MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN VẬT LÍ 7 I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đất nước ta đã hội nhập kinh tế toàn cầu, với những phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế, văn hóa và xã hội. Sự phát triển ấy đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, một đội ngũ công nhân lành nghề. Đây vừa là một yêu cầu cấp thiết, vừa là một chiến lược lâu dài về nguồn nhân lực trong hiện tại và cả tương lai. Để đảm bảo nguồn nhân lực đó cần bắt đầu từ các nhà trường, nơi ươm mầm những tài năng của đất nước. Trong “Vườn ươm” ấy người giáo viên có một trọng trách to lớn. Để hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, người giáo viên phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, vừa nâng cao kỹ năng tổ chức, nâng cao tư cách đạo đức. Trong rất nhiều kỹ năng nghề nghiệp, người giáo viên cần quan tâm, rèn luyện cho mình kỹ năng tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hành giải quyết những thắc mắc, những tình huống thực tiễn ngay từ bậc THCS, có như vậy các em mới đáp ứng yêu cầu lao động trong xã hội mới. Ta đã biết môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết các định nghĩa, định luật đều được rút ra từ các thí nghiệm. Nó cung cấp cho các em hệ thống những kiến thức vật lý, những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng các kiến thức vật lý vào cuộc sống.Vì vậy khi giảng dạy Vật lí thì giáo viên phải là người hướng dẫn học sinh “đi tìm” kiến thức mới, còn học sinh tích cực chủ động học tập, lĩnh hội kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện để trở thành những con người năng động và sáng tạo. Nhưng trong quá trình dạy học môn Vật lí 7 tôi thấy một số em còn thụ động, lúng túng, không hứng thú khi học bộ môn nên kết quả học tập của các em chưa cao, chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: “Một số phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao chất lượng môn Vật Lí 7 ” nhằm thực hiện mục tiêu trên. II NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI. 1.Cơ sở lí luận Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII năm 1993 đã đề ra nhiệm vụ “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học”. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII năm 1996 nhận định “Phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học”và tiếp tục được khẳng định “ Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện thành nét tư duy sáng tạo của người học…” Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động. Tính tích cực của trẻ biểu hiện trong những hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể thao, vui chơi giải trí, hoạt động xã hội…trong đó học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học. Trong mỗi dạng hoạt động nói trên, tính tích cực bộc lộ với những đặc điểm riêng. Theo L.V. Relrova năm 1975 “Tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập”. Còn theo P.V.Edroniev năm 1974 “ Một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên”. Vì vậy nói đến tích cực là nói tới tính tích cực của sự học tập, thực chất là nói đến tính tích cực của nhận thức.( Trích Một số vấn đề về lí luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông Lê Thúc Tuấn – ĐHSP Huế năm 2006) Phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục dạy học theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của người học. “Tích cực” trong phương pháp tích cực được dùng với nghĩa hoạt động chủ động trái với không hoạt động, thụ động. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung và phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực thật nhiều so với dạy học thụ động.
Trang 1MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN VẬT LÍ 7
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta đã hội nhập kinh tế toàn cầu, với những phát triển mạnh mẽ cả
về kinh tế, văn hóa và xã hội Sự phát triển ấy đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, một đội ngũ công nhân lành nghề Đây vừa là một yêu cầu cấp thiết, vừa là một chiến lược lâu dài về nguồn nhân lực trong hiện tại và cả tương lai Để đảm bảo nguồn nhân lực đó cần bắt đầu từ các nhà trường, nơi ươm mầm những tài năng của đất nước Trong “Vườn ươm” ấy người giáo viên có một trọng trách to lớn Để hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, người giáo viên phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, vừa nâng cao kỹ năng tổ chức, nâng cao tư cách đạo đức Trong rất nhiều kỹ năng nghề nghiệp, người giáo viên cần quan tâm, rèn luyện cho mình kỹ năng tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hành - giải quyết những thắc mắc, những tình huống thực tiễn ngay từ bậc THCS,
có như vậy các em mới đáp ứng yêu cầu lao động trong xã hội mới
Ta đã biết môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết các định nghĩa, định luật đều được rút ra từ các thí nghiệm Nó cung cấp cho các em hệ thống những kiến thức vật lý, những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng các kiến thức vật lý vào cuộc sống.Vì vậy khi giảng dạy Vật lí thì giáo viên phải là người hướng dẫn học sinh “đi tìm” kiến thức mới, còn học sinh tích cực chủ động học tập, lĩnh hội kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện để trở thành những con người năng động
và sáng tạo
Nhưng trong quá trình dạy học môn Vật lí 7 tôi thấy một số em còn thụ động, lúng túng, không hứng thú khi học bộ môn nên kết quả học tập của các em chưa cao, chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: “Một số phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao chất lượng môn Vật Lí 7 ” nhằm thực hiện mục tiêu trên
II/ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI.
