1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn học phân tích chính sách

72 899 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” nhằm đưa ra cái nhìn khách quan hơn về hệ thống chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi hiện nay, góp phần hoàn thiện các chính sách để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn ngày càng phát triển.

Trang 1

ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

Trang 2

TÊN ĐỀ TÀI:

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THUỶ LỢI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

NHÓM THỰC HIỆN: Nhóm VII CÁC THÀNH VIÊN NHÓM

1 Lưu Minh Tuấn Nhóm trưởng

2 Y Thu Ayun Thành viên nhóm

3 Nguyễn Thanh Nhàn Thành viên nhóm

4 Nguyễn Hồng Phi Thành viên nhóm

5 Dương Ngọc Thanh Lê Thành viên nhóm

6 Trần Minh Thiện Thành viên nhóm

Trang 3

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

1 Lập đề cương Cả nhóm Đề cương sơ bộ

2 Kinh nghiệm phát triển của

các nước trên thế giới

Nguyễn Hồng Phi Bài học kinh nghiệm phát triển

cơ sở hạ tầng thuỷ lợi của cácnước

5 Những thành công, tồn tại

của các chính sách phát triển

cơ sở hạ tầng thuỷ lợi

Dương Ngọc Thanh LêTrần Minh Thiện

Những thành tựu đã đạt được

và một số vấn đề đặt ra

6 Hoàn thiện bài tiểu luận Trần Minh Thiện Bài tiểu luận hoàn chỉnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 6

1.3 Nội dung nghiên cứu 6

2.1 KINH NGIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 7

2.1.1 Nền nông nghiệp Hà Lan được đầu tư kết cấu hạ tầng đứng hàng đầu thế giới 7

2.1.2 Phát triển kết cấu hạ tầng và áp dụng thành tựu cao và mới về khoa học-công nghệ ở Hà Lan 8

2.1.3 Hệ thống pháp lý cho quản lý tưới và tiêu của Nhật Bản 9

2.2 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐÃ ĐƯỢC BAN HÀNH 12

2.3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 15

2.3.1 Tiến độ thực hiện chương trình phát triển thủy lợi được đầu tư từ nguồn trái phiếu chính phủ 15

2.3.2 Chương trình kiên cố hóa kênh mương 16

2.3.3 Hiệu quả đầu tư phát triển thủy lợi tại Đồng Bằng sông Cửu Long 20

2.3.4 Thực trạng mô hình PIM ở Việt Nam 22

2.4 NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ TỒN TẠI CỦA NHỮNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THỦY LỢI 25

2.4.1 Những thành tựu đạt được: 25

2.4.2 Một số vấn đề đặt ra: 28

KẾT LUẬN 34

PHỤ LỤC 36

THÔNG TƯ 62

HƯỚNG DẪN VIỆCTHÀNH LẬP, CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN 62

TỔ CHỨC HỢP TÁC DÙNG NƯỚC 62

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có truyền thống lâu đời với hơn 4000 năm sản xuất nông nghiệp và từ thế kỷ 18 – 19 nhân dân ta đã khẳng định được rằng: sự thành công của sản xuất nông nghiệp là nhờ làm tốt công tác thuỷ lợi Cha ông ta đã từng đúc rút kinh nghiệm “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” để thể hiện tầm quan trọng, không thể thiếu của thuỷ lợi đối với việc phát triển nông nghiệp Thuỷ lợi có nội dung cơ bản là tăng cường tưới nước cho cây trồng và tưới nước đều đặn theo thời gian Đây chính là một yếu tố đầu vào biến đổi thể hiện tính bổ trợ cao cho các đầu vào biến đổi khác, đặc biệt là các giống mới năng suất cao Chính vì vậy, chính sách thuỷ lợi được coi là chính sách về yếu tố đầu vào quan trọng cung cấp nước tưới cho ngành trồng trọt Các chính sách thuỷ lợi không những góp phần quyết định đối với việc tăng sản lượng nhằm đạt hiệu quả sử dụng nguồnlực cũng như công bằng trong phân phối thu nhập mà nó còn mang ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn Trong đó, các chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi đóng vai trò thiết yếu, là tiền đề để thực hiện và tạo điều kiện cho các chính sách khác phát triển

Đã có nhiều chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi được ban hành từ những năm 1945 cho đến nay, và đã thể hiện rõ sự tiến bộ, phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của nước nhà nói chung và của nông nghiệp nông thôn Việt Nam nói riêng như quyết định số 230/2003/QĐ-TTG về việc sử dụng vốn tín dụng để thực hiện các chương trình kiên cố hoá kênh mương, thông tư số 75/2004/TT -BNN hay như thông tư số

72/2000/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương… Những chính sách này thực sự đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi

bộ mặt thuỷ lợi nước nhà, góp phần nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, do còn nhiềuthiếu sót trong quá trình xây dựng cũng như thực hiện các chính sách nên hiệu quả đạt được chưa đáp ứng được mục tiêu đã đề ra Việc nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thuỷ lợi để thấy được những thành công và những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện đang là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và giải đáp

Trang 6

Xuất phát từ đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” nhằm đưa ra cái nhìn khách quan hơn về hệ thống chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi hiện nay, góp phần hoàn thiện các chính sách để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn ngày càng phát triển.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài này được thực hiện nhằm mục tiêu sau:

- Tìm hiểu khái quát về các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi

- Đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách đã ban hành

- Phân tích thành công và tồn tại của các chính sách

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá kinh nghiệm phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi ở một số nước điển hình trong khu vực và trên thế giới

- Tìm hiểu các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thuỷ lợi đã ban hành ở nước ta từ năm 1945 đến nay

- Nghiên cứu tình hình thực hiện một số chính sách quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển hệ thống thuỷ lợi ở nước ta

- Phân tích những thành tựu đã đạt được và những vấn đề vướng mắc cần giải quyết trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách

Trang 7

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 KINH NGIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới, nông nghiệp được coi là một lĩnh vực quan trọng, góp phần đáng kểvào việc an ninh lương thực, thực phẩm và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp…Thực

tế cho thấy rằng các chính sách khác nhau tạo nên những thành tựu nông nghiệp Từ đónghiên cứu chính sách nông nghiệp trên thế giới là vô cùng cần thiết, có thể rút ra đượcnhững bài học quý cho nông nghiệp Việt Nam

Chính sách xây dựng đầu tư cơ sở hạ tầng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sảnxuất nông nghiệp đặc biệt là các chính sách về xây dựng các công trình thủy lợi Chínhsách về xây dựng các công trình thủy lợi đúng đắn góp phần quan trọng trong việc chốnglại các thiên tai, giảm nhẹ cường độ và tăng năng suất lao động nông nghiệp Ngoài ra,chính sách này còn quan tâm đến các lĩnh vực đời sống, văn hóa để phát triển nông thôntoàn diện, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

Các nước phát triển thường có đầu tư rất lớn về cơ sở hạ tầng, đô thị hóa nông thôn vàmọi khâu (sản xuất, chế biến, tiêu thụ) đều có đầu tư rất lớn

Trung Quốc có sự đầu tư rất lớn về xây dựng các công trình thủy lợi điển hình là ĐậpTam Hiệp đây là đập thuỷ điện lớn nhất thế giới "Vạn lý Trường thành thứ 2" của TrungQuốc

2.1.1 Nền nông nghiệp Hà Lan được đầu tư kết cấu hạ tầng đứng hàng đầu thế giới.

Vì thiếu đất canh tác, Hà Lan thực thi chiến lược "đầu tư cao-sản xuất nhiều", là một

đặc trưng nổi bật của nền nông nghiệp Hà Lan

+ Hệ thống thuỷ lợi và phòng chống lũ có tiêu chuẩn an toàn cao.

Đập ngăn mặn ở cửa biển Zuiderzee tạo nên hồ nước ngọt lớn Ijsselmeer Côngtrình " tam giác châu " hoàn thành, đã làm cho đê chống lũ, đê sông nội đồng có chiều dài

tới 2800 km, đạt tiêu chuẩn an toàn cao nhất thế giới Mạng lưới kênh rạch chằng chịt

Trang 8

bảo vệ đồng ruộng, đảm bảo đồng ruộng dù thấp hơn mực nước biển tới 4-6m vẫn được

sản xuất theo công nghệ cao, được coi là kỳ quan của thế giới.

2.1.2 Phát triển kết cấu hạ tầng và áp dụng thành tựu cao và mới về khoa học-công nghệ ở Hà Lan.

Kết cấu hạ tầng là cơ sở vật chất của kỳ tích nông nghiệp Hà Lan, đảm bảo nền

nông nghiệp phát triển bền vững

- Công trình thuỷ lợi

"Thượng đế tạo ra trái đất", nhưng mảnh đất Hà Lan đã hứng chịu những uy hiếpcủa thiên tai khắc nghiệt Mỗi thế kỷ, Hà Lan đều chịu đựng 1 đến 2 lần tập kích cực lớntriều cường Các dòng sông cũng thường gây ngập úng Từ thế kỷ thứ 4, vùng này đã có

đê nhân tạo Bắt đầu từ thế kỷ thứ 10, đã xây dựng đê bao để lập điền Ban đầu là cácbiện pháp tiêu úng nội đồng, vào khoảng năm 1400, bắt đầu sử dụng cối xay gió để tiêunước Cũng vào thời kỳ đó, đại dương đã nuốt chửng lục địa Hà Lan Biển Zuidergee làhậu quả của nước biển dâng làm ngập vùng đất trũng tạo nên Năm 1287, Bắc Hải pháhuỷ vùng đất ven bờ, làm ngập vùng đất trũng, từ đó Bắc Hải tạo ra 1 vịnh biển cắm sâuvào đất liền, diện tích 338.800 ha ở miền Nam, biển cũng xâm nhập trên diện rộng.Trong mấy thế kỷ liền, diện tích đất bị biển lấn còn lớn hơn diện tích đất khai khẩn từbiển Năm 1916, Bắc Hải đã chịu đã chịu tác động của cơn cuồng phong, nhấn chìm giảiđất phía Bắc Amsterdam Sau đó, Hà Lan đã ban hành luật xây dựng đập lớn ngăn biển

và các cửa tiêu nước Công trình này do công trình sư Comelis Lely thiết kế Năm 1932hợp long, đê rộng 90m, cao 12m, dài 32,5 km Sau khi đập này làm xong, nước được tiêu

ra biển, được nước sông Ijsselmeer bồi đắp, tạo thành hồ nước ngọt, diện tích 120.000 hagọi là hồ Ijsslmer, tiếp đó cải tạo được 4 vùng đất trũng, diện tích 165.000 ha.Vào thế kỷ

20, trận lũ đại hồng thuỷ tàn khốc nhất đã xảy ra vào ngày 1/2/1953, nước biển đã nhấnchìm 200.000 ha đất, làm 1835 người thiệt mạng, sau đó Hà Lan đã ban hành luật xâydựng " công trình tam giác châu "

Năm 1995, Chính phủ Hà Lan quyết định xây dựng công trình chỉnh trị dòng sông,hoàn thành vào năm 2015, vốn đầu tư 500 triệu Eurô Để phòng chóng thiên tai khắc

Trang 9

nghiệt, Chính phủ đã quy định những tiêu chuẩn an toàn của các công trình thuỷ lợi ởmức hiếm có trên thế giới Tiêu chuẩn an toàn đập ngăn mặn có tần xuất " 1 vạn năm 1lần ", tiêu chuẩn an toàn các để sông có tần xuất " 1250 năm 1 lần " Đến năm 1997, đãhoàn thành 15 công trình phòng chống lũ tốn 9 tỉ USD Năm 1996, Quốc hội đã ban hànhluật về nước, trong đó đã quy định các cấp chính quyền cứ năm 5 một lần phải tổ chứcmột lần khảo nghiệm kỹ thuật với đê lớn.

