1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo Trình Tác Động Cột Sống

156 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Tác Động Cột Sống
Tác giả Nguyễn Đình Thảo
Trường học Nhà Xuất Bản Y Học
Chuyên ngành Phương Pháp Tác Động Cột Sống
Thể loại Tài liệu tham khảo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 5,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp Tác động Cột sống trị bệnh không chỉ quan sát hình thái của cột sống và còn tìm hiểu kĩ càng về sự biến đổi của từng đốt sống nhìn nghiêng và nhìn thẳng. Chẳng hạn khi đi s[r]

Trang 1

NGUYỆN VỌNG & TÂM SỰ (không thuộc mục lục của tài liệu)

1 Tài liệu này đã được ký hợp đồng, chế bản và biên tập tại NXB Y học, là tài liệu tham khảo

lý thuyết Phương pháp Tác động cột sống (có thể phù hợp hơn với người đã theo học Phương pháp) Bạn đọc quan tâm tham khảo, bớt chút thời gian tham gia hiệu đính: chỉnh sửa góp ý và phản hồi để tài liệu sớm được hoàn chỉnh, nội dung đóng góp gồm:

- Sửa lỗi: số trang, số dòng (từ trên xuống/từ dưới lên), lỗi và thay thế

- Góp ý về nội dung và ý kiến liên quan

2 Phương pháp Tác động cột sống có giá trị kiến thức khá đồ sộ, càng quan tâm tìm hiểu càng thấy kiến thức sâu, rộng và độc đáo Vì vậy, để áp dụng Phương pháp đạt hiệu quả, anh chị cần theo các chương trình/ lớp học, cần có các chuyên gia đủ kinh nghiệm hướng dẫn và thực hành

công phu – “không Thầy đố Mày làm nên” , “học Thầy không tày học bạn”

3 Nếu bạn đã nhận được tài liệu, hãy nhắn tin (0918260196 hoặc facebook Thảo Sen Namhoặc Email: sennam.thao@gmail.com ) xác nhận “đã nhận tài liệu TĐCS” Việc này giúp chúng ta có cơ hội giao lưu, trao đổi tốt hơn (nếu bạn quan tâm) trong các chủ đề, tài liệu tiếp theo của tôi Các chủ đề đã và đang thực hiện tiếp:

- Thực hành cơ bản liệu pháp Tác động cột sống (sẽ có các video chia sẻ trực tuyến)

- Phương pháp Tác động cột sống – câu hỏi và đáp án (câu hỏi cơ bản và chuyên sâu)

- Phương pháp Tác động cột sống với sức khỏe TÂM THỂ TRÍ

4 Nếu Bạn chia sẻ tài liệu này cho người khác: Đề nghị hãy chuyển các nguyện vọng của tôi đến họ (tôi không khuyến khích điều này, trừ trường hợp đặc biệt) Rất trân trọng khi bạn thông báo cho tôi theo địa chỉ ở mục 3 về người được bạn cho/chuyển tài liệu

5 Tôi cùng một số Thầy bạn có chung tâm nguyện, sẵn sàng và rất vui mừng nếu được tham gia các buổi, các chương trình hội thảo giới thiệu, hỏi đáp hay chia sẻ kiến thức về Phương pháp Tác động cột sống đến với anh chị – thời lượng và chủ đề dựa theo mục đích và ý nguyện của anh chị …Tôi cũng rất quan tâm đến các bạn đã tham gia các chương trình, các lớp học về Phương pháp Tác động cột sống, nhưng vì lí do nào đó mà chưa hiểu rõ, chưa tự tin

6 Khi làm công việc liên quan đến sức khỏe nói chung và Phương pháp Tác động cột sống nói riêng, giúp tôi có trạng thái thật sự tích cực Tôi nhận thấy lòngtin và tự hào về Thầy tổ

Nguyễn Tham Tán và về Phương pháp Thầy bạn, đồng môn và Quý bạn đọc nếu chưa hài lòng điều gì, kính mong độ lượng và chỉ dạy…

Câu chữ không nói hết tâm nguyện, xin trân trọng cảm ơn và kính chúc Thầy bạn, kính chúc Quý bạn đọc cùng gia đình luôn Hạnh phúc, luôn vui khỏe