1.Cơ sở lí luận
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII năm 1993 đã đề ra nhiệm vụ “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học”
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII năm 1996 nhận định “Phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học”và tiếp tục được khẳng định “ Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện thành nét tư duy sáng tạo của người học…”
Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động Tính tích cực của trẻ biểu hiện trong những hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể thao, vui chơi giải trí, hoạt động xã hội…trong đó học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học Trong mỗi dạng hoạt động nói trên, tính tích cực bộc lộ với những đặc điểm riêng Theo L.V Relrova năm 1975 “Tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện
ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập” Còn theo P.V.Edroniev năm 1974 “ Một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới
Trang 2sự chỉ đạo của giáo viên” Vì vậy nói đến tích cực là nói tới tính tích cực của sự học tập, thực chất là nói đến tính tích cực của nhận thức.( Trích Một số vấn đề về lí luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông- Lê Thúc Tuấn – ĐHSP Huế- năm 2006)
Phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục dạy học theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của người học
“Tích cực” trong phương pháp tích cực được dùng với nghĩa hoạt động chủ động trái với không hoạt động, thụ động
Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung và phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng
để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực thật nhiều so với dạy học thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy, rõ ràng cách dạy chỉ đạo cách học nhưng ngược lại thói quen hoạt động của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, cũng có những giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp tích cực nhưng thất bại vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen thói học thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy học để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động
Tích cực học là quá trình học có mục đích có sự tiếp thu kiến thức.Tiếp thu kiến thức, học tập tương tác, và học tập hợp tác là các phần của việc học tích cực
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
2.1 Nội dung
Qua các năm kinh nghiệm giảng dạy Vật Lí 7 tôi đã áp dụng một số phương pháp sau để vận dụng vào dạy học môn Vật Lí hiệu quả:
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
- Phương pháp sử dụng thiết bị thí nghiệm và đồ dùng dạy học theo hướng tích cực
- Phương pháp xử lí thông tin theo mô hình hợp tác
- Phương pháp tích hợp liên môn
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy
- Phương pháp sử dụng trò chơi
- Phương pháp bàn tay nặn bột
2.2 Biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
2.2.1 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
Tiết học nghiên cứu tài liệu mới là tiết học trong đó học sinh thu được cái
mà các em chưa biết hoặc chưa biết rõ ràng, chính xác Vậy người giáo viên phải làm thế nào cho các em hứng thú ngay từ đầu bài bằng các câu hỏi nêu vấn đề để học sinh cảm thấy các em tự khám phá ra kiến thức mà trước đó các em biết mơ
hồ hoặc chưa được biết
Ví dụ: Bài 7 “ GƯƠNG CẦU LÕM”
Hoạt động 1:Tổ chức tình huống học tập
GV chiếu hình sau lên và vào bài mới
Trang 3Ngày xưa nhà Bác học Vật Lý Ác – Si -Mét đã dùng một chiếc gương đặt ở bờ thành và đã dùng chiếc gương đó hứng ánh sáng Mặt Trời đốt cháy các chiến thuyền của quân địch Vậy chiếc gương đó có tên là gì và được cấu tạo như thế nào ? Bài học hôm nay sẽ giúp các em tìm hiểu
Hoạt động 2: Tìm hiểu ảnh tạo bởi gương cầu lõm
GV cho HS quan sát hình 8.2 SGK và HS dự đoán
Trang 4
- Ảnh cây nến quan sát được trong gương là ảnh gì?