Nhà nước coi trọng nhiệm vụ cải tạo đất, hàng năm đầu tư 140 triệu Eurô, bìnhquân 4000 Eurô/ha năm Nhà nước còn tài trợ chỉnh lý đất đai, biến các thửa ruộng nhỏliên kết thành thửa lớn liền nhau, xây dựng hệ thống kênh rạch, đảm bảo yêu cầu cơ giớihoá

2.1.3 Hệ thống pháp lý cho quản lý tưới và tiêu của Nhật Bản

Luật cải tạo đất (LIL) nhằm mục đích cải thiện và nâng cao nền tảng sản xuất nôngnghiệp LIL điều khiển 7 lĩnh vực dự án trong đó có xây dựng mới, quản lý, phá bỏ haythay đổi hệ thống cải tạo đất như các kênh dẫn nước tưới và tiêu, đường giao thông nộiđồng…Dựa trên cơ sở LIL, dự án để triển khai các hoạt động ở trên được xác định là dự

án cải tạo đất đai(LIP) và cơ sở cho dự án này tạo ra được xác định là công cụ hayphương tiện cải tạo đất

Một số yêu cầu thủ tục cơ bản được quy định trong LIL để khởi đầu và triển khaithực hiện LIP

i) Năng lực để tham gia vào một LIP; người (nông dân) tham gia vào LIP nên làchủ trang trại hay là hộ nông dân

ii) Áp dụng; Nhiều hơn 15 người với đủ năng lực thì nên ứng cử vào nhóm củachính quyền các cấp với vài thoả thuận

iii) Thoả thuận về việc thực hiện dự án; các ứng cử viên nên có các thoả thuận hơn

2 phần 3 số người đủ năng lực trong một vùng dự án đề xuất trước khi ứng cử, giới thiệuchính thức một thuyết minh đây đủ về kế hoạch dự án và việc đo lường để quản lý hệthống công trình

Trang 10

Có thể nói rằng đặt trưng cơ bản của LIP, thậm chí cả quản lý nước là một dự ánđịnh hướng bởi nông dân như đã thấy thì đề xuất dự án là do nông dân , nông dân quản lý

hệ thống sau khi xây dựng xong và nông dân gánh vác các chi phí xây dựng và vận hành

hệ thống công trình

 Thành lập LID LID là một tổ chức phi lơi nhuận và được thành lập trên cơ sở LIL Cần trên 15người có đủ điều kiện như đề cập ở trên trong một vùng nào đó làm hồ sơ gởi tới chínhquyền địa phương xin thành lập LID nhằm để triển khai một LIP

Hoạt động quản lý nước của LID

Hợp tác với chính quyền các cấp và các đoàn thể địa phương

Hệ thống kênh tưới và tiêu được xây dựng quan các vùng nông thôn, qua một thờigian sử dụng, đến nay đã được mở rộng với tổng chiều dài lên đến khoảng 400 nghìn km,trong đó 40 nghìn km là kênh chính Hệ thống “huyết mạch” quan trọng này đang làmcho môi trường nông thôn của Nhật Bản một màu xanh bạt ngàn và đang tạo ra nhữngđiều kiện thuận lợi và ổn định cho cuộc sống đô thị trong khi vẫn duy trì các điều kiệncần thiết cho sản xuất nông nghiệp

 Hợp tác với chính quyền các cấp

Có ba cách thức trong hệ thống thể chế vận hành và bảo dưỡng không chỉ hệ thốngkênh nói trên mà các hồ chứa đập, trạm bơm và các công trình khác cấp nước cho nôngnghiệp; chúng bao gồm do i) MAFF quản lý ii) do chính quyền địa phương quản lý iii) doLID quản lý

Sau khi kết thúc quy trình vận hành các LIP do chính quyền địa phương/ Trungương quản lý ví dụ như MAFF chỉ quản lý một số hệ thống trang thiết bị, các trang thiết

bị khác được chuyển giao cho chính quyền địa phương Do vây, LID đảm nhận khoảng80% của hệ thống kênh chính với chiều dài tổng cộng là 40 nghìn km do chính quyền địaphương hoặc trương ương xây dựng

 Sự hợp tác của tập thể nông dân

Trang 11

Các công trình tưới tiêu, đăc biệt ở cấp nội đồng được vận hành và bảo dưỡng bởi các LID, những người nông dân hợp tác với nhau thành môt tập thể truyềnthống

Tập thể nông dận truyền thống có tên gọi là Mura Mura hoạt động như là một tổchức hỗ trợ mối quan hệ qua lại của những người dân và là một tổ chức chính thức dướicấp cơ sở Thêm vào đó nó vận hành và bảo dưỡng các trang thiết bị không chỉ cho tướitiêu mà còn phục vụ cho giao thong và thong tin lien lạc Các công việc đó bao gồm như

(làm sạch kênh, bảo dưỡng đường xá…)

-Cấp nước ổn định Trả các khhoản thu

- Bảo đảm tiêu

Cung cấp lđ

HỆ THỐNG QUẢN LÝ VÀ BẢO DƯỠNG LID

Chính sách xây dựng đầu tư cơ sở hạ tầng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sảnxuất nông nghiệp đặc biệt là các chính sách về xây dựng các công trình thủy lợi Chínhsách về xây dựng các công trình thủy lợi đúng đắn góp phần quan trọng trong việc chốnglại các thiên tai, giảm nhẹ cường độ và tăng năng suất lao động nông nghiệp Ngoài ra,

Cộng đồng NDNông dân

Hạt cải tạo đất

Bảo dưỡng và sữa chửacác

trang thiết bị

Dọn sạch và khơi thông các kênh dẫn nước

Trang 12

chính sách này còn quan tâm đến các lĩnh vực đời sống, văn hóa để phát triển nông thôntoàn diện, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

2.2 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐÃ ĐƯỢC BAN HÀNH

1 Ngày 09/02/1996, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 99/TTG về

việc định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 đối với việc phát triển thuỷ lợi,giao thông và xây dựng nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long

2 Ngày 31/07/1999, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 99/1999/TT-BTC

hướng dẫn việc sử dụng nguồn thu thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuỷ lợi phí và cácnguồn thu khác để thực hiện kiên cố hoá kênh mương Theo đó, Bộ tài chính hướng dẫn:

1/ Nguồn để thực hiện kiên cố hoá kênh mương gồm:

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp: được để lại 100% để đầu tư phát triển nôngnghiệp, nông thôn trong đó dành tối thiểu 40% cho mục tiêu kiên cố hoá kênhmương nhằm thực hiện dứt điểm trong 2 năm - 3 năm tới

- Thuỷ lợi phí

- Nguồn huy động đóng góp của nhân dân để kiên cố hoá kênh mương, nhất làkênh mương liên thôn, nội đồng

- Vốn tín dụng ưu đãi đầu tư

- Các nguồn khác: viện trợ trực tiếp, nguồn vốn sự nghiệp kinh tế (nếu có),

2/ Nội dung chi để thực hiện kiên cố hoá kênh mương

- Đầu tư xây dựng kênh mương mới theo hướng kiên cố hoá

- Kiên cố hoá kênh mương hiện có, kể cả việc kiên cố hóa đập giữ nước, các cốngđiều tiết nước, bờ bao hoặc hệ thống đường ống cấp nước tưới phù hợp với điềukiện mỗi vùng theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Hỗ trợ vật tư (xi măng, sắt, thép, ) cho các xã để kiên cố hoá kênh mương liênthôn, nội đồng, còn dân đóng góp ngày công lao động

- Chi khác phục vụ chương trình kiên cố hoá kênh mương

3/ Công tác quản lý

+ Lập dự toán: xác định rõ phần vốn Nhà nước hỗ trợ và huy động tại xã

+ Chấp hành dự toán

Trang 13

+ Quyết toán: Hàng quý và kết thúc năm địa phương có báo cáo tình hình cấp phátvốn và kết quả thực hiện kiên cố hoá kênh mương về số Km kênh mương, số Km

bờ bao, số cống điều tiết nước, số Km đường ống cấp, tưới nước được kiên cố hoá

đã thực hiện, diện tích đất canh tác được cung cấp nước sản xuất, thoát lũ, hiệuquả kiên cố hoá kênh mương,

3 Ngày 27/11/2000, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết

định số 123/2000/QĐ-BNN-TCCB quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ

chức của Ban quản lý Trung ương Dự án thuỷ lợi

4 Ngày 12/11/2003, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 230/2003/QĐ-TTG về

việc sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển phát triển của nhà nước để thực hiện cácchương trình kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng làng nghề ởnông thôn và hạ tầng nuôi trồng thủy sản.Trong đó, Thủ tướng chính phủ quyết định:

Cho phép sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để hỗ trợ các địaphương thực hiện các chương trình kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, cơ sở

hạ tầng làng nghề ở nông thôn và hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản đến hết năm 2005

Bổ sung kế hoạch tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước năm 2003 cho Quỹ Hỗtrợ phát triển 1.000 tỷ đồng, để cho các địa phương vay đầu tư các chương trình nêu trêntheo quy định hiện hành

Quỹ Hỗ trợ phát triển chịu trách nhiệm huy động đủ mức vốn được giao, đáp ứngkịp thời nhu cầu vay vốn của các địa phương Bộ Tài chính cấp bù lãi suất tương ứng với

số bổ sung kế hoạch vốn tín dụng đã giao trên đây cho Quỹ Hỗ trợ phát triển trong nămngân sách 2004

5 Ngày 22/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 184/2004/

QĐ – TTG về việc sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà Nước để tiếp thực

hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương , phát triển đường giao thông nông thôn, cơ

sở hạ tầng thủy sản và làng nghề ở nông thôn giai đoạn 2006 – 2010 Trong đó, Thủtướng chính phủ quyết định:

Trang 14

Tiếp tục sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để hỗ trợ địaphương thực hiện các chương trình kiên cố hoá kênh mương, phát triển đường giao thôngnông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn đếnhết năm 2007 Riêng các tỉnh miền núi, Tây Nguyên và khu vực miền núi phía Tây cáctỉnh duyên hải miền Trung được thực hiện đến hết năm 2010.

Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ Tài chính có trách nhiệm bố trí kế hoạch vốn tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước hàng năm, với mức khoảng 1.000 tỷ đồng/năm

6 Thông tư số 75/2004/TT -BNN ngày 20/12/2004 hướng dẫn việc thành lập,

củng cố và phát triển tổ chức hợp tác dùng nước Theo đó, "Tổ chức hợp tác dùng nước"

là hình thức hợp tác của những người cùng hưởng lợi từ công trình thủy lợi, làm nhiệm

vụ khai thác và bảo vệ công trình, phục vụ sản xuất, dân sinh trên một địa bàn nhất địnhnhằm :

- Đảm bảo các công trình thủy lợi, đặc biệt là cấp xã, thôn có chủ quản lý thựcsự; thực hiện vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa công trình nhằm bảo vệ và phát huy tốthiệu quả công trình

- Đảm bảo sự đồng bộ, khép kín về công tác quản lý, làm tốt chức năng cầu nốigiữa doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thủy lợi với các dịch vụ liên quangiúp các hộ nông dân sử dụng nước có hiệu quả

Tổ chức hợp tác dùng nước được Nhà nước hoặc tập thể giao quyền quản lý vàkhai thác công trình thủy lợi có quy mô thích hợp để tổ chức phục vụ tưới, tiêu chocác hộ, cá nhân, tổ chức sử dụng nước trong phạm vi thôn, xã hoặc liên xã và được

tổ chức theo các loại hình: Tổ hợp tác, hợp tác xã, hội, hiệp hội

Nguồn thu của tổ chức hợp tác dùng nước bao gồm thủy lợi phí thu từ các hộ sửdụng nước thông qua dịch vụ tưới tiêu, từ nguồn hỗ trợ của ngân sách nhà nước vàthu từ các dịch vụ khác (nếu có)

Phần chi phí của tổ chức hợp tác dùng nước phải tập trung chi cho duy tu, vậnhành và bảo dưỡng công trình (chi cho duy tu, vận hành và bảo dưỡng công trìnhkhông được nhỏ hơn 80% tổng số chi)

Trang 15

7 Ngày 19/05/2005, Bộ Tài chính ban hành thông tư số 72/2000/TT-BTC hướng

dẫn cơ chế tài chính thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương.Theo đó, BộTài chính hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện chương trình kiên cố hoá kênhmương như sau:

- Đối tượng được vay vốn tín dụng ưu đãi theo quy định tại Thông tư này là cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các dự án đầu tư kiên cố hóa kênh mương loại

II, loại III do địa phương quản lý

- Hàng năm, các dự án đầu tư kiên cố hoá kênh mương phải được bố trí vốn trong

dự toán chi ngân sách địa phương từ nguồn thu thuế sử dụng đất nông nghiệp (ít nhất40%), thuỷ lợi phí và các nguồn thu khác Đặc biệt đối với hệ thống kênh mương loại IIIphải đảm bảo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm

- Căn cứ vào tổng mức vốn tín dụng dành cho kiên cố hóa kênh mương hàngnăm được duyệt, nhu cầu và khả năng cân đối các nguồn vốn đầu tư của địa phương

kể cả nguồn đóng góp của nhân dân cho kiên cố hoá kênh mương, Bộ Tài chínhquyết định mức vay cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Việc cho vayvốn được thực hiện qua hệ thống Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển

Trong quý I/2007, các công trình thuỷ lợi từ nguồn trái phiếu chính phủ thuộc diện

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quyết định đầu tư đạt 407 tỷ đồng, bằng 14% kếhoạch cả năm Nếu tính từ ngày phát hành trái phiếu chính phủ năm 2003 đến nay đã gần

4 năm mới đạt 4100 tỷ đồng, bằng 26% tổng mức vốn của Chương trình Tiến độ thựchịên như vậy là chậm Thời gian còn lại từ nay đến 2010 cũng khoảng 4 năm, chúng taphải thực hiện khối lượng gần gấp 3 lần với giá trị 12.000 tỷ đồng Đó quả là một khókhăn lớn

Trang 16

Tuy tiến độ chung của Chương trình còn chậm như đã nói ở trên, nhưng có một số

dự án được triển khai tốt Cụm công trình đầu mối hồ Sông Sắt (Ninh Thuận) đã đượchoàn thành trước thời hạn, chất lượng tốt mặc dầu gặp khó khăn rất lớn về chất liệu đất.Cống đập Thảo Long (Thừa Thiên - Huế) - công trình ngăn mặn có chiều dài lớn nhấtnước ta - và đập Lòng Sông (Bình Thuận) - đập bêtông trọng lực truyền thống cao nhấtnước ta - đang làm thủ tục nghiệm thu và bàn giao cho đơn vị quản lý Cụm công trìnhthuỷ lợi Hát Môn - Đập Đáy (Hà Tây) sẽ hoàn toàn xong trong năm nay Đã chặn dòng ở

hồ IaMlá (Gia Lai) Những công trình rất lớn như các đập Cửa Đạt (Thanh Hoá), ĐịnhBình (Bình Định) đạt và vượt tiến độ Một số dự án thuỷ lợi miền núi được triển khaitương đối tốt như các hồ Sắt (Ninh Thuận), Đầm Hà Động (Quảng Ninh), Đăk Yên(Kon Tum),Thượng Long (Phú Thọ), Bản Chang (Bắc Kạn), Kala (Lâm Đồng)…

* Hướng thực thi chính sách trong thời gian tới:

Thứ nhất là phải tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa từ các cơ quan quản lý nhà

nước, các cấp chính quyền địa phương, chủ đầu tư, đến các nhà thầu tư vấn, xây lắp đểcùng cộng tác, phối hợp chặt chẽ, tháo gỡ những khó khăn, xem xét cụ thể và giải quyếtdứt điểm những nguyên nhân gây chậm trễ chậm giải phóng mặt bằng, chậm hồ sơ kỹthuật, chậm giải quyết thủ tục, chủ đầu tư thiếu sâu sát và tích cực, nhà thầu yếu kém,…Phải giao ban kịp thời, đúng kỳ hạn giữa các bên, các đơn vị đang thực hiện dự án để giảiquyết ngay những vướng mắc không đáng có

Thứ hai là cần khắc phục ngay nghịch lý đang tồn tại: nguồn vốn để đầu tư của

Chương trình còn thiếu hơn 10.000 tỷ đồng nhưng dù cấp đủ thì cũng không thể hoànthành trong 4 năm tới Trong khi đó vẫn rất nhiều dự án không thể triển khai hoặc phảichững lại do không được cấp vốn do tổng mức đầu tư không được điều chỉnh

Như vậy cần kiến nghị các cấp có thẩm quyền cho phép điều chỉnh kế hoạch từnay đến 2010, dãn tiến độ một số công trình có tổng mức đầu tư lớn, san sẻ cho những

dự án có khả năng hoàn thành hoàn thành hoặc đang có khả năng đẩy nhanh tiến độ

2.3.2 Chương trình kiên cố hóa kênh mương.

a) Các địa phương tiêu biểu trong chương trình kiên cố hóa kênh mương

Trang 17

o 5 năm thực hiện kiên cố hoá kênh mương ở Tam Dương tỉnh Vỉnh Phúc.

Đến nay, sau hơn 5 năm thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương ở TamDương đã thu được những kết quả rất đáng ghi nhận; góp phần cung cấp đủ nước tướicho sản xuất nông nghiệp, cải thiện tình trạng hạn hán trên địa bàn

Điều tra hiện trạng hệ thống kênh mương trên địa bàn huyện Tam Dương (năm2000) cho thấy: Hệ thống kênh mương của huyện chủ yếu được xây dựng từ những năm1960-1980, phần lớn làm bằng đất, chỉ sử dụng tưới cho vụ xuân và vụ mùa Tuy nhiên,trong quá trình sử dụng hầu như không được tu sửa, nâng cấp thường xuyên đã dẫn đếncác công trình thuỷ lợi xuống cấp nghiêm trọng, năng lực tưới thấp, hao phí nước tướilớn , không đáp ứng được yêu cầu tưới cho 3-4 vụ/năm Từ thực trạng trên, để nâng caohiệu quả tưới tiêu, đáp ứng nhu cầu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, thì vấn đềcốt yếu đạt ra là phải đầu tư xây dựng hệ thống kênh cứng và nâng cấp cải tạo lại các hồđập, trạm bơm một cách hoàn chỉnh

Sau khi có sự chỉ đạo của Huyện uỷ, các ngành chức năng của huyện đã cùng các

cơ sở tổ chức các bước tiến hành lập qui hoạch chung, có thiết kế, dự toán, huy độngnguồn vốn Trong 5 năm qua, tổng kinh phí đầu tư cho việc kiên cố hoá kênh mương, cảitạo, nâng cấp xây mới hồ đập, trạm bơm điện, đào giếng chống hạn của huyện là:9.451.038.663 đồng Trong đó, Phòng Kinh tế huyện đã khảo sát, thiết kế, lập dự toánđược 114 tuyến kênh cấp III dài 45.723m, đã thi công được 39.191,1m, với tổng giá trịđầu tư 7.953.199.764 đồng Về xây dựng cải tạo hồ đập, huyện đã cải tạo được 14 hồ đậpvới tổng diện tích mặt hồ 200.000m2, trữ lượng nước 245.300m3,tổng diện tích được tướiđạt 133,5ha và xây mới được 2 trạm bơm tại xã Thanh Vân Đặc biệt để chủ động nguồnnước, chống hạn cục bộ cho những diện tích gieo trồng khó khăn về nước tưới tại các xãHoàng Hoa, Hướng Đạo, Đồng Tĩnh, huyện đã xây dựng cơ chế hỗ trợ và chỉ đạo nhândân các xã đào được 10 giếng chống hạn tại ruộng Tổng diện tích mặt giếng được xâymới và nâng cấp là 120m2, trữ lượng nước 480m3 và khả năng tưới được 35 ha; kinh phíxây dựng 69 triệu đồng Trong quá trình thi công, các cấp từ huyện đến cơ sở luôn coitrọng công tác giám sát, đảm bảo chất lượng công trình