Nguyễn Đình Thảo

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

“Phương pháp Tác động cột sống (PP TĐCS) trị bệnh của lương y Nguyễn Tham Tán

có hiệu quả cao nhưng chưa được phổ biến và phát huy hết hiệu quả đáng có trong xã hội Việc phát triển của liệu pháp này đang gặp nhiều trở ngại như tác giả đã thừa nhận Không có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học thật sự có căn cứ

Chưa có cơ sở điều trị nội trú nào chuyên trách chữa bệnh theo PPTĐCS để có điều kiện theo dõi và tổng kết có hệ thống các phác đồ điều trị đã được thực hiện Các thành công bước đầu trong điều trị một số bệnh nan y chưa nhiều về số lượng, còn cần thêm nhiều trường hợp đạt kết quả tốt mới khẳng định được tác dụng thực sự của phương pháp

Chương trình đào tạo cán bộ hiện nay mang tính chất bổ túc ngắn hạn, chủ yếu nặng về thực hành đã ảnh hưởng đến chất lượng của các thầy thuốc được đào tạo Số thầy thuốc tác động cột sống có trình độ cao chưa nhiều là mặt hạn chế đáng kể của tình hình hiện nay

Mặt khác, tác giả chưa công bố các phát hiện mới, các căn cứ khoa học của phương pháp chữa bệnh của mình nên đã hạn chế việc tham gia của các cán bộ khoa học vào nghiên cứu các đề tài khoa học về cột sống

Trong hoàn cảnh một nước nghèo như nước ta, đưa PPTĐCS vào y tế cộng đồng để chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, lợi ích kinh tế và xã hội sẽ hết sức to lớn Tuy nhiên phải đưa các công tác nghiên cứu khoa học lên một trình độ mới, đi đôi với việc đào tạo cán bộ

ở trình độ cao hơn mới phát huy được tác dụng thiết thực

Qua lần tổng kết này có thể thấy hướng đi thích hợp để bảo tồn và phát triển PPTĐCS Việt Nam, đồng thời cần tạo các điều kiện thuận lợi cho PPTĐCS phát triển lên tầm cao mới, ở phạm vi rộng hơn”

Đáng tiếc là văn bản gốc các bài giảng về PPTĐCS do Thầy tổ Nguyễn Tham Tán truyền dạy chưa được sưu tầm đầy đủ Các tài liệu giảng dạy hiện thời về Phương pháp Tác động cột sống chủ yếu do các học sinh của Thầy Tán soạn thảo, có thể liệt kê một số văn bản chính như sau:

(1) “Bài giảng Tác động cột sống”, Tập I, gồm 127 trang, HVYDH Cổ Truyền Việt Nam – Chủ biên PGS TS Trương Việt Bình (NXB Y Học – 2010)

(2) “Tài liệu Hướng dẫn phổ cập Phương pháp Tác động cột sống của Lương Y Nguyễn Tham Tán”, Phần I Đại Cương, gồm 76 trang, Tài liệu lưu hành nội bộ của Trung tâm nghiên cứu và phát triển Phương pháp Tác động cột sống - Tháng

4 năm 2013

Trang 3

(3) “Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam”, gồm 59 trang của Hội Tác động cột sống Hà Nội

(4) “Cẩm nang về Phương pháp Tác động cột sống” , gồm 177 trang, tháng 6/2002, biên soạn Bùi Đức Cương

(5) “Phương pháp Tác động cột sống” tập I , gồm 142 trang, biên soạn Lương y Nguyễn Xuân Trang

(6) “Phương pháp Tác động Đầu và cột sống”, gồm 189 trang, 2001, biên soạn Công Kim Thắng

(7) “Chữa bệnh bằng Phương pháp Tác động cột sống”, gồm 64 trang, tháng 12/2001, biên soạn Đỗ Đình Thi…

Các tài liệu trên có chung kiến thức cơ sở là tài liệu “Bài giảng Phương pháp Tác động cột sống” , 1991, Giáo trình dùng trong nhà trường của và tài liệu “Các phương thức chẩn bệnh

và trị bệnh” , 1998, tác giả - Nguyễn Tham Tán Tùy theo từng quan điểm, công phu biên soạn

và tài liệu tham khảo mà mỗi tài liệu có những ưu điểm riêng tuy nhiên có một số nội dung chưa nhất quán … cụ thể một số nội dung chính chưa thống nhất là:

- Thủ thuật miết: Hầu hết các tài liệu có đề cập đến thủ thuật miết nhưng tại nội dung các thủ thuật không có nội dung của thủ thuật miết

- Nguyên tắc thăm dò tiên lượng: Hầu hết các tài liệu đề đề cập đến vai trò tiên lượng của Phương pháp Tác động cột sống, nhưng ở phần nội dung của các nguyên tắc chẩn bệnh không có nội dung của nguyên tắc này

- Phương thức đối nhiệt: Hầu hết các tài liệu đều đề cập đến tầm quan trọng và vai trò của nhiệt độ, tuy nhiên rất ít tài liệu đưa ra phương thức chẩn bệnh cụ thể liên quan đến nhiệt độ da và trọng điểm…

Trên cơ sở tham khảo trọn lọc, kế thừa và tổng kết các tài liệu hiện có chúng tôi soạn thảo cuốn sách này với tham vọng cung cấp cho các bạn đọc quan tâm những kiến thức cơ bản nhất

về Phương pháp Tác động cột sống của cố lương y Nguyễn Tham Tán

Phần “Giới thiệu về Tác giả và Phương pháp” được trích từ bài giới thiệu của chuyên gia Bùi Đức Cương trong cuốn cuốn “Cẩm nang về Phương pháp Tác động cột sống”

Bác Cương SN 1928, là một trong những học trò xuất sắc của Thầy tổ Nguyễn Tham Tán Bác Cương theo Thầy từ năm 1979 để được Thầy chữa bệnh, khỏi bệnh bác xin được theo Thầy học nghề Năm 1994, Thầy Tán mở Trung tâm Tác động cột sống, Bác

Trang 4

Cương được bổ nhiệm là một trong hai Phó giám đốc – Bác lại tiếp tục theo học Thầy, vừa học vừa hành vừa làm trợ lý cho Thầy đến khi Thầy đi xa

Phần Nội dung của Phương pháp Tác Động Cột Sống, chúng tôi biên soạn gồm: (1) Biên soạn từ tài liệu gốc: Tài liệu “Bài giảng Phương pháp Tác động cột sống” – Giáo trình dùng trong nhà trường, phát hành tháng 9/ 1991 của Trường Y học Dân tộc Tuệ Tĩnh và Tài liệu “Các phương thức chẩn và trị bệnh” của Lương y Nguyễn Tham Tán – tháng 10/1998, gồm:

- Nội dung 4 đặc trưng và thể loại;

- Nội dung 9 thủ thuật chẩn và trị bệnh;

- Nội dung 8 nguyên tắc chẩn và trị bệnh;

- Nội dung 8 phương thức trị bệnh cùng 66 tư thế

(2) Phần bổ sung: Được biên soạn trên cơ sở tham khảo và chọn lọc từ các các tài liệu Nội

dung bổ sung gồm : Nguyên tắc thăm dò tiên lượng; Thủ thuật miết; Phương thức đối

nhiệt

(3) Các phụ lục tham khảo: - Mối liên quan giữa đốt sống và nội tạng;- Điều nhiệt với các đốt sống liên quan; Cắt cơn đau cơ năng; Thể loại lớp cơ – các lưu ý và bệnh chứng; Mối liên quan giữa nhiệt độ và bệnh chứng; Các đề tài đã được nghiên cứu…

Ghi chú: Trong số tài liệu tham khảo, có một số tài liệu ký hiệu đốt sống lưng (12 đốt) là

D trong khi một số tài liệu khác ký hiệu là T, chúng tôi không thay đổi ký hiệu, vì vậy ký hiệu D

và T trong tài liệu này cùng đại diện cho đốt sống lưng

Chúng tôi đã nỗ lực sưu tầm, tìm hiểu và so sánh đối chiếu, mong tài liệu đến với Quý bạn đọc một cách chất lượng - đáng tin và hiệu quả cao nhất, nhưng do lượng tài liệu để tham khảo phát hành nhiều, đa dạng từ nhiều nguồn, và cũng như kiến thức và thời gian có giới hạn… nên chắc chắn không thể tránh được những thiếu sót Kính mong được Quý bạn đọc lượng thứ và đóng góp - chỉnh sửa, bổ sung để nội dung tài liệu về Phương pháp được ngày một phát triển

và hoàn thiện, ứng dụng được hiệu quả trong việc nâng cao sức khỏe cộng đồng, theo đúng mong muốn của Tác giả - Thầy Nguyễn Tham Tán

