1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

PHUONG PHAP GIANG DAY TICH CUC 2017

34 410 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 20,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu hỗ trợ giảng viên kỹ năng áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. Kỹ năng thực hiện các phương pháp: hỏi đáp, phỏng vấn nhanh, nêu ý kiến ghi bảng, hỏi chuyên gia, làm việc nhóm, tình huống.. một số trò chơi sư phạm tạo không khí lớp học. Ngày nay các chuyên gia về giáo dục đã nghiên cứu và chỉ ra nhiều phương pháp mới giúp giảng viên truyền đạt tri thức và kỹ năng tốt hơn trong giờ giảng. Cách giảng dạy truyền thống nặng thuyết trình, đọc – chép, học thuộc không còn phù hợp với môi trường giáo dục hiện đại có sự hỗ trự của công nghệ. Một loạt phương pháp được khái quát thành lý thuyết và chỉ ra quy trình vận dụng giúp cho giảng viên lên lớp có thể áp dụng linh hoạt. Để các giảng viên biến các phương pháp thành kỹ năng giảng dạy là cả một quá trình, mà việc đầu tiên phải là nhận thức. Nếu người thầy không nhận thức đúng về giảng dạy tích cực thì việc sử dụng phương pháp trở thành hình thức.

Trang 2

(1) Nghị qutyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (2) Quỳnh Phạm: Thống kê tỷ lệ sinh viên có việc làm: Thiếu thực tế vì “bệnh” hình thức

PHẦN I

QUAN NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC

I Những đòi hỏi về đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam

1 Những tồn tại trong giảng dạy tại các trường đại học

Trong nghị quyết về đổi mới toàn diện giáo dục của Đảng đã chỉ rõ : ‘Chấtlượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đạihọc, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữacác trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹthực hành Ðào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh

và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạođức, lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra vàđánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.’ (1)

Tình trạng thừa ‘thầy’ và thiếu ‘thợ’ phản ánh những bất cập của cả hệthống giáo dục, đào tạo trong một thời gian dài Tư duy ‘bao cấp’ trong giáo dụcthiếu gắn kết với thị trường lao động dẫn đến tỷ lệ sinh viên không có việc làmngày càng tăng

‘‘Theo thống kê, trong 3 năm, từ năm 2009 đến 2012, có gần 400 nghìnsinh viên CĐ và khoảng 500 nghìn sinh viên ĐH tốt nghiệp các hệ đào tạo, trong

đó đào tạo chính quy chiếm khoảng 65% Tính đến cuối năm 2012, trong tổng

số 984 nghìn người thất nghiệp có 55,4 nghìn người trình độ CĐ (5,6%) và111,1 nghìn người có trình độ ĐH trở lên (11,3%) Trước thực trạng này, Bộtrưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho rằng, nguyên nhân quan trọng là các cơ

sở giáo dục ĐH tổ chức đào tạo chưa quan hệ chặt chẽ với thị trường lao động,chưa nắm bắt được nhu cầu nhân lực’’.(2)

Việc đào tạo xa với thực tiễn dẫn đến những bất cập trong phương phápgiảng dạy của giảng viên, thay vì phải hướng đến những kỹ năng ứng dụng trongthực tế thì bài giảng thiên về lý thuyết Việc giảng dạy đại học còn nặng nhữnggiờ lên lớp, chưa đầu tư cho các bài tập thực hành và đánh giá kỹ năng

Do xa rời thực tiễn nên nhiều sinh viên không xác định nghề nghiệp saunày rõ ràng dẫn đến học theo bằng cấp, chỉ cần có điểm cao để có bằng khá,giỏi Thêm vào đó là việc tuyển dụng lao động của các cơ quan nhà nước cũng

‘nặng’ bằng cấp dẫn đến áp lực về đào tạo đại học và sau đại học

Hàng loạt các trường đại học được thành lập, các hình thức đào tạo mởrộng tạo áp lực giảng dạy lên đội ngũ giảng viên Việc nghiên cứu khoa học hayđầu tư cho bài giảng bị hạn chế Các giờ lên lớp thiên về lý thuyết và các giáotrình có sẵn Tình trạng đọc – chép hay nhìn – chép đang làm cho sinh viên thụđộng trong quá trình học tập

Giáo dục là một quá trình giúp con người tiếp thu tri thức tìm các giá trịcho bản thân để có kỹ năng sống và làm việc hiêu quả

Trang 3

Đổi mới giáo dục đang đòi hỏi cả hệ thống phải có chuyển biến, từ mục tiêuđào tạo đến quá trình đào tạo, kiểm định đánh giá và sử dụng nhân lực Nếu nhìn

ở góc độ đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên có ở các trường đạihọc, cao đẳng có thể thấy nhiều bất cập :

Về quản lý: Cách tính giờ giảng và quản lý chất lượng nặng về lý thuyết,thầy và trò chủ yếu gặp nhau trên lớp Sinh viên lên lớp nhiều dẫn đến ỷ nại vào

lý thuyết ít vận dụng thực hành Một số trường đang giảm giờ lý thuyết để tănggiờ thực hành thì lại vướng vào kỹ năng giảng dạy của thầy và thói quen thụđộng của trò

