1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

BỒI DƯỠNG HSG NGỮ văn 9

22 875 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 110 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh phải nắm được những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu thuộc từng bộ phận cấu thành Tiếng Việt ; nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về ý định, về mục đích, về hiệu quả giao tiếp ; nắm được các quy tắc chi phối việc sử dụng Tiếng Việt ; nắm được những tri thức về các kiểu văn bản thường dùng : Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết minh, Hành chính công vụ ; nắm được những tri thức thuộc cách thức lĩnh hội và tạo lập các kiểu văn bản đó ; nắm được một số tác phẩm ưu tú của Việt Nam và của thế giới tiêu biểu cho các thể loại quen thuộc, đặc biệt là các thể loại thường gặp trong văn học Việt Nam. Nắm được những khái niệm và thao tác phân tích tác phẩm văn học, có được những tri thức sơ giản về thi pháp, về lịch sử văn học Việt Nam, tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc về văn hoá, cảnh vật, cuộc sống con người Việt Nam và thế giới thể hiện trong các tác phẩm văn học, là kết quả của việc sử dụng các tri thức cơ sở để tạo ra các văn bản vừa có tính chuẩn mực vừa có tính nghệ thuật.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO LẬP THẠCH

TRƯỜNG THCS

Chuyên đề : MÔT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

MÔN NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ.

Người thực hiện :

Chức vụ : Giáo viênĐơn vị công tác : Trường SốĐT: Email :

Năm học : 2015 - 2016

Trang 2

MỤC LỤC A.PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tượng nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Mục đích nghiên cứu

6 Đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn

B NỘI DUNG CHÍNH

1 Cái đích để đạt đến chất lượng

2 Lựa chọn học sinh có năng khiếu.

3 Xác định được kiến thức cơ bản cần ôn luyện

4 Giới thiệu những tài liệu buộc học sinh phải đọc

Trang 3

A.PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự chuyển mình đi lên của đất nước, sự nghiệp Giáo dục và Đàotạo luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Sự nghiệp giáo dục nóichung, công tác giảng dạy nói riêng đang đặt ra các nhu cầu cấp thiết trong quátrình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, giao lưu hợp tác quốc tế

Xuất phát từ nhu cầu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, bên cạnh việcnâng cao chất lượng đại trà thì công việc bồi dưỡng học sinh giỏi là công tácmũi nhọn được đặc biệt chú trọng Đây là một trong những khâu quan trọngđánh giá khả năng vận dụng kiến thức sáng tạo của học sinh và là một trongnhững thước đo thẩm định trình độ chuyên môn của mỗi người thầy Công tácbồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và việc bồi dưỡng học sinh gỏi môn NgữVăn nói riêng là cả một quá trình tìm tòi về nội dung và phương pháp Với tôi,chuyện người thầy phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cũng như người trồnghoa Bông hoa đẹp bởi bàn tay người chăm bón, nâng niu Nhưng không phảilúc nào hoa cũng khoe sắc rực rỡ Chỉ cần một cơn trở gió, một sự thay đổi tiếttrời, một sự lãng quên bất cẩn của người là hoa kém sắc, cây không trổ bông

Đặc biệt, phương pháp giảng dạy với những biện pháp cụ thể là conđường ngắn nhất để tới đích thành công Đây quả là một quá trình tôi luôn trăntrở học hỏi sách vở, đồng nghiệp, tự đúc rút từ việc giảng dạy và bồi dưỡng họcsinh giỏi của bản thân Tất nhiên, không có biện pháp nào là chìa khoá vạn năngnhưng có biện pháp tốt là một “phép màu” giúp việc “tu luyện” môn Ngữ Văncủa học sinh được “thành chính quả”