Trân trọng cảm ơn

Nguyễn Đình Thảo

Trang 5

PHẦN TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP Bài 1 GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP

“Nguồn gốc của Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam

Lương y Nguyễn Tham Tán sinh năm 1915 ở xã Hoàng Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Là thầy thuốc Đông y, Thầy rất coi trọng những bài thuốc quý trong dân gian Trong nhiều năm, Thầy để nhiều tâm lực trèo lên núi cao, rừng sâu tìm hiểu các loại thuốc quý để chữa bệnh

Những năm đi tìm thuốc, Thầy thấy các cụ cao tuổi hay dùng vôi tôi, hoặc lấy lá cây trà xát lên cột sống người bệnh Khi cột sống có những vết đỏ, các cụ dùng bột hoặc lá thuốc hay cua đồng giã ra đắp vào những vết đỏ, có khi đun sôi thuốc lá để xông cho người bệnh Chỉ có thế

mà khỏi bệnh

Sự việc trên làm Thầy suy nghĩ : Tại sao cột sống lại chữa được bệnh? Tại sao Đông - Tây y lại không chữa vào cột sống? Sách Nội Kinh ghi: “Tủy sống không sờ thấy, không trông thấy nên không thể chữa được bệnh” Còn Tây y chỉ chữa được một số rất ít bệnh của cột sống Nhưng không chữa được các bệnh nội tạng Phải chăng đây là một khe hở mà Đông – Tây y chưa đi sâu nghiên cứu, ta nên nghiên cứu thử xem? Thầy nghĩ “Cột sống là một thực thể, là một hiện tượng sinh lý, mà đã là hiện tượng sinh lý thì tất yếu phải có hiện tượng bệnh lý?”

Từ đây, Thầy bỏ tìm thuốc, quyết tâm đi sâu vào cột sống Thầy đã nghiên cứu các sách về cơ thể học, sách Tây y, Đông y, châm cứu, bấm huyệt v.v

Khi Thầy là Chủ tịch UBND xã, đánh bóng chuyền bị ngã, đau lưng, chữa mãi chẳng khỏi Một hôm bạn bẻ bão cho Thế là khỏi đau lưng Lần khác, Thầy bị kiết lỵ, uống thuốc mãi không khỏi, lại nhờ bạn bẻ bão cho – bệnh khỏi Thầy càng thấy rõ cột sống liên quan đến bệnh tật Lần lượt Thầy mua 9 con khỉ, mổ từng con để xem cấu tạo cột sống của chúng? Đặc biệt thầy rất coi trọng việc tìm hiểu cột sống của nhiều người bệnh xem có những biến đổi bất thường Thầy ghi lại các hiện tượng của từng bệnh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp lại thành từng bệnh và tìm cách chữa bệnh trên cột sống Thầy tìm hiểu những người mới chết xem cột sống ra sao? Bệnh đầu tiên tìm chữa là bệnh đau bụng Hễ trong gia đình hoặc họ hàng hay người trong làng trong xã, hễ ai đau bụng là Thầy đến khám và đã chữa khỏi bệnh

Trang 6

Cho đến nay, một số người vẫn còn nghi hoặc? Có phải thầy đã tìm ra phương pháp tác động cột sống này hay không? Có thể do một người nào đó đã dạy Thầy? Một người có học vấn như Thầy làm gì có khả năng nghiên cứu ra nhiều vấn đề hóc búa như nội dung của phương pháp? Hoặc có người cho rằng Thầy xem sách báo phương Tây để áp dụng? Sự thật khi Thầy nghiên cứu Phương pháp Tác động cột sống là trong thời kỳ kháng chiến ác liệt, làm gì có sách báo