- So với cây nến thì ảnh lớn hơn hay nhỏ hơn?
HS: Dự đoán
GV: Để biết dự đoán trên đúng hay sai ta cần làm gì?
HS: Làm thí nghiệm kiểm tra
Gv: Hãy nêu cách bố trí thí nghiệm kiểm tra ( nếu Học sinh không nêu được phương pháp kiểm tra, GV có thể cho học sinh nêu cách bố trí thí nghiệm kiểm tra
để so sánh ảnh của một vật tạo bởi gương cầu lồi và ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng)
Gương phẳng Gương cầu lõm
HS: Hoạt động nhóm tiến hành làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán
Từ đó học sinh hoàn thành phần kết luận
Kết luận: Đặt một vật gần sát gương cầu lõm, nhìn vào gương thấy một ảnh …
ảo… không hứng được trên màn chắn và…lớn hơn…vật
Hoạt động 3: Tìm hiểu sự phản xạ ánh sáng trên gương cầu lõm
* Đối với chùm tia tới song song
Gv cho học sinh làm thí nghiệm như hình 8.2
Trang 5Gv: Chùm tia tới có đặc điểm gì?
HS: Chùm tia tới là chùm song song
GV: Chùm tia phản xạ có đặc điểm gì?
HS: Chùm phản xạ hội tụ tại một điểm ở trước gương
Từ đó Gv cho học sinh rút ra kết luận
Chiếu một chùm tia tới song song lên một gương cầu lõm, ta thu được một chùm tia phản xạ hội tụ tại một điểm ở trước gương
Để vận dụng kiến thức vừa học Giáo viên cho học sinh quan sát hình 8.3 và trả lời câu C4
C4: Hình bên là một thiết bị dùng gương cầu lõm hứng ánh sáng mặt trời để nung nóng vật Hãy giải thích vì sao mà vật nó nóng lên
HS: Giải thích
( GV lưu ý cho HS biết chùm sáng Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất được coi là chùm tia tơi song song)
Đến dây Giáo viên có thể cho học sinh trả lời tình huống nêu ra ở đầu bài
2.2.2 Sử dụng thiết bị thí nghiệm và đồ dùng dạy học theo hướng tích cực.
Đối với môn khoa học thực nghiệm như Vật Lý, có thể nói “ Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” Nếu không có sự trải nghiệm nhất định trong thực tế thì sự lĩnh hội kiến thức không thể sâu sắc và bền chặt được Trong giờ học giáo viên tạo điều kiện cho đa số học sinh tự tay làm thí nghiệm, tự mình quan sát, đo đạc và rút ra kết luận nhận xét; tạo điều kiện để học sinh tìm hiểu cấu tạo cách sử dụng dụng cụ đơn giản Dựa vào số liệu, kết quả của thí nghiệm, phân biệt được dấu hiệu giống nhau, khác nhau về bản chất, từ đó so sánh, phân tích, tổng hợp và rút ra kết luận Khai thác hình vẽ với vai trò là nguồn thông tin chứ không phải là hình vẽ minh hoạ, lời trình bày của sách giáo khoa Như vậy học sinh mới chủ động trong học tập, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học tập tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự điều khiển của giáo viên Học sinh hứng thú, hào hứng trong quá trình học tập, chủ động trao đổi với nhau và với giáo viên nhiều hơn, luôn lật đi, lật lại vấn đề
Ví dụ khi dạy bài : Định luật phản xạ ánh sáng
Trang 6Để đi đến định luật phản xạ ánh sáng giáo viên cho học sinh làm 2 thí nghiệm Thí nghiệm 1: Tia phản xạ nằm trong mặt phẳng nào?