Về môi trường học tập: Thiếu trang thiết bị thực hành, thư viện lạc hậu,thiếu liên kết giữa cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng nhân lực…đang là rào cảncho quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy Nhà trường mới quan tâm nhiềuđến giảng đường mà chưa thực sự quan tâm tới không gian mở gắn với các hoạtđộng ngoại khóa gắn với ngành nghề đào tạo Việc sinh viên phải ở ngoại trú trọhọc ở những nơi không phù hợp cũng ảnh hưởng tới quá trình học tập

Về tư duy của người thầy : Nho giáo vẫn ảnh hưởng tới quan niệm dạy học

ở Việt Nam cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Nhiều sinh viên Việt Namrất ngại nêu ý kiến chứ chưa nói đến tranh luận Trong giờ học ít có sáng tạo,kiến thức vẫn phụ thuộc nhiều ở người thầy Tư duy một chiều dẫn đến sinh viênkhông muốn làm khác, chỉ muốn làm theo

Về phương tiện giảng dạy : Không gian lớp học ở các trường đại học ViệtNam chưa được quan tâm đúng mức Các phòng học được thiết kế na ná nhưnhau chưa tính đến hiệu quả sử dụng Đa số các phòng học thiết kế cho đôngngười ngồi nghe phía dưới, còn giảng viên có bục nói trên cao Bàn ghế để cốđịnh khó di chuyển nhất là khi cần làm việc nhóm Chính không gian học tậpnhư vậy làm cho người học luôn thụ động Có sinh viên cả năm chỉ ngồi học ởmột vị trí cố định, không muốn di chuyển ra chỗ khác Khi có máy tính nhiềugiảng viên chuyển toàn bộ bài giảng lên đèn chiếu và sinh viên đọc trên mànhình để chép Như vậy, vai trò giao tiếp của người thầy với trò giảm đi Việc sửdụng các trực quan khác như như ảng phấn, giấy vẽ, tranh ảnh… ít được quantâm

Về kiểm tra đánh giá kết quả học tập: hình thức đánh giá còn nặng về lýthuyết, do đó sinh viên cũng tập trung ôn lý thuyết để trả bài cho đúng và cóđiểm cao thay vì phải sáng tạo gắn với thực tiễn

Còn rất nhiều yếu tố tác động tới quá trình giảng dạy và đặc biệt là phươngpháp giảng dạy của người thầy trong một xã hội đang có nhiều thay đổi Tuynhiên, những đòi hỏi của xã hội cũng đặt ra cho mỗi nhà trường, mỗi người thầynhững nhận thức về sự thay đổi để tạo nên thương hiệu trong giai đoạn hội nhậpquốc tế

Đại học là nơi kết nối những giá trị tri thức và cuộc sống xã hội để sinhviên ra trường tự tin với bản thân và chủ động trong hoạt động nghề nghiệp Do

đó không gian đào tao đại học hướng tới không gian ‘mở’

Trang 4

Ngày nay môi trường học tập đã thay đổi, internet ra đời đẫn đến quan niệmgiáo dục ‘khép kín’ trong nhà trường không còn phù hợp Ngay trong giờ học,sinh viên đã dùng điện thoại kết nối với nhiều nguồn thông tin khác nhau đểthảo luận một chủ đề thay như trước kia họ chỉ có một cách là tìm tài liệu ở thưviện Một yếu tố khác, công nghệ cũng giúp các giảng viên mở rộng và cập nhậtthông tin, tìm kiếm tri thức từ nhiều khu vực khác nhau Cập nhật thông tin trởnên quan trọng với mỗi giảng viên khi thiết kế các bài giảng.

Hệ thống thư viện, giáo trình, sách giáokhoa… luôn là tài sản quý của mỗi trường đạihọc, ngày nay kho kiến thức đó được mở rộng

và mang tính ‘toàn cầu’ khi mà khả năng kết nốigiúp người ta truy cập vào nhiều thư viện nổitiếng trên thế giới Hàng loại công cụ tìm kiếm

đã trở thành phổ biến và là thói quen khi tìmthông tin và tài liệu giảng dạy học tập

Mở về khả năng sáng tạo :

Những trung tâm thực hành, những dự án liên kết sản xuất với bên ngoài lànơi để sinh viên sáng tạo ra những giá trị phục vụ xã hội Là nơi sáng tạo các ýtưởng có sự hỗ trợ của người thầy và cả nhà trường để họ hoàn thiện sản phẩmcủa mình Tài năng chỉ có được khi sinh viên biết sáng tạo và rèn luyện Nhữngtrường đại học nổi tiếng đều xây dựng thương hiệu dựa trên những thành côngcủa người học sau khi họ ra trường và được xã hội thừa nhận Những tài năng đóđều bắt đầu từ khả năng sáng tạo ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường

Mở về không gian học tập:

Học đại học là giai đoạn quan trọng để sinh viên bước ra xã hội, thái độ họctập quyết định tới tương lai nghề sau này Không gian học tập tốt sẽ giúp sinhviên định hướng nghề nghiệp tốt Không gian học tập bao gồm 2 khu vực: nhàtrường: giảng đường, thư viện, phòng thực hành, ký túc xá, cảnh quan, thư giãn,thể thao…Khu vực thứ 2 là ngoài xã hội: nơi sinh viên đến thực hành thực tập,các trung tâm đào tạo phối hợp, các chuyến đi dã ngoại…

