1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bệnh tật di truyền ở người

21 994 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giống bò holstein friesian
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Kiều Thu
Trường học Thcs Phạm Đình Hổ
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bò cái có tầm vóc lớn 380-480kg, bầu vú phát triển, thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam... Khối lượng sơ sinh 20-21kg, tỷ lệ thịt xẻ 50%, phù hợp với điều kiện chăn nuôi

Trang 1

GV: Nguyễn Thị Kiều Thu ( THCS Phạm Đình Hổ Q.6 )

Trang 2

Giống bò Holstein Friesian

     

Trên thế giới có rất nhiều giống bò sữa, nhưng tốt nhất và phổ  biến nhất vẫn là giống bò Holstein Friesian (HF). Bò có nguồn gốc 

Trang 3

tốt, có năng suất khá cao. Việc hướng thuần chăn nuôi cải tạo được môi trường phù hợp (hạ nhiệt độ, hạ ẩm độ ) thì có triển vọng vì năng suất rất cao.

Trang 4

Bò lai Holstein Friesian F1 (50% HF)

khoảng 8-9kg/ngày (2.700 kg/chu kỳ). Có một số bò lai HF F1 nuôi 

tại TP.HCM đạt sản lượng trên 4.000 kg/chu kỳ (năng suất trung 

bình từ 14-15 kg/con/ngày)

Trang 5

Bò lai Holstein Friesian (75% HF)

     Bò cái Holstein Friesian F1 được tiếp tục gieo tinh bò Holstein  Friesian F2. Bò lai Holstein Friesian F2 thường có màu lang trắng  đen (màu trắng ít hơn). Bò cái có tầm vóc lớn (380-480kg), bầu vú 

phát triển, thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam. Năng suất sữa bình quân khoảng: 10-12 kg/ngày (3.000-

thích nghi kém hơn nhưng nếu được nuôi dưỡng chăm sóc tốt thì được cho năng suất cao bình quân 13-14kg/ngày, có thể đạt 15kg. 

Tại Bình Dương và TP.HCM có những bò cao sản đạt 6.000kg/chu 

kỳ

Trang 6

Bò Sind

Trang 7

Sind: có lông màu cánh gián, con đực trưởng thành nặng 450-500kg, con cái nặng 320-350kg. Khối lượng sơ sinh 20-21kg, tỷ lệ thịt xẻ 50%, phù hợp với điều kiện chăn nuôi chưa đảm bảo thường 

xuyên về thức ăn xanh và hạn chế nguồn thức ăn

Con bò nền (bò lai sind dùng để phối giống tinh bò HF tạo ra bò 

sữa F1 hoặc nuôi để lấy thịt) bắt đầu nhích cao hơn giá bò lai hướng sữa (F1, F2…) .Để chăn nuôi bò thịt đạt hiệu quả cao nên lai tạo giống nhằm tạo ra nguồn giống có ưu thế về năng suất và trọng lượng, lại phù hợp với điều kiện chăn nuôi của từng địa phương. Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học khuyến cáo cho nông dân sử dụng các giống bò có năng suất cao để phối giống cho đàn bò cái nội sinh sản để từng bước nâng cao tầm vóc, trọng lượng và sức sản xuất của con lai.Giới 

chăn nuôi nhận định bò lai sind căn cơ hơn , bò sinh sản dễ cho ăn,

tỉ lệ mang thai và đẻ cao (90%).

Trang 8

Các nhóm lợn Móng Cái chất lượng cao

Trang 9

•Các nhóm lợn Móng Cái chất lượng cao

•Là giống lợn Móng Cái cao sản được chọn lọc từ 7 nhóm huyết thống từ  năm 1997. Dùng làm nái nền để lai tạo với các giống lợn ngoại tạo con 

giống hay lợn lai nuôi thịt có chất lượng cao.

•Ưu điểm: Dễ nuôi, khả năng kháng bệnh cao, tận dụng được nhiều loại  thức ăn. Chi phí thấp. Khả năng sinh sản cao .

•Tính trạng đặc biệt của lợn ỉ 

•Chửa đẻ sớm là một ưu điểm nổi bật của giống lợn ỉ nhờ vào khả năng  thành thục sinh dục sớm ở lợn đực và lợn cái. 

