Để giải tỏa ổ rối loạn nói trên người ta dùng phần mềm của đầu ngón tay tác động những thủ thuật thích hợp hướng từ ngoài vào trục tủy hoặc dọc theo trục tủy tại nơi đốt sống biến đổi tr
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG 5
I NGUỒN GỐC CỦA PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG 5
II MỘT SỐ CÔNG TRÌNH, THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CHỮA BỆNH CỦA PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG 6
III KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG 10
IV NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA PHƯƠNG PHÁP TĐCS SO VỚI CÁC TRƯỜNG PHÁI CỘT SỐNG KHÁC TRÊN THẾ GIỚI VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH KHÔNG DÙNG THUỐC 10
V NHỮNG BỆNH PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG CHỮA ĐƯỢC 11
VI ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP 12
PHẦN II: CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG 13
I CỘT SỐNG 13
II LỚP CƠ 32
III NHIỆT ĐỘ DA 42
IV CẢM GIÁC 46
PHẦN III: PHÂN BIỆT LOẠI VÀ THỂ 48
I KHÁI NIỆM CƠ BẢN 48
II PHÂN BIỆT CÁC THỂ 48
III HÌNH THÁI LOẠI VÀ THỂ ĐỐT SỐNG LỒI 49
IV HÌNH THÁI LOẠI VÀ THỂ ĐỐT SỐNG LÕM 50
V HÌNH THÁI LOẠI VÀ THỂ ĐỐT SỐNG LỆCH 52
VI HÌNH THÁI LOẠI VÀ THỂ ĐỐT SỐNG LỒI LỆCH 52
VII HÌNH THÁI LOẠI VÀ THỂ ĐỐT SỐNG LÕM LỆCH 53
PHẦN IV: CÁC NGUYÊN TẮC, THỦ THUẬT, PHƯƠNG THỨC CHẨN BỆNH 55
A CÁC NGUYÊN TẮC CHẨN BỆNH 55
I NGUYÊN TẮC ĐỐI XỨNG 55
II NGUYÊN TẮC HƯNG PHẤN VÀ ỨC CHẾ 58
III NGUYÊN TẮC ĐỊNH KHU, ĐỊNH ĐIỂM 58
IV NGUYÊN TẮC THĂM DÒ TIÊN LƯỢNG 59
B CÁC THỦ THUẬT CHẨN BỆNH 60
I THỦ THUẬT ÁP 60
II THỦ THUẬT VUỐT 61
III THỦ THUẬT ẤN 62
IV THỦ THUẬT VÊ 63
V THỦ THUẬT MIẾT 65
C CÁC PHƯƠNG THỨC CHẨN BỆNH 66
I PHƯƠNG THỨC ĐỘNG HÌNH 66
II PHƯƠNG THỨC ĐỐI ĐỘNG 66
III PHƯƠNG THỨC CO CƠ TƯƠNG ỨNG 68
IV PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TƯ THẾ 68
Trang 2V PHƯƠNG THỨC ĐỐI NHIỆT 69
PHẦN V: CÁC NGUYÊN TẮC, THỦ THUẬT, PHƯƠNG THỨC, TRỊ BỆNH 71
A CÁC NGUYÊN TẮC TRỊ BỆNH 71
I NGUYÊN TẮC TẠO SÓNG CẢM GIÁC 71
II NGUYÊN TẮC ĐỊNH LỰC THAO TÁC 72
III NGUYÊN TẮC ĐỊNH HƯỚNG 72
IV NGUYÊN TÁC ĐỊNH LƯỢNG 73
V NGUYÊN TẮC ĐIỂU NHIỆT 75
B CÁC THỦ THUẬT TRỊ BỆNH 76
I THỦ THUẬT XOAY 76
II THỦ THUẬT ĐẨY 77
III THỦ THUẬT BẬT 78
IV THỦ THUẬT RUNG 79
V THỦ THUẬT BỈ 79
VI THỦ THUẬT LÁCH 80
C CÁC PHƯƠNG THỨC TRỊ BỆNH 80
I PHƯƠNG THỨC NÉN 80
II PHƯƠNG THỨC SÓNG 81
III PHƯƠNG THỨC ĐƠN CHỈNH VÀ SONG CHỈNH 81
IV PHƯƠNG THỨC VI CHỈNH 81
PHẦN VI: CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP 84
I BỆNH ĐAU ĐẦU 84
II BỆNH HÔ HẤP 88
III BỆNH CHI TRÊN 89
IV BỆNH CHI DƯỚI 92
V BỆNH TUẦN HOÀN TIM MẠCH 94
VI BỆNH VỀ HỆ SINH DỤC 95
VII Bệnh tiết niệu: 97
VIII BỆNH TIÊU HÓA 100
IX BỆNH KHÁC 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 3PHẦN I GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG
I NGUỒN GỐC CỦA PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG
Tác động cột sống (TĐCS) là phương pháp chữa bệnh do cố lương y Nguyễn Tham Tán nghiên cứu sáng lập và phát triển
Cụ sinh ngày 28 tháng 2 (tức rằm tháng riêng) năm 1915 tại xã Hoàng Xá, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, mất ngày 26 tháng 4 năm 2000
Xuất thân trong một gia đình có nghề gia truyền chữa bệnh bằng thuốc nam Cụ rất say mê tìm tòi, học hỏi những kinh nghiệm trong dân gian để tìm ra những bài thuốc hay, những phương thức trị bệnh có hiệu quả nhằm giúp đỡ bà con trong thôn xóm khi ốm đau, được chữa bệnh tại nhà bằng “cây nhà lá vườn, ít tốn kém tiền của
mà khỏi được bệnh” Đó là niềm mơ ước của Cụ lúc sinh thời
Trong nhiều năm, Cụ để nhiều tâm lực trèo lên núi cao, rừng sâu tìm hiểu các loại thuốc quý để chữa bệnh
Những năm đi tìm thuốc, Thầy thấy các cụ cao tuổi hay dùng vôi tôi, hoặc lá cây trà xát lên cột sống người bệnh Khi cột sống có những vết đỏ, các cụ dùng bột cua đồng hoặc lá thuốc giã ra đắp vào những vết đỏ, có khi đun sôi thuốc lá để xông cho người bệnh Chỉ có thế mà khỏi
Sự việc trên làm Thầy suy nghĩ “Tại sao cột sống lại chữa được bệnh? Tại sao Đông – Tây y lại không chữa vào cột sống?” Sách nội kinh ghi “Tủy sống không sờ thấy, không trông thấy nên không chữa được bệnh”, còn Tây y chỉ chữa được một số rất ít bệnh của cột sống Nhưng không chữa được các bệnh nội tạng Phải chăng đây là một khe hở mà Đông y – Tây y chưa đi sâu nghiên cứu, ta nên nghiên cứu thử xem?
Thầy nghĩ “Cột sống là một thực thể, là một hiện tượng sinh lý, mà đã là hiện tượng sinh lý thì tất yếu phải có hiện tượng bệnh lý”
Từ đây, Thầy bỏ tìm thuốc, quyết tâm đi sâu vào cột sống Thầy đã nghiên cứu các sách về cơ thể học, sách Tây y, Đông y, Châm cứu, Bấm huyệt,…!
Thầy mua 9 con khỉ, giải phẫu từng con để xem cấu tạo cột sống của chúng Đặc biệt Thầy rất coi trọng việc tìm hiểu cột sống của nhiều người bệnh xem có những biến đổi bất thường Những người mới chết thì cột sống sẽ ra sao Thầy ghi lại các hiện tượng từng bệnh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp lại thành từng bệnh và tìm cách chữa bệnh trên cột sống
Công trình của Lương y Nguyễn Tham Tán là một công trình đồ sộ, độc đáo,
khác hẳn các trường phái chữa bệnh khác Thầy đã có gần 500 bài thuốc chữa trị các bệnh trên cột sống thuộc các hệ trong cơ thể, 54 đề tài có luận chứng khoa học, xác định hiệu quả của phương pháp Nội dung của phương pháp Tác động cột sống thật là phong phú gồm có: Các nguyên tắc, các thủ thuật, các phương thức, các tư thế chẩn và trị bệnh hoàn hảo
Trang 4Thầy đã nói ở bệnh viện Vĩnh Phúc “Tôi vô sư, vố sách, không được thầy nào
dạy dỗ, không có kinh nghiệm gia truyền, không dựa vào sách vở Tôi tự tìm tòi,
nghiên cứu những kinh nghiệm cổ truyền dân tộc và trên hàng trăm cột sống của người
bệnh mà sáng tạo thành phương pháp Tác động cột sống”
II MỘT SỐ CÔNG TRÌNH, THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CHỮA
BỆNH CỦA PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG
Bệnh nhân bị câm, liệt:
Lương y Nguyễn Tham Tán đã chữa khỏi bệnh câm cho em gái của cố Tổng bí
thư Trường Chinh; Một bà ở Sơn Tây có 2 con gái đến chữa câm, khi hết gạo bà về
nhà lấy gạo, quay lại đến cổng nhà thầy thì con gái chạy ra gọi mẹ “Mẹ ơi”, đột ngột
quá bà mẹ ngất đi, tỉnh lại bà nói “Nuôi con 18 năm nay lần đầu tiên nghe cháu gọi
Mẹ ơi!”