Là người yêu thích môn Ngữ Văn và liên tục được tham gia công tác bồidưỡng học sinh giỏi nên tôi tự đúc rút kinh nghiệm, phương pháp trên cơ sở họchỏi tổng hợp từ đồng nghiệp, sách báo, tài liệu có liên quan trực tiếp Trên cơ sởquá trình trực tiếp giảng dạy của bản thân Được sự chỉ đạo sát sao có hiệu quảcủa các cấp lãnh đạo ngành và sự góp ý chân thành của đồng nghiệp, tổ chuyênmôn trong quá trình thực hiện đề tài

Xuất phát từ tình hình học văn của học sinh trong thời đại bùng nổ thông tin

và những thiên hướng mới trong cách cảm, cách nghĩ của các em ở giai đoạnhiện nay

Trang 4

Thực tế cho thấy, môn Ngữ Văn trong nhà trường chưa được học sinh quantâm nhiều, chính vì thế thời gian học sinh đầu tư cho môn học này chưa thực sựthỏa đáng Đối với những giáo viên được phân công phụ trách bồi dưỡng họcsinh giỏi cảm thấy lo lắng, trăn trở bởi họ đã bỏ ra nhiều công sức, lăn lộn vớihọc sinh mà hiệu quả chưa cao Ngay khi phân chia đội tuyển trong nhà trườngthì phần đông số học sinh vẫn nghiêng về một số môn khác Tâm lí ngại học vănđang dần hình thành trong nếp nghĩ của các học trò…

Hy vọng những kinh nghiệm nhỏ này phần nào giúp các thầy cô giáo dạy NgữVăn tháo gỡ những vướng mắc về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong nhàtrường, góp phần nâng cao chất lượng mũi nhọn ở bộ môn này

Trên hết, tôi vẫn luôn mong nhận được sự chỉ giáo của các thầy cô và cácbạn đồng nghiệp để có được tiếng nói chung, hữu ích trong tình hình bồi dưỡnghọc sinh giỏi Ngữ Văn theo chương trình cải cách hiện nay

Xuất phát từ ý nghĩa, mục đích trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này

+ Một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo sư Nguyễn ĐăngMạnh

+ Mở rộng và nâng cao Ngữ văn 9 ( Tác giả : Thái Quang Vinh - NXBĐại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)…

Bên cạnh đó có một số giáo viên cũng đã nghiên cứu tìm hiểu song trên thực tếcòn nặng về lí thuyết chưa đưa ra được cách thức và con đường cụ thể để bồidưỡng học sinh

Đề tài này tôi sẽ đi sâu nghiên cứu quy trình bồi dưỡng học sinh giỏi, đặcbiệt sẽ chỉ ra cách thức con đường cụ thể để đề xuất những giải pháp tối ưu choviệc bồi dưỡng học sinh giỏi ở bộ môn Ngữ Văn cho học sinh bậc Trung học cơsở

Trang 5

3 Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu các biện pháp giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi phù hợp với đốitượng học sinh Trung học cơ sở và chương trình sách giáo khoa mới

Vận dụng trong giảng dạy để người dạy và người học nâng cao hiệu quảtrong quá trình học chuyên sâu môn Ngữ Văn Trung học cơ sở

- Thực hiện đối với người dạy, người học

- Áp dụng vào từng chuyên đề cụ thể

- Thực hiện với những đề bài theo kiểu văn bản cụ thể

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng hợp những biện pháp tối ưu được đúc rút trong các tài liệu liên quantrực tiếp, những kinh nghiệm của bản thân, đồng nghiệp

Nghiên cứu việc áp dụng trong quá trình dạy bồi dưỡng học sinh giỏi ở cáccấp độ khác nhau

5 Mục đích nghiên cứu

Bồi dưỡng học sinh giỏi là một công việc tương đối khó khăn Vì vậy, tôinghiên cứu đề tài này với mục đích tìm ra những giải pháp, cách thức bồi dưỡngnhằm đạt hiệu quả cao Đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạymôn Ngữ Văn Làm tốt công tác này sẽ kích thích mạnh mẽ ý thức tự giác, lòngsay mê và ý chí vươn lên trong học tập, tu dưỡng của học sinh