Giáo viên cho học sinh làm thí nghiệm như hình 4.2 và trả lời câu C2: Hãy quan sát và cho biết tia phản xạ IR nằm trong mặt phẳng nào?
Học sinh làm thí nghiệm và quan sát, từ đó rút ra được kết luận:
Tia phản xạ nằm trong cùng mặt phẳng chứa tia tới và đường pháp tuyến của gương ở điểm tới I
Thí nghiệm 2: Phương của tia phản xạ quan hệ thế nào với phương của tia tới? Giáo viên giới thiệu : Phương của tia tới được xác định bằng góc nhọn SIN = i gọi
là góc tới
Phương của tia phản xạ được xác định bằng góc nhọn NIR = i’ gọi là góc phản xạ Trước khi làm thí nghiệm giáo viên cho cả lớp dự đoán : Góc phản xạ quan hệ thế nào với góc tới?
HS: Dự đoán
GV: Muốn biết dự đoán đúng hay sai ta làm thế nào?
HS: Làm thí nghiệm kiểm tra
GV: Cho các nhóm tiến hành làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán và ghi kết quả vào bảng bên
Góc tới i Góc phản xạ i’
600
450
300
Hình 4.2
Trang 7Các nhóm tiến hành làm thí nghiệm và dùng thước đo số đo của góc tới và góc phản xạ ứng với từng giá trị và ghi kết quả vào bảng báo cáo
Khi học sinh tiến hành làm thí nghiệm giáo viên quan sát xem học sinh thao tác đã đúng hay chưa, nếu chưa đúng giáo viên kịp thời hướng dẫn sửa chữa để kết quả thí nghiệm được chính xác
Từ kết quả thí nghiệm giáo viên có thể cho học sinh rút ra kết luận
Từ đó giáo viên chốt lại : Hai kết luận trên chính là định luật phản xạ ánh sáng và cho học sinh nêu kết luận về định luật phản xạ ánh sáng
Nhiều học sinh thổ lộ: các em rất thích môn Vật Lý vì trong mỗi giờ học như được tham gia một trò chơi lý thú mà chưa từng biết Trong tình hình hiện nay cơ
sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ cho việc giảng dạy khá đầy đủ, vì vậy giáo viên cần tận dụng tất cả các trang thiết bị này phục vụ cho việc giảng dạy có hiệu quả
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin theo mô hình hợp tác:
Lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy và trò – giữa trò và trò tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh tri thức Phương pháp thảo luận nhóm là một trong các phương pháp giúp được giáo viên đánh giá được kiến thức, kĩ năng, phương pháp làm việc của học sinh
Cách thực hiện:
-Trước tiên giáo viên chọn vấn đề thích hợp cho HS thảo luận
- Các học sinh trong lớp được chia làm tổ nhóm
-Các nhóm được giao nhiệm vụ nghiên cứu về một vấn đề của bài học
Trong quá trình học sinh thảo luận giáo viên làm nhiệm vụ quan sát, theo dõi, không tham gia ý kiến cho vấn đề thảo luận của nhóm chính xác hơn
- Mỗi nhóm trình bày kết quả mà nhóm mình nghiên cứu
So sánh và thảo luận về các kết quả nghiên cứu của các nhóm, từ đó khám phá ra kiến thức mới
Ví dụ: Khi dạy bài “ Phản xạ âm- Tiếng vang”, để tìm hiểu về tại sao nói to trong
phòng lớn lại có tiếng vang, nhưng nói ta như vậy trong phòng nhỏ lại không có tiếng vang và khoảng cách ngắn nhất từ người nói đến bức tường để nghe được tiếng vang
a Trong phòng nào có âm phản xạ
b Tính khoảng cách ngắn nhất từ người nói đến bức tường để nghe được tiếng vang Biết vận tốc truyền âm trong không khí là 340m/s
Các nhóm tiến hành thảo luận và báo cáo kết quả của nhóm mình
( Ở câu a có thể có một số học sinh nhầm lẫn là chỉ ở phòng lớn mới có âm phản
xạ, còn phòng nhỏ không có âm phản xạ vì phòng nhỏ không có tiếng vang Còn câu b cũng có thể học sinh sẽ nhầm lẫn về thời gian là 1/15 giây )