Tạ Văn Lý ở huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc bị liệt, hai chân teo lại Từ nhỏ chỉ
ngồi và lê bằng hai tay, đi học phải nhờ các bạn thay nhau cõng Năm chú Lý chữa
bệnh đã 13 tuổi Thầy chữa 6 tháng chú Lý đứng lên đi lại bình thường Về làng người
dân nô nức ra đón chú, thấy chú đi lại bình thường Gia đình làm 12 mâm cỗ ăn mừng,
đón Thầy về, ai cũng muốn được nhìn và cầm đôi bàn tay vàng của Thầy Đến tuổi
nhập ngũ chú Lý nặng 60kg, sau 3 năm quân ngũ trở về làng lấy vợ và sinh được 3
cháu khỏe mạnh Chú Lý xin Thầy được làm con nuôi, để tưởng nhớ công ơn trời biển
của Thầy - người đã tái tạo chú một lần nữa
Bác sỹ Thùy Linh ở Bệnh viện Hữu Nghị bị tâm thần phân liệt Có lúc cởi
truồng chạy ra ngoài phố, Thầy đã chữa khỏi Bác sỹ trở lại công tác, vài năm sau,
bác sỹ Linh cho biết đã có 3 đề tài nghiên cứu khoa học, được Hội đồng khoa học của
bệnh viện khen thưởng
Năm 1972, giặc Mỹ bắn phá ác liệt khắp nơi, thế mà có lúc hơn 200 người bệnh
đến chữa Người bệnh đi lại lung tung, Bộ Công an cử 6 cán bộ giả làm bệnh nhân
đến kiểm tra, 6 đồng chí này có bệnh gì thầy đều chữa khỏi Sau đó một số thứ trưởng
Bộ Công an và gia đình con cháu đã đến chữa khỏi nhiều bệnh Nên chính các Thủ
trưởng Bộ đã đề nghị lên Tổng bí thư Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và
Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Văn Cẩn mời thầy về Hà Nội chữa bệnh
Tại Hà Nội, Thầy chữa bệnh ở Bộ Thông tin được 3 năm Nhiều bệnh nhân
trung cấp, cao cấp dân sự và quân sự được Thầy chữa khỏi bệnh
Bà An là vợ một thứ trưởng Bộ Công an bị suy tim, to tim, huyết áp cao, suy
động mạch vành, ngoại tâm thu Chữa khắp nơi không khỏi, bà định nghỉ hưu Lúc
Thầy chữa bà mới là đại úy Chữa khỏi bệnh, bà tiếp tục công tác cho đến lúc nghỉ
hưu
Thầy đã chữa cho Đại tướng Hoàng Văn Thái, nguyên Tổng Tham mưu
Trang 5cũng không khỏi Sau một thời gian, Thầy chữa bệnh cho Đại tướng, ông có thể đánh bóng bàn được
Ông Nguyễn Đức Thuận Chủ tịch Hội Liên hiệp Công đoàn Việt Nam giới thiệu
1 cán bộ cao cấp Liên Xô sang giúp ta xây dựng Cung văn hóa Hữu Nghị Ông này một mắt đã 17 năm không nhắm được Mắt cứ mở trừng trừng kể cả khi bão tuyết làm rất rát mắt Ông chữa khắp nơi ở Liên Xô không khỏi Ông cho biết “ Nếu cụ không
chữa khỏi cho tôi thì vợ tôi sẽ bỏ tôi, có lần đang ngủ, cô ấy thức dậy thấy mắt tôi cứ
mở trừng trừng, cô ấy giật mình khóc thét lên” Thầy chữa một thời gian ngắn Ông
nhắm mắt bình thường
Thầy chữa bệnh cho bà Cúc – vợ Thủ tướng Phạm Văn Đồng Bà Cúc bị bệnh tâm thần, cả ngày chỉ vuốt áo, không phân biệt được người thân Đại tiện táo bón phải chịu nhiều đau đớn, lăn lộn trên giường rất khổ sở Thầy chữa cho bà ổn định tinh thần, khỏi táo bón Bà đã biết được người thân, còn biết hát cả những bài ca hồi trước cách mạng Thủ tướng đã mời cơm Thầy và một tiến sỹ Y học Thủ tướng rất ca ngợi Phương pháp Tác động cột sống Thủ tướng còn nói “Bác đã chữa khỏi bệnh cho nhiều cán bộ cách mạng, tức là bác đã cứu cách mạng” Ông tiến sỹ y học góp ý:
“Bác nói rõ thêm nguyên nhân vì sao tác động cột sống lại chữa được bệnh” Thủ tướng trả lời ngay: “Chúng ta đang dùng điện cho các ngành khoa học Đến nay vẫn chưa tìm ra bản chất của điện Nhưng ta vẫn dùng điện rất tốt” Lúc ra về thư ký riêng của Thủ tướng nói: “Chưa bao giờ Thủ tướng mời cơm và nói chuyện với ai như bác
lâu đến thế - 1 giờ 15 phút”
Ở khách sạn Đường Thành, Thầy chữa bệnh nhân bị di tinh – tinh trùng tự động thoát ra liên tục, chưa nơi nào chữa được Bệnh nhân xanh sao không học hành được Thầy chữa khỏi, sau anh ra nước ngoài học tập, đỗ đạt cao Một chị phục vụ khách sạn đã ngoài 20 tuổi, bị bệnh đái dầm, chữa nhiều nơi không khỏi, cô không dám lấy chồng Thầy chữa khỏi, cô lấy chồng sinh con
Thầy Tán chữa khỏi bệnh cao huyết áp cho Trung tướng Nguyễn Hùng Phong – Chính ủy Quân khu I Đã gần 20 năm bệnh không tái phát
Các đề tài nghiên cứu:
Thầy tham gia nghiên cứu Đề tài “Viêm cột sống dính khớp” do Giáo sư Đặng Văn Trung, Chủ nhiệm Khoa nội Bệnh viện Bạch Mai chủ trì Kết quả Thầy chữa khỏi trên 90% Lúc bấy giờ bệnh Viêm cột sống dính khớp là bệnh nan y, nhiều bác sỹ quen thầy khuyên nên chọn đề tài khác, vì bệnh này trên thế giới đã bó tay, nếu thầy
chữa khỏi
Thầy thành công tiếp Đề tài nghiên cứu bệnh “Viêm dây thần kinh tọa” đạt trên 90%
Thầy chữa khỏi bệnh “Rối loạn thần kinh thực vật” cho giáo sư tiến sỹ Vũ
Tuyên Hoàng – Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật đã gần 20 năm không tái phát
Trang 6Thầy tham gia chuyên đề “Phục hồi nguồn sữa mẹ” với Viện sinh lý- Hóa sinh
do Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Tài Lượng, Viện trưởng chủ trì, kết quả đạt trên 90% Điều đặc biệt là: khi kiểm tra sữa của các bà mẹ đủ sữa thì hằng số sinh lý của Glucide là 7%, Lipide là 1,5%, Protit là 0,5% Còn sữa của bà mẹ thiếu sữa thì hằng
số sinh lý đều cao hoặc thấp hơn.Những bà mẹ thiếu sữa thầy chữa cho đủ sữa và các hằng số này trở lại bình thường
Bác sỹ Nguyễn Thị Hải lúc 42 tuổi, Trưởng phòng y tế Trường Cán bộ y tế của
Bộ Y tế, chửa 6 lần, cả 6 lần thai bị chết lưu Thầy chữa cho cả hai vợ chồng đã có hiện tượng suy sinh dục Chữa 6 tháng bác sỹ Hải thụ thai Chữa liên tục đến khi đẻ Thầy kết hợp với khoa sản Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện C để theo dõi Cháu
Nguyễn Ngọc Châu sinh ra rất khỏe mạnh Lúc sinh cháu cả khoa sản đến thăm và
rất ngạc nhiên vì Khoa sản đã tiêm thuốc cho các bà mẹ có thai chết lưu, khi sinh ra
hiện cháu đang học tại Nhạc viện Hà Nội
Ông Tiến, cán bộ Phủ Thủ tướng, bị liệt dương đã lâu Ông đến yêu cầu Thầy chữa vì sau một tháng ông sẽ cưới vợ Thầy chữa khỏi Ông sinh liên tiếp 2 con trai
Chú Tâm, đại úy phi công và cô vợ là giáo viên xinh xắn nhưng không có con
Bố mẹ chồng đại úy bắt phải bỏ vợ, vì cho rằng cô này không đẻ được Thầy chữa khỏi
cô giáo có 2 cháu gái khỏe mạnh
Thầy chữa bệnh suy tủy Thông thường cả 3 chỉ tiêu đều thiếu hụt Đông y bó tay, tây y chỉ còn duy nhất một cách là tiếp máu tươi, nhưng đến một chừng mực nào
đó cơ thể không tiếp thu được, bệnh nhân chết đau đớn vô cùng Thầy yêu cầu phải kết hợp với tây y cho tiếp máu Các cháu ở Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Nhi ra chữa thầy Nhiều cháu ở các tỉnh khắp 3 miền đất nước đều chữa khỏi bệnh
Điển hình là cụ Nguyễn Thị Kim năm nay hơn 80 tuổi ở 70 Hàng Chiếu, Hà
Nội Khi cụ hơn 60 thì bị suy tủy Cụ Kim khỏi bệnh gần 20 năm không tái phát
Anh Trần Văn Tiến, xã Yên Đông, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú bị suy tủy chữa các nơi không khỏi Thầy chữa khỏi, anh Tiến khỏe mạnh lấy vợ có con và không tái phát…
Thầy chữa được nhiều bệnh Ung thư, nhưng thầy yêu cầu không tuyên truyền
Vì nói ra sẽ thêm rắc rối nên Thầy bảo: “Chúng ta cứ chữa, bệnh nhân sẽ tuyên truyền cho chúng ta”
Cô Hà Nhi công nhân hưu trí ở số nhà 307K1 tập thể In Tiến Bộ bị ung thư Amidan Cô ấy chữa bệnh ở Bệnh viện K nhưng không nói được, không ăn được, ngồi chờ chết ở nhà Vợ chồng cô chú ấy đến, Thầy chữa khỏi bệnh Cô đến bệnh viện khám lại không còn bị ung thư nữa Đã hơn chục năm cô vẫn còn sống
