Với các em, nhất là với học sinh giỏi càng cần thiết phải nắm được hoàn cảnh xã hội, những đặctrưng cơ bản...để tìm hiểu sâu sắc hơn giá trị cũng như nét đặc thù mỗi tác phẩm, trongmỗi t
Trang 1CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 9 :
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI THUỘC CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS.
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU:
1/ Lý do chọn chuyên đề:
Văn học Việt Nam là nền văn học mang đậm tính nhân văn Một trong những giátrị độc đáo ấy là hình tượng người phụ nữ luôn được phản ánh sâu đậm và cao đẹp, đặcbiệt là trong văn học trung đại Tuy nhiên trong thực tế, văn học trung đại vốn khó và cóphần xa cách về thời gian nên thường có nhiều hạn chế trong dạy và học Vì mỗi thời kì
có một đặc trưng riêng biệt song vẫn có những giá trị mang tính truyền thống nên đểhiểu hôm nay không thể không quan tâm đến quá khứ Việc nắm vững hình tượng ngườiphụ nữ trong văn học giai đoạn trung đại có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ vớigiai đoạn văn học đó mà còn là cơ sở để nắm vững các giai đoạn trước và sau nó Thời
kì từ TK X đến hết TK XIX là vô cùng quan trọng vì nó có nhiều biến động lịch sửquyết định sự phát triển của dân tộc, vì thế văn học cũng vô cùng đa dạng, phong phú và
có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình văn học dân tộc
Thế nhưng trong chương trình Ngữ văn THCS được biên soạn theo đổi mớiphương pháp dạy học thì các tác phẩm văn học không học theo tiến trình lịch sử, không
có bài khái quát về văn học từng thời kì dẫn đến học sinh khó khăn trong trong việc xâuchuỗi các vấn đề qua nhiều tác phẩm Mặt khác, chương trình lại chỉ dành cho giai đoạnnày một lượng thời gian không nhiều và nội dung còn hạn hẹp, việc tìm hiểu sâu hơnhoàn cảnh lịch sử, các vấn đề về người phụ nữ có phần quá sơ lược, thiếu cơ sở Với các
em, nhất là với học sinh giỏi càng cần thiết phải nắm được hoàn cảnh xã hội, những đặctrưng cơ bản để tìm hiểu sâu sắc hơn giá trị cũng như nét đặc thù mỗi tác phẩm, trongmỗi trào lưu; vì vậy chuyên đề này sẽ phần nào giúp các em, các thầy cô có kiến thứcđầy đủ toàn diện hơn về hình tượng người phụ nữ trong giai đoạn văn học quan trọngnày
2/ Phạm vi kiến thức:
Các sáng tác văn học Việt Nam giai đoạn từ TK X đến hết TK XIX Tập trungchủ yếu vào các tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn 9 như: "Truyện Kiều" củaNguyễn Du, "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ, "Lục Vân Tiên" củaNguyễn Đình Chiểu và một số tác giả, tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn 7: Thơ Hồ
Trang 2Xuân Hương, " Chinh Phụ Ngâm" của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm Ngoài ra có
mở rộng đến một số tác phẩm ngoài chương trình như " Cung oán ngâm khúc " củaNguyễn Gia Thiều thuộc chương trình ngữ văn THPT .Trong mỗi văn bản, chỉ tậptrung làm rõ vẻ đẹp và bi kịch của nhân vật người phụ nữ và nghệ thuật khắc hoạ tínhcách nhân vật ấy và số vấn đề tham khảo
3/ Đối tượng thực hiện:
Học sinh lớp 9 Dùng cho đội tuyển bồi dưỡng HSG Ngữ văn cấp Huyện, cấpTỉnh
4/ Thời lượng sử dụng:
Dạy trong 6 tiết
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG:
A/ KHÁI QUÁT:
1 Khái niệm hình tượng và hình tượng trong văn học:
Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dướihình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảmtính Hình tượng văn học trong các tác phẩm luôn là phương tiện hình thức để nhà vănbộc lộ giá trị tư tưởng và phong cách nghệ thuật của mình Mỗi nhà văn khi cầm bútphải không ngừng sáng tạo tìm tòi để xây dựng hình tượng nhân vật tiêu biểu đặc sắc.Không phải tác phẩm văn học nào cũng có hình tượng văn học Không phải nhân vậtnào trong tác phẩm văn học đều trở thành hình tượng nhân vật văn học Để trở thànhhình tượng văn học điều kiện tiên quyết là phải có tính điển hình Trong văn học, hìnhtượng nhân vật phải là: nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình Nghĩa là nhân vậtvăn học ấy phải có sức tập trung khái quát cao Nhân vật ấy phải có những nét chungnhất của tầng lớp, giai cấp mà mình đại diện Và bối cảnh xã hội mà nhân vật ấy xuấthiện phải là bối cảnh điển hình của một vùng, một nơi vào một thời điểm lịch sử nhấtđịnh Như vậy: hình tượng nhân vật trong văn học là nhân vật điển hình trong tác phẩmvăn học, mang đậm nét khái quát của tầng lớp, giai cấp của nhân vật ấy, đồng thời lànhân vật có những nét riêng đặc biệt, xuất hiện trong bối cảnh điển hình mà tác phẩmvăn học ấy thể hiện
2 Hình tượng người phụ nữ trong văn học trung đại:
Trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, ở nước ta do điềukiện xã hội đặc biệt của nó mà trong văn học dân tộc ta hình thành một trào lưu nhânđạo chủ nghĩa Trong trào lưu văn học này, lần đầu tiên hình ảnh người phụ nữ được đềcập đến một cách phổ biến trong nhiều tác phẩm của nhiều tác giả: Đặng Trần Côn và
Đoàn Thị Điểm có người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm; Nguyễn Gia Thiều có người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc; Nguyễn Du có Thúy Kiều trong Truyện Kiều;
Trang 3Nguyễn Dữ có Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương ; trong những truyện Nôm của những nhà thơ khác như Hoa Tiên, Sơ kính tân trang…cũng có những cô gái
như Dao Tiên, Quỳnh Thư…Nhưng điểm lại những nhân vật phụ nữ trong giai đoạnnày, hầu như tất cả đều xuất thân từ tầng lớp quý phái, ngay cả Thúy Kiều của Nguyễn
Du cũng được nhà thơ giới thiệu là: “Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”(truyệnKiều) Chỉ đến hình ảnh người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, Vũ Nương trongTruyện của Nguyễn Dữ ta mới bắt gặp những người con gái của tầng lớp bình dân Trong dòng chảy quan niệm Việt Nam, người phụ nữ đẹp trong văn học trung đạicũng hiện diện trong một vẻ đẹp toàn diện cả bên trong lẫn bên ngoài Đó là một sự kếthợp hài hoà giữa sắc – tài – tâm, giữa nhan sắc và đức hạnh với “tam tòng, tứ đức” Nhưvậy, ngay trong cái nền chung trong quan niệm về người phụ nữ đẹp của người Việt đã
có một sự “dị biệt” qua từng thời kì văn học Đó là vì quan niệm thẩm mỹ vốn là mộtphạm trù “phụ thuộc vào chủ thể thẩm mỹ” (Chủ nghĩa Mác – Lênin) Cho nên, mỗi mộtthời đại, tuỳ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà có những quan niệm khác nhau Thời trungđại, với sự tiếp biến văn hoá đặc biệt là văn hoá Trung Hoa, tư tưởng của Khổng giáo,Đạo giáo và Phật giáo đã chi phối đến quan niệm thẩm mỹ của thời đại Người phụ nữ
có đức hạnh theo quan niệm của Nho gia (lễ giáo phong kiến) là người phải hội tụ đủ
“tam tòng, tứ đức” (Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử; và công, dung,ngôn hạnh)
Tuỳ theo cái nhìn chủ quan của tác giả mà vẻ đẹp mỗi nhân vật nữ lại được biểu
hiện không giống nhau Đó là nàng Kiều (Truyện Kiều), người được xem là người đàn
bà đẹp nhất trong văn học Việt Nam Nếu đặt Kiều vào trong lễ giáo phong kiến thì Kiềukhông phải là người phụ nữ đức hạnh, nhưng không vì thế mà dân tộc ta phủ nhận vẻđẹp của Kiều từ ngoại hình đến tài năng, tâm hồn, tính cách Như vậy, Kiều đẹp còn bởitấm lòng nhân hậu, bao dung vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta mà Nguyễn Du
đã kế thừa Nguyễn Đình Chiểu thì đưa ra một quan niệm về nguời phụ nữ lý tưởng theo
quan niệm của lễ giáo phong kiến: “Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”(Lục Vân Tiên) Những người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm hay Cung oán ngâm cũng là những
