tự sự bao quát tồn tại với đặc tính tạo hình, quảng tính thời gian – không gian, tính biến cố (tính sự kiện) Trữ tình ghi lại thế giới bên trong cá nhân với những xung đột nội quan, với sự hình thành và thay đổi của các ấn tượng, mộng tưởng, tâm trạng, liên tưởng, trầm tư, xúc động (tính biểu cảm) Còn kịch ghi

Trang 19

lại những hành vi ngôn ngữ trong định hướng ý chí – cảm xúc của chúng, trong đặc tính xã hội – tâm ly của chúng, trong sự tự do nội tại và điều kiện hóa ngoại tại của chúng, tức là trong sự tương quan hai mặt biểu cảm – sự kiện của chúng; điều này cho phép nhận thấy ở loại văn học kịch sự hòa trộn những nét của trữ tình và tự sự

Cách phân loại văn học trên đây ứng với cách phân nhóm nghệ thuật trong

mỹ học, theo đó có nhóm các nghệ thuật miêu tả, nhóm các nghệ thuật biểu hiện và các nhóm nghệ thuật diễn xướng (miêu tả - biểu cảm) Cách phân loại văn học trên đây cũng gắn với hai phạm trù chủ thể và khách thể (cùng sự tương tác giữa chúng) trong nhận thức luận Tiền đề của việc phân loại là tính chất đa hình đa dạng của ngôn từ như phương tiện nghệ thuật vốn có sự gần gũi (trong các khả năng tạo hình, biểu hiện, thể hiện động thái) với màu sắc, âm thanh, động tác Sự khác nhau giữa các loại văn học tùy thuộc ở khả năng kết hợp với các nghệ thuật khác: trữ tình với âm nhạc (bài hát), kịch với pantomim (sân khấu), tự sự với đồ họa và hội họa (sách có minh họa), v.v Đôi khi cách chia thành ba loại văn học như trên có sự tương đồng với các phạm trù “ngôi” và

“thì” trong tâm lý học ngôn ngữ: trữ tình thì ứng với ngôi thứ nhất và thì hiện tại; kịch úng với ngôi thứ hai và thì tương lai; tự sự ứng với ngôi thứ ba và thù quá khứ

Trong phạm vi mỗi loại văn học là các thể (“thể loại” hoặc “thể tài”), chúng được phân chia căn cứ vào các tố chất thẩm mĩ chủ đạo, vào giọng điệu, vào dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm Dung lượng thường phụ thuộc

và loại văn học và giọng điệu; ví dụ trữ tình thường có dung lượng nhỏ; kịch chỉ

có một số kích cỡ do bị quy định bởi việc diễn xướng; chất anh hùng ca, chất bi kịch đòi hỏi sự khai triển “dài hơi”, v.v kích cỡ tác phẩm đôi khi còn tùy thuộc

ở ý đồ tác giả

Nhiều thể còn được chia nhỏ hơn, căn cứ vào các nguyên tắc cụ thể được quy định sẵn Diện mạo các thể phong phú và phồn tạp còn do các dạng thức

Trang 20

Các lý thuyết về thể thường không bao quát được toàn bộ hệ thống, không xác định được chính xác vị trí một tác phẩm trong hệ thống

Mỗi thể (tức là một “diện mạo” chung mà người ta hình dung được do trừu xuất từ một loạt tác phẩm thuộc thể ấy) là một khối thống nhất những đặc điểm hình thức trên những điểm căn bản: kết cấu, hình tượng, ngôn ngữ, tiết tấu Có những khác biệt nhất định về thể tài ở những tác phẩm thuộc các đề tài khác nhau và của những nghệ sĩ khác nhau Tuy vậy, mỗi thể là một thành tạo bền vững, ổn định; mỗi thể là một hệ thống những thành tố hình thức đã thấm nhuần những hàm nghĩa nhất định

Trong sự phát triển lịch sử, các thể liên tục bị biến đổi, bị cải tạo, nhất là trong sáng tác của những tác giả xuất sắc Có những thể được hình thành qua nhiều thế kỉ, sau một thời gian dài tồn tại, đã lụi tàn Tuy nhiên các thể cũng bộc lộ tính bền vững, “sống dai”; các hình thức từng được đề xuất hiếm khi bị

bỏ qua; nhiều khi một thể được tái sinh dưới dạng mới

Thể loại văn học phản ánh những hướng phát triển bền vững của văn học;sự tồn tại của thể loại văn học có ý nghĩa như sự bảo lưu, đổi mới các hướng phát triển ấy Thể loại văn học, do vậy vừa mới vừa cũ, vừa biến đổi vừa ổn định

1.1.2 Kịch bản văn học

• Khái niệm về kịch

Cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi chia thuật ngữ kịch theo hai cấp độ: cấp độ loại hình và cấp độ thể loại

Theo đó mà xác định được, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Nó vừa để diễn lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch Song nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ và lời nói ( riêng kịch câm thì không nói bằng lời)

Trang 21

Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung đột muôn thuở mang tính nhân loại (như giữa thiện và ác, cao cả

và thấp hèn, ước mơ và hiện thực…) Những xung đột ấy được thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của các nhân vật và theo những quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch Trong kịch thường chứa đựng nhiều kịch tính, tức là sự căng thẳng do tình huống tạo ra đối với nhân vật Phần lớn kịch được xây dựng trên hành động bên ngoài với những diễn biến của chúng và theo những nguyên tắc có sự đấu tranh chống lại của các nhân vật Tuy nhiên, cũng có hành động bên trong qua đó nhân vật chủ yếu là suy ngẫm và chịu đựng một tình huống xung đột bên trong hết sức căng thẳng Trong kịch, những lời phát biểu của các nhân vật (trong đối thoại hoặc độc thoại) nói lên hành động, ý chí và sự khám phá tích cực của họ có một ý nghĩa quyết định Còn những lời trần thuật (câu chuyện kể của nhân vật về những điều đã qua, sự thông báo của người dẫn truyện, những lời chỉ dẫn của tác giả trong kịch bản) chỉ đóng vai trò thứ yếu và nhiều khi không cần đến

Về mặt kết cấu, vở kịch thường chia làm nhiều hồi, cảnh, nhằm tạo ra sự trùng hợp giữa thời gian, địa điểm và hành động kịch, dồng thời làm cho cái được trình diễn mang màu sắc xác thực của cuộc sống Qua các thế kỉ khác nhau, mối quan hệ giữa ba yếu tố: thời gian, địa điểm, hành động trong kết cấu của kịch không ngừng thay đổi tùy theo quan niệm của người sáng tạo và quy

mô, tầm vóc của những sự kiện, biến cố được phản ánh

Trên cấp độ loại hình, kịch bao gồm nhiều thể loại: bi kịch, hài kịch, chính trị, cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau

Và, mặt khác, Thuật ngữ “kịch” được hiểu là dùng để chỉ một thể loại văn học – sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này, kịch cũng còn gọi là chính kịch Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng của con người bình thường nhưng mục đích chính không phải để cười nhạo, chế giễu các thói hư tật xấu, mà là mô tả cá nhân trong các mối quan

Trang 22

trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt, song những xung đột của nó không căng thẳng đến tột độ, không mang tính chất vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể giải quyết ổn thỏa Còn các tính cách của kịch thì không có gì đặc biệt, phi thường

Kịch hình thành như một thể loại vào nữa sau thế kỉ XVIII qua sáng tác của các nhà Khai sáng ở Đức và Pháp Nó hướng về những lợi ích tinh thần đạo đức, về lí tưởng của các lực lượng dân chủ tiến bộ đương thời Trong qua trình phát triển của kịch, tính kịch bên trong của nó ngày càng cô đọng, dồn nén hơn

Nó cũng tiếp nhận những thủ pháp nghệ thuật, phương tiện biểu đạt của các thể loại văn học sân khấu như bi hài kịch, kịch hề… để tăng thêm sức hấp dẫn và tác động nghệ thuật của nó đối với công chúng

Ở Việt Nam, kịch ra đời vào cuối những năm 20 của thế kỉ XX, với những sáng tác như Chén thuốc độc của Vũ Đình Long, Kim tiền của Vi Huyền Đắc…

Từ sau Cách mạng tháng Tám, kịch ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn học – sân khấu và xã hội ở nước ta

Như vậy, nói đến kịch là nói đến một hình thức nghệ thuật đặc biệt, được diễn viên biểu diễn trên sân khấu với các hành động, cử chỉ và lời nói Từ đó, bộc lộ suy nghĩ, tính cách của nhân vật và thấy được giá trị nội dung, nghệ thuật của vở kịch Kịch có nhiều đặc điểm riêng biệt, ngoài sự tồn tại ở hình thức biểu diễn trên sân khấu thì kịch còn có thể đọc, tức là kịch bản văn học

• Kịch bản văn học

Kịch bản văn học là một trong bốn thể loại cơ bản của văn học (thơ, kí, truyện và kịch) Bêlinxki cho rằng: Tác phẩm kịch là “sự dung hợp giữa các yếu tố đối lập của tính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình”, kịch chính

là nơi dung hợp hai yếu tố tự sự và trữ tình Kịch bản văn học – một trong những thể loại chính của văn học tiêu biểu cho phương thức phản ánh – phương thức kịch Kịch bản là một bộ phận của văn học, nó vừa thuộc nghệ thuật sân khấu vừa thuộc nghệ thuật ngôn từ Là một vở diễn trên sân khấu, sống cùng

Trang 23

với công chúng khán giả và cũng là một tác phẩm văn học, tồn tại cùng công chúng độc giả Tuy nhiên, kịch bản văn học không thể bộc lộ đầy đủ vẻ đẹp như một vở kịch được trình diễn trên sân khấu Những nhà viết kịch đều phải thừa nhận mối liên kết chặt chẽ giữa kịch bản văn học với bộ môn nghệ thuật sân khấu, trong đó kịch bản văn học là “linh hồn” là cái gốc cho sự thành công mang ý nghĩa trọn vẹn của kịch sân khấu Như vậy, kịch bản văn học là một bộ phận hợp thành của nghệ thuật sân khấu và nó không chỉ sống đời sống gắn bó với nghệ thuật sân khấu, mà còn có đời sống riêng của nghệ thuật ngôn từ

1.1.3 Đặc trưng thể loại của kịch bản văn học

Có rất nhiều ý kiến, khái niệm và cách phân chia khác nhau về kịch bản văn học, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì về cơ bản kịch

có những đặc trưng sau:

- Xung đột kịch

Kịch bắt đầu từ xung đột Phađeep khẳng định: “Xung đột là cơ sở của kịch” Hiểu theo nghĩa hẹp, xung đột trong tác phẩm kịch là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể hiện trong mỗi màn, mỗi hồi kịch

Có nhiều loại xung đột khác nhau Có xung đột biểu hiện của sự đè nén, giằng co, chống đối giữa các lực lượng, có xung đột được biểu hiện qua sự đấu tranh nội tâm của một nhân vật, có xung đột là sự đấu trí căng thẳng và lí lẽ thuyết phục đối phương giữa hai lực lượng…

Xung đột kịch cần phải phản ánh qua những mâu thuẫn cơ bản của xã hội

và thời đại, nói cách khác là luôn mang tính lịch sử cụ thể Ở những thời đại khác nhau có những xung đột khác nhau

Do tính chất sân khấu qui định cho nên trong khi phản ánh hiện thực, tác giả kịch bản buộc phải bước vào những mâu thuẫn trong cuộc sống đã phát triển đến chỗ xung đột, đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách này hay cách

Trang 24

khác Vì vậy, có thể nói, xung đột là đặc điểm cơ bản của kịch Hêghen cho rằng “ Tình thế giàu xung đột là đối tượng ưu tiên của nghệ thuật kịch”

Trong kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”, bằng cách để cho Giám đốc Hoàng Việt công bố kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm ăn mới trước cuộc họp của các cán bộ quản lí xí nghiệp, tác giả đã tạo ra tình huống xung đột trực tiếp giữa hai phái qua những đối thoại của các nhân vật Tư tưởng đổi mới của Hoàng Việt đã đụng chạm tới các quan niệm và quy định vốn được coi là những nguyên tắc không thể thay đổi, nên đã gặp phải sự phản đối của Trưởng phòng Tổ chức lao dộng, Trưởng phòng Tài vụ, Quản đốc Trương và nhất là của Phó giám đốc Nguyễn Chính Cảnh ba mới chỉ là mở đầu cuộc xung đột giữa hai phái, sẽ còn tiếp diễn gay gắt trong những cảnh sau của vở kịch Nhưng

ở cảnh này, mỗi phái đã bộc lộ rõ quan điểm của mình, đồng thời cho thấy cuộc đấu tranh sẽ còn quyết liệt, cái mới không phải dễ dàng chiến thắng cái bảo thủ lạc hậu

- Hành động kịch

Hành động chính là đặc trưng của kịch Hêghen cho rằng: “ Nội dung chủ yếu của tự sự là sự kiện, của trữ tình là tâm trạng và của kịch là hành động” Trong kịch, nếu xung đột được coi là điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm, thì hành động lại là yếu tố duy trì sự vận hành của tác phẩm Hành động là sự thể hiện trực tiếp nội dung của xung đột kích Vì vậy, hành động là yếu tố đặc trưng không thể thiếu đối với bất kì một kịch bản văn học nào

Hành động kịch được thể hiện qua suy nghĩ, hành vi, động tác, ngôn ngữ của nhân vật Hành động kịch thường phát triển theo hướng thuận chiều với xung đột kịch Xung đột càng căng thẳng thì hành động càng trở nên quyết liệt Như vậy, hành động kịch không phải những hành động đơn lẻ, ngắt quãng mà

là một chuỗi hành động liên tục xoay quanh xung đột Hành động kịch ở dây chính là cốt truyện kịch được tổ chức một cách thống nhất, chặt chẽ trong khuôn khổ của một chính thể nghệ thuật