Những không gian này cần phải được tính toán trong quá trình đào tạo đểsinh viên có cơ hôi trải nghiệm những giá trị sống ngay trong trường đại học

2 Nhìn ra thế giới

‘Hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ dân chủ và tiên tiến bậc nhất trên thếgiới Tôi có những buổi học 4 môn liên tục từ 11 giờ trưa tới 5 giờ chiều mà chỉđược nghỉ 15 phút để chạy từ giảng đường này sang giảng đường khác, ăn đồ ănnhanh ở trong lớp thường là giải pháp cho các bữa trưa của tôi Không nhữngđược phép ăn uống, mà tôi còn có thể nhắn tin bằng di động hay dùng máy tínhxách tay trong lớp Không có chuyện giáo sư gọi sinh viên trả lời như một điềutrừng phạt khi sinh viên đang suy nghĩ đâu đó Sinh viên chúng tôi được tranhluận thẳng thắn mà không bị đánh giá thái độ mỗi khi phản bác ý kiến của thầy

cô Một điều hết sức bình thường ở Mỹ là giáo sư vui vẻ cảm ơn mỗi khi sinh

Trang 5

viên chỉ ra điểm sai trong bài giảng Tôi thậm chí có lần còn được cộng điểm vìchỉ ra được những lỗi như thế Thế mới hiểu tại sao sinh viên Mỹ có phong cáchrất tự tin, vì họ nhận được sự khuyến khích thực sự từ các thầy cô mỗi khi phátbiểu, ngay cả việc yêu cầu giáo sư nhắc lại câu vừa mới nói Ngoài giờ họcchính thức, các giáo sư thường dành khoảng 2- 4 tiếng mỗi tuần để sinh viên cóthể dễ dàng tới trao đổi hay giải đáp thắc mắc ở văn phòng riêng của họ Sinhviên cũng có thể học qua gia sư của từng môn học Đây là những bạn học sinhgiỏi của các lớp trước được nhà trường thuê và trả lương khoảng $9/giờ, 10 giờmột tuần.’ (Trích bài viết của Hoàng Thị Hồng Nhung lưu học sinh tại Mỹ đăngtrên VNEXPRESS ngày 28/12/2010)

Những giá trị ‘đại học’ đang biến thành giá trị kinh tế :

Xu hướng toàn cầu đang thu hútnhân lực ở nhiều quốc gia đi học tậptại các nước tiên tiến, việc xếp hạngcác trường đại học danh tiếng trênthế giới đồng nghĩa với các khoảnhọc phí cao mà người học phải trả.Nguồn tài chính từ nhiều nước đang

đổ vào một trường đại học nào đóchứng tỏ những giá trị của giáo dụcmang lại

Hiện nay tại Việt Nam nhiều trường đại học trên thế giới đã đến để quảng

bá thương hiệu thu hút người học, số lượng du học sinh Việt Nam học ở nướcngoài ngày càng tăng và đồng nghĩa một lượng ngoại tệ lớn đang phải trả chocác nước

Các trường đại học lớn đều thiết kế không gian ‘năng động’ cho sinh viênhọc tập Từ khu vực giảng đường, đến thư viện, nhà ăn và các khu công cộng đểsinh viên tự tổ chức các sự kiện

Lối đi trong khuôn viên York University (Canada)

Hoạt động của sinh viên York University (Canada) Xe buýt chạy qua khu giảng đường York University

Trang 6

Một số hình ảnh phòng học ở York University (Cannada):

Phòng học được thiết kế khoa học đảm bảo ánh sáng cùng các thiết bị hỗtrợ giảng dạy Tại đại học York University (Canada) sử dụng giảng đường theo

ca học, mỗi ca từ 2~3 giờ Bàn ghế được trang bị tùy theo mục đích sử dụng.Các bảng phấn dài được đặt hai bên, ở giữa là màn hình điện tử để giảng viêntrình chiếu

Tại trường đại học Báo chí Lille (Pháp) là một trong những trường đào tạobáo chí có uy tín ở châu Âu xuất thân từ một trường đào tạo nghề, các giảngviên ở đây là những nhà báo có nhiều kinh nghiệm giảng dạy Các phòng họcthực hành được xây dựng cho sinh viên rèn nghề theo các loại hình báo chí: phátthanh, truyền hình, thông tấn… sinh viên được học quay vòng làm các sản phẩmbáo chí Sinh viên ở đây được thực hành theo mô hình như một ban biên tập của

Thiết bị trong một phòng học ở York University (Ảnh Ngọc Sơn)

Cuối mỗi phòng học có 3 thùng đựng và phân loại rác Ghế liền bàn trong phòng học dẽ dàng di chuyển

Trang 7

Phòng đọc trong thư viện đại học Báo chí Lille (Pháp)

cơ quan báo chí, buổi sáng họp tìm đề tài rồi các nhóm đi làm tác phẩm, khi trở

về hoàn thiện lên chương trình phát sóng Các giảng viên sẽ theo dõi cùng nhậnxét và chỉ ra những bài học lý thuyết