GV cho cả lớp nhận xét
GV chốt lại vấn đề (Nếu có học sinh nhầm lẫn thì giáo viên nên sửa chữa và nhấn mạnh cho học sinh để học sinh khắc sâu hơn)
2.2.4 Phương pháp tích hợp liên môn
Trang 8Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học Đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường
Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học, tức là con
đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau “Từ những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp trong việc xây dựng chương trình dạy học Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống,
nó chỉ trạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”
Từ năm học 2012 – 2013, bộ GD&ĐT đã đưa vấn đề vận dụng kiến thức liên môn vào giảng dạy trong các trường phổ thông Tuy nhiên đây là một hình thức dạy học mới, giáo viên chưa được tiếp xúc nhiều và chưa có kinh nghiệm giảng dạy Vì vậy việc vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy các bộ môn còn gặp nhiều khó khăn lúng túng
Chính vì vậy giáo viên phải là người tiên phong tìm hiểu và dẫn dắt học sinh, qua nhiều tiết học có sự kết hợp như vậy học sinh thêm yêu thích học Vật lý 7 hơn, kết quả học tập của học sinh được nâng cao hơn Tuy nhiên, các môn vẫn giữ vị trí độc lập với nhau, chỉ tích hợp những phần gần nhau Những môn được học riêng rẽ nhưng cần chú ý đến những nội dung có liên quan đến các bộ môn khác, trong quá trình dạy học chỉ cần khai thác, vận dụng các kiến thức có liên quan đến bài giảng mình đang thực hiện với thời lượng vừa phải để không gây ảnh hưởng đến kiến thức môn học và tránh nhàm chán cho học sinh
Ví dụ: Khi dạy bài “Phản xạ âm – Tiếng vang”
HĐ2 : Nghiên cứu âm phản xạ và hiện tượng tiếng vang
GV: Yêu cầu HS nghiên cứu SGK
GV? Em đã nghe thấy tiếng vọng lại lời nói của mình ở đâu ?
HS : Nghiên cứu SGK trả lời câu hỏi của GV
GV? Trong nhà của mình em có nghe rõ tiếng vang không ?
HS: Không
GV? Nghe được tiếng vang khi nào ?
HS : Trả lời
GV: Thông báo âm phản xạ
GV: Âm phản xạ và tiếng vang có gì giống và khác nhau?
HS:
+ Giống nhau: Đều là âm phản xạ
+ Khác nhau : Tiếng vang là âm phản xạ nghe được chậm hơn âm truyền trực tiếp đến tai một khoảng thời gian ít nhất là 1/15 giây
GV: Yêu cầu HS trả lời C1
HS: Trả lời C1 và thảo luận để thống nhất câu trả lời
GV: Cho HS thảo luận trả lời C2 ( tương tự như C1)
HS : Thảo luận toàn lớp trả lời C2
GV: Trong trường hợp này âm phản xạ đóng vai trò khuếch đại Nghe được âm
to hơn
Trang 9GV: Yêu cầu HS tự trả lời C3 Sau đó tổ chức cho HS thảo luận về câu trả lời HS: Làm việc cá nhân trả lời C3 Sau đó thảo luận toàn lớp để thống nhất câu trả lời đúng
Liên môn Toán học:
Hãy nêu công thức tính vận tốc ở lớp 5
V=s/t
Từ đó suy ra công thức tính quãng đường
S=v.t
GV: Lưu ý thời gian âm truyền từ tường đến tai người nói là t =
15
1
: 2 GV: Yêu cầu HS tìm từ thích hợp điền vào chỗ trống hoàn thành kết luận trang 40 SGK
HĐ3 : Nghiên cứu vật phản xạ âm tốt và vật phản xạ âm kém
GV : Yêu cầu HS quan sát hình 14.2 và đọc phần II SGK
GV: Thông báo kết quả thí nghiệm :
+ Mặt gương âm nghe rõ hơn
+ Tấm bìa âm nghe không rõ
GV? Qua hình vẽ hãy cho biết đường truyền của âm , so sánh mức độ phản xạ âm của gương và tấm bìa ?