6 Đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn

- Giáo viên tìm ra những phương pháp, hình thức bồi dưỡng nhằm đạt hiệu quảcao Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, trình độ chuyên mônnghiệp vụ

- Đối với học sinh, các em sẽ có cách ôn luyện để đạt hiệu quả cao hơn theo sựhướng dẫn của giáo viên

B NỘI DUNG CHÍNH

1 Cái đích để đạt đến chất lượng

- Về kiến thức :

Trang 6

Học sinh phải nắm được những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loạiđơn vị tiêu biểu thuộc từng bộ phận cấu thành Tiếng Việt ; nắm được những trithức về ngữ cảnh, về ý định, về mục đích, về hiệu quả giao tiếp ; nắm được cácquy tắc chi phối việc sử dụng Tiếng Việt ; nắm được những tri thức về các kiểuvăn bản thường dùng : Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết minh,Hành chính công vụ ; nắm được những tri thức thuộc cách thức lĩnh hội và tạolập các kiểu văn bản đó ; nắm được một số tác phẩm ưu tú của Việt Nam và củathế giới tiêu biểu cho các thể loại quen thuộc, đặc biệt là các thể loại thường gặptrong văn học Việt Nam Nắm được những khái niệm và thao tác phân tích tácphẩm văn học, có được những tri thức sơ giản về thi pháp, về lịch sử văn họcViệt Nam, tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc vềvăn hoá, cảnh vật, cuộc sống con người Việt Nam và thế giới thể hiện trong cáctác phẩm văn học, là kết quả của việc sử dụng các tri thức cơ sở để tạo ra cácvăn bản vừa có tính chuẩn mực vừa có tính nghệ thuật.

- Về kỹ năng :

Học sinh có kỹ năng nghe, nói, viết thành thạo theo các kiểu văn bản đãhọc ; Có kỹ năng về phân tích tác phẩm văn học, có năng lực cảm thụ và bìnhgiá văn học, có năng lực tổng hợp và vận dụng kiến thức

Nói đến kỹ năng nghe là nói đến bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tưtưởng tình cảm và giá trị nghệ thuật của các văn bản được học, tự học, hiểu vàcảm thụ được giá trị nghệ thuật của các văn bản và cụm văn bản đó theo từngchủ đề

Kỹ năng nói, viết là nói đến việc viết tiếng Việt phải đúng chính tả, đúng từngữ, đúng cú pháp Biết cách sử dụng các thao tác cần thiết để tạo lập các kiểuvăn bản phục vụ cho việc học cũng như việc thi Đây cũng là năng lực vận dụngcác thao tác tư duy để so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra kết luận, từ đó cóquyết định phù hợp đối với các vấn đề gặp phải trong qúa trình học nâng cao,bồi dưỡng

- Về thái độ, tình cảm :

Học sinh biết yêu quý, trân trọng các thành tựu của văn học Việt Nam vàthế giới Có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, có ý thức tìm hiểu nghệ

Trang 7

thuật trong các văn bản, không chấp nhận cách nói, viết tuỳ tiện, thiếu ý thứclựa chọn từ ngữ, biết yêu quý các giá trị chân, thiện, mĩ.

2 Lựa chọn học sinh có năng khiếu

Muốn bồi dưỡng học sinh giỏi văn thì việc làm tối quan trọng là phải lựachọn được học sinh có năng khiếu và có niềm đam mê, yêu thích bộ môn