đại diện tiêu biểu cho quan niệm về người phụ nữ đẹp trong thời đại họ Nhưng với HồXuân Hương, người phụ nữ “nổi loạn” của thời đại, thì bà lại có cái nhìn mới về vẻ đẹpngười phụ nữ, đứng ở vị trí là người phát ngôn cho vẻ đẹp của giới mình Xuân Hương
là người đầu tiên và có thể là duy nhất đưa vào văn học giai đoạn này không phải là côgái quý tộc mà đích thực là những cô gái bình dân Bà tìm thấy vẻ đẹp thực sự của họ,
nêu bật vẻ đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn của họ (Bánh trôi nước, Con ốc nhồi, Quả mít); ca ngợi tuổi trẻ tươi mát, trắng trong các cô gái đang xoan (Đề tranh tố nữ); đi vào đến từng chi tiết của vẻ đẹp cơ thể (Thiếu nữ ngủ ngày)…
Tuy nhiên, trong quan niệm của dân tộc ta thời kì này thì người phụ nữ đẹpthường gắn liền với số phận bất hạnh Điểm lại gương mặt nhân vật nữ thời kì này tathấy một điểm chung ở họ là có một cuộc đời đầy sóng gió, bẽ bàng, không mấy người
có được hạnh phúc thật sự Đặc điểm này phải chăng là do quan niệm “hồng nhan bạcmệnh”
Trang 4B/ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ :
Phụ nữ là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam Từ trước thế kỉ XVI, nhân vậtphụ nữ đã thoáng hiện trong các tác phẩm văn xuôi tự sự cũng như trong thơ ca Đó làhình ảnh những vị anh hùng dân tộc, như Bà Trưng, Bà Triệu, sống đánh giặc, chết hoáthành phúc thần tiếp tục giúp dân giúp nước; hoặc các nhân vật khác như Mị Châu, vìngây thơ mà bị kẻ thù lợi dụng để đến mất nước tan nhà; như công chúa Tiên Dung thíchngao du sơn thuỷ, bất chấp luật lệnh của vua cha, tự ý kết duyên cùng chàng đánh cáChử Đồng Tử nghèo khó không một mảnh khố che thân; hay nàng quận chúa A Kim yêusay đắm Hà Ô Lôi – một đứa vừa xấu vừa đen nhưng có giọng hát mê hồn… Trong lĩnhvực thơ ca, ta cũng thấy có một số bài, hoặc ngâm vịnh về nhân vật lịch sử như các bàiVịnh Mị Ê, Vịnh nàng Điêu Thuyền, Vịnh Chiêu Quân, hoặc các bài nói về nỗi buồnthương của các thiếu phụ, kẻ thì bị tình duyên dang dở như bài Chức Nữ nhớ NgưuLang, Tiên tử mong Lưu Nguyễn, Hoàng giang điếu Vũ Nương… Tuy nhiên, ở giaiđoạn này, nhân vật phụ nữ chưa trở thành đối tượng quan tâm chính của văn học mà chỉmới xuất hiện lẻ tẻ trong văn xuôi lịch sử, trong thần phả, trong truyện dân gian, hoặctrong các bài thơ điếu, vịnh,…
Đến thế kỉ XVI, đặc biệt là thế kỉ XVIII, phụ nữ đã trở thành một trong những đềtài lớn của văn học Các thể loại văn học dường như đều xoay quanh việc phản ánh sốphận người phụ nữ Vì vậy, trong văn học giai đoạn này, hình tượng người phụ nữ hiệnlên một cách khá đầy đủ và toàn diện trên nhiều bình diện Về văn xuôi, các tác phẩm
nổi tiếng viết về đề tài phụ nữ có “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ (nửa đầu thế kỉ XVI), “Truyền kì tân phả” của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), “Kiến văn lục” của Vũ
Trinh (1759 – 1828),… Truyện Nôm cũng có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài này,
nhưng tiêu biểu hơn cả là các truyện “Tống Trân – Cúc Hoa”, “ Phạm Tải – Ngọc Hoa”,
“Quan Âm Thị Kính”,… và các truyện “Song Tinh Bất Dạ” của Nguyễn Hữu Hào(? – 1713), “Hoa Tiên” của Nguyễn Huy Tự (1743 – 1790), “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (1766 – 1820), “Sơ kính tân trang” của Phạm Thái (1777? – 1813),… Thơ ca viết về phụ
nữ, nổi bật là thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm(?), “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều (1741 –
1798),…
Nói tóm lại, từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX, trong các thể loại văn học, thơ cacũng như văn xuôi tự sự, tác phẩm viết bằng chữ Hán cũng như viết bằng chữ Nôm,…dường như nở rộ đề tài viết về người phụ nữ và hình tượng người phụ nữ nổi bật lên vớihai nét cơ bản:
1 Phụ nữ - hiện thân của cái đẹp
2 Phụ nữ - hiện thân của số phận bi thương
Trang 5I HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ - HIỆN THÂN CỦA CÁI ĐẸP.