mà nghiên cứu, nơi thôn xã đã làm gì có phương tiện để học hỏi

Đến năm 2000, Thầy đã có hơn 300 học trò Nhưng chưa có ai đóng góp gì cho phương pháp Chính lương y Nguyễn Tham Tán đã tự mình nghiên cứu, đúc kết lại và sáng tạo ra phương pháp chữa bệnh kỳ diệu này Nó khác hẳn với các trường phái khác của chữa bệnh ở Việt Nam

và trên thế giới Tôi cũng như nhiều người đã thấy: Thầy Tán rất thông minh, học đâu nhớ đó Trước ngày đi sâu vào cột sống Thầy có nhiều sáng tạo Làm được máy gieo hạt được tỉnh Phú Thọ khen thưởng Thầy lại biết phân tích, tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm, vừa làm, vừa học Đặc biệt là do có quyết tâm cao, đã tìm được bệnh, nên Thầy kiên trì, nhẫn nại, say sưa, ngày đêm quên ăn, quên ngủ tìm cho được cách chữa bệnh có hiệu quả nhất

Thực vậy, xuất phát từ những kinh nghiệm cổ truyền dân tộc và trên nhiều cột sống của người bệnh, lương y Nguyễn Tham Tán đã nhận thức được những đặc điểm của hệ cột sống liên quan đến sinh lý và bệnh lý của cơ thể Biểu hiện bằng những biến đổi tăng và giảm ở trên đầu gai sống và ở ngoại vi Từ đó xây dựng thành phương pháp chẩn và trị bệnh trên cơ sở xác định sự biến đổi của hệ cột sống để quy nạp, chẩn đoán bệnh và tái lập sự cân bằng các thủ thuật rung phần mềm đầu ngón tay tác động tại trọng điểm trên hệ cột sống, sau đó dán cao, đắp bột trên những điểm đã chữa, không dùng dụng cụ, không đưa thuốc trực tiếp vào cơ thể

Công trình của lương y Nguyễn Tham Tán là một công trình đồ sộ, độc đáo, khác hẳn với các trường phái chữa bệnh khác Thầy đã có gần 500 bài thuốc chữa trị các loại bệnh thuộc các hệ trong cơ thể 54 đề tài có thể làm luận chứng khoa học, xác định hiệu quả của phương pháp Nội dung của phương pháp tác động cột sống thật là phong phú gồm có: Các nguyên tắc, các thủ thuật, các phương thức và các tư thế chẩn trị bệnh hoàn hảo

Thầy đã nói ở bệnh viện Vĩnh Phúc: “Tôi vô sư, vô sách, không được Thầy nào dạy dỗ, không

có kinh nghiệm gia truyền, không dựa vào sách vở Tôi tự tìm tòi, nghiên cứu những kinh nghiệm cổ truyền dân tộc và trên hàng trăm cột sống của người bệnh mà sáng tạo thành Phương pháp Tác động cột sống”

Trang 7

Hiệu quả của Phương pháp Tác động cột sống

Rất tiếc là Thầy không còn có sổ ghi cảm tưởng của người bệnh Chỉ xin nêu một số rất ít bệnh điển hình, chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót đối với hiệu quả của phương pháp

Năm 1947, Thầy bắt đầu chữa bệnh bằng Phương pháp Tác động cột sống Vài năm đầu, chữa bệnh trong gia đình Bệnh nhân đến chữa rất đông, nhiều người khỏi bệnh Sau UBND xã Hoàng Xá mời Thầy ra chữa bệnh ở trạm xá xã Các tỉnh đến chữa phải có giấy giới thiệu của bệnh viện huyện

Một số cán bộ cấp cao được Thầy chữa khỏi đã góp ý: “Cụ nên chữa những bệnh nhân mà bệnh viện Tây y đã chữa, nhưng không khỏi để Thanh tra y tế tỉnh về kiểm tra thì tốt hơn.” Thầy đã lấy 5 bệnh nhân mắc bệnh tim đã chữa ở các bệnh viện Tây y, nhưng chưa khỏi Có người suy tim, tim to, ngoại tâm thu, xơ cứng động mạch vành, huyết áp cao, huyết áp thấp, nhịp tim nhanh v.v… Số bệnh nhân này đều được các bệnh viện xét nghiệm chiếu, chụp đầy đủ Thầy chữa 5 bệnh nhân này khỏi hẳn Cả 5 người đã đến các bệnh viện cũ để chiếu chụp lại, các bệnh viện đã xác nhận không còn bệnh tim nữa