Trang 18

Đến nay, huyện Tam Dương có tổng số 5.216,96 ha đất nông nghiệp, trong đó cóhơn 60% diện tích được tưới bằng hệ thống thuỷ lợi Liễn Sơn; số diện tích còn lại chủyếu được tưới bằng hệ thống hồ đập trạm bơm.

o Chương trình Kiên cố hoá Kênh mương tại tỉnh Đồng Tháp sau

5 năm thực hiện (2001-2005)

Qua 05 năm thực hiện Chương trình Kiên cố hoá kênh mương đã mang lại hiệuquả rõ rệt như:

+ Trước khi chưa thực hiện dự án toàn tỉnh có khoảng 123.000 ha có bờ bao bảo

vệ nhưng chưa ăn chắc, đến nay diện tích có bờ bao bảo vệ ăn chắc đạt 172.899 ha, tăng49.899 ha (đạt 92,8% diện tích xuống giống Hè Thư năm 2005) Diện tích vườn cây ăntrái có bờ bao bảo vệ từ 16.000 ha lên trên 20.000 ha tăng 4.000 ha, nhiều kênh mươngcạn kiệt gây thiếu nước tưới ở nhiều nơi trong tỉnh đã được khắc phục nhờ việc tôn cao,xây dựng bờ bao kết hợp nạo vét kênh đã giải quyết vấn đề thiếu nước' trong mùa kiệt,điển hình giai đoạn 2002 - 2005 vụ Đông Xuân- Hè Thu thời tiết nắng nóng kéo dài, mựcnước sông rạch xuống thấp Nhưng nhờ thực hiện Chương trình Kiên cố hoá kênh mương

đã chủ động bơm tưới được hầu hết diện tích không xảy ra thiệt hai

Mặt khác dự án đã tạo điều kiện chủ động trong sản xuất, góp phần giảm chi phísản xuất, năng suất lúa tăng từ 46 tạ/ha lên 53 ,43 tạ/ha, hệ số vòng quay sử dụng đấttrồng cây hàng năm từ 1,85 lần lên 2,2 lần Hiệu quả sản xuất tăng làm nông dân an tâm,tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

b) Những sai phạm:

Sau nhiều năm triển khai chương trình kiên cố hóa kênh mương theo chủ trươngcủa Chính phủ, bên cạnh những mặt tích cực và hiệu quả kinh tế - xã hội không thể phủnhận, cũng còn nhiều điều bất cập cần chấn chỉnh, nếu không muốn nói là đã đến lúc phảigióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng tham nhũng, tiêu cực của không ít địaphương, cơ quan, đơn vị

Tập hợp số liệu từ các kết luận thanh tra, báo cáo kết quả thanh tra và báo cáo tổnghợp chuyên đề của 30 tỉnh, thành phố trong cả nước cho thấy, qua thanh tra 901 dự án,hạng mục, công trình, ngành thanh tra đã phát hiện có tới 425 dự án có sai phạm về kinh

Trang 19

tế Tổng giá trị sai phạm được phát hiện tại 425 dự án nêu trên là 27,9 tỷ đồng (chiếm tỷ

lệ 4,03% tổng vốn được thanh tra)

Theo đánh giá của ngành thanh tra, nhìn chung các sai phạm về kinh tế xảy ra ởhầu hết các khâu, nhiều công trình không bảo đảm chất lượng, có công trình làm xongnhưng để đấy không sử dụng, gây lãng phí Trong tổng số 27,9 tỷ đồng sai phạm bị pháthiện, có 12,4 tỷ đồng (chiếm 44,4%) là sai về khối lượng, các đơn vị thi công, hoặc làkhai tăng khối lượng, hoặc làm thiếu so với thiết kế để rút tiền chia chác

Cũng có nơi, đơn vị thi công thông đồng với chủ đầu tư, bộ phận giám sát ăn bớtnguyên vật liệu, thay thế một số loại vật tư có giá thành, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp hơn đểrút tiền chênh lệch, dẫn đến chất lượng công trình không bảo đảm, xuống cấp nhanh sauvài tháng đưa vào sử dụng

Nổi lên trong số 30 tỉnh, thành phố có nhiều sai phạm trong công tác này phải kểđến Lạng Sơn, Bắc Giang, Khánh Hòa, Sơn La, Hải Dương, Phú Yên và Bắc Cạn TạiLạng Sơn, qua thanh tra 11 công trình, dự án tại Ban Quản lý dự án công trình thủy lợi vàChi cục Thủy lợi đã phát hiện số tiền sai phạm 1,44 tỷ đồng (chiếm 4,7% số vốn đượcthanh tra) Đáng chú ý, sai phạm xuất hiện từ quá trình lập hồ sơ dự thầu

Thanh tra tỉnh Bắc Giang, qua thanh tra tại 37 dự án, công trình đã phát hiện sốtiền sai phạm 2,24 tỷ đồng (chiếm 8,36% số vốn được thanh tra) Riêng năm 2004, pháthiện trên địa bàn tỉnh có ba trạm bơm giá trị quyết toán hơn một tỷ đồng, nhưng khôngđưa vào sử dụng, gây bức xúc trong dư luận về tình trạng lãng phí Thanh tra tỉnh KhánhHòa, qua tiến hành thanh tra tại 67 công trình kiên cố hóa kênh mương trên địa bàn haihuyện trong tỉnh, nhưng đã phát hiện 63 công trình do các đơn vị thiết kế không có chứcnăng, 39 công trình nghiệm thu quyết toán không đúng quy định, gây thất thoát gần 300triệu đồng; nhiều xã, thị trấn có sai phạm về quản lý tài chính để công nợ dây dưa khóđòi

Tỉnh Sơn La, qua thanh tra 33 công trình ở năm huyện, đã phát hiện số tiền saiphạm gần 500 triệu đồng, các cơ quan thanh tra đã kiến nghị thu hồi số tiền thất thoát nóitrên Thanh tra tỉnh Hải Dương, qua thanh tra 23 công trình, đã phát hiện số tiền sai phạm

Trang 20

1,5 tỷ đồng Trong đó, các công trình phải sửa chữa, làm lại theo yêu cầu của cơ quanthanh tra trị giá 627 triệu đồng.

Thanh tra tỉnh Phú Yên, qua thanh tra 13 công trình tại 7 huyện, thị xã với chiềudài 119,7 km kênh nội đồng (loại III), đã phát hiện sai phạm 4,03 tỷ đồng Trong đó, lập

dự toán không đúng với thiết kế 235,5 triệu, có 126 công trình thi công không đúng thiết

kế được duyệt, thi công thiếu, thay đổi vật liệu nhưng vẫn được thanh toán, gây thiệt hại

và dư luận xấu trong nhân dân Thanh tra tỉnh Bắc Cạn, qua thanh tra 15 công trình vớitổng mức đầu tư 31,8 tỷ đồng, phát hiện tổng sai phạm với số tiền lên tới 3,6 tỷ đồng Các

cơ quan chức năng, bên cạnh các biện pháp thu hồi tài sản bị thất thoát, đã kiến nghị chủđầu tư nghiêm túc kiểm điểm và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm trong đầu tư xây dựng

và có các hình thức xử lý trách nhiệm đối với các tập thể, cá nhân có hành vi tham nhũng,tiêu cực

Được biết, ngày 22-10-2004, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 184/QĐ-TTg

về việc cho phép sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để tiếp tục thựchiện các chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn giai đoạn 2006-2010 Với chủ trương đúng đắn và kịp thời này, sự nghiệp xây dựng vàphát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở nước ta trong những năm tới sẽ cónhững bước tiến đáng kể

Đây là một chủ trương lớn của Chính phủ, nhằm nâng cấp hệ thống kênh mươngthủy lợi, nâng cao công suất tưới, tiết kiệm nước, tiết kiệm điện, giảm chi phí duy tu, bảodưỡng và kéo dài tuổi thọ công trình Kiên cố hóa kênh mương, nhìn từ góc độ khác, còngóp phần bảo vệ môi trường, làm trong sạch nguồn nước, mở rộng các trục đường giaothông nông thôn Điều đáng quan tâm và lo lắng ở đây là, nếu các cơ quan chức năngkhông chú trọng đúng mức và không có các biện pháp đủ mạnh đi kèm nhằm quản lý thậttốt việc đầu tư xây dựng các công trình, dự án, chắc chắn mục tiêu của chương trình này

sẽ khó trở thành hiện thực

2.3.3 Hiệu quả đầu tư phát triển thủy lợi tại Đồng Bằng sông Cửu Long.

Đồng Bằng Sông Cửu Long có tiềm năng to lớn, chiếm vị trí quan trọng trong pháttriển kinh tế - xã hội và là chìa khoá chính trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia,

Trang 21

hàng năm đóng góp hơn 50% sản lượng lương thực (95% lượng gạo xuất khẩu), 65% sảnlượng thuỷ sản và 70% sản lượng cây ăn trái cả nước Chính phủ đã xác định 3 đột phátrọng điểm để phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là đầu tư cho giaothông đường bộ, thuỷ lợi và giáo dục

Thực tế, từ xưa thuỷ lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long đã được quan tâm lớn, cáccông trình của ông cha ta như kênh Vĩnh Tế - đến hệ thống kênh đào từ thời Pháp để lại,cùng với các công trình được xây dựng sau 30.4.1975 điển hình như kênh Hồng Ngựxuyên qua Đồng Tháp Mười, công trình mở đầu cho chương trình ngọt hoá Gò Công(Tiền Giang)

Quá trình phát triển hệ thống thuỷ lợi, thông qua các chương trình lớn đã góp phầntích cực đưa sản lượng lương thực tăng nhanh từ 4,7 triệu tấn năm 1976 lên 19,1 triệu tấnnăm 2005

Về cơ bản, chủ trương phát triển thuỷ lợi đối với từng vùng là hợp lý, song cũngkhông tránh khỏi những sai sót cục bộ như các cống Chà Và, Thâu Râu ở nam MangThít, cống kênh Tuần Thống thoát lũ ra biển Tây, do không đủ khẩu độ nên không đápứng được mục tiêu ban đầu, đã được điều chỉnh, bổ sung qua vận hành thực tế

Ngay như chủ trương xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ là rất đúng đắn bởi nórút ra từ kinh nghiệm "sống chung với lũ" của người dân Song trong chỉ đạo thực hiện,cũng còn không ít sai sót và hạn chế như đầu tư chưa đồng bộ, cơ sở hạ tầng không hoànchỉnh

Mặc dù vậy, nhờ có hệ thống công trình thuỷ lợi đa mục tiêu, chúng ta đã đánhthức được tiềm năng của hai "kho đất" lớn ở Tứ giác Long xuyên và Đồng Tháp Mười

Hệ thống đê bao - bờ bao cũng dần hình thành và phát triển từ sáng kiến của người dân,được các nhà khoa học minh chứng bằng luận cứ, tính toán để Nhà nước có đủ cơ sởquan tâm, xem xét, đầu tư trên quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn

Chính từ những đê bao - bờ bao đã hình thành hệ thống giao thông, nơi ở an toàncho người dân vùng ngập lũ Có thể khẳng định rằng, chính nhờ có hệ thống thuỷ lợi,nhất là đê bao - bờ bao mà cuộc sống của người dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 22

ngày nay, được an toàn hơn, sản xuất chủ động (lúa, màu, cây ăn trái, thuỷ sản nước mặn,nước ngọt ), ngành nghề phát triển đa dạng, giao thông nông thôn thông thoáng hơn.

