Ngoài ra dự thảo còn chưa nêu lên được những tác động tiêu cực có thể có của thuế đánh vào lãi tiết kiệm đến hệ thống tài chính còn non trẻ của Việt Nam với hệ thống các Ngân Hàng Thương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
h & g
Đề tài môn học Phân Tích Chính Sách Thuế
THUẾ ĐÁN H VÀO TIẾT KIỆM
TP.Hồ Chí Minh - Tháng 02 Năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
h & g
Đề tài môn học Phân Tích Chính Sách Thuế
THUẾ ĐÁN H VÀO TIẾT KIỆM
GVHD: PGS.TS N GUYỄN N GỌC HÙN G
TP.Hồ Chí Minh - Tháng 02 Năm 2012
Trang 3STT Họ và tên N gày sinh Chữ ký
Trang 4TRAN G PHỤ BÌA
DAN H SÁCH HỌC VIÊN N HÓM 03 K20 TCDN Đêm3
MỤC LỤC
DAN H MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DAN H MỤC CÁC BẢN G
DAN H MỤC CÁC HÌN H VẼ VÀ ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI GIỚI THIỆU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ ĐÁN H VÀO TIẾT KIỆM 3
1.1 Lý thuyết truyền thống 3
1.2 Các mô hình 3
1.2.1 Mô hình đơn giản 3
1.2.1.1 Hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập của thuế đánh vào tiết kiệm 4
1.2.1.2 Minh chứng lãi suất sau thuế tác động đến tiết kiệm 6
1.2.1.3 Lạm phát và thuế tiết kiệm 6
1.2.2 Các mô hình khác 7
1.2.2.1 Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro 7
1.2.2.2 Mô hình tự kiểm soát 7
1.3 Chính sách khuyến khích của thuế đối với tiết kiệm hưu trí 8
1.3.1.1 Trợ cấp thuế đối với tiền hưu do người sử dụng lao động trả 8
1.3.1.2 Tài khoản 401(k) 8
1.3.1.3 Tài khoản hưu trí cá nhân (Individual retirement account –IRA) 10
1.3.1.4 Tài khoản Keough 10
1.3.3.1 Các giới hạn đối với trợ cấp thuế trên tiết kiệm hưu trí 13
1.3.4.1 Tiết kiệm phòng ngừa rủi ro 16
1.3.4.2 Mô hình tự kiểm soát 16
1.3.4.3 Tiết kiệm cá nhân và tiết kiệm quốc gia 16
Chương 2: THỰC TRẠN G VỀ THUẾ ĐÁN H VÀO TIẾT KIỆM TẠI VIỆT N AM18 2.1 Tình hình áp dụng thuế thu nhập lãi gửi tiết kiệm ở các nước trên thế giới 18
2.2 Quy định đánh thuế trên lãi tiết kiệm tại Việt Nam 19
2.3 Một số ví dụ tính toán khi áp dụng thuế tiết kiệm vào thực tế 23
Chương 3: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT CHÍN H SÁCH THUẾ ĐÁN H VÀO TIẾT KIỆM TẠI VIỆT N AM 28
3.1 Chính sách thuế đối với tiết kiệm 28
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5TNCN Thu nhập cá nhân
TESSAs Tax Exempt Special Savings Accounts
Trang 6Bảng 1: Quyết định lựa chọn tiêu dùng theo thời gian khi chưa có thuế 3
Bảng 2: Quyết định lựa chọn tiêu dùng theo thời gian khi có thuế 4
Bảng 3: Tác động ròng giữa hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập 5
Bảng 4: Thuế vốn trong môi trường lạm phát 6
Bảng 5: Tóm lược đặc điểm các tài khoản tiết kiệm hưu trí 11
Bảng 6: Dự toán dòng tiền khi không đánh thuế vào lãi tiết kiệm 12
Bảng 7: Dự toán dòng tiền phương thức IRA – đánh thuế khi rút lãi 1 lần 12
Bảng 8: Dự toán dòng tiền với cách đánh thuế ngay khi tiền lãi được thanh toán 12
Bảng 9: Phân tích độ nhạy tỉ số Thuế tiết kiệm / (chia) tổng vốn và lãi trước thuế tiết kiệm .24
Bảng 10: Lãi suất tiết kiệm sau thuế 25
Bảng 11: Phân tích thay đổi sức mua khi đánh thuế tiết kiệm trong điều kiện có lạm phát26 Bảng 12: Phân tích độ nhạy thay đổi sức mua thực khi có và không có thuế tiết kiệm với biến lãi suất tiền gửi danh nghĩa và lạm phát thay đổi 26
Bảng 13: Phân tích độ nhạy thay đổi sức mua thực khi có và không có thuế với biến thuế suất tiết kiệm và lạm phát thay đổi 27
Trang 7Biểu đồ 1: Sự gia tăng lượng tài khoản TESSAs từ năm 1996 - 1999 18
Biểu đồ 2: Lượng tiền gửi vào tài khoản IRA và 401(k) ở Mỹ trong năm 2011 19
Trang 8Hình 1: Đánh thuế tiết kiệm và quyết định lựa chọn theo thời gian 4
Hình 2: Trợ cấp thuế và hành vi của người tiết kiệm 13
Hình 3: Tài khoản tiết kiệm IRA và quyết định chi tiêu theo thời gian 14
Hình 4: Tài khoản tiết kiệm IRA và hành vi của người tiết kiệm thấp 15
Hình 5: Tài khoản tiết kiệm IRA và hành vi của người tiết kiệm cao 15
Hình 6: Đường ngân sách khi thuế suất tiết kiệm là 5% 23
Hình 7: Đường ngân sách khi thuế suất tiết kiệm là 25% 24
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Mục đích chuyên đề
- Mục đích của bài chuyên đề này là phân tích các góc cạnh lý thuyết của chính sách thuế đánh trên tiết kiệm nhằm làm rõ thêm tác động của chính sách thuế này đến hành vi của người tiêu dùng trong phân
bổ ngân sách cho tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng tương lai
- Phương pháp của nghiên cứu sử dụng các mô hình để phân tích, tính toán và mô tả các ảnh hưởng của hệ thống thuế đánh trên lãi thu nhập
- Từ các nghiên cứu lý thuyết và phân tích tác động có thể có trong điều kiện thực trạng nền kinh tế Việt Nam, nêu lên ý kiến đề xuất chính sách thuế đánh trên lãi tiết kiệm phù hợp với tình hình kinh tế
và đặc thù văn hóa của Việt Nam Các ý kiến giải pháp để hạn chế thấp nhất tổn thất xã hội và bất ổn cho hệ thống tài chính
2 Bố cục chuyên đề
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thuế đánh vào tiết kiệm
Chương 2: Thực trạng về thuế đánh vào tiết kiệm tại Việt Nam
Chương 3: Ý kiến đề xuất