Đất nước Việt Nam - đất nước của những câu hát ru ngọt ngào, đất nước của cánh
cò trắng bay, đất nước của bàn tay mẹ tảo tần qua bao năm tháng… và từ trong cáinguồn mạch dạt dào ấy, người phụ nữ là đề tài chưa bao giờ vơi cạn trong nguồn cảmhứng của người nghệ sĩ, qua nhiều thời đại khác nhau
Thần thoại Hi Lạp kể rằng: “Thượng đế đã lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường uốncong của loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nét mềm mại của loài lau cói,màu rực rỡ của nhị hoa, điệu nhẹ nhàng của chiếc lá, cảm giác tinh vi của vòi voi, cáinhìn đăm chiêu của mắt hươu, cái xúm xít của đàn ong, ánh rực rỡ của mặt trời, nỗi xót
xa của tầng mây, luồng biên động của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắclộng lẫy của con chim công, hình nhuần nhuyễn của con chim yểng, chất cứng rắn củangọc kim cương, vị ngon ngọt của đường mật, khí lạnh lẽo của băng tuyết đức trungtrinh của chim uyên ương đem mọi thứ ấy hỗn hợp lại, nặn thành người phụ nữ” Có thểnói, người phụ nữ là biểu tượng của cái đẹp
Nhân vật phụ nữ, ở thể loại tự sự hay trữ tình trong văn học trung đại, thường đẹp
cả người lẫn nết, ít thấy có hiện tượng “xấu người đẹp nết” như trong văn học dân gian.Chính vì thế, các nhân vật chính diện là những phụ nữ trong văn học từ thế kỉ XVI đếnđầu thế kỉ XIX hầu hết có sự hài hoà giữa cái đẹp về hình thức với cái đẹp về tâm hồn,
họ là hiện thân của cái đẹp: đẹp người và đẹp nết.
1 Cái đẹp hình thể:
Điều đặc biệt là: các cô gái khi đi vào văn học giai đoạn này đều là những giainhân tuyệt thế
Hạnh Nguyên trong “Nhị độ mai” là một cô gái đẹp rực rỡ:
“Người đâu trong ngọc tráng ngà, Mặt vành vạnh nguyệt, tóc rà rà mây”.
Chị em Thuý Vân và Thuý Kiều thì rõ ràng là khuôn mẫu của sắc đẹp:
“Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.
Hai tiểu thư cành vàng lá ngọc, thông minh xinh đẹp "mai cốt cách, tuyết tinhthần’ Tuy mỗi người một vẻ nhưng ai cũng vô cùng xinh đẹp, dáng vẻ thanh thoát, yêukiều như nhành mai, còn tâm hồn lại trắng trong như băng tuyết, thanh cao, kiều diễm vàquý phái…
Trang 6Sắc đẹp của người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều
đã đến mức siêu phàm:
“Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn, Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa.
Hương tươi đắm nguyệt say hoa, Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình”.