Học sinh giỏi văn trước hết phải là những học sinh có niềm say mê, yêu thích

văn chương Sự say mê ấy phải được biểu hiện thường xuyên, liên tục và bằng ý

thức tự giác trong học tập như soạn bài cẩn thận chu đáo, luôn chủ động tiếp thukiến thức trong giờ học, đặc biệt phải thể hiện rõ ý thức trách nhiệm trong cácbài làm văn theo quy định của chương trình và những bài luyện tập, thực hànhrèn luyện kỹ năng mà giáo viên hướng dẫn Sự say mê sẽ giúp các em chịu khótìm tài liệu để mở mang kiến thức Và quan trọng hơn là nó giúp học sinh pháthuy được trí tưởng tượng, sự liên tưởng để sống sâu sắc hơn với những cái mình

đã đọc, đã học

Học sinh có những tư chất bẩm sinh, như tiếp thu nhanh, có trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý tưởng mới

trong bài làm)

Học sinh phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc nhiều thơ văn

trong và ngoài chương trình qua sự tìm đọc, tích luỹ ; phải có sự hiểu biết nhiều

về con người và xã hội

Một trong những biểu hiện không thể thiếu và thường khó giấu của học

sinh giỏi văn là rất giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề, trước

cuộc sống Biểu hiện thường thấy ở những học sinh này là dễ vui nhưng cũngrất dễ buồn trước những vấn đề đặt ra trong tác phẩm và nhất là do sự tác độngqua lời giảng của giáo viên Thường thì đây là những học sinh sống rất tìnhcảm, thích gần gũi với thầy cô, bạn bè và với mọi người, hay bộc lộ quan điểmtình cảm và chiều sâu nội tâm của mình bằng cách phát biểu trực tiếp hoặc giántiếp qua các bài viết Sự nhạy cảm ở các em luôn gắn liền sự thông minh và theotôi thì sự thông minh của học sinh giỏi văn là sự thông minh của cả khối óc lẫncon tim

Trang 8

Học sinh giỏi văn là những học sinh có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, biết

sử dụng chính xác chúng trong những trường hợp khác nhau Thường những emhọc sinh giỏi văn đều có khả năng diễn đạt mượt mà, giàu cảm xúc, giàu hìnhảnh, diễn đạt hàm súc và có bản sắc riêng Năng khiếu ở học sinh giỏi văn vănthường đi kèm với các biểu hiện bên ngoài như ánh mắt sáng, cách nói lưu loát,

gãy gọn bởi ngôn ngữ diễn đạt là cái vỏ của tư duy

Thông thường, sau kết quả của ba bài kiểm tra : Kiến thức “chìa khoá” (biệnpháp tu từ, lí luận Văn học) ; Về cảm thụ Văn học và về trắc nghiệm kiến thức,tôi sẽ chọn được học sinh giỏi

Tôi quan niệm rằng : Văn học rất cần tư duy khoa học, lo gic và Văn học cũng rất cần khả năng tinh nhạy trong việc thẩm bình Văn chương Thêm

nữa, học sinh phải thể hiện sự say mê qua việc tích luỹ kiến thức Vì lẽ ấy, babài kiểm tra của tôi sẽ mách bảo tôi chọn đúng đối tượng để bồi dưỡng

Thực tế cho thấy, một học sinh có năng lực Văn học thể hiện trên những mặtsau :

- Năng lực biết cảm nhận và chỉ ra được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Văn họcmột cách chính xác

Ví dụ : Chỉ một chữ “phả” trong bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh có học sinh cảmnhận : Mùa thu đến với nhà thơ khá đột ngột và bất ngờ, không hẹn trước Bắtđầu không phải là những nét đặc trưng của trời mây hay sắc vàng hoa cúc nhưtrong thơ cổ điển Bắt đầu là hương ổi thơm náo nức Một chữ “phả” kia cũng

đủ gợi hương thơm như sánh lại Nó sánh còn bởi hương đậm một phần, sánhcòn bởi tại hơi gió se Hương thơm luồn vào trong gió được tinh lọc, được côđọng thêm Gió mùa thu hào phóng đem chia hương mùa thu - hương ổi chín -tới khắp nơi trong vũ trụ Tại một vùng quê nhỏ, trong một phút giây nào đó,người viết chợt bắt gặp hương thu và bỗng sững sờ