Một cháu ở Thanh Hóa bị ung thư Amidan đang chữa ở bệnh viện K Cháu
Trang 7nay Nếu không đi ngay thì cháu sẽ chết ở dọc đường Mẹ con sợ quá đến nhờ Thầy Chữa 12 lần, cháu lại bình thường, khám ở bệnh viện K không thấy Amidan nữa
Cô Nguyễn Thị Nhân có giấy nhập viện của bệnh viện K đề là: K vú ngày mai vào mổ” Thầy đã chữa khỏi bệnh, cô đã sống hơn 10 năm khỏe mạnh, bệnh không tái phát, cô ở ngõ Lương Sử A, số nhà 33, phố Quốc Tử Giám
Ông Nguyễn Văn Hồng, nguyên trưởng phòng tổng hợp Bộ Giao thông Vận tải,
đi bệnh viện Hữu Nghị khám chẩn đoán là ung thư trung thất phổi, được điều trị nhưng bệnh càng nặng thêm Hồi đó, Bộ trưởng y tế là Ông Phạm Song, lúc đó là giám đốc bệnh viện đã nói với ông Hồng: “Anh bị bệnh này, nhưng anh có tiền sử bệnh gan nên không uống được thuốc Rifampicin, vì vậy bệnh viện không có cách gì giúp anh Anh nên về nghỉ tại nhà thôi” Ông Hồng thất vọng, ông đã đến nhờ Thầy chữa, Thầy chữa khoảng gần 2 năm, đi khám lại chỗ ung thư chỉ còn một điểm nhỏ Ông Hồng được Bộ cho nghỉ ở nhà chữa bệnh, dần dần ông khỏe ra, ông xin đi làm nửa ngày, sau ông xin đi làm cả ngày cho đến khi về hưu Ông còn sống được 12 năm, bệnh ung thư không tái phát Ông Hồng đã mất vì một bệnh khác
Từ năm 1981 đến năm 1985, tại bệnh viện Bạch Mai, Thầy đã chữa 847 bệnh nhân với 23 loại bệnh thuộc các hệ tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, nội tiết, tiêu hóa, sinh dục, đau cơ và các bệnh cơ xương khớp Kết quả tốt và khá từ 87 đến 90%
Thầy vào Trường Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh từ năm 1981 làm chủ nhiệm khoa Tác động cột sống Nhà trường tổ chức được 11 khóa học đào tạo về phương pháp tác động cột sống Riêng Bộ Công an đã có nhiều y bác sỹ ở các Trung tâm y tế tỉnh về dự Chất lượng các khóa đều đạt loại khá và giỏi Các học viên đều say sưa học tập Cục
Y tế và Giám đốc bệnh viện Y học dân tộc cổ truyền Bộ Công an đã mời thầy dạy hai khóa Tổng cộng là 13 khóa có hơn 300 học viên Trong gia đình Thầy có 5 lớp hơn 40 học viên Trong thời gian ở trường, Thầy cũng chữa được bệnh cho nhiều bệnh nhân
Thầy chữa cho vợ ông A-Li-Da-Đê, bí thư thứ nhất Đại sứ quán Liên Xô, bà nặng 103kg, đi lại khó khăn, Thầy chữa giảm được 12,5kg Bà còn bị vỡ kế hoạch, có thai, Thầy đã dùng phương điều hòa kinh nguyệt cho bà nên được bình thường Thầy được mời sang chữa bệnh ở Mát-xcơ-va 2 lần, có thêm 3 cộng sự cùng đi, trong ba tháng, chữa được 210 bệnh nhân Kết quả đạt loại khá và tốt 91,5% Có bệnh nhân liệt dương, hai vợ chồng cùng chữa, hôm sau bà vợ đến nói ngay: “Bác sỹ Việt Nam tuyệt
vời, tuyệt vời” Một bệnh nhân nặng 82kg, chữa giảm được 17kg Viện thần kinh trung
ương Pi-gô-rốp đã ký 3 hợp đồng với Thầy, mời sang chữa bệnh, nhưng vì bất ổn chính trị phải ngừng lại
Xưởng phim, tài liệu trung ương quay một cuốn phim tài liệu nói về Thầy đang thực hành chữa bệnh Các đài phát thanh, truyền hình, Đài Tiếng nói Việt Nam, tiếng nói đêm khuya phát đi nhiều bài tiếng nước ngoài tuyên truyền ở trong nước và nước ngoài Các báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong, Phụ nữ Hà Nội, Khoa học
Phương pháp “Tác động cột sống”
Trang 8Từ lâu, Thầy đã có mong ước: “Thuốc Nam ta có một số bài thuốc hay, nhưng không có phương pháp chẩn bệnh, nên việc chẩn bệnh phải nhờ vào Đông y Tôi
muốn để lại cho dân tộc ta một phương pháp chữa bệnh mới-có cả chẩn và trị bệnh
Nhưng tôi cũng mới chỉ là người lính chiến, người lính tiên phong Rất mong các nhà khoa học, dùng ánh sáng khoa học để chứng minh hiệu quả và xây dựng phương pháp
Tác động cột sống trở thành một nền Y học cột sống Việt Nam hiện đại, kết hợp hai
nền y học Đông y và Tây y để tạo ra một chất mới, chữa trị cho Nhân dân ta ngày càng khỏe mạnh để Xây dựng và bảo vệ Đất nước ta ngày càng phồn vinh và hạnh phúc”
III KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG
Tác động cột sống là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc mà dùng phần mềm của đầu ngón tay tác động lên cột sống một lực thích hợp theo hướng trục (dọc theo trục tủy) và hướng tâm cột sống (hướng vào trục tủy) tại Trọng điểm (hay ổ rối loạn) Giải tỏa ổ rối loạn, cột sống sẽ trở lại trạng thái cân bằng theo đúng trạng thái sinh lý bình thường, bệnh sẽ nhẹ dần và khỏi hẳn
Thật vậy, khi cơ thể bị bệnh thì bao giờ trên hệ cột sống cũng xuất hiện những
biến đổi tương ứng về đốt sống, lớp cơ, nhiệt độ và cảm giác gọi là Trọng điểm hay ổ
rối loạn Giải tỏa ổ rối loạn, cột sống sẽ trở lại cân bằng theo đúng trạng thái sinh lý, bệnh sẽ nhẹ dần và tiến tới khỏi hoàn toàn
Để giải tỏa ổ rối loạn nói trên người ta dùng phần mềm của đầu ngón tay tác động những thủ thuật thích hợp hướng từ ngoài vào trục tủy hoặc dọc theo trục tủy tại nơi đốt sống biến đổi (trừ trường hợp ngoại lệ như C1 và C2 thì hướng ra) vì vậy gọi là
Phương pháp TĐCS chẩn và trị bệnh không chỉ quan sát hình thái của cột sống
mà còn tìm hiểu kỹ từng đốt sống nhìn nghiêng và nhìn thẳng Về hình thái, phương pháp phân biệt đốt sống lồi, lõm khi nhìn nghiêng và đốt sống lệch, lõm lệch, lồi lệch khi nhìn thẳng Đi cùng với hình thái cột sống là những phản ứng, phản xạ cụ thể về nhiệt độ da tại khu vực, về hiện tượng co cơ, cơ xơ sợi…và cảm giác chủ quan của người bệnh phối kết hợp thành những cơ sở để người thầy thuốc đoán định các khu vực bệnh lý cần điều trị
Do đó, việc quan sát những biển đổi về cấu trúc cột sống là một khâu quan trọng trong quá trình chẩn và trị bệnh
Trang 9Tuy nhiên có sự hiểu lầm phương pháp TĐCS là bấm huyệt do dọc theo hai bên
rãnh sống cũng như trên đầu gai đốt sống, phương pháp TĐCS đều có những trọng điểm liên quan đến bệnh tật mà khi chữa bệnh, người thầy thuốc cần phải tác động vào
để đưa cột sống trở về trạng thái sinh lý ban đầu
Đây cũng là một sự trùng hợp ngẫu nhiên vì dọc hai bên cột sống cách đường
gai sống ra mỗi bên 1,5 thốn có các huyệt của Kinh túc thái dương bàng quang cho nên khi chữa một số điểm trùng với huyệt của đường kinh này Nhưng phương pháp TĐCS tuân theo những nguyên tắc, phương thức, thủ thuật của riêng mình hoàn toàn khác với bấm huyệt để thăm khám và điều trị Vì vậy, TĐCS không phải là bấm huyệt
V NHỮNG BỆNH PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG CHỮA ĐƯỢC
Trải qua hơn 50 năm nghiên cứu và vận dụng, lương y Nguyễn Tham Tán -
ông tổ của phương pháp TĐCS Việt Nam đã chữa thành công cho rất nhiều người với
9 Bệnh về một số triệu chứng khác chưa rõ nguyên nhân
Lưu ý: Hạn chế của phương pháp:
Trang 10- Phương pháp TĐCS không áp dụng để chữa các bệnh về nhiễm trùng, bệnh do
vi rút gây ra hay tai nạn bị chấn thương, ngã gãy xương
Phương pháp cũng hạn chế áp dụng chữa bệnh với các trường hợp loãng xương, lao xương và ung thư xương
Người đang điều trị bằng phương pháp TĐCS có thể kết hợp các phương pháp khác như: Châm cứu, Diện chẩn, Thập thủ đạo, Y võ, Trật đả cột sống, Khí công y đạo hoặc thuốc nam nếu thấy cần thiết
Trong thời gian điều trị bằng phương pháp TĐCS, người bệnh không ăn thịt bò, tôm và tắm đêm!