Trang 10LỜI GIỚI THIỆU
Thuế là một khoản chuyển giao nguồn lực bắt buộc thông qua chính phủ Hai loại thuế chủ yếu là gián thu thông qua hàng hóa và thuế trực thu thông qua thuế thu nhập Thuế thu nhập là loại thuế có tính nhạy cảm nhất đối với đời sống của các tầng lớp dân cư Ở các nước phát triển, thuế thu nhập là nguồn thu chủ yếu của Chính Phủ, trong khi đó các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam thì thuế thu nhập chưa thể đóng vai trò chính trong nguồn thu ngân sách
Tờ trình Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) vào tháng 09/2006 trong đó có đề xuất đánh thuế vào tiền lãi gởi tiết kiệm dự định trình Chính phủ và Quốc Hội thông qua trong kỳ họp đầu năm 2007, với dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Trong tờ trình có nêu quan niệm lý thuyết về thu nhập dường như giản đơn, thực tế cho thấy xác định cái nào là
và cái nào không phải là thu nhập là một vấn đề khó khăn Các cơ sở lập luận trong dự thảo chưa dẫn chứng được cơ sở khoa học và thu thập khảo sát dữ liệu từ các tầng lớp dân cư Ngoài ra dự thảo còn chưa nêu lên được những tác động tiêu cực có thể có của thuế đánh vào lãi tiết kiệm đến hệ thống tài chính còn non trẻ của Việt Nam với hệ thống các Ngân Hàng Thương Mại đóng vai trò chủ lực
Các nghiên cứu cho thấy các hệ thống thuế gây ảnh hưởng ít nhiều đến: tài chính, hành vi của người tiêu dùng và cả người sản xuất Thuế đánh vào tiết kiệm đã được áp dụng rộng rãi ở một số quốc gia trên thế giới, là một bước trong tiến trình phát triển hệ thống thuế
Bài chuyên đề này sẽ tập trung phân tích các mô hình lý thuyết về chính sách thuế đánh vào lãi tiết kiệm, nhằm làm rõ những tác động đến hành
vi của người tiêu dùng trong tiết kiệm và tiêu dùng Từ đó có các ý kiến đề xuất các giải pháp chính sách thuế này được các tầng lớp dân cư chấp nhận tạo cơ sở để triển khai chính sách thuế này thành công trong thực tiễn, tạo nguồn thu cho ngân sách và vẫn đảm bảo các tính chất cơ bản của hệ thống thuế: tính hiệu quả, tính đơn giản về mặt hành chính, tính linh hoạt, tính trách nhiệm về mặt chính trị, tính công bằng
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ ĐÁN H VÀO TIẾT KIỆM
1.1 Lý thuyết truyền thống
Theo lý thuyết truyền thống về tiết kiệm, vai trò của tiết kiệm là ổn định tiêu dùng theo thời gian Tiết kiệm chính là phần còn lại của thu nhập cá nhân sau khi đã trừ đi tiêu dùng hiện tại Một cá nhân có nhiều thu nhập trong thời gian còn đi làm và có ít thu nhập hơn trong thời gian nghỉ hưu Nếu không có tiết kiệm, trong những giai đoạn có thu nhập ít hơn, cá nhân buộc phải giảm chi tiêu Bằng việc giảm chi tiêu trong những lúc có thu nhập cao và tăng chi tiêu trong những giai đoạn có thu nhập thấp, tiết kiệm thể hiện vai trò ổn định hóa tiêu dùng
1.2 Các mô hình
1.2.1 Mô hình đơn giản
Mô hình đơn giản được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết truyền thống
về tiết kiệm và vai trò của tiết kiệm
Mô hình này nhấn mạnh việc lựa chọn cách thức phân bổ tiêu dùng cá nhân theo thời gian Chúng ta làm việc hôm nay để tài trợ tiêu dùng trong tương lai, tức là sự đánh đổi giữa lựa chọn tiết kiệm và tiêu dùng trong hiện tại
Có thể chia cuộc đời con người thành 2 giai đoạn
N guồn: nhóm tác giả tổng hợp từ Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Với các thông tin trên sẽ tìm được cơ cấu tiêu dùng tối ưu tại điểm A Đó
là chính là giao điểm giữa đường ngân sách (BC1) và đường bàng quan (IC1) Khi đó độ dốc của đường giới hạn ngân sách chính là - (1+r) thể hiện chi phí
Trang 12cơ hội của việc đánh đổi việc tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất là thu nhập từ tiền lãi lý ra nhận được nếu tiết kiệm để tiêu dùng trong giai đoan thứ hai
Hình 1: Đ ánh thuế tiết kiệm và quyết định lựa chọn theo thời gian
N guồn: Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Khi chính phủ đánh thuế vào thu nhập từ tiền lãi tiết kiệm, thu nhập, chi tiêu và tiết kiệm của cá nhân trong các giai đoạn được thể hiện trong bảng sau
N guồn: nhóm tác giả tổng hợp từ Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Khi Chính phủ đánh thuế, đường ngân sách trở nên phẳng hơn, từ BC1thành BC2 Độ dốc đường giới hạn ngân sách giảm từ (1+r) thành (1+r*(1-t)) Đường ngân sách phẳng hơn phản ánh giá cả giá cả tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất giảm đi: chi phí cơ hội của việc tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất giảm vì mỗi đồng tiết kiệm giờ đây mang lại ít tiêu dùng trong giai đoạn thứ hai
1.2.1.1 Hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập của thuế đánh vào tiết kiệm
Sự thay đổi giá cả từ kết quả của việc đánh thuế vào tiết kiệm luôn gây ra
2 hiệu ứng Lãi suất sau thuế thấp hơn (giá của CW thấp hơn) làm cho cá nhân
có khuynh hướng tiêu dùng nhiều hơn Và như vậy, khiến tiêu dùng ở giai
= -(1 +r)
= -(1 +r)
Độ dố c = -(1
+r[1-t])
Trang 13đoạn thứ nhất tăng thông qua hiệu ứng thay thế Điều này dẫn đến tiết kiệm
giảm, gây ra hiệu ứng giảm thu nhập đối với thu nhập sau thuế Cá nhân giờ