Trang 25

Cụ thể, sau một năm về làm quyền giám đốc xí nghiệp Thắng Lợi, Hoàng Việt đã nhận ra xí nghiệp đang đứng bên bờ vực thẳm, mọi người tự đánh lừa mình, lừa cấp trên bằng việc hoàn thành các kế hoạch một cách giả tạo Nay với tư cách là quyền giám đốc, nhận thấy những bất hợp lí đó, Hoàng Việt quyết định củng cố lại xí nghiệp và thực thi phương án làm ăn mới, dứt khoát không tuân thủ theo những lối mòn các nguyên tắc lạc hậu đã kìm hãm sự phát triển của xí nghiệp, với ý kiến của Hoàng Việt về kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm ăn mới không được sự đồng thuận và chia sẻ của những người bảo thủ đang là cộng sự của mình Muốn mở rộng quy mô sản xuất thì cần phải thêm nhiều công nhân Trưởng phòng Lao động cho rằng: biên chế trên cho ta

có thế Trưởng phòng Tài vụ nói không có quỹ lương cho hợp đồng, không chịu chi tiền để sửa chữa vật tư máy móc, dù đã có lệnh chi của giám dốc Việc giảm biên chế của quản đốc phân xưởng đã gây phản ứng mạnh mẽ đến quản đốc Trương Hoàng Việt cho đó là thừa, Trương cho đó một chức quan trọng không thể thiếu Nhất là Phó Giám đốc Nguyền Chính, người chỉ luôn miệng dựa vào cấp trên để không tán thành kế hoạch đối mới của Hoàng Việt Tình trạng ngưng trệ sản xuất của xí nghiệp đã đến lúc phải giải quyết bằng những quyết định táo bạo Sau quá trình tìm hiểu kĩ càng, quyền giám đốc Hoàng Việt quyết định công bố kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm

ăn mới Như vậy, có nghĩa là Việt và Sơn đã công khai tuyên chiến với cơ chế quản lí và phương thức tổ chức đã trở nên lỗi thời Những công bố của Hoàng Việt liên tiếp gây bất ngờ đối với nhiều người

Phản ứng của trưởng phòng Tổ chức lao động và trưởng phòng Tài vụ liên quan đến biên chế, đến quỹ lương Phản ứng của Quản đốc phân xưởng Trương liên quan đến hiệu quả sản xuất và quản lí công nhân Khi Hoàng Việt khẳng định phải đổi mới, phản ứng của nhóm người này càng lúc càng gay gắt Những xung đột trên chứng tỏ muốn mở rộng quy mô sản xuất, xí nghiệp cần phải có nhiều thay đổi mạnh mẽ, đồng bộ

Trang 26

Những tình tiết mà tác giả đưa ra chứng minh cho mâu thuẫn căng thẳng giữa cái mới và cái cũ Điều đó thể hiện qua tính cách của các nhân vật tiêu biểu, mà tính cách chủ yếu được bộc lộ qua hành động và ngôn ngữ

Đứng trước những khó khăn rất lớn của xí nghiệp, Hoàng Việt đã triệu tập cuộc họp toàn thể ban lãnh đạo để trình bày kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm ăn mới Theo Việt, muốn phát triển quy mô sản xuất, phải tận dụng hết khả năng lao động của công nhân, mà muốn vậy thì phải lo đủ nguồn vật tư, nguyên liệu

Sau đó là phải trang bị các loại máy móc mới và nâng cao trình độ tay nghề của công nhân Phương hướng mới của Giám đốc Hoàng Việt đưa ra đụng chạm tới chỉ tiêu kế hoạch sản xuất của xí nghiệp do cấp trên đưa xuống Mà quỹ lương của xí nghiệp thì chỉ đủ trả cho số công nhân trong biên chế Muốn

mở rộng sản xuất thì phải cần thêm thợ, có nghĩa là cần cổ tiền để trả lương cho thợ, mà tiền thì không có Những quy định về luật pháp, về quyền hạn và trách nhiệm của một giám đốc, Hoàng Việt cũng không có Gay nhất là phần lớn thành viên trong ban lãnh đạo không ủng hộ Hoàng Việt đã làm thế nào để giải quyết những khó khăn to lớn đó

Trước hết, Việt giải quyết vấn đề quỹ lương bằng một quyết định bất ngờ

và táo bạo: Trước mắt, chúng ta sẽ dừng việc xây nhà khách, sẽ có tiền trả đủ hai tháng lương Sau này sẽ truy hoàn

Tiếp đó, việc tu sửa máy móc hỏng hóc, đặt ra chế độ lương khoán theo sản phẩm để từ đó nâng cao mức lương của công nhân

Lời phát biểu chính xác và đầy nhiệt huyết của Giám đốc Hoàng Việt đã được mọi người hoan hô rầm rộ Là người trung thực, Hoàng Việt dũng cảm đấu tranh với niềm tin là chân lí sẽ thắng Mạnh dạn thay đổi bộ máy lãnh đạo bảo thủ và không có năng lực Khi bà Trưởng phòng tài vụ không chịu chi tiền, Việt nói : “ Nếu không thi hành, sẽ có người khác làm thay chị… Cô Loan kế toán – Trưởng phòng tài vụ, hãy chuẩn bị cho công nhân lĩnh lương mới từ thảng tới”

Trang 27

Hoàng Việt không ngại ngần bãi bỏ chức vụ dư thừa của Quản đốc Trương Khi Phó giám đốc Nguyễn Chính cố tình dựa vào cấp trên, vào nguyên tắc, vào Nghị quyết của Đảng ủy xí nghiệp để phản đối dữ dội thì Giám đốc

Hoàng Việt nghiêm khắc tuyên bố : “ Đồng chí là Phó giám đốc, tức là chức

vụ giúp việc cho Giám đốc Nếu không đồng ý với chức vụ ấy, đồng chí có thể xin từ chức…”

Việt biết rằng đằng sau bà Trưởng phòng tài vụ, ông Quản đốc phân xưởng, ông Phó giám đốc xí nghiệp… còn có cấp trên, có cơ chế cũ kĩ bênh vực và bảo vệ cho họ Hoàng Việt không thể thực hiện những ý định tốt đẹp một cách dễ dàng nhưng Việt luôn tin vào việc làm của mình là trong sáng, là đúng quy luật, nhất định sẽ được tập thể công nhân ủng hộ

Lê Sơn là một kĩ sư có năng lực, trình độ chuyên môn giỏi, từng gắn bó nhiều năm với xí nghiệp Dù biết rằng cuộc đấu tranh chống nếp nghĩ cũ kĩ, lạc hậu sẽ rất khó khăn nhưng anh vẫn chấp nhận, sẵn sàng cùng Hoàng Việt cải cách toàn diện hoạt động của xí nghiệp Anh là người trực tiếp soạn thảo ra phương án mới Tuy thế, anh không khỏi băn khoăn vì bao khó khăn, trở ngại chồng chất trước mắt Nhưng anh vẫn sẵn sàng cùng Giám đốc thực hiện bằng được những ý tưởng đúng đắn, tiến bộ Anh đã nói với Giám đốc rằng: – Thôi

được, hứa với anh: “Tôi không bỏ chạy đâu! Chỉ tuần sau là quy trình sản xuất mới sẽ được triển khai Ông Đông Ki-sốt khổ thân tôi, tôi lại giống kị mã Xan- chô, rất yêu và không thể thiếu được Đông Ki-sốt Này, nhưng dứt khoát các cối xay gió nó sẽ cho chúng ta ăn đòn nhừ tử đấy!”