- Khả năng nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản về văn học bao gồm :

+ Kiến thức về lịch sử văn học

Ví dụ : Bộ phận văn học, giai đoạn văn học, tác giả tiêu biểu

+ Kiến thức về lí luận văn học

Trang 9

Ví dụ : Nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện, nhân vật phảndiện…cốt truyện…tình huống truyện…

+ Kiến thức về tác phẩm văn học cụ thể

- Khả năng biết diễn đạt và trình bày những suy nghĩ và tình cảm cũng nhưnhững hiểu biết của mình về văn học một cách sáng sủa, mạch lạc và có sứcthuyết phục theo yêu cầu của một kiểu loại văn bản nào đó

Ví dụ : Chỉ ra cái hay cái đẹp của khổ cuối bài Viếng lăng Bác (Viễn Phương)

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”

Một em học sinh đã viết : Nghĩ đến ngày về miền Nam, nỗi thương xót tràodâng nước mắt - không phải rưng rưng, rơm rớm nước mắt, mà là “trào”, mộtcảm xúc mãnh liệt Tình thương xót như nén giữa tâm hồn, làm nảy sinh baoước muốn : Muốn làm con chim hót ; muốn làm đoá hoa toả hương, một lànhương như thực, như hư đâu đây ; muốn làm cây tre trung hiếu Mọi ước muốnđều quy tụ vào một điểm là mong được gần Bác mãi mãi, hẳn là muốn làm vui,làm khuây, làm vợi nỗi vắng vẻ trong lăng của con người suốt đời hi sinh cho sựnghiệp giải phóng Tổ quốc, giải phóng dân tộc, một con người lúc sinh thời đãdành trọn tình yêu thương cho mọi tầng lớp nhân dân và đặc biệt cho đồng bàomiền Nam ruột thịt

Những phương diện trên đây là những biểu hiện và đồng thời cũng là những yêucầu cụ thể đối với một học sinh giỏi văn, đây là cái đích cần hướng tới và đồngthời cũng là thước đo để đánh giá trình độ năng lực văn học

Trong quá trình chọn học sinh có năng khiếu sẽ gặp phải trường hợp đòihỏi người giáo viên phải hết sức khéo léo trong khâu xử trí, bởi có thể sẽ gặpphải những trường hợp sau :

Học sinh có năng khiếu học văn nhưng không thích tham gia vào đội tuyển văn : giáo viên cần động viên khuyến khích học sinh tham gia vào đội tuyển bằng cách truyền cho các em tình yêu văn chương, hoặc có thể nhờ đến sự giúp

đỡ của gia đình và Ban giám hiệu nhà trường.

Trang 10

Học sinh muốn tham gia đội tuyển văn nhưng không có khiếu về văn chương : động viên các em tiếp tục bồi dưỡng kiến thức hoặc định hướng cho học sinh lựa chọn những môn khác có thể phát huy năng lực của các em.

Học sinh có khiếu văn chương, thích tham gia đội tuyển văn nhưng bố mẹ lại định hướng cho thi môn khác : giáo viên và nhà trường phải làm tốt công tác tuyên truyền để phụ huynh nhận thức rõ thế mạnh của con em mình cũng như định hướng học tập, không nên xem nhẹ môn học thuộc ngành xã hội.

Học sinh học giỏi toàn diện môn nào các thầy cô cũng muốn em đó tham gia vào đội tuyển của mình : giáo viên cần bám sát vào chiến lược và kế hoạch bồi dưỡng chất lượng mũi nhọn của nhà trường Nếu học sinh đó thực sự có năng khiếu về văn chương nên đề xuất với nhà trường Nếu cần thiết có thể tổ chức thi khảo sát xem học sinh đó thực sự có thế mạnh về môn học nào để từ đó có kế hoạch bồi dưỡng.