Những thay đổi trong quátrình đào tạo đang diễn ra trên thếgiới, từ môi trường đến cách thức,phương pháp cần sự đồng bộ

3 Những trở ngại khi áp dụng giảng dạy tích cực

Nhiều môn học và nặng lý thuyết:

Các khung chương trình đạihọc những năm qua đang có thayđổi và hình thành phần ‘cứng’ phần

‘mềm’ để các trường điều chình,nhưng mỗi trường có cách tiếp cận

và phương thức đào tạo khác nhau nên sinh viên vẫn phải học nhiều môn Khilên lớp giảng viên luôn lo thiếu giờ vì khung lý thuyết nhiều Nhiều môn họcnặng lý thuyết nên dẫn đến tình trạng thầy đọc, trò chép

Giảng viên chưa thực sự muốn thay đổi phương pháp giảng dạy.

Ngại thay đổi cũng là một vấn đề cần xem xét, cách dạy truyền thống luôntheo trình tự giáo án, giờ giảng trên lớp chủ yếu do thầy thuyết trình Nếu thiết

kế bài giảng theo hướng tích cực thì người thầy phải thay đổi, phải cuẩn bị chocác tình huống trên lớp hay nói cách khác người thầy phải dành nhiều thời giancho sự chuẩn bị Một số phương pháp tích cực còn cần phương tiện hỗ trợ, nóảnh hưởng cả tới kinh thế của người thầy Do đó không phải tất cả người thầy đãmuốn thay đổi sang giảng dạy tích cự

Sinh viên có thói quen học thụ động.

Phần lớn sinh viên vẫn quen cách học thụ động từ thời phổ thông, giao tiếpgiữa giảng viên và sinh viên vẫn dựa trên truyền thống , rất ít tranh luận tráichiều trong giờ học Phần lớn sinh viên ngại bộc lộ ý kiến, trước mỗi câu hỏikhông nhiều sinh viên sẵn sàng tham gia Cách học thụ động làm sinh viên ngạitìm hiểu cái mới, chỉ muốn nói đúng những điều trong sách vở Việc học thụđộng cũng một phần vì hướng nghiệp không tốt, dẫn đến tâm lý học cho có bằngcấp chứ không cần cố gắng Một số sinh viên vào đại học như để xả hơi saunhiều năm bị ép học ở phổ thông

Lớp học đông người.

Lớp học 50, 70… thậm chí hàng trăm sinh viên là một trở ngại cho giảngviên khi lên lớp Với lớp học đông người thầy cô luôn chọn thuyết trình, nhiềuthầy cô cho rằng lớp đông không thể áp dụng các phương pháp giảng dạy tíchcực Vì người học đông nên nhiều sinh viên chọn vị trí cuối lớp để có thể làm

Trang 8

Thiếu trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy.

Với thiết kế không gian lớp học kiểu ‘bục giảng’ truyền thống, việc giảngdạy theo phương pháp tích cực gặp khó khăn Khi sinh viên làm việc nhóm rấtkhó có chỗ di chuyển và thảo luận, các thiết bị hỗ trợ như bảng ghim, giấy bútvẽ…không có Chưa kể hệ thống cách âm giưa các phòng học cũng ảnh hưởngđến lớp bên cạnh khi sinh viên làm việc nhóm

Môi trường dạy và học còn nặng tư duy bao cấp.

Việc đào tạo hàng năm theo chỉ tiêu, chất lượng đầu ra khó ai kiểm địnhdẫn đến tư duy bao cấp trong giáo dục Các giảng viên cũng không chịu áp lựcphải đổi mới khi hàng năm vẫn vượt nhiều giờ

Việc đánh giá kết quả học tập chủ yếu dựa vào kỳ thi, đánh giá thiên về lýthuyết làm cho sinh viên ít chú trọng kỹ năng

II Cơ sở của việc đổi mới dạy và học theo hướng tích cực

1 Cơ sở khoa học

Các nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế của cách giảng dạy truyền thốngnặng về thuyết trình, giảng viên truyền đạt kiến thức thông qua lời nói, ngườihọc ngồi nghe và ghi chép Nếu như người học liên tục phải ngồi nghe như vậythì dẫn đến độ ‘lì’ trong tiếp nhận thông tin va hiệu quả truyền đạt thấp

Các chuyên gia nghiên cứu giáo dục cũng khuyên các giảng viên không nênthuyết trình liên tục quá 20 phút một lần bởi người nghe sau khi đó mức độ tậptrung giảm xuống Việc thay đổi phương pháp trong quá trình giảng dạy giúpcho người học được tham gia và tiếp thu kiến thức tốt hơn

Bảng so sánh mức độ tiếp thu (ghi nhớ) kiến thức bằng các giác quan

Trang 9

Giảng dạy là quá trình giao tiếp mà giảng viên sử dụng nhiều kỹ năng đểđạt được mục tiêu giáo dục Giảng viên giỏi là người có thể làm cho nhiều họcviên tiến bộ Ngày nay giao tiếp của người giảng viên không chỉ là thuyết trình

mà còn đòi hỏi khả năng tổ chức, dẫn dắt và cuốn hút người học

Các nguồn tư liệu tham khảo cho người học ngày càng phong phú:

Bài giảng, tài liệu của giảng viên cung cấp

Tài liệu tham khảo trong thư viện

Công cụ tìm kiếm trên mạng internet: Google, Bing, Yahoo

Các phương tiện truyền thông đại chúng

Mạng xã hội: youtube, facebooke, Twitter…

Các thư viện truyền thống tra cứu tài liệu bằng văn bản dần được thay thếbằng thư viện điện tử với tốc độ truy cập nhanh và hiệu quả hơn

Sinh viên ngày nay chia sẻ nhiều qua mạng xã hội, mối liên hệ giữa giảngviên và sinh viên ngày nay đa dạng và phong phú hơn trước Các trao đổi quamail, facebook đã khả năng liên kết chia sẻ thông tin thích hợp mô hình làmviệc nhóm và làm việc từ xa Nó cũng đòi hỏi giảng viên phải có kỹ năng sửdụng công nghệ thông tin trong giao tiếp với người học

Chia sẻ hình ảnh là một trào lưu trong giai đoạn bùng nổ truyền thông xãhội, điều này cũng ảnh hưởng tới quá trình giảng dạy trong các nhà trường, khi

mà cả thầy và trò đều dễ dàng tìm kiếm hình ảnh minh họa cho chủ đề Các bàigiảng điện tử, hình ảnh hiển thị nhiều trong quá trình giao tiếp, nó giúp ngườihọc thích thú hơn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn

Điện thoại thông minh và mạng di động đang là công cụ giúp sinh viên truycập dữ liệu phổ biến

Giáo trình, bài giảng đã khái quát lý thuyết thì người học cần đọc, còn giờgiảng giảng viên nên làm rõ những điểm quan trọng và liên hệ với thực tế đểsinh viên hiểu sâu hơn Không nhất thiết phải nói lại lần lượt theo tài liệu đã có

III Bản chất của đổi mới giảng dạy theo hướng tích cực

1 Gắn lý thuyết với thực tế

Đây là giai đoạn mà xã hội đang đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới mụctiêu và nội dung giảng dạy cho phù hợp với thực tiễn Đồng thời hội nhập quốc

tế cũng có nhiều kinh nghiệm giáo dục từ các nước tiến tiến để học tập

Gắn lý thuyết với thực tế là công việc đòi hởi người thầy phải nghiên cứu

và chuẩn bị bài giảng kỹ, luôn cập nhật những thông tin mới và mở rộng phầnliên hệ với thực tế Để người học được tham gia thảo luận những vấn đề thực tế

và dùng lý thuyết để định hướng tìm giải pháp

Trang 10

Mỗi giảng viên đều tìm cachs để gắn lý thuyết với thực tế tạo ra giờ họcsinh động và thiết thực.

Mô hình này, giảng viên là người có kinh nghiệm tập hợp tri thức, thôngqua kỹ năng giảng dạy bằng những phương pháp tích cực tạo nên sự tham gia tựgiác của người học và họ là những người nhận ra giá trị của tri thức

Mỗi giảng viên khi chuẩn bị bài giảng đều có thể đặt câu hỏi :

Phần lý thuyết này có giá trị gì cho cuộc sống ?

Bài giảng này giúp người học có kỹ năng gì ?

Thực tế cuộc sống có gần với những điều giảng dạy không ?

Phần lý thuyết này có liên hệ gì với thực tế ?

Những hoạt động nào giúp cho sinh viên hiểu lý thuyết ?

Dành bao nhiêu thời gian cho người học thực hành ?

Sản phẩm thực hành được đánh giá thế nào ?

Đây là những câu hỏi có thể gợi mở mối liên hệ của bài giảng với nhữngvấn đề của thực tiễn, một giờ giảng sinh động là sinh viên được thảo luận chia sẻnhững vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống và được giảng viên dẫn dắt dưới gócnhìn khái quát của lý luận

2 Giảng viên có kỹ năng sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực

Ngày nay các chuyên gia về giáo dục đã nghiên cứu và chỉ ra nhiều phươngpháp mới giúp giảng viên truyền đạt tri thức và kỹ năng tốt hơn trong giờ giảng.Cách giảng dạy truyền thống nặng thuyết trình, đọc – chép, học thuộc không cònphù hợp với môi trường giáo dục hiện đại có sự hỗ trự của công nghệ Một loạtphương pháp được khái quát thành lý thuyết và chỉ ra quy trình vận dụng giúpcho giảng viên lên lớp có thể áp dụng linh hoạt Để các giảng viên biến cácphương pháp thành kỹ năng giảng dạy là cả một quá trình, mà việc đầu tiên phải

là nhận thức Nếu người thầy không nhận thức đúng về giảng dạy tích cực thìviệc sử dụng phương pháp trở thành hình thức

GIẢNG DẠY

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI HỌC

Mô hình chia sẻ những giá trị của tri thức trên lớp học

Trang 11

Mọi phương pháp đều hướng tới người học, làm thế nào để người học nhớ,hiểu và vận dụng được kiến thức.