Phó giám đốc Nguyễn Chính tiêu biểu cho loại người máy móc, bảo thủ nhưng cũng gian ngoan, nhiều mánh khóe Nguyễn Chính luôn vịn vào cơ chế, vào các nguyên tắc đã trở thành lạc hậu để chống lại sự đổi mới Anh ta chuyên môn kém nhưng lại khéo luồn lọt, xu nịnh cấp trên

Phản ứng của Phó Giám đốc Nguyễn Chính rất gay gắt bởi ông ta có chỗ dựa vững chắc là cấp trên, là nguyên tắc và Nghị quyết của Đảng ủy xí nghiệp

Trang 28

Quản đốc phân xưởng Trương là người suy nghĩ và làm việc như một cái máy, thích tỏ ra quyền thế, hách dịch với anh chị em công nhân Công việc từ trước đến này của ông ta là trông coi, quản lí, đốc thúc các tổ thợ, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, báo cáo lên Giám đốc Khi Giám đốc Hoàng Việt khẳng định sẽ không còn chức vụ này nữa thì ông ta tỏ thái độ bất bình ngay lập tức:

“Tôi không hiểu… Nếu như chúng tôi có khuyết điểm gì đồng chí có thể khiển trách, kỉ luật, đằng này… Xưa nay phân xưởng vẫn phải có Quản đốc Không phải tôi ham địa vị, nhưng bãi bỏ cả một chức vụ quan trọng như chức Quản đốc phân xưởng thì thật là…”

Cuộc đấu tranh này rất gay go, gian khổ nhưng cuối cùng phần thắng sẽ thuộc về phía cái mới, cái tiến bộ Bởi vì cách nghĩ, cách làm táo bạo của Hoàng Việt, Lê Sơn, Thanh… phù hợp với yêu cầu của thực tế đời sống, thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội Họ không đơn độc mà được sự ủng hộ của số đông anh chị em công nhân trong xí nghiệp

Qua đoạn trích, chúng ta thấy được cuộc đấu tranh gay gắt giữa những con người mạnh dạn đổi mới với những kẻ mang nặng tư tưởng bảo thủ, lạc hậu trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến chuyển mạnh mẽ để vươn lên và phát triển theo yêu cầu của lịch sử đã được thể hiện rất rõ qua hành động kịch

Dù là đối thoại, độc thoại hay bàng thoại, ngôn ngữ kịch đều nhằm khắc họa tính cách, nội tâm nhân vật

Trang 29

Ngôn ngữ kịch là một hệ thống ngôn ngữ mang tính hành động Hệ thống ngôn ngữ ấy có nhiệm vụ mô tả chân dung nhân vật kịch bằng hàng loạt các thao tác hành động Vì vậy, tính hành động là đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ kịch, là cơ sở giúp cho đạo diễn, diễn viên xử lí thích hợp cho hành động của nhân vật trên sân khấu

Ngôn ngữ kịch là một hình thái ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống: súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ

Chúng ta hãy lắng nghe lời đối thoại giữa Giám đốc Hoàng Việt và Phó giám đốc Nguyễn Chính:

– Anh Việt, tôi hi vọng tất cả những điều anh vừa nói, anh sẽ nghĩ lại – Tôi đã suy nghĩ rất kĩ

– Tôi ngỡ như mình đang ngủ mê

– Thì anh hãy thức dậy

– E rằng người đang ngủ mê lại là anh đấy, làm đảo lộn hàng loạt lề thói,

vi phạm hàng loạt nguyên tắc Đồng chí sẽ giải thích thế nào với cấp trên? – Như vừa giải thích với các đồng chí vậy

– Đồng chí bất chấp các quy định nghiêm ngặt của cả một hệ thống các

cơ quan tài chính, ngân hàng, lao động, vật tư…

– Những quy định từ lâu đã thành bất hợp lí, phục vụ cho một cơ chế quản

lí đã cũ kĩ, lạc hậu

– Đã cũ kĩ lạc hậu Không đâu ! Cái cơ chế mà đồng chí mạt sát ấy tồn tại bền vững mấy chục năm nay Nhờ nó mà chúng ta có hôm nay, có chủ nghĩa xã hội như ngày hôm nay, hạt gạo đồng chí ăn, cái áo đồng chí mặc và cả chính con người đồng chí nữa đã được rèn luyện và trưởng thành trong cơ chế ấy Đừng vội vã phủ nhận!

– Sự vật không đứng yên, cuộc sống không đứng yên một chỗ, có cái hôm qua đúng, hôm nay nó là vật cản Phải tìm cách phá bỏ, mong anh thông cảm

và hiểu cho tôi

Trang 30

– Tất cả những việc đồng chí định tiến hành, không có trong nghị quyết Đảng ủy xí nghiệp Đảng ủy chưa quyết định, đồng chí Việt ạ

– Có Nghị quyết Đảng ủy là đẩy mạnh sản xuất và ổn định đời sống công nhân Còn biện pháp thực hiện thế nào là trách nhiệm của Giám đốc

– Nhưng… đồng chí Việt… Chúng tôi không có quyền gì sao? Tôi là… – Đồng chí là Phó giám đốc, tức là chức vụ giúp việc cho Giám đốc Nếu không đồng ý với chức vụ ấy, đồng chí có thể xin từ chức…

– Được rồi,., đồng chí quá tự tin đấy! Được để rồi xem…

Lúc Nguyễn Chính bực tức bỏ đi, kĩ sư Lê Sơn nói với Giám đốc Hoàng Việt:

– Anh vội vã quá ! Anh đã đánh giá thấp đồng chí Phó Giám đốc của chúng ta! Con người ấy đã từng đánh đổ bốn đời Giám đốc Hắn thuộc loại người nếu bắt tay mình, mình phải xem lại tay có còn đủ năm ngón không! So với hắn ta, anh chỉ là cừu non Từ nay, Chính sẽ không can ngăn anh nữa đâu, hắn sẽ để mặc anh dấn thân vào các sự việc rồi hắn mới ra tay Hắn sẽ có chỗ

có nơi để làm việc đó… Anh không sợ à?