đây trở nên nghèo hơn ở tất cả các mức tiết kiệm vì tiền lãi trên mỗi đồng tiết
kiệm giảm đi và với mức tiết kiệm nhất định thì tiêu dùng CR của cá nhân
giảm
Bởi vì hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập diễn ra theo 2 hướng trái ngược nhau nên hiệu ứng ròng đánh thuế vào tiền lãi tiết kiệm không rõ ràng
Hiệu ứng thay thế lớn hơn hiệu ứng thu nhập Hiệu ứng thay thế thấp hơn hiệu ứng thu nhập
Bảng 3: Tác động ròng giữa hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập
N guồn: nhóm tác giả tổng hợp từ Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Thuế tiết kiệm đánh vào tiền lãi làm giảm lãi suất thực nhận của các cá nhân Như vậy lãi suất thay đổi làm hành vi tiêu dùng và tiết kiệm thay đổi,
hay phản ứng của tiết kiệm đối với lãi suất như thế nào? Có thể sử dụng lý
thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng để xem xét vấn đề này Trong phân
tích này, cả hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập đều tác động đến hành vi
tiết kiệm của các cá nhân nhưng theo hai chiều hướng đối lập nhau, có thể làm
cho các cá nhân tiết kiệm nhiều hơn hoặc ít đi Các nhà kinh tế vẫn chia rẽ
thành 2 trường phái ủng hộ và phản đối chính sách thuế đánh vào tiết kiệm
Các quan điểm bất đồng này tồn tại giữa các nhà kinh tế về việc thay đổi
Trang 14chính sách thuế nhằm khuyến khích tiết kiệm trong thực tế có mang lại kết
quả mong muốn hay không Các nghiên cứu vẫn chưa dẫn đến sự thống nhất
nào về ảnh hưởng của lãi suất đến tiết kiệm.[2][5]
1.2.1.2 Minh chứng lãi suất sau thuế tác động đến tiết kiệm
Theo các nghiên cứu của các nhà kinh tế về tác động của thuế đến tiết
kiệm thì các ước lượng về độ co giãn của tiết kiệm với lãi suất sau thuế nằm
trong khoảng 0 (lãi suất thay đổi không tác động đến tiết kiệm, như nghiên
cứu của Hall, 1988) đến 0,67 (lãi suất tiết kiệm tăng 10% làm tiết kiệm tăng
6,7% - nghiên cứu của Attanasio & Webber, 1995)
1.2.1.3 Lạm phát và thuế tiết kiệm
Khi một nền kinh tế phải đối mặt với lạm phát gia tăng nhưng cơ sở đánh
thuế không thay đổi (dựa trên luật định và không thay đổi kịp theo biến động
của lạm phát) đã gây nhiều khó khăn cho cá nhân Thực tế này dẫn đến hiện
tượng “Sự trường lên ngưỡng đánh thuế” (bracket creep), cá nhân có thể cảm
nhận sự tăng lên của thuế suất mặc dù thu nhập thực của họ không tăng Điều
này có thể giải thích bằng việc cá nhân có khi tăng thu nhập danh nghĩa trong
thời kỳ lạm phát cao thì phần tăng thêm cũng chỉ bù đắp phần lạm phát và sẽ
phải nộp thuế nhiều hơn bởi vì phần nhiều hơn thu nhập của họ nằm trong
ngưỡng chịu thuế cao hơn
Biện pháp đưa ra là điều chỉnh giá cả đối với cơ sở đánh thuế Tuy nhiên
biện pháp này cũng chưa chắc loại trừ hoàn toàn tác động của lạm phát bởi vì
quy định đối với thuế thu nhập trên vốn vẫn giữ không đổi Lãi suất nhận
được từ tài khoản tiền gửi ngân hàng là lãi suất danh nghĩa, nhưng điều làm
tăng sức mua chính là lãi suất thực Thay vì quan tâm tới việc nhận được bao
nhiêu tiền trong năm tới, cá nhân sẽ quan tâm tới việc mua được bao nhiêu
hàng hóa trong năm tới Điều này sẽ được minh chứng qua ví dụ sau:
Slượng hàng hóa
Bảng 4: Thuế vốn trong môi trường lạm phát
N guồn: Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Trang 151.2.2 Các mô hình khác
1.2.2.1 Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro
Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro là mô hình tiết kiệm nhằm ổn định tiêu dùng theo thời gian và tự bảo hiểm trước các rủi ro
Giả định: các cá nhân không có khả năng vay mượn nếu họ gặp phải
những khó khăn về tài chính, bệnh tật, thất nghiệp, ly dị
N hận thức: tiết kiệm phòng ngừa rủi ro giúp cá nhân không phải vay muợn
trong tuơng lai Và các cá nhân phải đối mặt với giới hạn tính thanh khoản Giới hạn thanh khoản có thể do ngân hàng hoặc các định chế tài chính không muốn cho vay
Minh chứng về mô hình: Một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm kiểm
định mô hình phòng ngừa rủi ro, kết quả cho thấy khi sự bất trắc tăng lên sẽ dẫn đến tiết kiệm tăng lên, sự bất trắc giảm đi sẽ làm cho tiết kiệm giảm Và một số nghiên cứu lại cho thấy việc mở rộng các chương trình bảo hiểm xã hội nhằm làm giảm sự bất định thu nhập sẽ làm giảm tiết kiệm, và kết quả nhận được là phù hợp với quan điểm cho rằng tiết kiệm có động cơ từ việc phòng ngừa rủi ro Chẳng hạn, kết quả nghiên cứu của Chou, et al (2003) cho rằng việc đưa vào National Health Insurance ở Taiwan dẫn đến sự giảm đi tiết kiệm trong số công nhân bị ảnh hưởng Thêm vào đó, Gruber & Yelowitz (1999) phát hiện sự mở rộng chương trình Medicaid ở Mỹ làm giảm nhu cầu tiết kiệm dự phòng
1.2.2.2 Mô hình tự kiểm soát
Trong mô hình này yếu tố chủ yếu để xác định hành vi tiết kiệm là khả năng của cá nhân trong việc tìm ra cách thức tự mình tiết kiệm để dành thu nhập ngoài phạm vi “tự thõa mãn trong ngắn hạn” Những cá nhân có sở thích dài hạn đảm bảo có đủ tiết kiệm để bằng phẳng hóa tiêu dùng trong suốt cuộc sống, nhưng nếu có sở thích ngắn hạn có thể dẫn đến tiêu dùng hết thu nhập