Hồ Xuân Hương còn muốn vĩnh hằng hoá sắc đẹp của người con gái trong bài thơ
dã, không chăm chút mà mộc mạc, tự nhiên nhưng không kém phần duyên dáng với làn
da trắng mịn màng Đấy chính là vẻ đẹp của người con gái lao động hay lam hay làm,đầy mạnh mẽ chốn thôn quê Ta cũng bắt gặp người phụ nữ như thế xuất hiện trong
"Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ Vũ Thị Thiết cũng giống như côgái trong "Bánh trôi nước", là một người phụ nữ tư dung tốt đẹp, chăm chỉ siêng năng,…khiến Trương Sinh phải đem lòng thương mến mà bỏ ra trăm lạng vàng rước nàng vềlàm vợ
2 Cái đẹp tài năng:
Sắc đẹp của đa số nhân vật nữ trong văn học giai đoạn này thường gắn liền với
một phần phẩm chất không thể thiếu được, đó là tài Ở họ, sắc và tài tạo thành một cặp
đặc điểm không tách rời nhau Theo quan niệm của các tác giả văn học trung đại, tài
gồm bốn mặt sau đây: cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ), nghĩa là: có tài đánh đàn,
chơi cờ, làm thơ và vẽ Có thể coi Thuý Kiều của Nguyễn Du là nhân vật tiêu biểu cho
phẩm chất nói trên Tiếng đàn của nàng làm cho Kim Trọng phải “ngơ ngẩn sầu”, làm cho Thúc Sinh “cũng tan nát lòng” và làm cho Hồ Tôn Hiến “nhăn mày, rơi châu” Tài
làm thơ của Kiều nhanh đến khó mà tưởng tượng nổi:
- Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
- Tay tiên gió táp mưa sa…
Đã nhanh, lại hay! Thơ của Kiều có thể cảm thông được quỷ thần, khiến hồn ma
Đạm Tiên phải hiện lên, khiến viên quan phủ “mặt sắt đen sì” phải rủ lòng thương,
không những chỉ tha cho Kiều mà còn đứng ra làm lễ tác hợp cho nàng được lấy ThúcSinh, và cho Hoạn Thư, một con người tai quái cũng phải thốt lên:
“Rằng: Tài nên trọng, mà tình nên thương”
3 Cái đẹp tâm hồn:
Tuy vậy, ca ngợi tài và sắc của người phụ nữ không phải là mục đích của tác giả vănhọc thế kỉ XVI - đầu XIX Tài và sắc chỉ là một phương diện của cái đẹp và làm nền để
Trang 7bộc lộ bản chất của cái đẹp: đẹp nết Mỗi một thể loại văn học, mỗi một tác giả văn học
lại có cách biểu đạt riêng về cái đẹp của người phụ nữ
Khi nói đến đẹp nết là ta đã đề cập tới phạm trù đạo đức Trong văn học dân gianngười ta cho rằng:
“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người”.
Nhưng, như trên đã nói, trong văn học trung đại không có sự đối lập giữa hìnhthức (xấu người) với nội dung (đẹp nết) Hình thức và nội dung thường có sự hoà quyệnsóng đôi Vì thế, ở các truyện truyền kì cũng như truyện Nôm, trong bất cứ hoàn cảnhnào, nhân vật phụ nữ luôn toát lên một phẩm chất cao đẹp: hiếu thảo, thủy chung, giàuđức hi sinh và có tấm lòng vị tha nhân hậu
Trước tai biến bất ngờ của gia đình, Thuý Kiều đã hi sinh thân mình, hi sinh tìnhyêu của mình:
“Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”.
Rơi vào lầu xanh của Tú Bà, Kiều phải sống một cuộc đời nhơ nhớp Có lần nàng
đã tự tử để mong thoát khỏi kiếp sống đoạ đày đó Nhưng khi Thúc Sinh ngỏ lời cầuhôn, Kiều không coi đấy là cơ may phải chớp lấy Điều đầu tiên Kiều nghĩ đến là hạnhphúc của Hoạn Thư, người vợ hiện tại của Thúc Sinh Nếu như nàng lấy chàng Thúc,một hiện thực không thể tránh khỏi cho Hoạn Thư là:
“Thêm người, người cũng bớt lòng riêng tây”.