Nói cách khác, hệ thống thuỷ lợi đã tạo ra nền tảng làm giàu cho vựa lúa hôm nay,góp phần đắc lực vào chương trình an ninh lương thực quốc gia và ổn định kinh tế - xãhội

Việc hình thành hệ thống thuỷ lợi - trong đó có đê bao - bờ bao để bảo vệ dânsinh, thoát nước nhanh vào mùa lũ, trữ ngọt, bẫy ngọt, rửa phèn, kiểm soát mặn - là mộttất yếu của quy luật khách quan trước mắt cũng như lâu dài

Tất nhiên, những lợi ích của thuỷ lợi không phải bao giờ cũng tuyệt đối, với hai lýdo: Thứ nhất là khi ta tác động vào thiên nhiên bằng những công trình, chắc chắn thiênnhiên sẽ tác động ngược lại

Thứ hai, không một ai có thể lường hết mọi diễn biến, tác động biến đổi rất sinhđộng của môi trường Bởi vậy, từ chủ trương đến khi thực hiện xây dựng công trình cầnquán triệt quan điểm là làm sao cho cái được, cái lợi là lớn nhất và cái mất, cái hại là ítnhất

Trong các năm qua, thực tế đầu tư cho thuỷ lợi vẫn còn rất hạn chế Nhiều côngtrình thuỷ lợi còn thô sơ, không đồng bộ, chưa khép kín nên chưa đủ sức đáp ứng nhu cầukhi chuyển đổi cơ cấu sản xuất

Về lâu dài, để đối phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên như mực nước biển ngàycàng dâng cao, bão lũ càng lớn, và mùa kiệt thiếu nguồn nước ngọt, cần nghiên cứu môhình đê biển, âu thuyền cửa sông của các nước tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là Hà Lan

vì có nhiều nét tường đồng như Đồng Bằng Sông Cửu Long

Để quản lý thiên tai một cách khôn ngoan, sử dụng tài nguyên nước một cách hiệuquả vì một Đồng Bằng Sông Cửu Long kinh tế ổn định, thịnh vượng, môi trường đa dạng

và bền vững, đòi hỏi phải tập trung ưu tiên cho các khâu đột phá, trong đó có hệ thốngcác công trình thuỷ lợi

2.3.4 Thực trạng mô hình PIM ở Việt Nam

Mô hình PIM (Participatory Irrigation Management) được xác định trong Pháplệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và Thông tư hướng dẫn …số 75/2004/TT-

Trang 23

BNN với tên gọi tổng quát : “Tổ chức Hợp tác dùng nước” ( HTDN - WUG ) gồm : Hợptác xã ( HTX ) Hợp tác ( HT ) Hội, Tổ, Đội

Trải qua nhiều thế kỷ, sự hợp tác, hỗ trợ trong tất cả các lĩnh vực (trong đó có lĩnhvực thủy lợi ) và đã trở thành truyền thống đối với người dân Việt nam thôngqua tổ chức “Phường”(cùng góp vốn giúp nhau xây dựng nhà ở ) “Hội” ( hội cày, hộicấy ) “Yểng” (tên gọi của vùng nam trung bộ tương tự “Phường và Hội”) và trong nhữngnăm của thập kỷ 50, 60 thực hiện chủ trương của Nhà nước, ở nông thôn đã hình thànhcác “tổ đổi công” trong sản xuất ( trong đó có công cày, công đẫn nước, tát nước ), tổchức hợp tác xã nông nghiệp có tổ thủy nông, đội thủy lợi 202 ( đội chuyên trách làmthủy lợi nội đồng ), Hợp tác xã mua bán ( cung ứng, dịch vụ vật tư, nông sản ) Đây là nộidung PIM đã được nông dân đồng tình và thực hiện

Trong những thập kỷ tiếp theo, PIM đã trở thành chủ trương của Nhà nước, theophương châm “Nhà nước và nhân cùng làm”, thực hiện tiêu chí “ dân biết, dân bàn, dânlàm, dân kiểm tra” “ nhằm phát huy nội lực” huy động đóng góp từ “sức dân “- PIM

Cơ chế thị trường đang đòi hỏi PIM phát triển tích cực hơn, nhằm đảm bảo chosản phẩm nông nghiệp có tưới tốt hơn cả về chất lượng, số lượng, giá thành hạ, tăng khảnăng cạnh tranh, tăng thu nhập cho người dân Vi vậy gần đây lại có người cho rằngngười dân không những chỉ được giao quyền quản lý mà phải được đóng góp vốn, sở hữutài sản về thủy lợi, gắn trách nhiệm và lợi ích thật sự của họ thông qua “cổ đông” cổ phầnhóa.IMC, nhằm thúc đẩy dịch vụ thủy nông hiệu quả bền vững hơn

Thực hiện PIM là một quá trình, PIM là hiệu quả, nhưng lại đụng chạm đến lợi íchriêng của một số đối tượng, thiếu sự nhiệt tình và quan tâm của cán bộ các cấp, cácngành nên việc thực hiện PIM vẩn còn nhiều trở ngại và khó khăn

Trong mô hình PIM, hệ thống tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi đượcthể hiện ở sơ đồ tổng quát , hình thành 2 khối : Nhà nước - Nhân dân , thông qua 3 cấpquản lý : Doanh nghiệp ( IMC ) - Tập thể của người sử dụng nước ( WUG ) - Người sửdụng nước, thực hiện 3 chức năng : quản lý nhà nước - quản lý ngành - quản lý kinh tế(dịch vụ) đảm bảo tính “khép kín”, trong đó WUG là “cầu nối” quan trọng giữa “ Nhànước” ( IMC) và ngưới dùng nước trong việc cấp nước, sử dụng nước hiệu quả

Trang 24

Hiện có hơn 100 đơn vị IMC ( thuộc Bộ NN và PTNT, UBND Tỉnh, Huyện quản

lý các công trình đầu mối, kênh trục chính, kênh cấp 1,2,3 thuộc hệ thống thủy lợi có qui

mô lớn, vừa): quản lý 91% tổng số công trình hiện có phục vụ tưới cho 80 % tổng diệntích được tưới và có hơn 10.000 WUG quản lý kết hợp bằng hình thức cầu nối

Sơ đồ 1 : Hệ thống tổ chức quản lý các hệ thống thủy lợi

Quản lý nhà nước Chuyên ngành Kinh tế dịch vụ

Trang 25

Các loại hình “Tổ chức hợp tác dùng nước” hiện có trên cả nước được thể hiện

Tỷ lệ

%

HTDN (chuyên khâu)

Hội, Ban, Đội, Tổ

Tỷ lệ

% Số

lượng

lượng

Tỷ lệ

- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho thuỷ lợi đã đạt được những bước tiến rõ rệt, tạo điều

kiện nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Trong 63 năm từ năm 1945 năm đến nay, ngành Thủy lợi Việt Nam đã đạt thành tựu

to lớn Từ 13 hệ thống thủy nông chưa hoàn chỉnh, năng lực tưới khoảng 30 vạn ha, tiêuúng 8 vạn ha, đê điều chỉ mới có ở Bắc bộ và Thanh – Nghệ Tĩnh nhưng thấp yếu; Nam

bộ còn bỏ ngỏ về chua, mặn, úng lụt và thiếu nước mùa khô, ngày nay, ngành thuỷ lợiViệt Nam đã có hệ thống các công trình thuỷ lợi với năng lực thiết kế tưới cho 3 triệu ha,tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 700ngàn ha Hình thành 75 hệ thống thuỷ nông lớn và vừa,

750 hồ chứa nước lớn và vừa, trên 10.000 hồ chứa nhỏ, 2000 trạm bơm điện lớn và vừa

Trang 26

có công suất 450MW, 30 vạn máy bơm dầu Đã tưới 5,6 triệu ha gieo trồng lúa (tăng sovới năm 1985 là 1 triệu ha), tiêu úng 86,5 ngàn ha, tưới cho hoa màu và cây công nghiệp

560 ngàn ha, tiêu úng xổ phèn cho 1,6 triệu ha, cải tạo 70 vạn ha đất mặn ven biển, tạonguồn nước cung cấp cho hàng chục triệu dân ở nông thôn, thành thị, cung cấp nước ăncho đồng bào vùng cao, cho các khu công nghiệp, các khu định canh định cư, vùngchuyên canh cây ăn quả và cây công nghiệp Riêng diện tích trồng lúa được tưới chiếm80% tổng diện tích lúa trong cả nước Tỷ lệ đất nông nghiệp được tưới nước cao so vớicác nước trên thế giới:

Còn trong lĩnh vực đê điều cũng đã có những bước tiến rỏ rệt như: hệ thống đê điều

đã hình thành 7700km, trong đó đê sông 5700km, đê biển 2000km và gần 3000km đê baongăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long Hệ thống đê điều, đặc biệt hệ thống đê sông Hồng

và sông Thái Bình, có vị trí sống còn trong việc bảo vệ dân sinh và sản xuất Ngày naysau khi có hồ Hoà Bình với dung tích phòng lũ 4,9 tỷ m3 thì hệ thống đê sông Hồng cóthể chống lũ với mức nước (13,3m) tại Hà Nội (riêng đê Hà Nội có thể chống được mựcnước 13,6m và trên sông Thái Bình đê chịu được mức nước lũ 7,21m tại Phả Lại)