Đoạn đối thoại đã giúp cho người đọc hiểu phần nào về xung đột giữa các nhân vật có tư tưởng mới, dám nghĩ, dám làm thì Nguyễn Chính lại vin vào quy định, nguyên tắc cứng ngắc

Và có thể dễ dàng nhận thấy, ngôn ngữ kịch Lưu Quang Vũ rất tự nhiên, mang đậm tính khẩu ngữ, gần gũi với đời sống hàng ngày Mà cũng sắc sảo, giàu tính tạo hình và biểu cảm Qua ngôn ngữ, tính cách, chân dung nhân vật được bộc lộ sinh động, rõ nét Sự tương phản của hai phe được nổi bật nên qua lời thoại, qua ngôn ngữ nhân vật Và thật đặc biệt, thứ ngôn ngữ mà tác giả sử dụng rất sâu sắc giàu sức gợi nghĩ, mang các tầng lớp ý nghĩa Ở đó là những suy tư, trăn trở của tác giả về cuộc sống và con người

- Nhân vật kịch

Nhân vật kịch hình thành là do những lời lẽ của họ Nghĩa là, tác giả xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không bằng ngôn ngữ miêu tả

Trang 31

Nhân vật kịch chủ yếu là nhân vật loại hình Qua lời đối thoại, độc thoại nhân vật kịch tự bộc lộ nội tâm bí mật của mình Nhân vật kịch là một phương thức chiếm lĩnh hiện thực bằng nghệ thuật độc đáo

Tác phẩm kịch được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu, bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên số lượng nhân vật không thể quá nhiều và cũng không được khắc họa tỉ mỉ, nhiều mặt như trong các tác phẩm tự sự

Kịch là nghệ thuật thể hiện hình tượng con người một cách sống động nhất Cho nên hình tượng con người trong kịch cũng thuộc loại hình tượng mang tính ước lệ cao nhất Nó là nhân vật của trò diễn mà diễn viên là người đóng vai các nhân vật ấy trên sân khấu

Nhân vật của kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm Do đặc trưng của kịch là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó, con người bắt buộc phải hành động và vì vậy, con người không thể không đắn đo, suy nghĩ, cân nhắc, băn khoăn, dằn vặt…Chính từ đặc điểm này, nhiều tác giả kịch đã dùng biện pháp lưỡng hóa nhân vật nhằm biểu hiện cuộc đấu tranh nội tâm của chính nhân vật đó

Ví dụ như, qua đoạn trích “Tôi và chúng ta”, người đọc đã hình dung ra

một thế giới nhân vật đa dạng Với Hoàng Việt, Lê Sơn - những người có học vấn (Họ biết rõ về Cô-péc-ních, nhà thiên văn học nổi tiếng Ba Lan; lại biết cả thuyết Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-tét), có trí tuệ và bản lĩnh (dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết đoán) Họ luôn coi trọng yếu tố con người, quan tâm đến đời sồng của công nhân nên rất được công nhân đồng tình, ủng

hộ

Nguyễn Chính thì tiêu biểu cho loại người máy móc, bảo thủ và gian

ngoan, nhiều mánh khóe, hám tiền, hám chức: “con người ấy đã từng đánh đổ bốn đời Giám đốc Hắn thuộc loại người nếu bắt tay mình, mình phải xem lại tay có còn đủ năm ngón không?”

Trang 32

Trưởng phòng Tổ chức lao động, Trưởng phòng Tài vụ cũng là loại người máy móc, bảo thủ như Nguyễn Chính, lại quen thói của quyền – “thủ kho to hơn thủ trưởng”

Quản đốc Trương là kẻ cơ hội, lười biếng nhưng lại thích chức quyền, thích sai khiến người khác

Như vậy, từ đây, chúng tôi sẽ khai thác kịch bản văn học theo góc độ đặc trưng thể loại,tức là từ xung đột, nhân vật cuối cùng rút ra chủ đề và ý nghĩa

của kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

1.1.4.Phương pháp dạy kịch bản văn học theo đặc trưng thể loại (hay những lưu ý với giáo viên khi dạy học kịch)

Trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại” (NXB Giáo dục – Hà Nội 1971), Giáo sư Huỳnh Lý có bài viết “Kịch và giảng dạy kịch” theo đó: “ Nói cho đúng thì trường trung học phổ thông không giảng dạy

kịch mà chỉ giảng dạy một số vở kịch (cũng gọi là kịch bản) hay, có ví trí quan trọng trong lịch sử văn học: Chúng ta không giảng dạy kịch với tính cách là một loại hình nghệ thuật mà chỉ giảng dạy kịch bản về phương diện văn học” Giáo sư bằng lòng với khái niệm “ Kịch là sự tái diễn nghệ thuật hóa (chứ không phải bắt chước, rập khuôn, khôi phục một cách tự nhiên) một sự kiện cho rằng đã xảy ra, bằng cách tái hiện các nhân vật, khiến khán giả có cảm giác

là mình thấy và nghe trực tiếp chứ không thông qua ngôn ngữ của một “người thứ ba” diễn thuật (người đó là tác giả của truyện, ký, thơ tự sự)

Công việc tái diễn này cần phối hợp nhiều người, nhiều phương tiện, do

đó phải có một kế hoạch cho mọi người làm theo, sao cho sự diễn ra “y như thật” Kế hoạch đó là kịch bản

Cũng có thứ kịch ngắn hay những “pha” kịch trong đó diễn viên chỉ biểu hiện bằng điệu bộ (kịch câm), nhưng thông thường thì kịch đều có lời; hơn thế những mối xung đột, những diễn biến nội tâm, ngoại cảnh, những hành động đều được tìm cách thể hiện bằng lời nói của nhân vật là chính Vì thế ta có cảm

Trang 33

giác kịch bản là văn bản ghi lời nói của các nhân vật, ghi tuổi tác, quan hệ giữa

họ với nhau, địa điểm và thời gian xảy ra những sự việc chính, bài trí, trang phục, những chủ dẫn cần thiết về hành động v.v Thậm chí có tác giả cẩn thận,

sợ người đạo diễn và diễn viên không đủ thông minh để qua lời nói mà nghiệm

ra nhân vật phải làm gì, nên ghi tất cả những khi cần cười, khóc, đau đớn, giận

dữ, quát, đập bàn v.v Như vậy đúng kịch bản là một kế hoạch.”