và không tiết kiệm trong tương lai
Giả định: cá nhân sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa sự ưa thích có hại
trong ngắn hạn và sự ưa thích có lợi trong dài hạn
Minh chứng về mô hình:
- Mỗi cá nhân với vấn đề tự kiểm soát phải cần đến những công cụ có thể tin tưởng để giúp họ tự kiểm soát Các công cụ này cũng phổ biến trong khía cạnh tiết kiệm Ví dụ: Quỹ hưu trí 401(k) là một hình thức
Trang 16bù đắp công lao của người lao động khi chủ hãng mở một quỹ hưu mang tên người lao động và đều đặn bỏ vào quỹ một phần lương chưa đóng thuế của người này Với chương trình trợ giúp hưu trí 401(k), người công nhân không phải đóng thuế tạm thu trên phần lương bỏ vào quỹ vì số tiền này không ghi trên bảng lương, nhưng họ phải đóng thuế
An Sinh Xã Hội (FICA) và Y Tế trên nguồn lợi tức trích bỏ vào quỹ hưu 401(k)
- Minh chứng khác là việc tích lũy tài sản ở Mỹ, cá nhân có tiết kiệm đáng kể ở những dạng rất khó tiếp cận (các tài khoản mua nhà hay quỹ hưu trí) nhưng lại tiết kiệm rất ít ở các dạng dễ tiếp cận hơn, như ở tài khoản phát hành Séc
- Minh chứng thuyết phục về mô hình tự kiểm soát là thử nghiệm của Thaler & Benartzi (2004): “hãy tiết kiệm cho tương lai nhiều hơn” (Save More Tomorrow) Người lao động được quyền chọn lựa tiết kiệm theo cam kết dành một phần thu nhập tăng thêm trong tương lai cho tiết kiệm hưu trí trước khi tiền lương được trả tăng lên
1.3 Chính sách khuyến khích của thuế đối với tiết kiệm hưu trí
1.3.1.1 Trợ cấp thuế đối với tiền hưu do người sử dụng lao động trả
Quỹ tiền hưu là một trong những khoản phúc lợi lớn nhất mà người sừ dụng lao động dành cho người lao động Quỹ tiền hưu trí là khoản phúc lợi mang tính đóng góp, trong đó người sử dụng lao động sẽ đóng góp một phần trên cơ sở thu nhập của người lao động vào một tài khoản đầu tư và người lao động sẽ nhận được tiền tiết kiệm này từ lợi nhuận của tài khoản đầu tư khi họ
về hưu
Tất cả tiền lãi phát sinh từ sự tích lũy các khoản tiết kiệm hưu trí đều không phải chịu thuế (giống các khoản bảo hiểm y tế do người sử dụng lao động đóng góp) Thay vào đó, người lao động phải nộp thuế đối với tiết kiệm hưu trí như là thu nhập thường xuyên lúc nhận tiền khi về hưu
1.3.1.2 Tài khoản 401(k)
Khái niệm:
Một chương trình hưu thuộc Mục 401(k) là một hình thức hoãn đóng thuế trên thù lao làm việc qua đó người lao động có thể đồng ý để người sử dụng
Trang 17lao động trích một phần lương bằng tiền mặt bỏ vào một quỹ hưu gồm các khoản tiền chưa đóng thuế
Đặc điểm và nguyên tắc:
• Số tiền lương được hoãn thuế qua chương trình hưu 401(k) người công nhân có thể chọn thường có giới hạn Do đó, các khoản tiền họ quyết định bỏ vào quỹ hưu sẽ căn cứ trên các quy định của loại quỹ hưu mà công ty cung cấp
• Các khoản tiền lương chưa đóng thuế được đưa vào tài khoản 401 (k) (thường được biết đến như những khoản tiền hoãn thuế không bắt buộc – elective deferrals) không phải đóng loại thuế tạm thu trong thời gian được hoãn thuế
• Các khoản tiền lương hoãn thuế vẫn phải đóng các loại thuế khác như thuế an sinh xã hội, thuế y tế và thuế thất nghiệp
• Có nhiều loại quỹ hưu 401(k) cho phép người lao động rút tiền khi họ thật sự gặp khó khăn cần giải quyết chẳng hạn những bức thiết về tài chính hay khi có nhu cầu cần kíp Các khoản tiền được phép rút ra từ các quỹ hưu 401(k) trong các trường hợp này thường được giới hạn ở mức các khoản tiền họ đã đóng góp vào quỹ, không bao gồm bất cứ khoản lợi tức nào kiếm được từ nguồn tiền được hoãn thuế
• Người lao động đóng góp đến 10% thu nhập, người sử dụng lao động cũng sẽ đóng góp tối đa 5% thu nhập của người lao động
• Mức giới hạn đóng góp tối đa vào tài khoản 401 (k) là 13.000 đôla năm
2004, tăng lên 15.000 đôla năm 2006 và đến năm 2012 là 17.000 đôla sau khi giữ mức 16.500 đôla năm 2011
• Các khoản tiền được phân phối từ quỹ hưu 401(k) trong những trường hợp khó khăn sẽ không được xem như các khoản tiền được phép trung chuyển từ quỹ hưu này sang quỹ hưu khác Nhưng được xem là tài sản
và được chuyển quyền thừa hưởng cho người khác khi người sở hữu tài khoản 401 (k) qua đời
• Các khoản tiền hưu phân phối cho người lao động trước tuổi 59.5 được xem là tiền hưu non và phải đóng thuế phạt; tỉ lệ phạt là 10% ngoài các
Trang 18khoản thuế lợi tức phải đóng, trừ khi người lao động thuộc một trong những trường hợp ngoại lệ được miễn đóng loại thuế phạt này
1.3.1.3 Tài khoản hưu trí cá nhân (Individual retirement account –IRA)
Năm 1974, Quốc hội Mỹ đưa ra hình thức tài khoản hưu trí cá nhân – IRA, một cơ chế tiết kiệm hưu trí được ưu đãi thuế dành cho cá nhân không bao gồm tiền hưu trí do người sử dụng lao động cung cấp Sau 1981, IRA hoạt động với nguyên tắc:
• Đây không phải là loại hình tiết kiệm đặc biệt Hầu như tất cả các loại tài sản đều có thể đưa vào tài khoản IRA
• Cá nhân có thể đóng góp với mức tối đa được miễn thuế là 2.000 đôla (số này được trừ ra khi tính thu nhập chịu thuế)
• Không giống như tiền lãi từ các tài khoản tiết kiệm thông thường, tiền lãi từ tài khoản IRA được cộng dồn vào thu nhập miễn thuế