Mỗi bài giảng đều được xác định mục tiêu dựa trên 3 yếu tố : tri thức, kỹnăng và thái độ người học Phương pháp giảng dạy tích cực giúp giảng viên đạtđược những mục tiêu cho mỗi bài giảng mình phụ trách

Khi lựa chọn một phương pháp nào đó cho một phần nội dung đòi hỏingười giảng viên quan tâm: kỹ thuật sử dụng phương pháp và sự phù hợp vớinội dung bài giảng

Một số phương pháp giảng dạy :

Thuyết trình hiệu quả

và lên kế hoạch giảng dạy

3 Khuyến khích sự tham gia của người học

Sự tham gia của người học vào bài giảng thể hiện quá trình chủ động tìmkiếm tri thức và rèn luyện kỹ năng, chủ động trong quá trình tìm kiếm thông tin,tập hợp phân tích các giá trị Người học thể hiện động cơ học rõ ràng và mongmuốn chia sẻ kiến thức với mọi người

Khuyến khích sự tham gia của người học cũngtạo nên cách học năng động, người học tự trảinghiệm những kiến thức mới và ghi nhớ nhanh hơncách học thụ động Chủ động học tập cũng rèn kỹnăng xử lý thông tin của người học trong nhữngtình huống thay đổi

Đối với giảng viên, để khuyến khích ngườihọc tham gia cần có cách tổ chức giờ giảng phùhợp, giảm bớt thời gian thuyết trình tăng cường cho người học làm việc dưới cáchình thức: làm việc nhóm, giải quyết các tình huống, thiết lập dự án, chia sẻthông tin, khảo sát thực tế, thực hành…

Trang 12

Giảng viên là người điều hành, dẫn dắt người học đơể đạt được mục tiêucủa từng phần bài giảng Tùy vào thời gian của từng bài giảng để có cáchkhuyến khích sự tham gia của học viên.

4 Tạo không khí lớp học sôi nổi, hấp dẫn

Không khí lớp học là một yếu tố được tạo nên bởi quá trình cộng hưởngtâm lý mà người chi phối quan trọng chính là giảng viên Trong lớp học cónhiều người học với tâm trạng khác nhau người giảng viên cần nắm bắt tâm lýngười học trước khi mở đầu bài giảng

Nếu một lớp học bắt đầu bằng sự mệt mỏi, trầm lắng của nhiều người thìgiảng viên cần khởi động bằng các hoạt động tích cực, có thể là một trò chơi sưphạm gắn với nội dung bài học thay vì bắt đầu ngay như mở đầu truyền thống

Trong một buổi giảng, giảng viên sẽ phân bố thời gian cho từng phần nộidung và dự kiến các phương pháp sử dụng Việc sử dụng hợp lý các phươngpháp trong giờ giảng cũng là một cách để thay đổi không khí lớp học tránh tìnhtrạng người học chỉ ngồi nghe không cần tham gia

5 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập công bằng và khoa học

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học là một khâu trong quátrình đào tạo Đánh giá là thước đo sự tiến bộ của người học trong một quá trìnhđào tạo Đánh giá cũng giúp người học hoàn thiện mình Cách đánh giá côngbằng phù hợp sẽ giúp người học có động lực phấn đấu, nó cũng là yếu tố giúpgiảng viên có thể áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực đạt hiệu quả

Một số hình thức đánh giá :

Thi viết : một đề thi và nhiều người tham gia, đánh giảkhả năng tự luận của người học thông qua hình thức viếtbài trả lời câu hỏi Nó phù hợp với những môn cần kiểm trakiến thức và kỹ năng viết của người học

Tuy nhiên cũng có những nhược điểm như người họclàm theo đáp án, nặng lý thuyết, quay cóp tài liệu, đánh dấubài thi…

Khởi động Phương pháp

Hỏi đáp Làm việc nhóm Chốt kiến thức

Mở đầu bài giảng

Nội dung 1 Nội dung 2 Kết thúc

bài giảng

Dự kiến tiến trình giảng dạy trong một đơn vị thời gian.

Trang 13

Thi vấn đáp : kiểm tra được kiến thức thực tế thông qua giao tiếp trả lời của

người học, hình thức này cần nhiều thời gian và cần kháchquan trong đánh giá

Phù hợp với những môn học cần đánh giá khả năng giaotiếp và ngôn ngữ nói của người học

Thi trắc nghiệm : kiểm tra kiến thức rộng đòi hỏi người học phải xử lý một

loại câu hỏi trong thời gian nhất định Nó không chophép học tủ như thi viết Đây là hình thức đánh giákhách quan vì có ít sự can thiệp, hệ thống câu hỏi đượcthiết kế khoa học, hệ thống chấm bài tự động…tạo sựkhách quan, công bằng Tuy nhiên, cũng còn tỷ lệ mayrủi trong khi trả lời câu hỏi

Viết khóa luận, tiểu luận: là cách thức đánh giá khả năng nghiên cứu, phân

tích của người học về một chủ đề Ưu điểm là người học

có thời gian nghiên cứu, tìm tài liệu và đưa ra nhữngnhận định lô gích Hạn chế là tình trạng copy bài hoặclàm theo hình thức