VI ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP
Phương pháp TĐCS Việt Nam là phương pháp chữa bệnh hoàn chỉnh trong
đó vừa chẩn bệnh, vừa chữa bệnh, vừa tiên lượng bệnh cùng một lúc
Phương pháp không công thức hóa bệnh học Bởi vì mỗi trường hợp bệnh lý
cụ thể, người bệnh cụ thể đều sẽ có biểu hiện rối loạn tương ứng trên hệ cột sống mà người thầy thuốc phải vận dụng các nguyên tắc, phương thức và thủ thuật để chẩn và trị bệnh
Trang 11PHẦN II CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP
TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG
Cơ thể con người là một cấu trúc hoàn chỉnh, chặt chẽ và được quản lý, điều khiển, chi phối với nhau bởi hệ thần kinh, hệ nội tiết Theo đó, khi trên cột sống xuất hiện biến đổi tương ứng với bệnh thì tại nơi này lớp cơ, nhiệt độ, cảm giác cũng biến đổi theo Chính vì vậy, phương pháp đề ra 4 đặc trưng cơ bản:
I CỘT SỐNG
I.1 Cấu tạo
Cột sống cấu tạo gồm 33 đến 34 đốt hợp thành cụ thể như sau:
4.Cảm giác
3.Nhiệt độ 2.Lớp cơ
1.Cột sống
Đốt sống cổ (C1 ÷ C7)
Đốt sống cụt (Coccyx)
Đốt sống lưng (D1 ÷ D12)
Đốt sống thắt lưng (L1 ÷ L5) Đốt sống cùng (S1 ÷S5)
Trang 12Tên đốt sống Ký hiệu Tên đầy đủ
CẤU TẠO CHUNG CỦA ĐỐT SỐNG
I.2 Đặc điểm riêng và cách nhận biết
Năm loại đốt sống trên có cấu tạo và đặc điểm riêng Để tìm và xác định đúng chúng, người ta dựa vào mốc giải phẫu là các xương bả vai, xương sườn cụt và bờ trên xương chậu Dùng các góc, các cạnh của xương đó làm mốc để tìm
I.2.1 Các đốt sống cổ
Vùng cổ gồm 7 đốt nếu lấy C1 và C7 làm mốc thì đều cong lướt về phía trước
và đốt sống C4 là đốt cong sâu nhất
Đốt C1: Là đốt đội (còn có tên gọi là Atlat – tên một đại lực sĩ trong thần thoại
Hy Lạp) sờ khó thấy C1 nâng đỡ hộp sọ, có hình vòng tròn dẹt, thân đốt không rõ và
lỗ đốt rất rộng, đảm bảo cho hộp sọ được xoay chuyển được dễ dàng
Đốt C2: Còn gọi là đốt trục (Axis) Gai đốt tròn khi sờ thấy đầu tiên kể từ
xương trẩm xuống Cấu tạo hình khuyên tròn và bắt đầu xuất hiện thân đốt Giữa C1
Trang 13Đốt trục khớp với đốt đội giúp cho hộp sọ chuyển động, quay phải, quay trái
được dễ dàng Ngay cả khi ta gật đầu ra phía trước cũng nhờ trục của đốt C2 nghiêng
về phía trước
C3 ÷ C6: Thân đốt nhỉnh hơn, lỗ đốt thu dần lại Gai đốt chẻ đôi như lưỡi rắn
Giữa các thân đốt có đĩa đệm
Đốt C7: Là đốt sống cổ lồi cao nhất khi cúi, mỏm gai không chẻ đôi Để nhận
biết ta đặt nhẹ tay lên gáy trên đường ngang hai bờ vai Cho người bệnh cúi, ngửa nhẹ nhàng Đốt sống dịch động là C7, đốt sống không dịch động là D1
Khi thăm khám trên cột sống, người Thầy thuốc cần chú ý đến đốt sống cổ C6
và C7: Ở mỏm ngang đốt C6 có một chỗ lồi cao, ta gọi là lồi trên, còn có tên gọi là
Trang 14tubercule de Chassaignac (củ Chassaignac) Ở mỏm gai đốt C7 cũng có một lồi cao rất rõ trội hơn củ Chassaignac được gọi là lồi dưới
Tất cả các mỏm ngang của đốt sống cổ từ C1 đến C7 đều có lỗ ngang để động mạch và tĩnh mạch sống đi qua
I.2.2 Các đốt sống lưng
Vùng sống lưng có 12 đốt, ký hiệu là D, từ D1÷D12 Các lỗ đốt tròn, nhỏ, thân đốt khá dày, giữa các đốt có đĩa đệm Do cần tiếp xúc với đầu xương sườn sau, nên mỗi đốt có tới 4 diện khớp để khớp nối với xương sườn Mỏm gai rất dài và thõng sâu
do đó khi tay ta sờ thấy đuôi gai của một đốt nào đó thì ngón tay ta đã đặt ngang tầm thân đốt dưới
Đốt D1: Nằm dưới lồi dưới của C7 Do có liên kết của xương sườn số 1 nên khi
cúi cổ và quay đầu đốt này không chuyển động
Đốt D3: Nằm trên đường thẳng nối bờ trong trên của hai xương bả vai
Đốt D7: Nằm trên đường thẳng nối hai góc dưới của xương bả vai
Từ đốt D1 trở xuống, cột sống lưng có xu thế cong về phía sau và đốt D4 là điểm thứ nhất nhô cao lên Từ D8 trở đi, cột sống có hình cong lướt và D10 là đốt thứ
hai nhô cao ra sau khi đứng cúi gập và đưa sâu ra phía trước nhiều nhất khi ưỡn ngửa lưng
I.2.3 Các đốt sống thắt lưng
Vùng thắt lưng gồm 5 đốt, ký hiệu là L, từ L1÷L5 So với các đốt sống lưng,
Trang 15Đốt sống thắt lưng L2 nằm trên đường thẳng nối hai đầu xương sườn cụt (nhìn
phía ngoài mặt da, đó là nơi eo lưng bắt đầu thắt lại)
Đốt sống lưng L4 nằm trên đường thẳng nối hai bờ trên xương chậu
Về mặt hình thái, từ L1 đến L5, cột sống có xu thế thẳng đều
Giữa các đốt có đĩa đệm
Chú ý:
- Ở nam giới: L4 và L5 cong về phía trước
- Ở nữ giới: L4 và L5 vẫn thẳng đều (người phụ nữ có chức năng mang thai)
Nếu không như vậy là hiện tượng bệnh lý
Các đốt sống này là một trong những đốt sống bản lề giúp cơ thể chuyển động được nhiều tư thế khác nhau
I.2.4 Các đốt sống cùng
Xương cùng bao gồm 5 đốt, ký hiệu là S, từ S1÷S5 Các đốt sống này dung hợp
thành một liên tảng lớn, có xu hướng cong về phía sau Điểm cao nhất là S5 Bản liên
tảng mỗi bên có 4 lỗ bát liêu đối xứng nhau Lỗ bát liêu xuyên thủng mặt trước và sau
Lỗ bản nhỏ, bên trong có lỗ xuyên ngang sang lỗ bát liêu cho rễ thần kinh đi qua
I.2.5 Đốt sống cụt
Các đốt sống cụt gồm 4÷5 đốt Dung hợp thành một liên tảng và cong về phía
trước, mà đầu xương cụt đưa ra phía trước sâu nhất Ký hiệu là Cx, không có lỗ và thân đốt
Trang 16I.3 Thần kinh trung ương
Hệ thần kinh trung ương bao gồm não bộ và tủy sống Não bộ nằm trong hộp
sọ, tiếp liền với tủy sống từ dưới lên, phần phình to; tủy sống nằm trong ống sống
Hệ thần kinh trung ương gồm hai phần:
- Phần thần kinh trung ương não bộ
- Phần ngoại biên với 12 đôi dây thần kinh sọ não và 31 đôi tủy sống
Thần kinh trung ương có 3 chức năng chính:
- Tiếp nhận thông tin từ ngoài vào và từ trong cơ thể đi ra
- Tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin ở vỏ não
* Chất xám ở trong là trung ương thần kinh, bao gồm các nhân xám
* Chất trắng bao bọc bên ngoài, là nơi xuất phát của 12 đôi dây thần kinh gồm: Dây cảm giác, dây vận động và dây hỗn hợp
Trang 17* Chất trắng ở bên trong là đường dẫn truyền xung thần kinh, nối các trung khu của não bộ
+ Chức năng: Chất xám có nhiệm vụ phối hợp các cử động phức tạp và giữ
thăng bằng cho cơ thể
- Não trung gian:
+ Cấu Tạo:Là phần phình to bao trùm các phần khác của não bộ Nhìn bên
ngoài, rãnh liên bán cầu chia đại não thành 2 nửa Mỗi bán cầu não có nhiều khe,
thùy (Thùy trán, đỉnh, thái dương, chẩm) Đi sâu vào bên trong, chất xám bao bọc bên ngoài là vỏ não và các nhân xám bên trong Vỏ xám dày từ 2 đến 3mm Diện tích bề mặt của não bộ khoảng 2300 đến 2500 cm2 (2/3 nằm trong khe, rãnh)
+ Chức năng:
- Chất xám: Là trung ương thần kinh của phản xạ có điều kiện (có ý thức) Có
sự phân chia thành nhiều vùng chức năng bao gồm:
* Vùng vận động ngôn ngữ, nói và viết
* Vùng hiểu ngôn ngữ, nói và viết
- Chất trắng: Làm nhiệm vụ dẫn truyền, kết nối các trung khu trong não Có các bó nối hai bán cầu não và bó sợi nối với tủy sống, hầu hết bắt chéo ở hành não và tủy sống
I.3.2 Dây thần kinh sọ não
Dây thần kinh sọ não gồm 12 đôi phân ra làm 3 loại theo chức năng hoạt động
I.3.2.1 Dây thần kinh cảm giác
Dây thần kinh cảm giác gồm có 3 đôi: Dây thần kinh khứu giác (dây số I), dây thần kinh thị giác (dây số II) và dây thần kinh thính giác (dây số VIII)
- Dây thần kinh khứu giác (dây I): Chức năng cảm nhận mùi vị và nhận kích
thích từ mũi chuyền về não; nếu bị tổn thương sẽ bị rối loạn mùi
Trang 18- Dây thần kinh thị giác (Dây số II): Chức năng nhận hình ảnh từ mắt truyền
về não bộ Nếu bị tổn thương thì dẫn đến mù lòa, tổn thương bên nào thì mù bên đó; nghẽn hoặc tắc động mạch trung tâm võng mạc cũng gây mù; nếu bị bệnh ở dây II thì mắt ngứa và khó chịu
- Dây thần kinh thính giác (Dây số VIII) gồm có 2 dây:
+ Dây ốc tai: Chức năng nghe, nếu tổn thương có thể gây điếc
Trang 19I.3.2.2 Dây thần kinh vận động
Dây thần kinh vận động có 5 đôi gồm có: Dây thần kinh số III, IV, VI, XI, XII
- Dây thần kinh số III (vận nhãn trong): Chức năng đưa mắt vào trong, điều
khiển các cơ mống mắt giúp điều tiết ánh sáng vào mắt, làm thay đổi mặt cong của thấu kính thông qua các dây chằng nối với cơ mống mắt Thay đổi tiêu cự của thấu kính, giúp nhìn xa và gần
- Dây thần kinh số IV (dây thần kinh dòng dọc): Chức năng đưa mắt lên trên
và vào trong
- Dây thần kinh số VI (dây vận nhãn ngoài): Chức năng đưa mắt liếc ra ngoài,
nếu tổn thương thì không làm được
- Dây thần kinh số XI (thần kinh gai sống): Chịu trách nhiệm điều khiển sự
vận động cơ thang, cơ ức đòn chũm
- Dây thần kinh số XII (dây hạ thiệt): Điều khiển sự vận động cơ lưỡi và một
số cơ cổ, cơ ở cằm Nếu tổn thương thì sẽ gây liệt một nửa lưỡi theo chiều dọc, tổn thương ngoại vi làm teo lưỡi bên tổn thương
Trang 20I.3.2.3 Dây thần kinh hỗn hợp
Các đôi dây thần kinh hỗn hợp gồm có: Dây số V, VII, IX, X
- Dây TK số V (dây sinh ba): Dây số V có chức năng cảm giác mặt, phân ra 3
nhánh: nhánh mắt, hàm trên, hàm dưới Nếu tổn thương thì làm méo lệch về bên đối diện Đau dây V thì đau dữ dội nửa mặt
- Dây thần kinh số VII (dây mặt): Có 2 dây, dây VII vận động các cơ bám da ở
mặt, cổ; dây VII còn lại làm nhiệm vụ tiết dịch tuyến lưỡi, dưới hàm, nhận cảm giác ở 2/3 trước lưỡi Tổn thương dây VII trung ương mắt nhắm khít, liệt dây VII mắt không nhắm được
- Dây thần kinh số IX (dây hầu thiệt): Chức năng của dây là điều khiển hầu và
cảm giác ở 1/3 sau lưỡi Nếu tổn thương sẽ bị mất cảm giác ở 1/3 sau lưỡi và khi ăn uống hay bị sặc, tuyến tai không bài tiết
- Dây thần kinh số X (dây lang thang): Dây lang thang hay còn gọi là dây phế
vị, chạy dọc theo động mạch cảnh vào trong ngực, dọc hai bên thực quản, cơ hoành xuống bụng Dây này chi phối hoạt động ở cổ, bụng, ngực Đây là dây thần kinh thực vật (Giao cảm và Phó Giao cảm) rất quan trọng Khi cả hai dây bị tổn thương thì tim đập không đều và nhanh, nhịp thở chậm, mất cảm giác dưới hàm không nuốt được
I.3.3 Tủy sống và 31 đôi dây thần kinh tủy sống
Tủy sống nằm dọc trong ống sống, phía trên tiếp xúc với hành não (C1), kéo dài theo ống sống xuống dưới ngang mức L2 Tủy sống là một cột thần kinh dài 45 đến 50
cm, bên ngoài có màng bao bọc Tủy sống có 2 phình (phình cổ và phình thắt lưng), 2 mặt, 6 rãnh, 6 cột, 4 rễ: Phình cổ tương ứng với đám rối cánh tay, chi phối chi trên;
phình thắt lưng tương ứng với đám rối thắt lưng, chi phối chi dưới Dây thần kinh bắt
đầu từ tủy sống thông qua các rễ thần kinh và chui qua lỗ gian đốt cột sống (khe tiếp hợp giữa hai đốt), có 2 rễ thần kinh Rễ trước (rễ vận động), rễ sau (rễ cảm giác), rễ cảm giác có hạch gai Rễ sau gồm nhiều bó sợi thần kinh cảm giác, dẫn truyền xung thần kinh đi vào Rễ trước gồm nhiều bó sợi thần kinh vận động, dẫn truyền xung thần kinh đi ra
Tủy sống có 31 đôi dây thần kinh bao gồm 8 cổ (C1 ÷ C8), 12 ngực (D1 ÷
D12), 5 thắt lưng (L1 ÷ L5), 5 cùng (S1 ÷ S5), 1 cụt
CẤU TẠO CỦA TỦY SỐNG
Trang 21CẤU TẠO NƠ RON THẦN KINH
Chức năng của tủy sống: Chức năng chính của tủy sống là dẫn truyền và là
trung tâm của phản xạ không điều kiện
- Chức năng dẫn truyền:
+ Dẫn truyền vận động đi xuống: Tín hiệu thần kinh được dẫn truyền từ vỏ não
đi xuống, trên đường dẫn truyền có 9/10 bó tháp bắt chéo sang bên đối diện ở hành não đó là bó tháp chéo, còn 1/10 bó tháp đi thẳng xuống tủy sống rồi cũng bắt chéo ở tủy sống Khi bị tổn thương bên nào thì bên đối diện bị bệnh
+ Dẫn truyền cảm giác đi lên: Ở tủy sống có các đường dẫn truyền cảm giác
như nóng, lạnh, đau, cảm giác sâu, có ý thức và không có ý thức
* Cảm giác sâu: Có ý thức từ gân, cơ, xương khớp, có các sợi dẫn truyền bắt chéo qua đường giữa lên vỏ não bên đối diện; không có ý thức về trương lực cơ, giữ thăng bằng và phối hợp các động tác của cơ thể
* Cảm giác nông: Cung trước dẫn truyền xúc giác, dẫn truyền các cảm giác đau, nóng, lạnh Các sợi của bó cơ này đều đi đến đối thị rồi sang vỏ não bên kia
Chú ý: Các đường dẫn truyền cảm giác (nông và sâu) đều bắt chéo sang bên
đối diện, cho nên cảm giác đau của nửa cơ thể bên này được dẫn truyền sang vỏ não của bán cầu não bên kia và ngược lại
- Trung tâm của phản xạ không điều kiện
+ Phản xạ gân cơ: Mỗi tiết đoạn tủy sống có quan hệ với một nhóm cơ trên cơ
thể
+ Phản xạ trương lực cơ: Là mức căng cơ bình thường gọi là trương lực cơ
Bản chất của trương lực cơ là phản xạ có ở trung tâm của tủy sống Khi bị tổn thương thì sẽ co cứng hoặc mềm nhẽo
Trang 22+ Phản xạ da: Xuất hiện khi ta gãi lên da như: Phản xạ da bụng khi ta gãi bụng,
phản xạ gan bàn chân khi ta gãi dọc từ gót theo bờ ngoài đến ngón chân cái Khi gãi các ngón chân sẽ gấp lại hoặc xòe ra như nan quạt (DH Babinski) là phản xạ bình
thường, nếu gãi bàn chân nào mà ngón cái ngửa ra là tổn thương bó tháp
TỦY SỐNG VÀ 31 ĐÔI DÂY THẦN KINH
+ Phản xạ thực vật (PXTV):
* Phản xạ thực vật không định khu như tiết mồ hôi, phản xạ nổi da gà, phản xạ vận mạch
* Phản xạ thực vật có trọng khu như đại tiện (tiết đoạn thắt lưng và cùng); phản
xạ tiểu tiện (tiết đoạn S2 đến S4); phản xạ cương sinh dục (L và S); trung tâm tăng nhịp tim (tiết đoạn C và D)