• Tiền rút từ tài khoản IRA bị đánh thuế như là thu nhập thường xuyên
• Số dư trong tài khoản IRA không được rút ra trước khi cá nhân tròn 59.5 tuổi; việc rút tiền chỉ được bắt đầu khi cá nhân được 70 tuổi (rút trước thời điểm đó bị phạt 10% thuế)
• Được quyền thừa hưởng quỹ hưu trí của người khác, việc thừa hưởng này sẽ kèm theo một số các quy định
1.3.1.4 Tài khoản Keough
Là lựa chọn tiết kiệm hưu trí đặc biệt dành cho những người tự làm chủ Những cá nhân có tài khoản Keough có thể tiết kiệm đến 40.000 đôla mỗi năm từ thu nhập mình tạo ra mà không phải chịu thuế để có thể rút ra sử dụng (và bị đánh thuế) khi nghỉ hưu
Chức năng của tài khoản Keough cũng giống như tài khoản 401(k), ngoại trừ nó không bị kiểm soát bởi người sử dụng lao động
Trang 19Đặc điểm Tài khoản 401 (k) Tài khoản IRA Tài khoản Keough
Thuế
Được hoãn thuế
Không phải đóng thuế tạm
thu trong thời gian hoãn thuế
Phải đóng thuế an sinh xã
hội, thuế y tế và thuế thất
nghiệp
Được hoãn thuế Không phải đóng thuế tạm thu trong thời gian hoãn thuế
Phải đóng thuế an sinh xã hội, thuế y tế và thuế thất nghiệp
Được hoãn thuế Không phải đóng thuế tạm thu trong thời gian hoãn thuế Phải đóng thuế an sinh xã hội, thuế y tế và thuế thất nghiệp
N guồn
đóng góp
Có sự đóng góp của người sử
dụng lao động, bị kiểm soát
bởi người lao động
Không bao gồm tiền hưu trí
do người sử dụng lao động cung cấp
Dành cho những người tự làm chủ và không bị kiểm soát bởi người sử dụng lao động
Giới hạn Giới hạn ở mức 17.000 đôla (2012) Mức tối đa được miễn thuế là 5.000 đôla (2011) Cho phép đóng góp tối đa đến mức có thể
tài khoản hưu trí
Được chuyển tiền giữa các tài khoản hưu trí
Thừa
hưởng
Được thừa hường từ người
chủ sở hữu đã qua đời
Được thừa hưởng tiền trong quỹ từ người khác
N guồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Các hình thức trợ cấp thuế trên đều có cấu trúc tương tự là cá nhân sẽ tránh được thuế đánh trên tiền tiết kiệm cũng như các khoản lãi nhận được từ tiền tiết kiệm Thay vì bị đánh thuế trước khi tiết kiệm, bạn sẽ trì hoãn được việc trả thuế (trên cả tiền đóng góp ban đầu lẫn tiền lãi nhận được) cho đến khi bạn rút tiền từ các tài khoản tiết kiệm hưu trí
Nói một cách khác, với việc tiết kiệm nhưng không được ưu đãi thuế, bạn
sẽ trả thuế khi bạn kiếm được tiền Chính phủ sẽ lấy tiền thuế đó, gửi vào ngân hàng và kiếm được tiền lãi trên tiền thuế mà bạn đã trả Nhưng với tiền tiết kiệm hưu trí được ưu đãi thuế, bạn sẽ giữ lại toàn bộ số thuế mà lý ra bạn phải nộp trên tiền đóng góp ban đầu và tiền lãi nhận được trên sự đóng góp
đó, và bạn sẽ nhận được tiền lãi trên số tiền mà lý ra bạn phải dùng để trả thuế
Trang 20o Một ví dụ về phân tích ước lượng dòng tiền với các phương thức đánh
thuế và rút lãi cho thấy lợi ích thu được từ việc trì hoãn thuế
Thông số tính toán
DỰ TOÁN DÒN G TIỀN KHI KHÔN G ĐÁN H THUẾ VÀO TIẾT KIỆM
tiền lãi (lãi kép) 1,400,000 1,596,000 1,819,440 2,074,162 2,364,544 2,695,580 3,072,962
lãi lũy kế ròng 1,400,000 2,996,000 4,815,440 6,889,602 9,254,146 11,949,726 15,022,688 vốn & lãi lũy kế 10,000,000 11,400,000 12,996,000 14,815,440 16,889,602 19,254,146 21,949,726 25,022,688
số tiền lãi nhận được vào cuối năm 7 15,022,688
Bảng 6: Dự toán dòng tiền khi không đánh thuế vào lãi tiết kiệm
N guồn: nhóm tác giả tính toán bằng MS Excel
DỰ TOÁN DÒN G TIỀN KHI SỬ DỤN G PHƯƠN G THỨC TIẾT KIỆM TÀI KHOẢN IRA - ĐÁN H THUẾ KHI RÚT LÃI (rút lãi 1 lần)
vốn & lãi lũy kế 10,000,000 11,400,000 12,996,000 14,815,440 16,889,602 19,254,146 21,949,726 10,000,000
số tiền nhận được vào cuối năm 7 14,271,554
Bảng 7: Dự toán dòng tiền phương thức IRA – đánh thuế khi rút lãi 1 lần
N guồn: nhóm tác giả tính toán bằng MS Excel
DỰ TOÁN DÒN G TIỀN KHI SỬ DỤN G PHƯƠN G THỨC TIẾT KIỆM THÔN G THƯỜN G - ĐÁN H THUẾ N GAY KHI TIỀN LÃI ĐƯỢC THAN H TOÁN
tiền lãi (lãi kép) 1,400,000 1,586,200 1,797,165 2,036,187 2,307,000 2,613,831 2,961,471
thuế tiết kiệm 70,000 79,310 89,858 101,809 115,350 130,692 148,074
vốn & lãi lũy kế sau thuế 10,000,000 11,330,000 12,836,890 14,544,196 16,478,574 18,670,225 21,153,365 10,000,000
số tiền lãi nhận được vào cuối năm 7 13,966,762
Bảng 8: Dự toán dòng tiền với cách đánh thuế ngay khi tiền lãi được thanh toán
N guồn: nhóm tác giả tính toán bằng MS Excel
Trang 21N hận xét:
- Với phương thức tiết kiệm IRA, số tiền nhận được khi rút lãi lớn hơn so với phương thức tiết kiệm có đánh thuế ngay khi tiền lãi được thanh toán
Tác động của trợ cấp thuế trình bày trên hình 2 cho thấy sự đánh đổi tiêu dùng theo thời gian Bắt đầu với đường giới hạn ngân sách BC2; độ dốc là – (1+r × [1-t]) độ dốc này cũng chính là lãi suất thuế; giá cả tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất (đang đi làm) CW
Hình 2: T rợ cấp thuế và hành vi của người tiết kiệm
N guồn: Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Khi tiết kiệm hưu trí được thực hiện dưới hình thức được trợ cấp thuế, tiền tiết kiệm bị đánh thuế ở mức nhẹ hơn nhiều bởi vì thuế sẽ không phải trả cho đến khi về hưu (hiện giá chiết khấu của số tiền thuế phải trả thấp hơn)