Viết luận văn, luận án là hình thức đánh giá quátrình học và nghiên cứu dưới góc độ khoa học đòi hỏingười học phải có kỹ nang nghiên cứu khoa học và dànhthời gian để hoàn thành công trình của mình Nó đòi hỏingười hướng dẫn phải có trình độ và hiểu biết khoa học

Bài tập thực hành: là các sản phẩm của người học tương đối hoàn thiện đáp

ứng yêu cầu đánh giá của giảng viên Hình thức nàyphù hợp với những môn học cần kỹ năng thực hành.Làm sản phẩm: các môn học liên quan tới sángtạo ra các sản phẩm thì có thể áp dụng hình thức nàythay cho chỉ đánh giá lý thuyết Đây là cách đánh giánăng lực người học qua một sản phẩm cụ thể Tuynhiên hìnhà thức này cũng cần có tiêu chí và hội đồngđánh giá khách quan trung thực

Một số hình thức đánh giá trực tiếp tùy theo mục đích đào tạo để sát vớiyêu cầu nội dung và có thang điểm theo từng kỹ năng

Tình trạng chạy theo bằng cấp, học giả cấp bằng thật đang là vấn đề nóngtrong xã hội Kiểm tra đánh giá kết quả học là một khâu quan trọng Lựa chọnhình thức đánh giá phù hợp giúp người học thể hiện được khả năng và trên hếtđảm bảo tính công bằng trong môi trường giáo dục

Trang 14

biết của người học về một vấn đề nhất định.

2 Kỹ năng sử dụng phương pháp

Phương pháp này không mất nhiều thời gian (khoảng1~3 phút), có thể sử dụng trong nhiều thời điểm, giảngviên chủ động trong quá trình vận dụng

Đây là phương pháp có thể dùng kết hợp với các phươngpháp khác để tạo không khí và hiệu quả giảng dạy

Nguyên tắc:

Giảng viên chỉ nêu 1 câu hỏi để nhiều học viên trả lời, không hỏi thêm,không bình luận Mỗi học viên chỉ trả lời một ý ngắn gọn, ý kiến trả lời mangtính đại diện

Các loại câu hỏi :

Câu hỏi đóng, là loại câu hỏi mà người trả lời không có nhiều lựa chọn, họchỉ có thể trả lời khẳng đinh hoặc phủ định vấn đề: đúng - sai; có - không; đồng

ý - phản đối; …câu hỏi này dùng trong trường hợp người học phải đưa ra quanđiểm rõ ràng

Câu hỏi mở, là câu hỏi mà người trả lời có nhiều cách bắt đầu, nó giúpngười học nêu ra những ý kiến, góc độ của mình, người trả lời có quyền lý giải

Có nhiều cách đặt câu hỏi mở, ví dụ cần lời giải thích về vấn đề nào đó cóthể bắt đầu bằng từ Tại sao? Như thế nào? Muốn biết quan điểm của người họcthì có thể hỏi Theo anh/chi… ? Muốn liệt kê thì yêu cầu: Nêu các…

Chủ đề Câu hỏi đóng Câu hỏi mở

An toàn giao thông 1 Xe ô tô có phải là

phương tiện gây tai nạnnhiều nhất hiện naykhông?

2 Anh/chị có thích đilàm bằng xe buýt không?

1 Tại sao ô tô đang là loạiphương tiện gây nhiều tai nạn

ở Việt Nam ?

2 Đâu là nguyên nhân dẫnđến ô tô gây tai nạn như hiệnnay?

3 Anh/chị nghĩ gì về tại nạn

do ô tô gây ra?

Môi trường đô thị 1 Bạn có thích sống ở

Trang 15

Bước 1: Thuyết trình dẫn dắt, nêu câu hỏi

Giảng viên khi nêu câu hỏi phải rõ ràng, đảm bảo cho mọingười đều hiểu Hãy để người học có thời gian suy nghĩ và sẵn sàngtrả lời Yêu cầu câu trả lời ngắn gọn, mỗi câu trả lời chỉ một ý

Bước 2 : Học viên trả lời

Lần lượt từ 5~8 học viên sẽ trả lời câu hỏi, có thể mời nhữnghọc viên chủ độ xin phát biểu, tuy nhiên cách này có thể chỉ tậptrung ở một nhóm người học Tốt nhất giảng viên chủ động lấy câutrả lời mang tính đại diện bao quát các khu vực Tùy vào lớp đônghay ít người để giảng viên linh hoạt quyết định số người trả lời

Bước 3: Giảng viên kêt luận

Vì là phỏng vấn nhanh nên giảng viên cũng kết thúc phươngpháp này nhanh gọn, đưa ra kết luận bao quát chủ đề rồi tiếp tụcdẫn dắt người học vào nội dung bài giảng

pháp này còn được gọi với tên khác : Tia chớp, Phát vấn hay Radio HàNội

Để tham gia trả lời người học phải có thời gian suy nghĩ thậm

Trang 16

Phân biệt Phỏng vấn nhanh Hỏi - đáp

Câu hỏi Chỉ có 1 câu hỏi của giảng

viên

Có một câu hỏi chính và cónhững câu hỏi phụ

Học viên cũng có thể nêucâu hỏi trong quá trình trảlời

Câu trả lời Ngắn gọn, mỗi học viên chỉ

trả lời một ý

Có thể phân tích, lý giải,tranh luận vấn đề

Thời gian Ít thời gian, chỉ cần 1~3

Câu hỏi chính giảng viên chuẩn bị trước, đến khi áp dụng phương phápthì đưa ra, nên dùng câu hỏi mở Có thể hiển thị câu hỏi trên bảng để người họcluôn biết trọng tâm trao đổi