Ban thanh tra y tế Tỉnh Vĩnh Phú đến để kiểm tra do ông Trưởng Ti y tế tỉnh làm trưởng đoàn Lúc đầu Thầy đưa ra 4 hồ sơ có đầy đủ các xét nghiệm Xem xong ông trưởng ban phát biểu: “Bệnh tim là bệnh khó chữa, dùng các ngón tay chữa trên cột sống thì khỏi hẳn thế nào được Có thể các bệnh viện trước đã đoán sai” Cuối cùng Thầy đưa ra bệnh án do chính ông thanh tra này khi còn làm giám đốc bệnh viện tỉnh khám, ông cười nói: “Có thể lúc đó tôi đã khám sai”

Tức quá, Thầy định đem tất cả tài liệu đã nghiên cứu đốt sạch May thay nhờ có cụ bà Đặng Thị Loan đã khuyên giải Thầy, Thầy đã nguôi ngoai Thầy nghĩ: “Đã thế ta phải chữa các bệnh nhân mà ai cũng biết – Đó là những bệnh câm, liệt”

Số bệnh nhân câm, liệt có lúc đông tới hơn 40 người Thầy đã chữa câm cho em gái của cố Tổng bí thư Trường Trinh khỏi bệnh Một bà ở Sơn Tây có 2 con gái câm đến chữa Hết gạo bà

về lấy gạo Đến cổng nhà Thầy, con gái chạy ra gọi mẹ: “Mẹ ơi”, đột ngột quá bà mẹ ngất đi, tỉnh lại bà nói “Nuôi con 18 năm nay lần đầu tiên nghe cháu mới nói được”

Chú Tạ Văn Lý ở huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú bị liệt, hai chân teo co lại Từ nhỏ chỉ ngồi và

lê bằng hai bàn tay, đi học phải nhờ các bạn thay nhau cõng Năm chú chữa bệnh đã 13 tuổi Thầy chữa 6 tháng chú Lý đứng lên đi lại bình thường Về làng người làng nô nức ra đón người liệt đã đi lại bình thường Gia đình làm 12 mâm cỗ ăn mừng, đón Thầy về, ai cũng muốn

Trang 8

nhìn thấy đôi bàn tay vàng của Thầy Đến tuổi nhập ngũ chú Lý nặng 60 cân, nhập ngũ 3 năm trở về lấy vợ sinh 3 cháu đều khỏe mạnh Chú Lý xin Thầy được làm con nuôi

Bác sĩ Thùy Linh ở Bệnh viện Hữu Nghị bị bệnh tâm thần phân liệt Có lúc cởi truồng chạy ra ngoài phố, Thầy đã chữa khỏi Bác sĩ trở lại công tác, vài năm sau, bác sĩ Thùy Linh cho biết

đã có 3 đề tài nghiên cứu khoa học, được hội đồng khoa học của bệnh viện khen thưởng

Năm 1972, giặc Mỹ bắn phá ác liệt khắp nơi, thế mà có lúc hơn 200 người đến chữa bệnh Họ

đi lại lung tung, Bộ công an cử 6 cán bộ giả làm bệnh nhân đến kiểm tra, 6 đồng chí này có bệnh gì Thầy đều chữa khỏi Sau đó một số thứ trưởng Bộ Công an và gia đình con cháu đã đến chữa khỏi nhiều bệnh, nên chính các Thủ trưởng bộ đã đề nghị lên cố Tổng bí thư Trường Trinh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cố Bộ trưởng y tế Vũ Văn Cẩn mời Thầy về Hà Nội chữa bệnh

Về Hà Nội, Thầy vào chữa bệnh ở Bộ tư lệnh Thông tin được 3 năm Nhiều bệnh nhân trung cao dân sự và quân sự được Thầy chữa khỏi bệnh

Bà An là vợ một thứ trưởng Bộ Công an bị suy tim, tim to huyết áp cao, suy động mạnh vành, ngoại tâm thu Chữa khắp nơi không khỏi Bà định nghỉ hưu Lúc Thầy chữa bà mới là đại úy Chữa khỏi bệnh bà tiếp tục công tác cho đến khi nghỉ hưu là đại tá công an…