Từ đó, có thể khẳng định người giảng dạy kịch cần chú ý:

- Ngôn ngữ nghệ thuật của kịch tính – Ngôn ngữ nghệ thuật, nói cách khác, phương tiện biểu hiện của kịch là gì ? Là hành động - những hoạt động của con người trong sự sống để đạt tới mục đích nào đó Kịch là một chuỗi hành động nhỏ phối hợp, kết thành một hành động lớn, phức hợp Hành động không chỉ là động tác, cử chỉ mà là ngôn ngữ có động tác phối hợp

Hành động ngoài đời có thể vô ý thức Hành động trong kịch phải là hành động có ý nghĩa, tức là hành động quyết định bởi một trạng thái tâm lý

Hành động kịch phải đưa tới một sự kết thúc Chẳng hạn như: Nhân vật kịch chứng kiến quân xâm lược giết người, tra tấn, bóc lột đồng bào mình Nhân vật phẫn nộ la hét và cho màn hạ chấm dứt Đó quyết không phải kịch: than thở, la hét là hành động thương xót, hành động căm thù, nhưng ở đây nó không đưa tới sự kết thúc nào Muốn cái đó thành hành động kịch thì phải đẩy nó đến một bước nữa thành hành động tích cực, hành động có cái kết thúc: chẳng hạn phải cho nhân vật trả thù, hoặc là khởi nghĩa nếu là nhân vật thời xưa, hoặc là tìm Đảng, gia nhập tổ chức cách mạng, tham gia đồng khởi vũ trang nếu là nhân vật thời nay Dù xây dựng một vở kịch ngắn một màn, cũng phải viết tới

đó

Trong một vở kịch chặt chẽ, mọi hành động đều phải có ý nghĩa, phải kết thúc trực tiếp hoặc kết thúc bằng cách giúp vào sự diễn biến hay sự kết thúc của hành động chủ yếu trong chuyện kịch Nếu đó là một hành động vu vơ, dù chỉ bằng một câu nói, người ta cũng dễ dàng phê phán Vì thế cho nên người ta

Trang 34

sẵn lòng tha thứ, có khi còn khen những chi tiết ngoài truyện, những phiếm luận ngoài đề của tiểu thuyết, của trường ca, nếu nó hay, mà người ta luôn luôn

ác cảm với những lời nói tuy hay mà không phải lúc, những cử chỉ đẹp không phải chỗ cho trong kịch

- Kịch tính – Khái niệm kịch tính nẩy ra từ phương tiện biểu hiện của kịch

Khi ta nói một cốt truyện, một tác phẩm có kịch tính là nói nó có khả năng được thể hiện đầy đủ bằng hành động nghĩa là bằng động tác, cử chỉ và đối thoại của diễn viên Cũng vì tính chất chủ yếu của kịch là hành động và tất cả hành động phải tạo nên một hành động lớn thống nhất, cho nên không thể tưởng tượng có vở kịch trong đó các nhân vật hành động song song, hành động nọ không quyết định hành động kia Một cảnh gia đình hòa thuận là một cảnh đẹp ngoài đời, ai cũng mong muốn đấy, nhưng quyết không phải là một cảnh kịch Cảnh gia đình trong kịch phải là:

Xung đột → thuận hòa Kịch có

hay : Thuận hòa → xung đột→thuận hòa tính hài

hoặc là : Xung đột →tan vỡ Kịch có

hay : Thuận hòa → xung đột→tan vỡ tính bi

Như vậy kịch tính còn ở sự xung đột, ở tính mâu thuẫn của sự việc “Sự diễn biến thật là kịch là sự tiến triển không thể cưỡng lại được đưa tới sự vỡ lở cuối cùng”

- Tính bi và tính hài trong kịch: Bi kịch và hài kịch đều là những hình thức kết cấu đặc biệt của kịch xác định bởi tính đặc thù của sự thể hiện các tính

Trang 35

cách Bi kịch phản ánh một mối mâu thuẫn quyết liệt, không có lối thoát, trong

đó hai thế lực đấu tranh kịch liệt với nhau để đi đến kết thúc bằng một thảm họa: Nhân vật phải chết, hoặc điên dại (chết về tinh thần) Cái bi thảm là nạn nhân dù chủ động đấu tranh, dù vùng vẫy bao nhiêu, cũng không thể chống lại cái thế lực

nó siết mình lại, đè mình xuống cho nghẹt thở và bẹp dí đi

Hài kịch là những vở kịch, trong đó cuộc đấu tranh kết thúc bằng sự hóa giải giữa hai bên xung đột, một sự “hòa làng”, hay nói rộng hơn, đó là những vở kịch mà sự xung đột được kết thúc bằng thắng lợi của sự đấu tranh của nhân vật

- Sự tổng hợp hai phương pháp tự sự và trữ tình – Chúng ta đã nói kịch

là một nghệ thuật tổng hợp Nay chỉ lấy kịch bản mà xét về mặt ngôn ngữ văn học thì cũng thấy tác phẩm kịch là một tổng hợp của hai phương pháp biểu hiện văn học: Phương pháp tự sự và phương pháp trữ tình

Xem kịch, ta thấy một sự việc có đầu có đuôi diễn ra theo trình tự thời gian Trong vở kịch tác giả đã bỏ đi những cái gì vô ích, chọn lấy và tô đậm những chi tiết gì giúp cho cốt truyện được sáng tỏ, dẫn dắt tới sự kết thúc về sau Đó là tác giả đã dùng phương pháp tự sự rồi trong vở cũng có khi nhân vật

bộ lộ tâm tình của mình với một người bạn, một người tâm phúc hay than thở, reo vui một mình Đó là trữ tình Nhưng chúng ta phải nhớ rằng trữ tình hay tự

sự ở đây đều khác thơ trữ tình, thơ tự sự, truyện Ở đây nhân vật không tự sự hay trữ tình với ta, khán giả, họ tự sự hay trữ tình để làm cho sự việc kịch tiến triển, nói cách khác, họ đang diễn, đang làm cái hành động họ phải làm, dù họ than thở, kể chuyện, hay đối đáp với nhân vật khác Cho nên không thể khen hay chê một đoạn tự sự hay trữ tình trong kịch thuần túy như khen hay chê một bài thơ trữ tình, một đoạn văn kể chuyện độc lập Phải đặt nó vào trong khuôn khổ chuyện kịch, trước hết phải xem nó cần thiết cho hành động kịch đến đâu, giúp cho chuyện kịch tiến triển như thế nào, có làm chậm tốc độ chung hay không, có làm sáng tỏ chủ đề hay không, có làm nổi nhân vật và mối xung đột

Trang 36

- Tính hiện đại - Kịch có thể lấy đề tài ở bất cứ thời đại nào nhưng vi kịch

là sự “tái diễn y như thật”, kịch tồn tại trên cơ sở tự bộc lộ của nhân vật đương hành động cho nên kịch hiện ra trước khán giả như một sự việc đương xảy ra Cũng vì vậy mà sức tác động của kịch vào tình cảm của chúng ta mạnh mẽ hơn các loại văn học khác Và điều này được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ

- Lời nói – Lời nói trong kịch rất quan trọng Nhất là khi ta đọc vở, giảng

vở thì hầu như là tất cả lời nói phản ánh diễn biến của sự việc, lời nói thể hiện xung đột và sự cởi mở, lời nói thể hiện vị trí xã hội, nghề nghiệp, tính tình, tư cách, dục vọng của nhân vật và diễn biến của nó; nhiều khi hành động (theo nghĩa đen) không diễn ra trên sân khấu, chỉ có lời nói của nhân vật báo trước hay thuật lại hành động v.v…