3 Xác định được kiến thức cơ bản cần ôn luyện

Môn Ngữ Văn là môn khá phức tạp với sự tổng hợp của ba phân môn.Khi ôn luyện cho học sinh nhất thiết giáo viên không nên xem thường bất kìmột phân môn nào Nhất là việc dạy văn theo quan điểm tích hợp như hiện naythì không có sự tách rời kiến thức của ba phân môn trong một bài văn Tuynhiên, khi ôn trước hết ta nên ôn kiến thức và kỹ năng theo từng phân môn Cụ

thể : (Ở đây, chủ yếu tôi xác định kiến thức cho học sinh lớp 9)

Phân môn văn học :

Xác định phạm vi kiến thức cần ôn luyện : chủ yếu chương trình Ngữ Văn 8 và

9, đặc biệt là lớp 9 (kinh nghiệm nhiều năm cho thấy đề thi chủ yếu là kiến thứcvăn học của khối 9, cũng có năm có cả lớp 8 nhưng rơi vào những tác phẩm tiêubiểu và trọng tâm)

Cách thức ôn : ta nên ôn theo đặc trưng thể loại

* Văn học Việt Nam :

Trang 11

* Văn học nước ngoài : truyện ngắn và thơ hiện đại.

- Đối với kiến thức của các tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh nắm một cách

có hệ thống Có thể nhóm theo cụm bài, chủ đề cụ thể Nhưng dù theo hình thứcnào cũng cần đảm bảo được những kiến thức chuẩn, trọng tâm cơ bản sau :+ Tác giả : cần thiết cho học sinh thấy được phong cách sáng tác của tác giả,dấu ấn cá nhân của mỗi tác giả Sự đóng góp của tác giả đó trong sự nghiệp vănhọc của dân tộc

+ Xuất xứ tác phẩm : chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ đề, mạch cảm xúcbao trùm của bài

+ Nội dung cơ bản, ngắn gọn mà đầy đủ nhất

+ Nghệ thuật chính của bài

- Thuộc thơ, nắm vững cốt truyện về chi tiết, nhân vật, sự kiện

Về ôn luyện kiến thức, giáo viên phải căn cứ và bám sát chuẩn kiến thức và kỹ

năng, nhưng nếu như thế sẽ không thể coi là đủ cần phải khai thác sâu, nâng caovượt chuẩn Cái vượt chuẩn ấy cũng phải xuất phát từ cái chuẩn nếu không bàiviết sẽ trở lên sáo rỗng, xa đề Để có kiến thức vượt chuẩn, giáo viên phải biếttìm tòi nhiều nguồn tư liệu từ các kênh thông tin như qua sách, tài liệu thamkhảo, mạng Internet

Phân môn Tiếng Việt :

Ta nên ôn luyện toàn bộ kiến thức Tiếng Việt của cấp Trung học cơ sở,nhưng cần phải xây dựng và sắp xếp sao cho thành từng mảng hệ thống kiếnthức

Ví dụ : Các biện pháp tu từ, mảng về câu, dấu câu, trật tự câu, mảng từ,

Phân môn Tập làm văn :

Nên bắt đầu rèn cho học sinh từ những kỹ năng tối thiểu nhất như : chữ

viết, chính tả, bố cục, cách trình bày đến dùng từ đặt câu, viết đoạn, liên kết

đoạn và cuối cùng là viết bài văn hoàn chỉnh Đây là những kỹ năng rất quan trọng để tạo nên một học sinh có tố chất viết văn Học sinh thực sự yếu ở các kỹ

năng này sẽ không bao giờ viết một bài văn hay kể cả kiến thức các em có sâu

rộng đến đâu Tiếp đến nên ôn kỹ năng viết văn theo kiểu bài Thông thường đề

Tập làm văn có hai kiểu bài : Nghị luận văn học và Nghị luận xã hội

Ngày đăng: 12/12/2016, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w