Thầy đã chữa cho cố Đại tướng Hoàng Văn Thái, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam bị liệt một cánh tay Chữa ở các bệnh viện Hà Nội không khỏi, phải sang Cộng hòa Dân chủ Đức chữa 6 tháng cũng không khỏi Thầy chữa bệnh Đại tướng đã đánh bóng bàn được

Ông Nguyễn Đức Thuận cố Chủ tịch Hội Liên hiệp Công đoàn Việt Nam giới thiệu 1 cán bộ cấp cao Liên Xô sang giúp ta xây dựng Cung văn hóa Hữu nghị Ông này bị một mắt đã 17 năm không nhắm được Mắt cứ mở trừng trừng kể cả lúc bão tuyết làm rất rát mắt, chữa khắp nơi ở Liên Xô không khỏi Ông cho biết: “Nếu cụ không chữa khỏi cho tôi thì vợ tôi sẽ bỏ tôi,

có lần đang ngủ, cô thức dậy thấy mắt tôi cứ mở trừng trừng, cô ấy giật mình khóc thét lên” Thầy chữa một thời gian ngắn ông nhắm mắt bình thường

Thầy chữa bệnh cho bà Cúc - vợ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng Bà Cúc bị bệnh tâm thần cả ngày chỉ vuốt áo, không phân biệt được người thân Đại tiện táo bón phải chịu đau đớn, lăn lộn trên giường rất khổ sở Thầy chữa cho bà ổn định tinh thần khỏi táo bón Bà đã biết được người thân, còn biết hát cả một số bài ca hồi trước cách mạng Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mời cơm Thầy và một tiến sĩ y học Thủ tướng rất ca ngợi Phương pháp Tác động cột sống Thủ Tướng nói: “Bác đã chữa khỏi bệnh cho nhiều cán bộ cách mạng, tức là bác đã cứu cách

Trang 9

mạng” Ông tiến sĩ y học góp ý: “Bác nói rõ thêm nguyên nhân vì sao tác động cột sống lại chữa được bệnh” Thủ Tướng trả lời ngay: “Chúng ta đang dùng điện cho các ngành khoa học Đến nay vẫn chưa tìm ra bản chất của điện Nhưng ta vẫn dùng điện rất tốt” Lúc ra về thư ký riêng của Thủ tướng nói: “Chưa bao giờ Thủ tướng mời cơm và nói chuyện với bác lâu đến thế – 1giờ 15 phút”

Ở khách sạn Đường Thành, Thầy chữa bệnh nhân bị di tinh – tinh trùng tự động thoát ra liên tục, chưa nơi nào chữa được Bệnh nhân xanh sao không học hành được Thầy chữa khỏi anh này ra nước ngoài học tập, đỗ đạt cao Một chị phục vụ khách sạn đã ngoài 20 tuổi, bị bệnh đái dầm chữa nhiều nơi không khỏi, cô không dám lấy chồng Thầy chữa khỏi bệnh cô lấy chồng sinh con Thầy chữa khỏi bệnh cao huyết áp cho Trung tướng Nguyễn Hùng Phong – Chính ủy Quân khu 1 Đã gần 20 năm bệnh không tái phát Năm 1978 Thầy được về Bệnh viện Bạch Mai làm nghiên cứu chuyên đề, xác minh hiệu quả tại Khoa Y học dân tộc Thầy nhận chữa bệnh “viêm cột sống dính khớp” do giáo sư Đặng Văn Trung Chủ nhiệm Khoa nội chủ trì Viêm cột sống dính khớp là bệnh nan y, các bác sỹ quen thân với Thầy khuyên Thầy nên chọn đề tài khác, vì bệnh này thế giới đã chịu, nếu Thầy không thành công thì còn đâu là sự nghiệp Nhưng Thầy cảm ơn và tin rằng Thầy sẽ chữa khỏi Kết quả Thầy chữa khỏi viêm cột sống dính khớp đạt kết quả trên 90% Thầy thành công tiếp trong đề án nghiên cứu bệnh “viêm thần kinh tọa” đạt trên 90%

Thầy chữa khỏi bệnh rối loạn thần kinh thực vật cho giáo sư tiến sĩ Vũ Tuyên Hoàng – Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật đã gần 20 năm nay không tái phát