Trong kịch có ba lối nói: Nói một mình (cũng gọi là độc thoại hay độc bạch) Lối nói này thường thấy trong tuồng, chèo Mỗi khi người ta phẫn uất quá hay vui mừng quá thì người ta thét lên những tiếng căm hờn hay reo lên những lời vui sướng; khi đau buồn thất vọng quá thì khóc than kể lể; khi do dự quá mức thì lẩm nhẩm những cân nhắc thiệt hơn Trong đời sống ít khi người

ta ngồi một mình mà bộc lộ quá vài câu, vài tiếng, nhưng cũng có người khóc

kể suốt đêm ngày Trong kịch, người ta mượn lối nói này để làm khán giả hiểu

rõ nhân vật và những dằn vặt nội tâm của nhân vật hơn Tuồng và chèo dùng rất nhiều Kịch nói được coi là tái hiện sự thật ngoài đời mà dùng nhiều thì hỏng

vì nó lộ rõ sự vô lý và khiến tốc độ diễn biến của hành động mất cân đối Nhiều khi người ta tránh việc đó bằng cách dùng một người bạn, một lão bộc, một nữ

tỳ tâm phúc… đứng ở cạnh để biến độc thoại thành đối thoại Cũng có khi người

ta mượn tiếng vọng, tiếng đế để giúp khán giả hiểu nội tâm của nhân vật

Dùng lối nói một mình không để bộc lộ tâm trạng, mà để thuyết lý thì không ai thừa nhận

Trang 37

Lối nói thứ hai là lời nói với khán giả (cũng gọi là bàng bạch) Đôi khi đang đối đáp với một nhân vật khác, bỗng nhiên nhân vật tiến lên hướng về khán giả nói vài câu để giải thích một cảnh ngộ, một tâm trạng, một điều bí mật Trong tuồng và chèo của ta, nhất là chèo, nhiều đoạn giáo đầu là đoạn trong đó một nhân vật ra trước giới thiệu xuất sứ và ý nghĩa vở, y như tác giả thuyết minh Và nhiều khi lối nói này được sử dụng để đặt vấn đề ra cho khán giả suy nghĩ tự giải đáp

Cuối cùng, lời đối đáp (cũng gọi là đối thoại) là lời nói cơ sở của tất cả các tác phẩm kịch Lời nói đối đáp là lời nói qua lại giữa từ hai nhân vật trở lên Hành động, mâu thuẫn, tóm lại kịch tính bật ra từ lời đối đáp Lời đối đáp phải sắc sảo, sinh động, mức độ, nội dung và hình thức phải khớp nhau Lời đối đáp phải cân đối, không được cho một bên nói dài quá, một bên thụ động quá Nếu

là cảnh bộc lộ tâm sự thì phải biết chia cho người bạn tâm phúc nói những ý nghĩ người ấy đoán ở mình hoặc là phản đối mình Nếu chỉ để cho người tâm phúc ừ hử, phụ họa bằng vài lời tán thán, thì đối thoại thực chất đã biến thành độc thoại và mang những nhược điểm của độc thoại dài Khi biểu diễn, đối thoại giả tạo này lại còn tai hại hơn độc thoại dài nữa, là vì nó làm cho nhân vật tâm phúc thừa tay, thừa chân, thừa người trên sân khấu Cần hiểu rõ điều này

để phát huy hay phê phán đúng chỗ

- Lập trường và tình cảm của người giảng dạy và học tập kịch Dạy gì, tất nhiên lập trường, tình cảm của người giảng dạy cũng phải rõ ràng dứt khoát

và người giảng dạy phải giúp đỡ cho học sinh có được lập trường tư tưởng dứt khoát như mình trong khi các em học tác phẩm hay bài văn Để xót một danh

từ, dạy sai một điển tích thì đó là khuyết điểm nhỏ, còn không giúp cho học sinh đứng về đúng phía, yêu ghét đúng đối tượng là một tội lớn đối với giáo dục Chúng ta cần luôn luôn nhắc nhở nhau điều này vì có nhiều hiện tượng thầy giáo không kiểm tra nhận thức của học sinh mình đúng mức

Đối với kịch, tác giả không có quyền giải thích lập trường tình cảm của mình Kịch cũ lại chịu nhiều ảnh hưởng phức tạp ngược nhau, có khi bênh vực

Trang 38

cho một quan điểm đời xưa là hợp lẽ, đời nay là phản động, nhiều khi lại cố ý viết không rõ ràng, nêu thành một vấn đề cho khán giả giải đáp Đối với kịch mới, vì nhiều khi không sống trong môi trýờng mà kịch tái hiện, nên tình cảm của ta khô khan, khiến chúng ta giảng dạy thiếu say sưa, kém sức thuyết phục Tóm lại, khi dạy kịch và nói về phương pháp dạy học kịch bản văn học theo đặc trưng thể loại cần chú ý đến việc xác định hành động kịch, kịch tính, mâu thuẫn tồn tại trong kịch bản văn học đang nói tới, xác định được tính bi, tính hài, yếu tố tự sự, trữ tình, vấn đề thời đại và những lời nói trong đó Một điều quan trọng nữa chính là lập trường, tình cảm của người giảng dạy và học tập khi tiếp xúc với kịch bản văn học

1.2.Lưu Quang Vũ và kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

1.2.1 Vài nét sơ lược về tác giả Lưu Quang Vũ

- Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) sinh tại Phú Thọ, là con trai nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Thuận (quê ở thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam), mẹ là

Vũ Thị Khánh người Hà Nội Lúc nhỏ sống tại Phú Thọ cùng bố mẹ, khi đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc, Lưu Quang Vũ đang học lớp 10 đã tình nguyện đi

bộ đội

Từ 1965 – 1970 ông nhập ngũ, phục vụ trong Quân chủng phòng không – không quân tại sân bay Cát Bi (Hải Phòng) Lúc này ông bắt đầu có thơ đăng trên các báo

Từ 1970 – 1978: xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để mưu sinh Thời kì này ông sáng tác rất nhiều thơ

Từ 1978 – 1988: làm biên tập viên Tạp chí sân khấu, bắt đầu từ đây mở

ra một chặng đường mới cho nhà viết kịch Lưu Quang Vũ

Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng Việt Nam Tác phẩm của ông nổi bật lên từ những năm sau chiến tranh, đặc biệt là những năm 80 Ông đã từng sống những năm tháng tuổi trẻ trong chiến tranh, vào bộ đội chiến đấu và trở về sống trong một thời kì khó khăn của nước nhà: thời hậu chiến, kinh tế bao cấp với chồng chất khó khăn, cơ cực Các vở