Khi có những quan điểm đối lập thì giảng viên nên đảm bảo sự kháchquan, luôn tôn trọng ý kiến của người học, định hướng nội dung vào khung lýthuyết

Chốt lại kến thức phần hỏi đáp cần ngắn gọn, giảng viên không phân tíchlại những điều học viên đã nói

3 Quy trình thực hiện

Bước 1: Thuyết trình vào chủ đề

Trong bước này giảng viên cần nêu ngắn gọn điều mình muốn đềcập, nên khai thác những chủ đề đang được mọi người quan tâm để gắnthực tiễn cuộc sống vào bài giảng

Bước 2: Nêu câu hỏi

Câu hỏi rõ ràng và phù hợp nội dung bài giảng, nên chuẩn bị câuhỏi ngắn gọn

Bước 3: Cho học viên suy nghĩ

Hãy để học viên có đủ thời gian suy nghĩ và sẵn sàng tham gia,tránh sau khi đặt câu hỏi yêu cầu người học trả lời ngay

Bước 4: Học viên trả lời và tranh luận

Trang 17

Nên bắt đầu bằng những học viên xin phát biểu trước, tuy nhiên cũngcần chú ý có những người nói quá dài Giảng viên lắng nghe và kiểm soát thờigian một cách khoa học Nên kết nối ý tưởng của mọi người để so sánh tìm ranhững điểm mới Những câu hỏi phụ được đưa ra nếu chủ đề học viên trả lờitrầm lắng.

Bước 5: Giảng viên kết luận

Là điểm neo chốt lại kiến thức sau khi trao đổi, thường ngắn gọn kháiquát vấn đề để người học nhớ

4 Lưu ý

Không nên đặt câu hỏi từ chính đề mục của bài giảng, điều này làm họcviên khó trả lời vì nó liên quan đến khái niệm mang tính khái quát cao Ví dụ,bài giảng về văn hóa thì giảng viên đặt câu hỏi: văn hóa là gì? Bài giảng về tôngiáo thì hỏi: tôn giáo là gì? Những dạng câu hỏi này làm người học lo lắngkhông biết mình nói có đúng khái niệm không, hoặc họ phải giở tài liệu để trảlời cho đúng

Các câu hỏi thảo luận nên hướng tới những vấn đề liên quan đến cuộcsống xã hội để người học có thể phát biểu dưới góc độ của mình

Ví dụ, thay vì hỏi tôn giáo là gì thì có thể tìm hiểu xem hiện nay đang cóvấn đề gì thuộc lĩnh vực tôn giáo ảnh hưởng đến xã hội, hoặc được xã hội quantâm Chẳng hạn: Tại sao sau tết âm lịch rất nhiều người dân đi lễ chùa? Sauphần hỏi - đáp này thì giảng viên sẽ chốt lại vai trò của tôn giáo trong đời sống

xã hội

Phương pháp Làm việc nhóm

1 Giới thiệu khái quát

Làm việc nhóm là hình thức chia lớp học thànhcác nhóm để người học được thảo luận về các chủ đề

mà giảng viên yêu cầu Kết quả thảo luận được trìnhbày trước lớp qua đó tìm ra những vấn đề chung nhất

để khái quát nội dung muốn truyền đạt

Làm việc nhóm giờ đây được sử dụng phổ biếntrong nhiều hoạt động, với giáo dục người học đượctham gia làm chủ không gian thảo luận để có thêm kỹ năng chia sẻ thông tin vàphối hợp hợp với đồng đội

2 Mục đích, ý nghĩa khi sử dụng

Đây là phương pháp mà giảng viên dành nhiều thời gian cho người họclàm việc để đạt được mục đích nắm kiến thức sâu hơn về một nội dung Phươngpháp này tạo không khí học sôi nổi vì các nhóm cùng thảo luận và cạnh tranhvới nhau Đây cũng là cách khai thác những giá trị từ người học để nội dung bàigiảng phong phú và gần thực tiễn

3 Kỹ năng sử dụng phương pháp

Ngày đăng: 14/12/2016, 18:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh mức độ tiếp thu (ghi nhớ) kiến thức bằng các giác quan - PHUONG PHAP GIANG DAY TICH CUC 2017
Bảng so sánh mức độ tiếp thu (ghi nhớ) kiến thức bằng các giác quan (Trang 8)
Ví dụ 1: Hình ảnh dưới đây với ý tưởng “còi to cho vượt” - PHUONG PHAP GIANG DAY TICH CUC 2017
d ụ 1: Hình ảnh dưới đây với ý tưởng “còi to cho vượt” (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w