1.3.3.1 Các giới hạn đối với trợ cấp thuế trên tiết kiệm hưu trí
Hầu hết các cơ chế trợ cấp thuế đối với tiết kiệm hưu trí được xem xét ở những phần trên có đặc điểm là giới hạn việc đóng góp hàng năm, ví dụ như mức giới hạn 3,000 đôla vào IRA Các giới hạn này làm cho việc phân tích lý thuyết phức tạp hơn
Giả định Ava quyết định tiết kiệm trong môi trường có và không có sự tồn tại của IRA Hình 3 cho thấy ảnh hưởng của IRA đến đường giới hạn ngân sách của cô
Trang 22Hình 3: Tài khoản tiết kiệm IRA và quyết định chi tiêu theo thời gian
N guồn: Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Ban đầu, đường giới hạn ngân sách sau thuế giữa việc tiêu dùng ở giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ hai của cô là đường BC2, hay là đường AB, có độ dốc – (1+r × [1-t]) với r là lãi suất nhận được trên tiết kiệm và t là thuế suất phải trả trên tiền lãi nhận được Trước khi có IRA, giá cả của việc tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất, hay là việc từ bỏ tiêu dùng ở giai đoạn thứ hai là (1+r
× [1-t]), bởi vì đây là giá trị tiêu dùng ở giai đoạn thứ hai nếu hiện nay cô giảm tiêu dùng 1 đôla
Nếu Ava quyết định bỏ tiền vào một IRA thì tiền lãi sau thuế của tiết kiệm
sẽ thay đổi, độ dốc của đường giới hạn ngân sách mới BC3, đối với 3.000 đôla tiết kiệm đầu tiên(tương ứng với giá trị tiêu dùng CW2 ở giai đoạn thứ nhất là – (1+r × [1-t×p]), với t×p một lần nữa là thuế suất hiệu quả đối với tiền tiết kiệm được trợ cấp thuế Điều này thể hiện bởi đường giới hạn ngân sách mới dốc hơn, giữa hai điểm E và B Với số tiết kiệm trên 3.000 đôla (các giá trị tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất thấp hơn CW2), không có thay đổi nào về tiền lãi sau thuế, do bởi ngưỡng giới hạn đóng góp vào IRA, từ mức 3.000 đôla trở lên, độ dốc của đường giới hạn ngân sách giống như giá trị ban đầu là (1+r × [1-t]), nhưng đường giới hạn ngân sách nằm cao hơn, như đoạn DE trong hình
Trang 23Hình 4: Tài khoản tiết kiệm IRA và hành vi của người tiết kiệm thấp
N guồn: Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Và một người tiết kiệm nhiều trước khi có IRA (hình 5)
Hình 5: Tài khoản tiết kiệm IRA và hành vi của người tiết kiệm cao
N guồn: Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2010) [3]
Có những bằng chứng rất mạnh đề xuất rắng quyết định tiết kiệm được xác định bởi những cân nhắc về việc phòng ngừa rủi ro và tự kiểm soát Hai mô hình này hàm ý rằng khuyến khích thuế đối với tiền hưu trí tác động mạnh hơn đến tiết kiệm so với mô hình truyền thống
Y(1+r[1-t])
0
Tiêu dùng trong tương lai, C R
Tiêu dùng trong hiện tại, C w
Tiêu dùng trong hiện tại, C w
Trang 241.3.4.1 Tiết kiệm phòng ngừa rủi ro
Xét một cá nhân sẵn lòng để dành 3.000 đôla cho việc về hưu thậm chí ngay cả khi không có IRA Người này không cảm thấy bị hạn chế trước quy định không được phép rút tiền trước khi về hưu, do đó tiết kiệm IRA và tiết kiệm không phải là IRA thay thế cho nhau và việc tái sắp xếp tài sản có thể thực hiện
Mặt khác, xét một cá nhân đã để dành trên 3.000 đôla nhưng lại sử dụng tiết kiệm cho việc phòng ngừa rủi ro mất việc làm Nếu tiết kiệm trong IRA, ngưởi đó không thể tiếp cận được tiền tiết kiệm nếu ông ta mất việc làm trước khi đủ 59.5 tuổi Do vậy IRA không thể coi là sự thay thế tốt với các hình thức tiết kiệm khác và ông ta chỉ tái phân phối 3.000 đôla trong tiết kiệm phòng ngừa rủi ro của mình vào IRA Thực tế cho thấy, rất nhiều người đóng góp vào các tài khoản tiết kiệm hưu trí được trợ cấp có mức tiết kiệm cao không nhất thiết hàm ý họ sẽ tái sắp xếp tiết kiệm vào những tài khoản được trợ cấp thuế, nếu tiết kiệm chỉ vì lý do phòng ngừa rủi ro thay vì mục tiêu hưu trí Do vậy, có thể sẽ có nhiều tiết kiệm hơn từ việc khuyến khích tiết kiệm hưu trí so với những gì mà mô hình truyền thống đề xuất
1.3.4.2 Mô hình tự kiểm soát
Dấu hiệu của mô hình tiết kiệm tự kiểm soát là việc tìm kiếm các công cụ mang tính cam kết nhằm thực hiện việc tự kiểm soát Các tài khoản hưu trí như tiền hưu hay tài khoản 401(k) là những công cụ mang tính cam kết hoàn hảo bởi vì việc đóng góp chính là sự lấy đi trực tiếp từ bảng lương và cá nhân
sẽ không thể tiếp cận tiền tiết kiệm cho đến khi họ về hưu Tiền trong các tài khoản này không thể tiếp cận nhằm thỏa mãn những nhu cầu mang tính bất lợi trong ngắn hạn Điều này cho phép cá nhân cam kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu có lợi trong dài hạn Các tài khoản tiết kiệm hưu trí do vậy sẽ làm tăng tiết kiệm nhiều hơn so với những gì đã phân tích trước đây Ngoài nhu cầu phát sinh do bởi được ưu đãi thuế, nhu cầu còn xuất phát từ sự cam kết
1.3.4.3 Tiết kiệm cá nhân và tiết kiệm quốc gia
Vấn đền cuối cùng quyết định đầu (và tiềm năng tăng trưởng) chính là tiết kiệm quốc gia Cho nên thâm hụt chính phủ tăng lên sẽ làm cho đầu tư thấp hơn Trong khi các khuyến khích thuế đối với tiền hưu trí sẽ làm tăng tiết kiệm cá nhân thì bù lại các khuyến khích này sẽ tạo ra những tác động tiêu cực đối với tiết kiệm quốc gia, bởi vì chúng được tài trợ bởi cơ sở đánh thuế