Hệ thống đê biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (từ Quảng Ninh đến Quảng Nam - ĐàNẵng) đã nâng cấp, chống đỡ bão cấp 9 ứng với triều trung bình Hệ thống đê bao, bờngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu bảo vệ lúa hè thu, chống lũ đầu mùa tháng

8, được kiểm nghiệm qua nhiều năm đã bảo đảm cho vùng ngập Đồng Tháp Mười, TứGiác Long Xuyên, Tây Sông Hậu từ một vụ lúa nổi trở thành sản xuất 2 vụ đông - xuân,

hè - thu Từ sau cơn bão số 5 (1997) Chính phủ bắt đầu cho nghiên cứu quy hoạch đêbiển ở miền Nam từ Gò Công (Tiền Giang) đến Kiên Giang

Các công trình thuỷ lợi đã tạo điều kiện cho người dân chủ động trong sản xuất, gópphần giảm chi phí sản xuất, năng suất lúa tăng từ 46 tạ/ha lên 53 ,43 tạ/ha, hệ số vòngquay sử dụng đất trồng cây hàng năm từ 1,85 lần lên 2,2 lần Hiệu quả sản xuất tănglàm nông dân an tâm, tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

- Đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn thay đổi mạnh mẽ

Hiện nay, nhiều bờ bao dọc theo các kênh trục chính đã được kết hợp làm lộ giaothông nông thôn, cống kết hợp cầu giao thông thay thế cầu tạm Giao thông thuận lợi

Trang 27

giúp cho hàng hoá, sản phẩm nông nghiệp lưu thông nhanh chóng, nâng cao giá trị nôngsản, rút ngắn khoảng.cách chênh lệch giữa các vùng Hệ thống thuỷ lợi, giao thông hoànchỉnh là tiền đề để phát triển ngành nghề giải quyết được công ăn việc làm nâng cao đờisống nhân dân

- Xây dựng bờ bao kết hợp với nạo vét lòng kênh làm thông dòng chảy giảm bớt ô

nhiễm do chất thải nông nghiệp và sinh hoạt gây ra, cải thiện môi trường nước tạo điềukiện phát triển nuôi trông thuỷ sản

- Việc chuyển giao các công trình thuỷ lợi cho các Hợp tác xã Nông lâm nghiệpquản lý và sử dụng đã đạt được những thành tích nhất định:

o Mở đầu cho phương thức tổ chức quản lý mới trong quản lý và khai thácCông trình thuỷ lợi ở nông thôn, thực hiện xã hội hoá công tác quản lý khai thác côngtrình thuỷ lợi

o Các công trình thuỷ lợi đã có người quản lý thực sự, tạo điều kiện và môitrường thuận lợi để người Nông dân có thể tham gia vào quản lý các công trình thủy lợi ,giảm được sự ỷ lại trông chờ vào bao cấp của Nhà nước, tăng cường phối hợp giữa cácđơn vị chủ đầu tư, đơn vị thi công, giám sát trong việc đầu tư, tu sửa công trình thuỷ lợi

o Các công trình hoạt động tốt hơn, diện tích tưới của các công trình chuyểngiao được đảm bảo , một số diện tích tưới còn tăng hơn trước

o Thuỷ lợi phí được thu đều đặn và quản lý tốt, tạo nguồn cho việc duy tu bảodưỡng, lồng ghép các chương trình kiên cố hoá kênh mương , tăng các công trình thuỷ lợihiện đại, qui mô lớn

o Tăng năng suất của các loại cây trồng do được tưới tiêu đầy đủ,sản lượnglúa 36 tạ/ha năm 1995 lên 53,3 tạ/ha năm 2004

2.4.2 Một số vấn đề đặt ra:

- Thứ nhất, lượng vốn đầu tư vào các công trình thuỷ lợi còn nhiều hạn chế

Do lượng vốn đầu tư cho thủy lợi chủ yếu là từ nguồn ngân sách của nhà nước, đã cómột số dự án vay từ ngân hàng thế giới WB nhưng số lượng đó không nhiều Điển hìnhnhư ở Tỉnh Đăk Nông thì có 131 công trình thủy lợi phục vụ đồng bào dân tộc, với tổngvốn đầu tư năm 2006 là 432,9 tỷ đồng, phục vụ tưới cho 1.846 ha lúa, 16.360 ha cà phê

Trang 28

và các loại cây trồng khác Nhưng tính từ năm 2006 đến nay, chỉ có 16 công trình đượcđầu tư xây dựng Trong đó, có 5 công trình hoàn thành, 11 công trình đang thi công.Tổng vốn đầu tư cho các công trình này 113 tỷ đồng, trong đó, vốn JIBIC: 26,3 tỷ đồng;vốn đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa 20 tỷ đồng; vốn ngân sách đầu tư tập trung vàvốn trái phiếu Chính phủ 56,7 tỷ đồng

Hiện nay, do thiếu vốn để xây dựng nên cơ sở vật chất thuỷ lợi ở nước ta vẫn chưađáp ứng được nhu cầu tưới tiêu của ngành nông nghiệp Các công trình mới đảm bảotưới, tiêu ổn định trong những năm thời tiết bình thường, tần suất tưới thiết kế mới đạt75% Những năm mưa ít, những vùng tưới trực tiếp bằng dòng chảy cơ bản, vùng cuốikênh còn bị hạn Nhiều công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi được xây dựng đưa vào

khai thác đã lâu, cần yêu cầu nguồn kinh phí lớn để kiên cố, nâng cấp sửa chữa mới

Mặt khác, do khả năng đầu tư ban đầu hạn chế, hầu hết các công trình đã xây dựngchưa đồng bộ, chưa được trang bị kỹ thuật mới, mức đảm bảo thấp Trong những nămcủa thời kỳ bao cấp những vùng có công trình thuỷ lợi mức đầu tư chưa đáp ứng được

yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay

- Thứ hai hiệu quả sử dụng đồng vốn chưa cao, còn nhiều sai phạm về kinh tế

trong vấn đề sử dụng vốn:

Nguồn vốn đầu tư từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ đê xây dựng cơ sở vậtchất chưa được sử dụng hiệu quả, còn nhiều vấn đề sai phạm trong quá trình thực hiện.Kiên cố hoá kênh mương là một chương trình, chủ trương lớn của Chính phủ nhằmnâng cao hệ thống kênh mương thuỷ lợi nội đồng nâng cao năng suất tưới tiêu (tiêu úng,chống hạn) phục vụ sản xuất nông nghiệp và góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường trongnông nghiệp Nhưng, gần 50% số dự án được thanh tra đều phát hiện vi phạm đã khẳngđịnh ngoài việc tốn tiền, kém hiệu quả, còn là sự mất niềm tin của người dân với chươngtrình đầy tính ưu việt Theo đánh giá của thanh tra chính phủ chương trình Kiên cố hoákênh mương đã phát triển thành phong trào trong nông nghiệp ở tất cả các tỉnh, thànhtrong cả nước nhưng việc đầu tư còn mang tính dản trải, không đồng đều giữa các vùng,miền; trong khi đó công tác vay vốn, chuẩn bị kỹ thuật cho việc triển khai dự án cònnhiều bất cập, buông lỏng quản lý… Do vậy, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư có nhiều sai

Trang 29

phạm, gây thất thoát lãng phí Điển hình của những sai phạm tại Dự án thủy lợi lưu vựcsông Hồng giai đoạn 2 là tiểu dự án nâng cấp đê hữu Hoàng Long (tỉnh Ninh Bình).Trong 901 dự án của 30 tỉnh thành được thanh tra, thì cơ quan thanh tra đã phát hiệntới 425 dự án (chiếm gần 50% số dự án) có sai phạm về kinh tế Các tỉnh có số côngtrình, dự án sai phạm điển hình như Phú Yên, thanh tra 13 công trình kênh nội đồng loại

3 có chiều dài 119, 7 km và 43 công trình do UBND xã là chủ đầu tư đã phát hiện 4, 038

tỷ đồng chi không đúng mục đích Tỉnh Lạng Sơn thanh tra 48/173 công trình có tổngmức đầu tư 59, 52 tỷ đồng, phát hiện sai phạm 2, 2 tỷ đồng Tỉnh Cà Mau thanh tra 48công trình phát hiện 1, 83 tỷ đồng sai phạm, trong đó chi sai mục đích hơn 847 triệuđồng

Bắc Kạn là một tỉnh nghèo, khi triển khai chương trình này ai cũng nghĩ người nôngdân sẽ được nhờ, cuộc sống của họ sẽ đổi khác Thế nhưng, thực tế đã không diễn ra nhưvậy Qua thanh tra sơ sơ ở tỉnh này, với 15 công trình được thẩm định có tổng mức đầu tư31.859 triệu đồng thì tổng mức sai phạm đã là 3.691 triệu đồng Vì quản lý kém và khaikhống, làm ẩu để có tiền bỏ túi, tiền ăn nhậu nên công trình không những không phát huyđược tác dụng mà còn làm khổ người dân Ngoài hiện tượng mương vỡ, nứt, hiện tượngnước chảy ngược thì nó còn làm cho người dân mất lòng tin vào một chương trình đầytính ưu việt của Chính phủ Để có nước sinh hoạt hàng ngày, các hộ gia đình phải dùngcách dẫn nước cách nhà vài trăm mét Hầu hết các nhà trong xóm đều vẫn phải dùng cácnguồn nước tự nhiên mà không sử dụng được nước của các công trình của Nhà nước Giánhư tiền đó để dân tự quản lý, tự làm theo cách của họ thì có lẽ tác dụng hơn nhiều

- Thứ ba, còn tập trung nhiều vào xây dựng, chưa quan tâm đầy đủ đến quản

lý vận hành duy tu, bảo dưỡng và bảo vệ:

Nhà nước ưu tiên đầu tư, hỗ trợ cho sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi phục vụcấp nước cho sinh hoạt, phòng, chống lũ, lụt, hạn hán; đổi mới khoa học công nghệ, trangthiết bị phục vụ công tác quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

Nhưng thực tế hiện nay phần lớn hệ thống kênh mương tưới, tiêu chủ yếu vẫn chưađược gia cố, kiên cố nên hiệu suất dẫn nước chưa cao, gây tốn kém kinh phí quản lý khaithác, lãng phí nước Hệ thống kênh chìm bị bồi lắng không được nạo vét dẫn đến hiệu

Trang 30

quả khai thác, sử dụng còn hạn chế Một số hồ chứa hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nguy cơmất an toàn, cần nguồn kinh phí để nâng cấp, đảm bảo an toàn Nhiều hệ thống công trìnhthuỷ lợi kênh mương mặt ruộng chưa đồng bộ với các hệ thống đầu mối đã được Nhànước đầu tư xây dựng, do vậy việc phát huy hiệu quả của cả hệ thống chưa cao.