+ Sự thay đổi của phản xạ tủy:
* Ảnh hưởng của vỏ đại não: Nói chung vỏ đại não có tác dụng kiềm chế tủy,
Trang 23I.3.4 Hệ thần kinh thực vật (TKTV)
Hệ thần kinh thực vật còn gọi là hệ thần kinh tự chủ, chi phối đời sống, điều hòa, điều khiển các cơ quan nội tạng như: tuần hoàn, dinh dưỡng, hô hấp, bài tiết, chuyển hóa các chất trong cơ thể Hoạt động ngoài ý muốn chủ quan của con người, nhưng chịu sự điều khiển của vỏ não
Trung tâm của hệ thần kinh tự chủ (TKTV) nằm trong trụ não và tủy sống Hệ này có cấu tạo từ nhiều hạch và đám rối thần kinh thực vật nằm ngoài Hệ thần kinh trung ương Tại não giữa, cầu não, hành não có các nhân phó giao cảm của dây thần kinh số III, VII, IX, X (não giữa có dây III, còn lại là hành cầu)
- Đoạn tủy cùng: Từ S2 đến S4 có các sợi phó giao cảm đi ra chi phối các cơ quan nằm trong hông chậu bé, bàng quang, tử cung, trực tràng, sinh dục
- Đoạn tủy ngực: Từ D1, D2 đến thắt lưng L3, L4 là sợi thần kinh Giao cảm
- Đoạn tủy sống cổ và thắt lưng L4, L5 đến S2 không có các dây thần kinh thực vật đi ra
Nhiều hạch TKTV tập hợp thành đám rối TKTV, từ đám rối phát ra các sợi giao cảm và phó giao cảm đi vào các nội tạng
Sự tương quan giữa Thần kinh giao cảm và Phó giao cảm
Hệ Phó giao cảm không chi phối các cơ quan, tuyến mồ hôi và đa số các mạch máu Sự tác động tới các cơ quan mà hệ giao cảm và phó giao cảm cùng chi phối đối lập nhau Nhưng không vì thế mà nói 2 hệ đó đối lập nhau, mà là phối hợp nhau và bổ sung cho nhau, điều hòa lẫn nhau làm cho cơ quan mà nó chi phối hoạt động bình thường Khi cơ thể bình thường thì hai hệ này hoạt động bình thường, khi mất cân đối thì bệnh lý xuất hiện
Trang 24HỆ THẦN KINH GIAO CẢM VÀ PHÓ GIAO CẢM
I.4 Mốc nhận biết đốt sống theo giải phẫu
MỐC NHẬN BIẾT ĐỐT SỐNG THEO GIẢI PHẪU
Trang 25- Đốt sống C1 không có gai, nằm sát hộp sọ nên ta không sờ thấy được Đốt thấy là C2
- Đốt sống C7 dịch động khi ta đặt tay lên gáy và cho đầu bệnh nhân gật nhẹ
- Đốt D1 lồi cao sát C7 và không dịch động khi cho đầu bệnh nhân gật nhẹ
- Đốt D3 nằm trên đường thẳng nối bờ trong trên của hai xương bả vai
- Đốt D7 nằm trên đường thẳng nối hai góc dưới của xương bả vai
- Đốt L2 nằm trên đường thẳng nối hai đầu xương sườn cụt (chỗ cơ lưng thắt
lại)
- Đốt L4 nằm trên đường thẳng nối hai bờ trên xương chậu
I.5 Phân vùng hệ cột sống theo phương pháp TĐCS
Giải phẫu học hiện đại chia hệ cột sống làm 5 khu vực:
1 Khu cổ, ký hiệu bằng chữ C (của từ Carvicals có nghĩa là đốt cổ), gồm 7 đốt
từ C1 đến C7
2 Khu lưng, ký hiệu bằng chữ D (Dorsalis), gồm 12 đốt từ D1 đến D12
3 Khu thắt lưng, ký hiệu bằng chữ L (Lombalis), gồm 5 đốt từ L1 đến L5
4 Khu hông, ký hiệu bằng chữ S (Sacrilis), gồm 5 đốt từ S1 đến S5
5 Khu cụt, vẫn dùng nguyên từ Cocoyx
Phương pháp tác động cột sống phân chia hệ cột sống thành 9 khu vực khác nhau gồm:
1 Khu cổ trên C1÷C3: 3 đốt (Tam giác cơ số 1)
2 Khu cổ dưới C4÷C7: 4 đốt (Tam giác cơ số 2)
3 Khu trên lưng trên D1÷D3: 3 đốt (Tam giác cơ số 3)
4 Khu dưới lưng trên D4÷D7: 4 đốt (Tam giác cơ số 4)
5 Khu trên lưng giữa D8÷D9: 2 đốt (Tam giác cơ số 5)
6 Khu dưới lưng giữa D10÷D12: 3 đốt (Tam giác cơ số 6)
7 Khu thắt lưng L1÷L5: 5 đốt (Tam giác cơ số 7)
8 Khu hông 5 đốt liên tảng S1÷S5 (Tam giác cơ số 8)
9 Khu cụt Coccxy liên tảng Cx (Tam giác cơ số 9)
Như vậy, giải phẫu học hiện đại phân chia cột sống theo hình thái học là chủ yếu, còn phương pháp tác động cột sống thì phân chia theo yêu cầu xử lý và tác động thích hợp cho từng khu vực, nhưng tên gọi và ký hiệu vẫn được giữ nguyên như y học hiện đại đang sử dụng
Phương pháp TĐCS đã đi sâu tìm hiểu kỹ về sự biến đổi của từng đốt sống, nhìn nghiêng là sự lồi, lõm; nhìn thẳng là sự lệch, lồi lệch, lõm lệch biểu hiện trên hình
thái cột sống
Ngoài ra còn căn cứ vào những phản ứng, phản xạ cụ thể về nhiệt độ các khu vực, về co cơ, về cảm giác chủ quan của người bệnh, cùng với những biến đổi về cấu
Trang 26trúc của cột sống để hợp thành những cơ sở cho việc đoán định các khu vực bệnh lý cần giải quyết
SƠ ĐỒ PHÂN KHU CỘT SỐNG
Do đó, quan sát hình thái cột sống là một khâu quan trọng trong quá trình chẩn và trị bệnh Hơn thế nữa, Cảm giác chủ quan trên đầu ngón tay của người thầy thuốc phải được coi như một trong những công cụ quan trọng nhất của kỹ thuật chẩn và trị bệnh; yêu cầu đó đòi hỏi người thầy thuốc chữa bệnh bằng phương pháp TĐCS không được sao nhãng, không được bỏ qua việc rèn luyện ngón tay để thăm khám trực tiếp trên cột sống, tạo khả năng đi sâu vào các chi tiết nhỏ bé nhất trong khu vực bệnh lý biểu hiện trên cột sống
I.6 Hiện tượng đốt sống không bình thường
Hiện tượng đốt sống không bình thường gồm 2 phần:
Trang 27I.6.1 Đặc điểm và hình thái đốt sống không bình thường
Khi các đốt sống không bình thường, ta gặp các hình thái biến đổi của đốt sống như sau:
I.6.1.1 Hình thái đốt sống Lồi
Đốt sống lồi ra phía sau bao gồm các hiện tượng:
- Đốt sống lồi ra phía sau toàn phần
- Đầu gai sống lồi cân phần trên ra phía sau
- Đầu gai sống lồi cân phần dưới ra phía sau
- Nhiều đốt sống liền nhau lồi ra phía sau
I.6.1.2 Hình thái đốt sống Lõm
Đầu gai sống lõm cân đưa ra phía trước gồm có:
- Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về
Đốt sống không lồi, không lõm mà lệch về một bên phải hoặc trái gồm có:
- Đầu gai sống lệch cân về một bên phải (hoặc trái)
- Đầu gai sống lệch một góc trên về một bên phải (hoặc trái)
- Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải (hoặc trái)
- Nhiều đốt sống lệch về một bên phải (hoặc trái)
I.6.1.4 Hình thái đốt sống Lồi Lệch
Đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm có:
Trang 28- Đầu gai sống lồi ra phía sau và lệch
cân về một bên phải (hoặc trái)
- Đầu gai sống có một góc trên lồi và
lệch về một bên phải (hoặc trái)
- Đầu gai sống có một góc dưới lồi và
lệch về một bên phải (hoặc trái)
- Nhiều đốt sống liền nhau lồi và lệch về
một bên phải (hoặc trái)
I.6.1.5 Hình thái đốt sống Lõm Lệch
Đốt sống lõm ra phía trước và lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm có:
- Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch
cân về một bên phải (hoặc trái)
- Đầu gai sống lõm về phía trước và một
góc trên lệch về một bên phải (hoặc trái)
- Đầu gai sống lõm về phía trước và một
góc dưới lệch về một bên phải (hoặc trái)
- Nhiều đốt sống liền nhau lõm về phía