Trang 25Nguồn thu thuế thấp hơn làm giảm tiết kiệm quốc gia để bù đắp cho sự tăng lên của tiết kiệm cá nhân
So sánh giữa tiết kiệm cá nhân và tiết kiệm quốc gia cũng được đặt ra khi
đề cập đến tác động biên (hành vi mới được khuyến khích) và tác động cận biên (hành vi cũ được đền bù) của khuyến khích thuế Phản ứng cận biên làm giảm nguồn thu thuế một cách đáng kể, bù trừ toàn bộ tất cả các lợi ích đối với tiết kiệm quốc gia từ khuyến khích những kế hoạch tiết kiệm có sẵn, bằng không thì những kế hoạch khuyến khích tiết kiệm nói chung lại làm giảm tiết kiệm quốc gia
Quy mô của phản ứng biên và cận biên đối với khuyến khích thuế nhằm vào tiết kiệm sẽ dựa trên hai yếu tố Thứ nhất là quy mô của hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế đối với những người tiết kiệm hưu trí đang tiết kiệm dưới mức Thứ hai là tỷ phần của những người tiết kiệm hưu trí – những người ở trên giới hạn tiết kiệm, có phản ứng cận biên: không có tiết kiệm mới được khuyến khích cho nhóm người này bởi vì không có hiệu ứng thay thế
Trang 26Chương 2: THỰC TRẠN G VỀ THUẾ ĐÁN H VÀO TIẾT KIỆM TẠI
Trước đó với tài khoản loại Personal Equity Plan (PEP) cho phép gởi tiết kiệm dưới dạng tài sản như chứng khoán Với TESSAs cá nhân có thể sử dụng được đặc tính của PEP nhưng được miễn thuế với thu nhập từ tiền lãi nhưng đổi lại không được rút ra trong tối thiểu 5 năm
N guồn: Effectiveness of tax incentives to boost (retirement) saving [7]
2.1.2 Mỹ
Ở Mỹ, hình thức tiết kiệm IRA được áp dụng từ những năm 1974 và hiện nay tồn tại với nhiều dạng khác nhau như Roth IRA, Traditional IRA,
Trang 27SEP IRA, SIMPLE IRA, Self-Directed IRA Tài khoản tiết kiệm 401(k) cũng
là một dạng tiết kiệm hưu trí được áp dụng vào những năm đầu của thập niên
80 Hai loại tài khoản phổ biến này đều nhằm khuyến khích các cá nhân có kế hoạch tiết kiệm khi về hưu.[6] Các cá nhân gởi tiền vào các tài khoản này đều được hưởng ưu đãi thuế nhưng đổi lại họ bị ràng buộc bởi mội số điều kiện như hạn chế hoặc không được rút tiền trước hạn
N guồn: The Depository Trust & Clearing Corporation [8]
2.1.3 Một số quốc gia Châu Á
Luật thuế Trung Quốc cũng quy định rất rõ các khoản thu nhập không phải chịu thuế thu nhập cá nhân đó là: Tiền thưởng…Lợi tức tiền gửi tiết kiệm, lợi tức trái phiếu do Bộ Tài chính cho phép phát hành và trái phiếu tín dụng do Quốc vụ viện cho phép phát hành Tại Nhật bản, tiền lãi tiết kiệm được đưa danh sách các khoản thu nhập áp dụng thuế khấu trừ tại nơi trả thu nhập gồm có: tiền lương, trợ cấp thôi việc, tiền lương hưu, lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay, lợi tức cổ phần, tiền thù lao, các khoản khác Trong khi đó thuế suất tiết kiệm ở Malaysia có mức khởi điểm là 1% [4.3]
2.2 Quy định đánh thuế trên lãi tiết kiệm tại Việt N am
Theo Luật Quản lý thuế của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10, số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007 thì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Thuế trực thu là thuế
mà người chịu thuế và người nộp thuế là một, ví dụ như thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hay thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Do vậy khoản thuế đánh trên tiền lãi thu nhập được xem là một loại thuế trực thu
Trang 28Ở Việt Nam hiện nay, thuế TNCN được xác định theo Luật thuế Thu nhập cá nhân của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2, số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Trước đó, tờ trình dự thảo luật thuế TNCN vào 09/2006 đưa thu nhập từ lãi tiết kiệm trên mức 5.000.000 đồng thuộc vào diện và được xem là thu nhập từ đầu tư vốn (là một trong 14 loại thu nhập chịu thuế TNCN) áp dụng biểu thuế toàn phần với tỷ lệ thuế suất là 5%.[4.2] Tuy nhiên, đề xuất này đã đã gặp phải sự phản đối từ nhiều phía sau khi được thảo luận trước Ủy ban thường vụ Quốc Hội và tổ chức trưng cầu ý dân của Bộ Tài Chính [4.1][4.4][4.5] và đã không được chính thức đưa vào Luật thuế TNCN ban hành vào 21/11/2007 và thực tế cho đến nay thuế đánh vào tiết kiệm tại Việt Nam chưa được triển khai áp dụng
Có hai quan điểm trái ngược nhau và rất khó thống nhất với nhau: hưởng ứng và không hưởng ứng việc đưa thu nhập từ lãi gửi tiết kiệm vào thu nhập chịu thuế
2.2.1 Quan điểm hưởng ứng đối với việc đưa thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm vào diện chịu thuế
Quan điểm này đưa ra các vấn đề phát sinh nếu không đánh thuế vào
tiền lãi tiết kiệm
• Thứ nhất, việc định nghĩa và xác định như thế nào là tiền gửi tiết
kiệm không phải là điều dễ dàng
• Thứ hai, để tránh thuế các tổ chức tài chính sẽ không đa dạng hóa
các công cụ huy động vốn mà chỉ tập trung vào tiền gửi tiết kiệm
• Thứ ba, tạo ra sự bất lợi cho các tổ chức tài chính không được phép
huy động vốn qua kênh tiền gửi tiết kiệm mà chỉ có thể phát hành các loại chứng khoán nợ, chứng khoán vốn do các khoản lãi trái phiếu, tín phiếu, lợi tức cổ phần thuộc vào diện chịu thuế TNCN, trong khi thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ lại được miễn thuế TNCN