Trang 10

•LỢN BECSAI: 

•(Berkshire), giống  lợn  được tạo ra ở miền Nam nước  Anh năm 1851. Hướng kiêm dụng nạc - mỡ, dễ thích  nghi ở những vùng khí hậu nóng ẩm. Da đen tuyền, ở  trán, chân và đuôi có đốm trắng, khả năng sinh sản 

trung bình 8 - 10 con/nái/ lứa; sớm thành thục, tầm vóc  trung bình 140 -160 kg. Lợn nuôi thịt 6 - 8 tháng, đạt 

85 - 100 kg, chất lượng thịt cao. Sử dụng lai kinh tế 

lấy con nuôi thịt. Đã tham gia tạo nhóm giống lợn đen  BSI - 81 (lai với lợn nái ỉ địa phương). Hiện nay, do  thị hiếu và yêu cầu năng suất cao, LB không được sử  dụng rộng.

( Chưa tìm ra hình đạt yêu cầu)

Trang 11

GÀ RÔT - RI: 

Giống gà kiêm dụng trứng - thịt do Viện Chăn nuôi Việt Nam lai gà 

Ri với gà Rôt tạo ra, được công nhận nhóm giống năm 1985. Lông màu nhạt. Con trống một năm tuổi nặng 2,8 - 3 kg, con mái 2,2 - 2,5 

kg. Sức đẻ năm đầu 160 - 180 trứng; trứng nặng 48 - 54 g, vỏ màu hồng nhạt. Gà con hai tháng tuổi nặng 600 - 800 g. Thích hợp với phương thức nuôi chăn thả ở nông thôn. Gà mái có thể nuôi nhốt để lấy trứng theo lối công nghiệp. Còn tập tính đòi ấp tự nhiên, nên có thể tự nhân giống ở nông thôn. Sau khi nuôi lấy trứng, có thể giết thịt. Thịt thơm ngon 

Trang 12

Gà Hồ Gà Đông Cảo

Gà gốc từ vùng Đông Tảo (Hưng Yên, Việt Nam). Lông con trống màu 

đỏ nhạt và vàng đất; con mái màu vàng đất. Mào nụ kém phát triển. Tích và dái tai màu đỏ, kém phát triển. Thể chất khoẻ, xương to, điển hình chân to cao, cơ ngực và cơ đùi phát triển. Khi trưởng thành, con trống nặng 3,8 - 4 kg, con mái 3 - 3,5 kg. Nuôi thâm canh năng suất trứng đạt 60 - 80 trứng/mái/năm. Tính đòi ấp mạnh nhưng ấp và nuôi con không khéo. Gà con chậm mọc lông, chậm lớn

Trang 13

GÀ CHỌI:

Gốc ở vùng Đông Nam A , chủ yếu ở Malaixia, được chọn lọc 

và tạo ra theo tập quán chơi chọi gà của cư dân vùng này. Lông đen hoặc đen pha nâu đỏ. Mào nụ hoặc mào đơn kém phát triển. Cổ to 

và dài. Thân dài. Ngực rộng, cơ ngực và cơ đùi phát triển rất khoẻ. Chân dài, xương chân to khoẻ. Cựa to dài. Gà con mọc lông chậm. 

Gà mái nuôi con vụng. Gà trống tính hung hăng, rất ham chọi nhau. 

Hàng loạt giống gà công nghiệp lấy thịt đều có máu GC

Trang 14

Gà Tam Hoàng: 

Có mầu lông tương đối đồng nhất. Dòng Jiangcun: mầu vàng nhạt, trọng lượng lúc 10 tuần tuổi đạt 1,4kg/con, số lượng trứng 155 

quả/mái/năm, lượng thức ăn tiêu tốn 2,85kg/kg tăng trọng. Dòng 882: mầu vàng sậm, chân cao, da vàng, mào đơn, nuôi 3-5 tháng đạt 1,6 - 2kg, lượng thức ăn tiêu tốn 2,75kg/kg tăng trọng. Tỷ lệ nuôi sống (sau ba tháng có thể đạt 91- 96%, số lượng trứng hằng năm 

148 quả/con, trọng lượng 40g/trứng, tỷ lệ nở 80 - 85%, thời gian 

khai thác: 52 tuần

Trang 15

VỊT CỎ: 

Giống vịt đẻ trứng của Việt Nam, được nuôi phổ biến trong nước. 