HS: Âm truyền đến vật chắn rồi phản xạ đến tai Gương phản xạ âm tốt , bìa phản
xạ âm kém
GV? Vật như thế nào phản xạ âm tốt ? Vật
như thế nào phản xạ âm kém ?
HS: Trả lời
GV: Yêu cầu HS vận dụng để trả lời C4
HS : Thảo luận toàn lớp trả lời C4
Tích hợp liên môn sinh học, GDBVMT:
Gv: theo em tiếng vọng to và kéo dài, thì ta
cảm thấy như thế nào ?
Hs: trả lời
Gv: nếu tiếng vọng kéo dài thì sẽ làm âm
nghe không rõ, gây cảm giác khó chịu
Gv: Các em đã từng đến rạp hát, rạp chiếu
bóng bao giờ chưa ?
Hs: trả lời
Gv: Em thấy trong rạp hát các bức tường có
đặc điểm gì ?
Hs: các bức tường thường sần sùi, có treo
rèm nhung, dạ
Gv: Theo em mục đích người ta làm như
vậy để làm gì ?
Hs: trả lời
Gv: Khi thiết kế các rạp hát, cần có biện
pháp
Trang 10để tạo ra độ vọng hợp lí để tăng cường âm, nhưng nếu tiếng vọng kéo dài thì sẽ làm âm nghe không rõ, gây cảm giác khó chịu
BPTKNL: Khi thiết kế các rạp hát, cần có biện pháp để tạo ra phản xạ âm hợp lí
nhằm tăng cường việc tiết kiệm năng lượng trong việc khuếch đại âm bằng máy tăng âm
HĐ4: Vận dụng
GV: Yêu cầu HS lần lượt làm C5, C6, C7 , C8
GV? Nếu tiếng vang kéo dài thì tiếng nói và tiếng hát nghe có rõ không ?
HS: Tiếng vang kéo dài thì tiếng vang của âm trước lẫn với âm phát ra sau làm âm đến tai nghe không rõ
GV: Trong các phòng hoà nhạc , phòng ghi âm muốn tránh hiện tượng âm bị lẫn
do tiếng vang kéo dài thì phải làm như thế nào ?
HS: Làm tường sần sùi, treo rèm vải dày
GV: Yêu cầu HS tự giải thích câu C5
Tích hợp giáo dục kĩ năng sống:
Gv: Khi người khác nói mà em nghe không rõ, thì em có những biện pháp gì ? Hs: nhờ người đó nói to hơn, đến gần người nói
hơn, hoặc khum tay lại
GV: Chiếu cho Hs quan sát tranh hình 14.3 và hỏi:
em thấy tay khum có tác dụng gì ?
Hs: trả lời
Gv: Mỗi khi khó nghe người ta làm như vậy để
hướng âm phản xạ từ tay đến tai ta giúp ta nghe
được âm to hơn
GV: Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi C7
để tính độ sâu của biển
GV? Tính thời gian âm đi đến đáy biển như thế
nào ?
Thời gian siêu âm truyền đến đáy biển là : t =
2
1
s = 0,5 s
HS : t =
2
1
s = 0,5 s GV: Tổ chức cho HS thảo luận trả lời C8 Yêu cầu HS giải thích tại sao lại chọn hiện tượng đó
HS : Chọn hiện tượng và giải thích
Tích hợp liên môn sinh học:
Gv: Em có biết những loài động vật nào phát ra sóng siêu âm ?
Hs: trả lời
Gv: vậy theo em cá heo, con dơi phát ra sóng siêu âm để làm gì ?
Hs: trả lời tùy theo hiểu biết
Gv: cá heo, con dơi phát ra sóng siêu âm, khi sóng siêu âm gặp vật cản thì sẽ phản
xạ trở lại và nhờ âm phản xạ này để tìm thức ăn Đặc biệt con dơi còn có thể sử