Rõ ràng, người bị thiệt thòi trước hết là Hoạn Thư Tình cảm vợ chồng của HoạnThư sẽ bị chia sẻ Kiều không đang tâm Rồi khi được quan phủ và Thúc ông tác thànhcho lấy Thúc Sinh, có thể nói, đó là lúc Kiều được sống trong hạnh phúc ấm êm Nhưngnàng không giành giật hạnh phúc cho riêng mình Nàng nghĩ đến sự cô đơn, thiệt thòicủa Hoạn Thư, do đó nàng chủ động nài nỉ chàng Thúc trở về thăm vợ:
“Xin chàng hãy trở lại nhà.
Trước người đẹp ý, sau ta biết tình”.
Làm việc này, Kiều hoàn toàn dự cảm được điều gì đang đợi mình sau chuyếnviếng thăm vợ của chàng Thúc Nàng nói:
“Dù khi sóng gió bất bình Lớn ra phận lớn, tôi đành phận tôi”.
Biết hi sinh mình cho người là một trong những đức tính của Kiều nói riêng vàcủa các nhân vật phụ nữ trong văn học Việt Nam thế kỉ XVI - đầu XIX nói chung
Cùng với lòng vị tha, tấm tình thuỷ chung son sắt cũng là một trong những phẩmchất nổi bật của người phụ nữ
Kiều ăn ở với mọi người trước sau như bát nước đầy Bà quản gia, vãi GiácDuyên, Thúc Sinh… là những người đã từng cưu mang, cứu vớt Kiều Sau này, khi đãtrở thành vợ của người anh hùng cái thế Từ Hải, Kiều vẫn nhớ tới ơn sâu nghĩa nặng của
họ Nàng đền ơn chàng Thúc thật là trọng hậu:
“Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”.
Trang 8Gặp lại Bà quản gia và vãi Giác Duyên, Kiều nhắc tới công ơn cứu giúp của họbằng lời nói vừa chân thật, vừa cảm động:
“Nhớ khi lỡ bước sảy vời, Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!”.
Ngay ở nhân vật Thúy Vân- người em vườn Thúy ( theo tác giả Nguyễn Thị Sâmtrong " Bình giảng Truyện Kiều- NXB văn học) đã khẳng định một vẻ đẹp đáng nểtrọng không chỉ về hình thể mà cả vẻ đẹp tâm hồn Điều mà nhiều chúng ta hay quên khimải ca tụng Thúy Kiều!
Vân đẹp, một vẻ đẹp cổ kính mà thùy mị, phúc hậu:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, thuyết nhường màu da.
Một vẻ đẹp thô sơ mà vĩnh cửu! Đẹp như chiếc áo tứ thân miền Bắc, chiếc áo cụtmiền Trung hay chiếc áo bà ba miền " mưa nắng hai mùa"
Không chỉ đẹp ở nhan sắc, Thúy Vân còn có một tâm hồn cao cả Giống như tất
cả mọi người con gái, Vân có tình cảm riêng tư cá nhân chứ, nhưng khi vì gia đình, vì đểgiữ vẹn ân toàn nghĩa của chị với chàng Kim nàng chấp nhận sống bên cạnh Kim Trọngnhư một cái bóng bên người chồng hờ ( Kim Trọng có phút giây nào nghĩ đến Thúy Vânđâu?) mà nàng chưa bao giờ than phiền gì
Rồi đến phần tái hợp Kim- Kiều, bao tầm mắt hướng về cô em gái Không phụlòng mong mỏi, đoán trước ý muốn của người thân:
Đứng lên Vân mới giãi bày
Rằng trong tác hợp cơ trời, Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
Gặp cơn binh địa ba đào, Vậy đem duyên chị buộc vào cho em.
Cũng là phận cải duyên kim, Cũng là máu chảy ruột mềm có sao?
Những là nay ước mai ao, Mười lăm năm ấy biết bao là tình.
Bây giờ gương vỡ lại lành, Khôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi.
Còn duyên nay lại còn người, Còn vằng trăng bạc, còn lời nguyền xưa.
Quả mai ba bảy đương vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.
Thật chí tình! Thúy Vân chỉ nghĩ đến kẻ mười lăm năm lưu lạc truân chuyên, nghĩđến tình ai chung thủy Nàng đâu có chút nào nghĩ đến thân phận của mình Nàng trở vềkiếp sống âm thầm, khi bổn phận đã tròn Mặc lời bình phẩm, mặc thế gian Vẻ đẹp ấykhông phải cao cả, đáng kính lắm sao!