Đối với các tuyến đê hiện trạng là quốc lộ, tỉnh lộ do ngành giao thông quản lý, việcduy tu, bảo dưỡng hàng năm phụ thuộc vào nguồn vốn sự nghiệp của ngành giao thông

và chủ yếu tập trung cho việc sửa nâng cấp mặt lộ, việc chống thấm qua đê chưa đượcquan tâm Phân cấp là thế, nhưng thực tế ở ĐBSCL chẳng có cán bộ chuyên môn nàođảm trách công việc cụ thể Gần như việc phân cấp quản lý chỉ để phân định trách nhiệmđơn vị đầu tư tu bổ, nâng cấp công trình Ngay An Giang, tỉnh có hệ thống đê bao chống

lũ lớn nhất trong vùng, nhưng cũng chẳng có cán bộ nào chuyên trách đê điều

Tiến sĩ Bùi Đạt Trâm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng - thủy văn tỉnh AnGiang nhận định: “Chưa thấy có tổ chức quản lý đê điều chặt chẽ Hay nói đúng hơn, tổchức quản lý, khai thác đê vẫn chưa hình thành An Giang cần phải có hệ thống bảo vệ đêđiều Trong Sở NN-PTNT lý ra phải có phòng đê điều, ở huyện có tổ đê điều… Sở NN-PTNT hoặc chi cục thủy lợi phải có cán bộ đê điều để kiểm tra giám sát hệ thống, tư vấn

tu bổ đê điều Ở các tỉnh phía Bắc, vấn đề này làm rất chặt, vậy mà đôi khi vẫn bị bể đê…Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; Nghị định 143/2003/NĐ-CP củaChính phủ đã quy định chi tiết về việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi từ năm

2003, nhưng đến nay nhiều địa phương ở ĐBSCL cũng chỉ mới phác thảo kế hoạch chứchưa triển khai Điều này cho thấy, nhiều địa phương vẫn chưa chú trọng và quan tâmđúng mức đến việc khai thác và quản lý các công trình thủy lợi Điều đó cũng có nghĩacác công trình thủy lợi sẽ tiếp tục bị xâm lấn

- Thứ tư, thiếu vai trò của người dân tham gia việc quản lý sử dụng và bảo vệ

các công trình thuỷ lợi

Do quá trình tổ chức và hoạt động của các tổ chức hợp tác dùng nước còn lỏng lẻo,việc lấy nước, tháo nước trong hệ thống điều hành khó khăn hơn do thiếu vai trò củangười dân tham gia hay còn gọi là PIM Trong những năm gần đây, với nỗ lực của nhànước, các tổ chức quốc tế, và các địa phương, một số mô hình PIM đang được thử

Trang 31

nghiệm, củng cố, trên cả 3 miền của đất nước Nhưng việc thành lập và hoạt động của các

tổ chức quản lý theo hướng PIM còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại do thiếu năng lực, kinhnghiệm và tư vấn Trình độ quản lý của các cán bộ vẩn còn hạn chế Chính vì vậy nênngười dân không có ý thức trong việc bảo vệ tài sản chung

Hậu quả là nhiều nơi vẫn còn hiện tượng tự tiện đặt cống, máy bơm, xẻ kênh lấynước khá phổ biến gây lãng phí nước, làm tăng chi phí quản lý Công tác bảo vệ, gìn giữcông trình chưa được các cấp chính quyền quan tâm đầy đủ, mặc dù Chính phủ đã banhành Nghị định số 140/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005 quy định xử phạt hành chính tronglĩnh vực quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi Người dân chưa có ý thức trongviệt bảo vệ tài sản công nên hiệu quả mang lại ko cao

Tình trạng lấy cắp đất ở các đê chống lũ vẫn thường xuyên xảy ra Trong đó, có cảnhững đoạn đê bị người dân lấy cắp đất nghiêm trọng để làm lò đất Hầu hết, các côngtrình đê bao kiên cố, cống thủy lợi, đê ven biển ở ĐBSCL hiện nay gần như chưa đượccắm cột quy định ranh giới “bất khả xâm phạm” của công trình Tình trạng xây dựng, lấnchiếm làm chất lượng công trình xuống cấp rất nhanh

Việc đầu tư xây dựng, duy tu, sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi chưa đồng bộ,chưa khép kín từ công trình đầu mối đến mặt ruộng, nhiều công trình kênh mương bị bồilắng… Đáng lo ngại nhất là tình trạng lấn chiếm phạm vi công trình thủy lợi, cất nhàtrong phạm vi cống, trạm bơm, bờ đê, bờ kênh; đổ rác, phóng rơm rạ, ngâm tre, gỗ dướilòng kênh hầu như đang diễn ra ở các huyện, thị Đến khi công trình cần duy tu, nâng cấpthì vướng phải khâu bồi hoàn cho dân, nhiều công trình chậm thực hiện, có khi khôngthực hiện được

Trong khi đó, ý thức của người dân bảo quản công trình này còn thấp Nhiều nơicòn quan niệm đây là các công trình nước sạch là do Nhà nước cho không nên mặc sức

sử dụng tuỳ tiện Một số bể nước ở xã Ngòi Hoa (huyện Tân Lạc) người dân còn thả lợnvào bể nước để nuôi Việc nhân dân tự đào khoét cống dẫn nước về nhà cũng khiếncông trình xuống cấp nhanh Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân

- Thứ năm, những ảnh hưởng ngoại ứng do công trình tạo ra: ảnh hưởng của đê,

đập đến những người sử dụng nước ở hạ nguồn, đời sống của nhân dân những vùng có

Trang 32

công trình đi qua bị tác động lớn… Khó khăn đầu tiên là việc bắt dân làng phải thay đổiphong tục tập quán, đổi tên làng ….những thứ đã ăn sâu vào máu người dân Theo lờingười dân, những vùng được chọn làm nơi tái định cư không đảm bảo cuộc sống của họbởi địa hình phức tạp đường đi cách trở, thậm chí không có đường, thiếu đất sản xuất…Người dân sẽ trắng tay khi đến nơi ở mới trong khi nhà nước chỉ hỗ trợ 12 tháng đầu.Việc tuyên truyền từ huyện-xã-xóm-người dân chưa thống nhất khiến việc nói cho dânnghe càng trở nên khó khăn

Còn tại xóm Chanh Trên xã Vĩnh Đồng (Kim Bôi, Hoà BÌnh) đập thuỷ lợi khôngnhững không giúp ích được gì cho dân mà còn là nỗi lo cho bà con nằm trong khu vựcảnh hưởng của đập bởi sau khi công trình thuỷ lợi hoàn thành, phần lớn diện tích củaxóm lại nằm thấp hơn khu vực lòng suối khoảng 70cm Như vạy đồng nghĩa với việc50/80 hộ gia đình với 396 nhân khẩu của xóm đang sống ở vị trí “mức nước chết” và theoquy luật thì khi nước lên, khu vực này sẽ mênh mông là nước, đấy là chưa kể đến mưa lũ.Năm 2005, khi vừa hoàn thành xong con đập, bất ngờ có một trận lũ đổ về, đã phá huỷhơn 1ha hoa màu đang kỳ thu hoạch, phá hỏng 5,5 ha ruộng đất của nhân dân, hiện naylòng suối đã cao thêm hơn 1m, gần bằng nền nhà của người dân quanh khu vực, tổng diệntích đất canh tác của toàn xã là trên 15 ha thì có tới 1 nửa là không canh tác được bởi đá,sỏi ngập ruộng Vĩnh Đồng vốn là xã có kinh tế khấm khá trong huyện, vậy mà hiện naynhiều hộ gia đình lâm vào cảnh đói nghèo Bà Bùi Thị Miên, nhà ở ngay cạnh bờ kè, bứcxúc : trước đây gia đình bà cũng đủ ăn, không bị thiếu đói nhưng từ khi có đập thì giađình bà lâm vào cảnh thiếu đói ít nhất là 3 tháng/1năm

Tóm lại, các chính sách đã đi vào thực tiễn, góp phần quan trọng trong việc pháttriển cơ sở hạ tầng phục vụ thuỷ lợi cho ngành nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi chonông nghiệp phát triển và nâng cao đời sống của người dân Tuy nhiên, do nhiều yếu tốkhách quan và chủ quan, các chính sách này đôi khi vẫn gặp khó khăn trong quá trìnhthực hiện, hiệu quả mang lại chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Do vậy, cầnkết hợp chính sách thuỷ lợi với các chính sách khác như chính sách đầu vào, chính sáchtín dụng, chính sách cơ giới hoá… để chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi thực sựmang lại hiệu quả cao

Trang 33

và đang thực hiện Từ đó, đánh giá khách quan những mặt mạnh mà các nước bạn đã đạtđược, tìm hiểu nguyên nhân thất bại của các chính sách đó để so sánh, đối chứng với cácchính sách ở Việt Nam Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đúc rút các bài học kinh nghiệm từthực tiễn để có thể giúp người đọc tìm một hướng đi đúng đắn hơn đối với các chính sáchphát triển cơ sở hạ tầng thuỷ lợi ở nước ta.