trước và lệch về một bên phải (hoặc trái)
Trang 29I.6.2 Hình thái đầu gai sống không bình thường
1 Đầu gai sống của đốt sống lồi có hình thái to
hơn các đầu gai sống của các đốt sống bình
thường
2 Đầu gai sống của đốt sống lồi lệch có hình
thái to hơn và đưa lệch về phía phải (hoặc
trái)
3 Đầu gai sống của đốt sống lệch có hình thái
bình thường như những đốt sống khác nhưng
lệch về phía phải (hoặc trái)
4 Đầu gai sống của đốt sống lõm lệch có hình
thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt sống bình
thường, nhưng đưa lệch về phía phải (hoặc
trái)
Đầu gai sống của các đốt sống lõm có hình thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt
sống bình thường, nhưng đầu gai của các đốt sống còn có dạng như sau:
- Đầu gai sần sù như mẩu xương
- Đầu gai nhẵn nhụi như bình thường
- Đầu gai sống có lớp gai như răng cá ở hai bên phải và trái của gai sống
- Đầu gai sống lõm xuống, ở đốt trên và đốt dưới của đốt sống lõm nổi lên
thành hai gờ trên và dưới đè đốt sống lõm xuống
BẢNG HÌNH THÁI VÀ BIỂU HIỆN CỦA ĐỐT SỐNG Hình thái đốt sống Biểu hiện của đốt sống theo quan sát
nghiêng
nghiêng
Đốt sống đơn lồi lệch Có một đốt sống lồi và lệch sang một bên
Đốt sống đơn lõm lệch Có một đốt sống lõm và lệch sang một bên
Đốt sống liên lồi Có từ hai đốt sống liền nhau lồi cao hơn khi nhìn
nghiêng
Đốt sống liên lệch Có từ hai đốt sống liền nhau lệch sang một bên khi nhìn thẳng
Trang 30Hình thái đốt sống Biểu hiện của đốt sống theo quan sát
Đốt sống liên lồi lệch Có từ hai đốt sống liền nhau lồi và lệch sang một
bên Đốt sống liên lõm lệch Có từ hai đốt sống liền nhau lõm và lệch sang một
bên
I.6.3 Đặc tính của đốt sống không bình thường
Các đốt sống bệnh lý thì dù ở hình thái nào (lồi, lệch hay lõm…) bao giờ cũng
có biểu hiện dính cứng ở một hay nhiều đốt sống Có trường hợp đốt sống chỉ bị dính cứng phần trên hoặc góc trên với đốt trên Hoặc có trường hợp đốt sống chỉ bị dính phần dưới hoặc góc dưới (hình thái đơn lệch) Lại có trường hợp đốt sống bệnh lý bị dính cả phần trên với đốt sống trên, cả phần dưới với đốt sống dưới (hình thái lệch toàn phần)
Các đốt sống này gọi là các đốt sống bệnh lý và có thể phục hồi được qua thao tác điều trị Nếu rối loạn ít thì có thể phục hồi ngay qua một lần điều trị Nếu rối
loạn nhiều thì có thể phục hồi dần dần trong quá trình điều trị Như vậy, trong quá trình điều trị đốt sống bệnh lý có hình thái lồi sẽ bớt lồi và tiến tới hết lồi; đốt sống có hình thái lệch sẽ bớt lệch và hết lệch; Đốt sống có hình thái lõm sẽ bớt và hết lõm
Điều này chứng tỏ rằng người thầy thuốc khi thao tác trị bệnh tuân thủ đúng các nguyên tắc trị bệnh như: Nguyên tắc định hướng, định lượng, định lực… và các
phương thức, thủ thuật của phương pháp
II.1 Tìm hiểu về cơ
Cơ còn gọi là bắp thịt, là một phần của hệ vận động Mô cơ là một loại mô liên kết trong cơ thể động vật
Mô cơ gồm 3 loại: Mô cơ vân (hay còn gọi là cơ xương), mô cơ tim, mô cơ
trơn
Trang 31CƠ TIM
Chức năng của mô cơ là co dãn, tạo nên sự vận động, tạo nhiệt cho cơ thể, duy
trì các tư thế và làm dịch chuyển các chất…v.v…
Trang 32Hệ cơ vân gồm có hai đầu bám vào xương: Một đầu là nguyên ủy đầu kia là bám tận Cũng có khi một đầu bám vào xương còn đầu kia bám vào da như cơ mặt, cơ
bụng
Dưới sự chỉ đạo của hệ thần kinh, cơ co làm cho xương cử động vì thế còn gọi
cơ này là cơ xương
Bắp cơ gồm nhiều bó cơ, mỗi bó cơ hợp thành từ nhiều sợi cơ Mỗi sợi cơ sẽ gắn với một đầu tận cùng thần kinh và được tạo thành bởi vô số những sợi nhỏ gọi là
tơ cơ Đây chính là các đơn vị co cơ cơ bản Các sợi này xếp chồng lên nhau tạo thành
các vân sáng, vân tối xen kẽ (vì vậy còn gọi là cơ vân)
Trong bắp cơ có nhiều mạch máu và dây thần kinh, chia thành nhiều nhánh
nhỏ đi đến từng sợi cơ Nhờ thế mà cơ tiếp nhận được chất dinh dưỡng, các chất kích thích và các khoáng chất vi lượng khác mà cơ thể cần
II.2 Hoạt động của cơ
Khi các tơ cơ mảnh xâm nhập vào vùng phân bố của các tơ cơ dày sẽ khiến
tơ cơ rút ngắn về chiều dài và phình to tạo nên sự co cơ
II.3 Phương pháp tđcs phân chia các hình thái lớp cơ
Căn cứ vào sự biến đổi của lớp cơ khi các đốt sống tương ứng bị biến đổi, phương pháp TĐCS quan niệm và phân chia các hình thái lớp cơ như sau:
- Lớp cơ thư nhuận (bình thường)
- Lớp cơ co cứng căng như mặt trống
- Lớp cơ sợi
- Lớp cơ teo ngược
II.4 Hình thái lớp cơ
II.4.1 Đặc điểm và hình thái lớp cơ trên các đốt sống không bình thường
Khi đốt sống có hiện tượng bất thường thì lớp cơ trên đầu gai sống cũng thay đổi hình thái khác thường tùy thuộc vào 5 hiện tượng của đốt sống không bình thường, lớp cơ đầu gai sống thể hiện dày cộm hay teo mỏng như sau:
II.4.1.1 Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi
Đầu gai sống lồi cân toàn phần đưa về phía sau bao gồm các hình thái:
Trang 33- Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở
phần trên ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi
đó dày cộm hơn các đốt sống bình thường
- Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở
phần dưới ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi
đó dày cộm hơn các đốt sống bình thường
- Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau
lồi ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dày
cộm hơn các khu vực bình thường
II.4.1.2 Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lõm
Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về phía trước gồm các hình thái:
- Đốt sống lõm cân về phía trước thì lớp cơ ở đầu đốt sống lõm teo mỏng hơn
- Nhiều đốt sống liền nhau lõm
(liên lõm) đưa về phía trước thì lớp cơ
cả khu vực đó đều bị teo mỏng hơn lớp
cơ của khu vực các đốt sống bình
thường
II.4.1.3 Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lệch
Đốt sống lệch là đốt sống không lồi và không lõm, nhưng lệch về một bên phải
(hoặc trái) gồm các hình thái:
- Đầu gai sống lệch cân về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở đốt sống lệch
đó dày cộm hơn khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống đó bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường
Trang 34- Đầu gai sống lệch một bên góc trên về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dày cộm hơn khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của khu vực bình thường
- Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dày cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống đó bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của khu vực bình thường
- Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lệch về một bên phải (hoặc trái) thì lớp
cơ ở khu vực lệch đó dày cộm hơn các khu vực bình thường và lớp cơ bên đối xứng của các đốt sống lệch bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của khu vực bình thường
II.4.1.4 Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi Lệch
Đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm có các hình thái:
- Đầu gai sống lồi ra phía sau và lệch cân về một bên thì lớp cơ bên lồi lệch đó dày cộm hơn các đốt sống của khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường
- Đầu gai sống có một góc trên lồi ra phía sau và lệch về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở góc lồi lệch đó dày cộm hơn các đốt sống của khu vực bình thường và bên đối xứng của đốt sống đó lớp cơ bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường
- Đầu gai sống có một góc dưới
lồi ra phía sau và lệch về một bên phải
(hoặc trái) thì lớp cơ ở góc lồi lệch đó dày
cộm hơn các đốt sống của khu vực bình
thường và bên đối xứng của đốt sống đó
lớp cơ bị khuyết mỏng hơn khu vực bình
thường
- Đầu gai sống của nhiều đốt liền
nhau lồi ra phía sau và lệch (liên lồi lệch)
về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở
khu vực liên lồi lệch đó dày cộm hơn các
đốt sống của khu vực bình thường và lớp
cơ bên đối xứng của các đốt sống đó bị
khuyết mỏng hơn khu vực bình thường
Trang 35- Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch cân về một bên thì lớp cơ đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở khu vực bình thường, đặc biệt phía bên lệch lớp cơ
bị cứng và lớp cơ bên đối xứng bị khuyết lõm
- Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc phần trên ở phía bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ đầu gai sống teo mỏng hơn các lớp cơ của các đốt sống ở khu vực bình thường, ngoài ra lớp cơ phía góc lệch đó bị co cứng và ở bên đối xứng của đốt sống bị khuyết lõm
- Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc phần dưới ở phía bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ đầu gai sống teo mỏng hơn các lớp cơ của các đốt sống ở khu vực bình thường, đặc biệt là phía góc lệch đó lớp cơ bị co cứng mà phía bên đối xứng của đốt sống lớp cơ bị khuyết lõm
- Nhiều đốt liền nhau lõm về phía trước và lệch (liên lõm lệch) về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở bên lệch co cứng mà bên đối xứng của đốt sống, lớp cơ bị khuyết lõm
II.4.1.6 Hình thái lớp cơ dày cộm
Lớp cơ dày cộm ở trên đốt sống không bình thường có các hình thái:
- Hình thái cơ thư nhuận: Khi ấn, miết, vê thấy lớp cơ có vẻ thư nhuận như
những lớp cơ bình thường
- Hình thái cơ cứng: Khi ấn, miết, vê thấy lớp cơ đó bị cứng hơn lớp cơ thư
nhuận
- Hình thái cơ mềm: Khi ấn, miết và vê thấy lớp cơ đó mềm và nát hơn các lớp
cơ thư nhuận bình thường
Tất cả các hình thái lớp cơ này khi miết tay lên đầu gai sống đều thấy có cộm cợn ở dưới Cộm ít là mỏng, cộm nhiều là dày Khi đẩy không chuyển động
II.4.1.7 Hình thái lớp cơ thành sợi
Lớp cơ thành sợi trên đốt sống không bình thường có các hình thái:
sợi như dây thừng, ấn không tan và dai chắc
- Hình thái sợi xơ cứng: Khi miết ta cảm thấy những sợi xơ nhỏ này căng và
cứng, ấn không tan và dai chắc Có trường hợp thể hiện thành đám rộng, hẹp khác nhau, nhưng xếp theo một chiều như ta xếp bó tăm, miết trên lớp cơ này thấy lăn tăn chuyển động
khi miết trên thể này thấy lăn tăn rất nhỏ hình dung như cục tóc rối bám chắc trên đầu gai sống
- Hình thái s ợi dẹt dày to: Khi miết và vê cảm thấy dải dẹt, dai chắc Miết trượt
thấy chuyển động hình dung như một sợi dẹt dài ngắn khác nhau
Trang 36- Hình thái s ợi dẹt mỏng: Khi miết và vê thấy nhiều lớp mỏng co cứng xếp
chồng lên nhau không thành sợi dài, khi miết trượt ta thấy chuyển động và thành lớp lăn tăn co cứng
I.4.1.8 Hình thái lớp cơ teo mỏng
Lớp cơ teo mỏng trên đốt sống không bình thường có các hình thái:
- Hình thái lớp cơ teo mỏng: Khi miết và vê trên đốt sống không bình thường
ta cảm thấy lớp cơ trên đầu gai sống bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống không bình thường Đặt tay lên đầu gai sống chỉ cảm thấy có lớp da mỏng phủ trên đầu gai sống
mà không thấy lớp cơ đệm
- Hình thái lớp cơ khuyết lõm: Khi miết và vê trên đốt sống khuyết lõm ta cảm
thấy như đầu gai sống khuyết đi, mà lớp cơ ở chỗ khuyết đó bị lõm sâu xuống khác thường
- Khi lớp cơ đã thư nhuận bình thường là ổ bệnh đã được giải tỏa nên thao
Trang 37CƠ CO CỨNG PHẢI ĐẮP BỘT CUA ĐỒNG
- L ớp cơ co cứng như mặt trống: Những trường hợp này chỉ có thể làm lớp cơ
thay đổi bằng cách đắp bột cua đồng, phối hợp với thủ thuật mới có thể phục hồi được
sự thư nhuận của lớp cơ
- L ớp cơ co dầy: Gây cảm giác rất đau nhưng khả năng phục hồi rất nhanh có
khi thầy thuốc dùng thủ thuật chỉ một lần điều trị tại trọng điểm đã hết co
- Lớp cơ co mỏng: Phải điều trị lâu dài mới hồi phục được Những lớp cơ này
tương ứng với những bệnh và những ổ bệnh đã có tổn thương thực tế
- Lớp cơ mềm dày: Tương ứng với các dạng nhiễm trùng lao, vì vậy phải kết
hợp dùng thuốc chống lao trong quá trình điều trị mới giải tỏa được
- Lớp cơ mềm mỏng: Không gặp trong trạng thái bệnh lý Mà chính là hậu quả
biến đổi đột ngột của sự tác động quá lực Nếu không điều chỉnh lại sẽ gây ra một sự rối loạn mới Vì vậy gặp trường hợp này thầy thuốc phải lập tức tác động ngay bên đối xứng của trọng tâm để cho lớp cơ mềm mỏng đó được phục hồi ngay
- L ớp cơ xơ sợi: Chỉ gặp trong lớp cơ sâu của các đốt sống bị khuyết lõm, ít gặp
trong các đốt sống lệch và không gặp trong đốt sống lồi Hình thái này chỉ thay đổi khi thầy thuốc đã giải tỏa được các đốt sống lồi hoặc lồi lệch ở phía trên của các đốt sống lõm bệnh lý ấy
- Lớp cơ teo ngược: Chỉ phục hồi khi đã giải tỏa những lớp cơ co cộm ở phía
trên của những chỗ có cơ teo nhược
Trang 38BẢNG TỔNG HỢP HÌNH THÁI LỚP CƠ
(Trên đầu gai đốt sống biến đổi)
Trang 40III NHIỆT ĐỘ DA
Phương pháp TĐCS coi nhiệt độ da các vùng trên cơ thể đều bình thường là biểu hiện của cơ thể khỏe mạnh và nhiệt độ da không bình thường là biểu hiện của
cơ thể đang ở trong tình trạng bệnh lý
Khi cơ thể có bệnh, nhiệt độ da biểu hiện ba trạng thái:
- Cao hơn bình thường
- Thấp hơn bình thường
- Nhiệt độ da rối loạn