Trang 39

kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông Với tuổi đời còn khá trẻ, 40 tuổi ông đã sáng tác gần 50 vở kịch và hầu hết các vở kịch của ông đều được các đoàn kịch, chèo xây dựng thành công dưới sự chỉ đạo của nhiều đạo diễn nổi tiếng

- Các giải thưởng: Tám huy chương vàng trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc; Hai lần Giải thưởng của Hội Văn nghệ Hà Nội; Hai lần được Giải thưởng của Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam; Tặng thưởng Văn học dành cho tác phẩm xuất sắc về đề tài chiến tranh Cách mạng của Bộ Quốc phòng năm 1992; Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật năm 2000

1.2.2 Kịch bản văn học “ Tôi và chúng ta”

“Tôi và chúng ta” là vở kịch rất nổi tiếng của nhà thơ, nhà viết kịch

Lưu Quang Vũ, được sáng tác vào năm 1984 và nhiều lần được dàn dựng lại trên sân khấu

“Tôi và chúng ta” gồm tất cả 9 cảnh, đặt trong bối cảnh những năm 80

của thế kỉ 20, khi đất nước còn gặp nhiều khó khăn do cơ chế bao cấp còn tồn tại Nội dung chính của vở kịch là phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt để thay đổi phương thức tổ chức, lề lối hoạt động sản xuất ở xí nghiệp Thắng Lợi, giữa hai lực lượng: bảo thủ và đổi mới

Trang 40

Phe bảo thủ, mà đại diện là các nhân vật Nguyễn Chính (phó giám đốc), Trương (quản đốc phân xưởng) cũng sự hỗ trợ của Trần Đắc (đại diện Ban thanh tra của Bộ) với tư tưởng hết sức bảo thủ, khư khư giữ lấy các nguyên tắc, quy chế đã thảnh đơ cứng, lạc hậu, kiên quyết không chấp nhận đổi mới Phe đổi mới gồm các đại diện: Hoàng Việt (giám đốc xí nghiệp), Thanh (kíp trưởng phân xưởng 1), Lê Sơn (kỹ sư) cùng đa số các anh chị em công nhân với tinh thần dám nghĩ dám làm,phá bỏ các quy định giáo điều, lạc hậu, khao khát đổi mới để đem lại quyền lợi, hạnh phúc cho mọi người

Thể hiện sự xung đột giữa hai phía này, Lưu Quang Vũ đã khẳng định: trong cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa đổi mới và bảo thủ, cái mới

có thể tạm thời thất bại nhưng cuối cùng, cái mới nhất định thắng

“Tôi và chúng ta” khẳng định rằng không thể có thứ chủ nghĩa tập thể

chung, không thể giữ mãi các nguyên tắc, phương pháp của thời cũ trước sự chuyển biến sinh động của cuộc sống Cái “chúng ta” được hình thành từ nhiều

“cái tôi” cụ thể, vì vậy cần quan tâm, chăm sóc quyền lợi, hạnh phúc của từng

cá nhân con người Đây là một quá trình đấu tranh gay gắt, cần có những con người có trí tuệ, bản lĩnh, dám nghĩ dám làm

“Tôi và chúng ta” ra đời trong những năm đất nước gặp nhiều khó khăn,

khủng hoảng, nên đã góp phần cổ vũ phong trào đổi mới toàn diện đời sống kinh tế, xã hội lúc bấy giờ

- Tóm tắt kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”

• Khai từ

Tại nghĩa trang thành phố diễn ra cuộc trò chuyện của Hoàng Việt và ông già gác nghĩa trang ở nghĩa trang nơi yên nghỉ của Thanh gợi về những hồi ức của Hoàng Việt

• Cảnh 1

Tại phòng giám đốc của Xí nghiệp Thắng Lợi, Trần Khắc đại diện Ban Thanh tra của Bộ đến xí nghiệp, tại đây Hoàng Việt – Giám đốc xí nghiệp nêu

Ngày đăng: 21/12/2016, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân biên soạn (2011), 150 thuật ngữ văn học , NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân biên soạn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
2. Hoàng Hữu Bội (2005), Thiết kế bài học Ngữ Văn 9 theo hướng tích hợp, NXB Giaó dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ Văn 9 theo hướng tích hợp
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: NXB Giaó dục
Năm: 2005
3. Nguyễn Viết Chữ (2004), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
5. Nguyễn Văn Đường (chủ biên) (2012),Thiết kế bài giảng Ngữ văn Trung học cơ sở 9, tập 2, NBX Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn Trung học cơ sở 9, tập 2
Tác giả: Nguyễn Văn Đường (chủ biên)
Năm: 2012
7. Phan Trọng Luận (chủ biên) – Trương Dĩnh (2013), Phương pháp dạy học văn, tập 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận (chủ biên) – Trương Dĩnh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2013
8. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2014), Phương pháp dạy học văn, tập 1, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2014
9. Nguyễn Khắc Phi ( Chủ biên) (2011), Dạy – học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Ngữ văn 9 tập 2, NXB Giaó dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy – học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Ngữ văn 9 tập 2
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi ( Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giaó dục Việt Nam
Năm: 2011
10. Nguyễn Huy Quát, Hoàng Hữu Bội (2001), Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Huy Quát, Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Trần Đình Sử (chủ biên) – Phan Huy Dũng – La Khắc Hòa – Phùng Ngọc Kiếm – Lê Lưu Oanh (2007), Lí luận văn học, tập II: Tác phẩm và thể loại văn học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học, tập II: Tác phẩm và thể loại văn học
Tác giả: Trần Đình Sử (chủ biên) – Phan Huy Dũng – La Khắc Hòa – Phùng Ngọc Kiếm – Lê Lưu Oanh
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
12. Lưu Khánh Thơ (2001), Lưu Quang Vũ – Tài năng và lao động nghệ thuật, NXB Văn hóa – thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ – Tài năng và lao động nghệ thuật
Tác giả: Lưu Khánh Thơ
Nhà XB: NXB Văn hóa – thông tin
Năm: 2001
13. Lý Hoài Thu – Lưu Khánh Thơ (2007),Lưu Quang Vũ – về tác gia và tác phẩm, , NXB Giaó dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2007),Lưu Quang Vũ – về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lý Hoài Thu – Lưu Khánh Thơ
Nhà XB: NXB Giaó dục
Năm: 2007
6. Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học Khác
14. NXB Đại học Sư phạm (2007), Tác phẩm và thể loại văn học Khác
15. NXB Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) Khác
16. NXB Giáo dục (1996), Lí luận văn học,tập II Khác
17. NXB Giáo dục (1996), Năm bài giảng nghiên cứu văn học Khác
18. NXB Giáo dục (2003),Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài Khác
19. NXB Giáo dục (2007), Tài liệu Bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, SGK lớp 11 môn Ngữ văn Khác
20. NXB Giáo dục – Hà Nội (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại Khác
21. NXB Giáo Dục Việt Nam, Sách giáo khoa Ngữ Văn 9, tập hai Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w