• Thứ tư, Việc thu thuế đối với thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm có
thể góp phần kiểm soát thu nhập và thực hiện công bằng, bình đẳng hơn giữa các cá nhân có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau Do sự bất bình đẳng khi thu nhập tiền lãi từ các loại chứng khoán nợ, chứng khoán vốn như các khoản lãi trái phiếu, tín phiếu, lợi tức cổ
Trang 29phần phải chịu thuế TNCN, trong khi thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ lại được miễn thuế TNCN
Như vậy, việc không đưa tiền lãi gửi tiết kiệm vào diện chịu thuế làm cho mục tiêu phát triển một hệ thống tài chính lành mạnh dựa trên các loại hình tổ chức tài chính, các công cụ tài chính và các thị trường tài chính đa dạng sẽ trở nên khó khăn hơn Còn ngược lại, nếu đưa tiền lãi gửi tiết kiệm vào diện chịu thuế thì xuất hiện sự phân biệt đối xử giữa việc huy động vốn của các tổ chức tài chính và huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp Khi đó, thị trường trái phiếu công ty sẽ khó phát triển và điều này cũng đi ngược lại với mục tiêu đã đặt ra
Trên thực tế hai trong số các vấn đề trên đã được tháo gỡ theo nội dung Nghị định số 124/2008/NĐ-CP và Nghị định số 122/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
Luật thuế TNDN vừa được Chính phủ ban hành Trong đó: “Thu nhập từ lãi
tiền gửi, lãi cho vay vốn, bao gồm lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong trường hợp hợp đồng cho vay vốn đều phải chịu thuế thu nhập”
Theo một số chuyên gia ngân hàng nhận định thì quyết định đánh thuế lãi tiền gửi tiết kiệm, một mặt sẽ giúp cho các doanh nghiệp sử dụng tốt hơn vốn tự có và hạn chế sử dụng vốn vay của ngân hàng, mặt khác giảm thiểu cuộc đua lãi suất huy động giữa một số các doanh nghiệp có số lượng tiền mặt lớn đã mặt cả với ngân hàng, buộc ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất của theo doanh nghiệp thì mới gửi còn nếu không thì sẽ đem sang ngân hàng khác Ngoài ra, nó cũng tác động hai chiều, là cách để chấn chỉnh được hoạt động huy động vốn của ngân hàng đi vào qui định Một số doanh nghiệp không có
kỷ luật còn tìm cách chuyển nguồn vốn nhàn rỗi của mình sang dạng tiền gủi tiết kiệm cá nhân để tránh thuế, gây thất thu cho ngân sách
2.2.2 Quan điểm không hưởng ứng, không đồng tình với việc đưa thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm vào diện chịu thuế
Đứng trên góc độ phản ứng của các cá nhân gửi tiền tiết kiệm tại các tổ
chức tín dụng, lý giải cho điều này:
Trang 30Một là, nếu quy định thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm thuộc dạng chịu
thuế thu nhập cá nhân sẽ ảnh hưởng đến việc huy động tiền nhàn rỗi của nhân dân cho đầu tư phát triển trong khi nền kinh tế đang cần huy động tối đa các nguồn lực của xã hội để đầu tư, phát triển và kiểm soát lạm phát
Hai là, quy định thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm phải chịu thuế sẽ dẫn
đến tình trạng người có tiền không gửi tiết kiệm hoặc gửi ít sẽ đẩy mặt bằng lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng lên cao Cụ thể với tình trạng lãi suất huy động VND tăng cao liên tục trong thời gian gần đây đã được Ủy ban Kinh tế và Ngân sách cảnh báo trước Quốc hội, thuế đánh trên tiết kiệm có thể làm mặt bằng lãi suất huy động bị đẩy lên cao hơn do sự khan hiếm nguồn vốn huy động được từ dân cư của hệ thống NHTM với 80-90% doanh nghiệp vay tiền từ ngân hàng [4.1] Mặt khác, lãi suất tăng cao kéo theo chi phí tăng đồng thời làm giảm khả năng tiếp cận vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Ba là, lãi tiền gửi tiết kiệm của cá nhân mang tính tích lũy là chủ yếu
với mục đích đảm bảo cho cuộc sống tương lai, dự phòng rủi ro không vì đầu
tư sinh lời, tâm lý người dân sẽ phản ứng lại chính sách thuế này bằng cách trốn thuế Khi đó nhà nước khó có thể kiểm soát và quản lý nếu người dân muốn trốn thuế, với cách tính thuế trên số tiền lãi nhận được trên một ngưỡng
cố định (theo dự luật) thì khi đó sẽ xuất hiện tình trạng những người có tiền gửi tiết kiệm chia nhỏ số tiền, gửi ở nhiều ngân hàng khác nhau để tránh nộp thuế.[4.5] Hoặc bằng cách khác, khi người dân không gửi tiết kiệm nữa cũng không thể đem tiền “gối đầu giường” mà họ sẽ chuyển sang mua vàng để cất trữ hay đầu tư vào các tài sản khác, vào đất đai mà không phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.[4.4] Như vậy, vô hình chung việc thu thuế đã đẩy nền kinh tế vào khó khăn hơn vì với những trường hợp này vốn hoàn toàn không thể luân chuyển.[4.5] Hơn nữa, tiền gửi tiết kiệm là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho sản xuất kinh doanh thông qua kênh huy động vốn là các NHTM
Bốn là, với điều kiện nước ta hiện nay như hệ thống tài chính chưa thực
sự phát triển và hạ tầng thông tin liên kết giữa các tổ chức tín dụng, sẽ khó có thể nắm được thông tin để đảm bảo thu đúng thu đủ đối với loại thu nhập này.[4.1]