Có nhiều màu lông khác nhau, phổ biến là màu xám, màu cánh sẻ, màu loang, vv. Mỏ màu xanh hoặc vàng xanh. Sản lượng trứng 160 - 

200 quả/mái/năm, nhóm VC có màu lông cánh sẻ đã chọn lọc, cho sản lượng trứng 220 - 240 quả/mái/năm. Khối lượng cơ thể của VC lúc trưởng thành phổ biến 1,3 - 1,4 kg/con. VC chiếm 65 - 70% số vịt của cả nước và được nuôi ở các vùng sinh thái Việt Nam

Trang 16

VỊT BẦU 

(tk. vịt bầu Bến, bầu Quỳ), giống vịt thịt nguồn gốc ở vùng Chợ 

Bến, tỉnh Hoà Bình, Việt Nam. Lông con cái màu cánh sẻ; con 

trống cổ và đầu màu xanh cánh trả, lông đuôi màu xanh đen. Sản lượng trứng 80 - 110 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 68 - 73 g. Con mái lúc trưởng thành nặng 2,1 - 2,3 kg; con trống nặng 2,4 - 2,5 kg 

Trang 17

VÒT KAKI CAMBELL

(Chưa tìm thấy tư liệu)

Trang 18

VỊT SIÊU THỊT 

(Viết tắt bằng tiếng Anh: CV Super - M), giống vịt chuyên thịt, có nguồn gốc từ  Anh. Có 2 dòng M1, M2. VST có lông màu trắng tuyền, thân hình chữ nhật. Đầu 

to, mắt to và nhanh. Mỏ to, màu vàng tươi hoặc vàng pha xanh. Cổ to, dài vừa  phải. Lưng phẳng rộng. Ngực sâu và rộng. Đuôi ngắn. Chân to, ngắn vừa phải, 

màu vàng hoặc phớt xanh. 

Dáng đi chậm chạp. Khó phân biệt con đực và con cái (con đực ở đuôi có lông  quăn). Vịt dòng M1 sau khi lai cho vịt nuôi thịt 56 ngày tuổi nặng 2,5 - 3,0 kg.  Nuôi làm giống dòng bố M1 có sản lượng trứng 40 tuần đẻ 140 - 181 quả, dòng 

mẹ 181 - 184 quả. Dòng M2 tăng hơn M1 5%. Nuôi 56 ngày tuổi, con lai nặng  3,0 - 3,5 kg, tiêu tốn 2,6 - 2,8 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng. VST được nuôi  nhiều ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ,  thích hợp với chăn nuôi theo phương   thức công nghiệp. Nuôi bán chăn thả phải 

Trang 19

như: lớn nhanh, ăn tạp nên dễ nuôi. Khi nuôi loại cá này người nuôi 

có thể quyết định được cỡ cá thương phẩm, kiểm soát được mật độ  thả…Nói chung là hiệu quả kinh tế cao hơn cá rô phi thườngNếu  nuôi tốt, sau 7 tháng nuôi cá đạt 300 đến 350g/con. Một năm đạt 500  đến 600g/con, trọng lượng cá tối đa đạt 1-1,2 kg/con

Trang 20

Cá này cũng được các nhà chăn nuôi nuôi rất nhiều và lớn nhanh 

Cá chép lai

Trang 21

Cá đang nuôi tại Việt Nam có xuất xứ trực tiếp từ Quảng Đông, Trung Quốc; cá Chim trắng được nhập vào Việt Nam năm 1998. Ban đầu chúng ta chỉ 

níu tạo sự hứng khởi (cảm giác) cho người câu. Nó là loại cá có hàm răng vều

ra, cứng khoẻ; nếu cho thoải mái, chúng  có thể nhai đứt  luôn cá cọng dây thép inox 

Cá chim trắng

Ngày đăng: 22/06/2013, 01:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dáng hao hao giống cá chim ở biển (tên khoa học là  Colossoma - bệnh tật di truyền ở người
Hình d áng hao hao giống cá chim ở biển (tên khoa học là  Colossoma (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w