2 Trên cơ sở tìm hiểu các chính sách đã ban hành về phát triển cơ sở hạ tầngthuỷ lợi ở Việt Nam, qua quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách theo các mốcthời gian, trong bài tiểu luận này chúng tôi đã luận giải một cách hệ thống những bước đicủa chính sách thuỷ lợi nước ta về cơ sở hạ tầng để có cái nhìn toàn diện về sự phát triểntrong lĩnh vực này Thông qua việc tóm tắt nội dung các chính sách, các thông tư liêntịch, nghị định… chúng tôi đã giúp người đọc hiểu thêm về mục đích và phương hướngthực hiện các chính sách mà Đảng và nhà nước đã đề ra

3 Thông qua việc phân tích tình hình thực hiện một số chính sách trọng điểm,

có ý nghĩa lớn đối với xã hội, chúng tôi đã đưa ra một cái nhìn toàn diện và sâu sắc vềtình trạng cơ sở hạ tầng phục vụ thuỷ lợi trên cả nước nói chung và thuỷ lợi nông thônViệt Nam nói riêng; đánh giá một số chương trình, chính sách cụ thể trên một số địaphương nổi bật trong cả nước

4 Cũng trong bài tiểu luận này, chúng tôi đã tìm hiểu được những thành tựu

mà chúng ta đã đạt được trong hơn 60 năm qua, thẳng thắn đưa ra những thiếu sót, saiphạm trong quá trình thực hiện một cách tổng hợp trong cả nước, những vấn đề đặt ratrong thời gian tới cần xem xét, giải quyết nhằm phát triển toàn diện hơn nữa cơ sở hạtầng thuỷ lợi ở nông thôn

Trang 34

PHỤ LỤC

Q U Y Ế T Đ Ị N H CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 99/TTG NGÀY 9 THÁNG 02 NĂM 1996 VỀ ĐỊNH HƯỚNG DÀI HẠN VÀ KẾ HOẠCH 5 NĂM 1996-2000 ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI, GIAO THÔNG

VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

- Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

- Theo đề nghị của Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.- Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 về phát triển thuỷ lợi, giao

thông, xây dựng nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long nhằm ổn định đời sồng nhân dân, phát triển sản xuất toàn diện, xây dựng nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, góp phần bảo đảm an toàn lương thực quốc gia, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn

I THUỶ LỢI:

Công tác thuỷ lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long phải nhằm sử dụng và khai thác triệt

để và hợp lý nhất nguồn nước sông Mê Kông là tài nguyên thiên nhiên to lớn và rất quý giá, đồng thời phải có biện pháp hạn chế tối đa tác hại do lũ lụt gây ra

Từng bước hình thành hệ thống thuỷ lợi hoàn chỉnh bao gồm các công trình tưới, tiêu, thau chua, xổ phèn, ngăn mặn, và kiểm soát lũ đồng bộ từ công trình đầu mối, kênh trục các cấp đến hệ thống nội đồng để bảo đảm nước tưới cho diện tích canh tác khoảng 2,0 triệu ha, trong đó, mở rộng diện tích gieo trồng lúa do tăng vụ và khai hoang thêm

khoảng 600.000-700.000 ha, bảo đảm cuộc sống ổn định cho 10 triệu dân trong vùng ngập lụt và cải thiện môi trường sinh thái

1- Hoàn thành 3 chương trình trọng điểm Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu để gieo trồng 2 vụ - 3 vụ/năm

2- Hoàn thành chương trình ngọt hoá bán đảo Cà Mau, Gò Công, Nam Măng Thít để khaihoang, tăng vụ và phát triển sản xuất ổn định

3- Đối với cây trồng ngắn ngày vùng ngập lụt:

Để bảo đảm ăn chắc 2 vụ đông xuân và hè thu trong vùng ngập sâu, (có mức ngập trên 1m), tuỳ theo yêu cầu về thời gian thu hoạch vụ hè thu ở các vùng khác nhau cần áp dụngbiện pháp thích nghi với lũ, phòng tránh lũ, chuyển dịch mùa vụ để bảo đảm thu hoạch vụ

hè thu trước thượng tuần hoặc hạ tuần tháng 8 hàng năm

- Từng bước tiến tới kiểm soát lũ cả năm ở vùng ngập nông (có mức ngập dưới 1m), ở những nơi có điều kiện có thể đắp bờ bao nhưng phải bảo đảm không cản trở việc thoát lũ

và phải theo đúng quy định cụ thể trong quy hoạch

Trang 35

4- Đối với cây trồng lâu năm vùng ngập lụt:

Có biện pháp chủ động kiểm soát lũ cả năm Riêng vùng ngập sâu cần nghiên cứu giống cây trồng thích hợp để có thể chịu ngập ngắn ngày

II- GIAO THÔNG (THUỶ VÀ BỘ)

1- Hệ thống giao thông (thuỷ và bộ) và hệ thống thuỷ lợi (cống, kênh, bờ kênh các cấp vàcác bờ bao) phải bảo đảm đồng bộ để hình thành hệ thống giao thông hoàn chỉnh, phù hợp với tập quán ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng không được tạo thành vật cản dòngchảy làm tăng cao thêm mức nước lũ

2- Hình thành hệ thống giao thông đường bộ huyết mạch nối liền các đô thị và hệ thống đường bộ dọc biên giới bảo đảm không bị ngập trong mùa lũ

3- Hình thành hệ thống giao thông thuỷ thuận lợi liên tỉnh và liên vùng

III- CÁC KHU DÂN CƯ:

Phải thực hiện đúng Chỉ thị 815/TTg ngày 12 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ

Riêng đối với vùng ngập lụt, phải bảo đảm an toàn và ổn định đời sống cho nhân dân ở nông thôn và các đô thị, các cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ và cơ sở hạ tầng với mức lũ năm 1961, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi để từng bước phát triển theo hướng văn minh, hiện đại

1- Đối với khu dân cư ở nông thôn: Hình thành các cụm dân cư hoặc các tuyến dân cư được bảo đảm an toàn không bị ngập lụt bằng cách đào ao, hồ lất đất tôn nền theo cụm, đào kênh lấy đất tồn nền dọc bờ kênh, đắp bờ bao khu dân cư hoặc làm nhà trên cọc, kết hợp với việc bố trí hợp lý các công trình phúc lợi công cộng

2- Đối với các thị xã, thị trấn, thị tứ, khu trung tâm các cụm dân cư được bảo đảm an toànkhông bị ngập lụt bằng cách đào ao, hồ để lấy đất tôn nền hoặc đắp bờ bao, tuỳ theo điều kiện cụ thể từng nơi Việc đắp bờ bao các khu dân cư phải thực hiện theo quy định của

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn để tránh làm dâng cao mực nước được kiểm soát

Điều 2.- Tiếp tục nghiên cứu các phương án thuỷ lợi cơ bản cho chiến lược phòng

chống lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long theo hướng:

1- Nghiên cứu các biện pháp thoát lũ tràn từ biên giới Cam-pu-chia theo hướng đưa qua sông Vàm Cỏ và Vịnh Thái Lan

2- Theo dõi diễn biến môi trường sinh thái và trạng thái dòng chảy

3- Nghiên cứu hệ thống công trình đồng bộ để từng bước tiến tới chủ động kiểm soát việctưới, tiêu, phòng chống lũ

Điều 3.- Từ năm 1996 đến năm 2000 Mục tiêu phải đạt được của việc phát triển thuỷ

lợi, giao thông và xây dựng nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long là:

1- Quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng, các dịch vụ kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long bảo đảm cho dân cư trong vùng có cuộc sống ổn định và ngày càng được cải thiện, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và của do lũ lụt gây ra

2- Xây dựng các công trình thuỷ lợi cần thiết nhằm mở rộng thêm 500.000 ha gieo trồng lúa, đưa diện tích gieo trồng lúa đạt trên 3,5 triệu ha

(Danh mục các công trình xem phụ lục kèm theo)

Trang 36

3- Khai thác tốt tiềm năng đất đai để phát triển sản xuất nông nghiệp, trước hết là tăng nhanh sản lượng lương thực bảo đảm đạt trên 15 - 16 triệu tấn/năm.

Điều 4- Việc phát triển thuỷ lợi, giao thông và xây dựng các khu dân cư ở đồng bằng

sông Cửu Long do nhân dân và chính quyền các địa phương làm là chủ yếu, có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước

1- Đối với thuỷ lợi:

- Vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho việc xây dựng mới, nạo vét và tu bổ các kênh trục chính, kênh cấp I, xây dựng các công trình lớn, phức tạp và công trình chống sạt lở nguy hiểm Trước hết tập trung đầu tư vào các công trình thuỷ lợi kết hợp giao thông tại địa bàn xây dựng các khu dân cư và các các công trình thuỷ lợi trọng điểm phục vụ yêu cầu khai hoang tăng vụ, phát triển sản xuất lúa

- Vốn ngân sách địa phương cần đầu tư cho việc xây dựng mới, mở rộng, nạo vét và tu bổcác kênh cấp II, các công trình trên kênh cấp II, các cống dưới bờ bao Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh phải dành 45% nguồn thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp để lại, để ưutiên đầu tư cho các công trình thuỷ lợi và một phần nguồn thu từ xổ số kiến thiết để xây dựng trường học, bệnh xá

- Nhân dân đóng góp công sức để xây dựng bờ bao, hệ thống thuỷ lợi nội đồng và xây dựng đồng ruộng

2- Đối với vùng khai hoang, kinh tế mới: thực hiện Quyết định số 773/TTg ngày 21 tháng

12 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ

3- Đối với khu dân cư: Nhân dân góp công sức và tự bỏ vốn ra để tôn nền, làm bờ bao và các cơ sở phúc lợi công cộng tại chỗ Ngoài việc huy động lao động nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân các cấp có thể huy động lao động và tiền vốn của nhân dân để thực hiện

Nhà nước có chính sách cho vay vốn trung hạn và dài hạn theo chế độ ưu đãi đối với các

hộ thuộc diện chính sách và các hộ nghèo để các hộ này tôn nền hoặc làm nhà trên cọc Giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì cùng với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân sách Nhà nước Việt Nam, Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia xây dựng các tiêu chuẩn và chế độ cho vay cụ thể cho từng loại hộ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh xét duyệt các đối tượng cụ thể để làm cơ sở cho vay

Uỷ ban nhân dân các tỉnh lập quy hoạch sử dụng đất làm thuỷ lợi, giao thông và xây dựngcác điểm dân cư trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh do lấy đất để xây dựng thuỷ lợi, giao thông và các khu dân cư, bảo đảm công bằng hợp lý; quy định cụ thể chế độ giao đất để làm nhà ở theo quy định của pháp luật

4- Đối với giao thông:

- Vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho việc nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới các tuyến giao thông (thuỷ và bộ) trọng yếu, các công trình có yêu cầu kỹ thuật phức tạp Việc phânđịnh nguồn vốn giữa trung ương và địa phương để đầu tư cho chương trình này thực hiện theo chế độ phân cấp quản lý ngân sách hiện hành

- Các tỉnh có cơ chế, chính sách huy động sự đóng góp của nhân dân và các nguồn vốn khác để đầu tư phát triển hệ thống giao thông nông thôn ở địa phương

Ngày đăng: 19/12/2016, 09:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC - Tiểu luận môn học phân tích chính sách
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC (Trang 3)
Sơ đồ 1 : Hệ thống tổ chức quản lý các hệ thống thủy lợi - Tiểu luận môn học phân tích chính sách
Sơ đồ 1 Hệ thống tổ chức quản lý các hệ thống thủy lợi (Trang 24)
BẢNG THỐNG KÊ SƠ ĐỒ KHẢ NĂNG BỐ TRÍ DÂN CƯ VÙNG NGẬP LỤT SÂU - Tiểu luận môn học phân tích chính sách
BẢNG THỐNG KÊ SƠ ĐỒ KHẢ NĂNG BỐ TRÍ DÂN CƯ VÙNG NGẬP LỤT SÂU (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w