Trang 9Nàng Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắt trong tình nghĩa vợ chồng: Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn “giữgìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Nàng luôn giữ chotình cảm gia đình đầm ấm, yên vui Nàng là một người vợ hiền thục, khôn khéo, nết nađúng mực! Hạnh phúc êm ấm tưởng bền lâu, không ngờ đất nước xảy ra binh biến,Trương Sinh phải đầu quân ra trận ở biên ải xa xôi Buổi tiễn chồng đi lính, Vũ Nươngrót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “ Chàng đichuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xinngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Ước mong của nàng thật bình
dị, lời lẽ dịu dàng ấy, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình mà xem thườngmọi công danh phù phiếm Nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao mà chồng sẽphải chịu đựng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút,quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ômnỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng.” Qua lời nói dịu dàng, nàng cũng bộc lộ nỗikhắc khoải nhớ chồng của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người
ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tínnghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng” Đúng là lời nói, cách nói của mộtngười vợ hết mực thùy mị, dịu dàng Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựngnhững thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng biết bao! Khi
xa chồng, Vũ Nương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữ trọn tấm lòngthủy chung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưa hềbén gót” Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mâyche kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” Nàng vừa thươngchồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi
cô đơn vò võ Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của VũNương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng Khi hạnhphúc gia đình có nguy cơ tan vỡ: Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn Khi người chồngtrút cơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần Nàng đãviện đến cả thân phận và tấm lòng của mình để thuyết phục chồng “Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu cách biệt ba năm giữ gìn một tiết ” Những lời nóinhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhàchồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của Vũ Nương Rồi những năm thángsống ở chốn làng mây cung nước sung sướng nàng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ chồng con Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đã
ứa nước mắt xót thương Mặc dù đã nặng lời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàngvẫn tìm cách trở về với chồng con trong giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng Rõràng trong trái tim người phụ nữ ấy, không vẩn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương vàlòng vị tha
Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, một người mẹ hiền đầytình yêu thương con Trong ba năm chồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm convừa làm cha vừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ Với
Trang 10mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụngdưỡng mẹ chu đáo Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lờikhôn khéo để khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớ thương con Đến khi bà mất, nàng đãhết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọng hệt như với cha mẹ đẻ của mình Cái tình ấyquả có thể cảm thấu cả trời đất cho nên trước lúc chết người mẹ già ấy đã trăng trốinhững lời yêu thương, động viên, trân trọng con dâu “Sau này, trời xét lòng lành, bancho phúc đức giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòngcon như con đã chẳng phụ mẹ" Với con thơ nàng hết sức yêu thương, chăm chút Saukhi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, một mình gánh vác cả giang sơn nhà chồngnhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việc con cái Chi tiết nàng chỉ bóng mình trênvách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ : để con trai mìnhbớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha.
Có thể nói, Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng quatừng trang truyện, từ đó khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩmchất tốt đẹp
Còn Hồ Xuân Hương đã hình tượng hoá phẩm chất của người phụ nữ trong bài
thơ thất ngôn tứ tuyệt “Bánh trôi nước” theo kiểu Hồ Xuân Hương:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.
Dù cuộc đời có bị vùi dập “bảy nổi ba chìm” thì “tấm lòng son” của người phụ nữ
vẫn được giữ gìn trọn vẹn Đó là nét nổi bật nhất về hình tượng người phụ nữ trong vănhọc Việt Nam thế kỉ XVI - đầu XIX
Phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong " Truyện Lục Vân Tiên"được tác giả thế hiện qua lời lẽ chân thành mà nàng giãi bày với Lục Vân Tiên khi đượcchàng cứu Đó là lời lẽ của một tiểu thư khuê các, đoan trang và có học thức:
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga, Con nầy tì tất tên là Kim Liên.
Quê nhà ở quận Tây Xuyên, Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
Sai quân đem bức thơ về, Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
Làm con dâu dám cãi cha,.
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành.
Chẳng qua là sự bất bình, Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy, Tiết trăm năm củng bỏ đi một hồi.
Trước xe quân tử tạm ngồi, Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.