Thầy làm đề tài nghiên cứu chuyên đề với Viện Sinh lý-Hóa sinh do Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Tài Lương – Viện trưởng chủ trì đề tài “Phục hồi nguồn sữa mẹ”, kết quả đạt trên 90% Điều đặc biệt là: Khi vắt sữa của các bà mẹ đủ sữa thì hằng số sinh lý của Glucide là 7%, Lipide là 1,5% và Protit là 0,5% Còn sữa của các bà mẹ thiếu sữa, các hằng số sinh lý đều cao hoặc thấp hơn Những bà thiếu sữa được Thầy chữa có sữa rồi thì hằng số sinh lý lại trở về bình thường Giáo sư Nguyễn Tài Lương đã làm một báo cáo kết quả 25 trang gửi lên Ban Khoa giáo Trung ương

Bắc sĩ Nguyễn Thị Hải lúc đó đã 42 tuổi, Trưởng phòng Y tế Trường Cán bộ Y tế của Bộ Y tế, chửa 6 lần, cả 6 lần thai đều bị chết lưu Thầy chữa cho cả hai vợ chồng đã có hiện tượng suy sinh dục Chữa 6 tháng bác sĩ Hải thụ thai Chữa liên tục đến khi đẻ Thầy kết hợp với Khoa Sản Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện C để theo dõi kết quả Cháu Nguyễn Ngọc Châu sinh ra rất thông minh và khỏe mạnh Lúc đẻ cháu cả khoa sản tới thăm Họ rất ngạc nhiên vì Khoa Sản đã tiêm thuốc cho các bà mẹ có thai chết lưu, khi đẻ ra các cháu này đều bị khuyết tật, riêng cháu Ngọc Châu lại khỏe mạnh bình thường, hiện cháu đang học tại Nhạc viện Hà Nội

Trang 10

Một bênh nhân nam đã hơn 30 tuổi bị liệt dương, dương vật bị thụt hẳn vào trong, không lấy được vợ Thầy chữa dương vật trở lại bình thường, chú này đã lấy vợ sinh con Ông Tiến, cán

bộ Phủ Thủ tướng, bị liệt dương đã lâu Ông đến yêu cầu Thầy chữa vì sau một tháng ông sẽ cưới vợ Thầy chữa khỏi ông sinh liên tiếp 2 cháu trai

Thầy chữa nhiều trường hợp vợ chồng lấy nhau hàng chục năm không có con Chú Tâm đại úy phi công và cô vợ là giáo viên xinh xắn nhưng không có con Bố mẹ chồng bắt đại úy phải bỏ

vợ, cho rằng cô này không đẻ được Thầy chữa khỏi cô giáo có 2 cháu gái khỏe mạnh

Thầy chữa bệnh suy tủy Thông thường cả 3 dòng máu đều thiếu hụt Đông y chịu, Tây y chỉ còn duy nhất một cách là tiếp máu tươi, nhưng đến một chừng mực nào cơ thể không tiếp thu được bệnh nhân chết đau đớn vô cùng Thầy đã yêu cầu phải kết hợp với Tây y cho tiếp máu Các cháu ở Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Nhi ra chữa Thầy Nhiều cháu ở các tỉnh cả 3 miền đều chữa khỏi bệnh

Một điển hình là cụ Nguyễn Thị Kiệm năm nay hơn 80 tuổi ở 70 Hàng Chiếu Hà Nội Khi cụ hơn 60 thì bị suy tủy Vào Bệnh viện CuBa lúc đó có 9 người suy tủy Riêng cụ Kiệm ra chữa Thầy, cụ Kiệm khỏi bệnh gần 20 năm nay không tái phát, còn 8 người kia đã vĩnh viễn ra đi ở Bệnh viện CuBa

Chú Tạ Văn Lý - bị liệt giới thiệu em họ là Trần Văn Tiến xã Yên Động, huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú bị suy tủy chữa các nơi không khỏi Thầy đã chữa khỏi bệnh chú Tiến khỏe mạnh lấy vợ có con hơn chục năm nay bệnh không tái phát

Một trung tá quân đội ở Vĩnh Phú thoái hóa đốt sống cổ, tay chân bị liệt, Bệnh viện 103 hẹn

mổ nhưng phải chờ, chú Tạ Văn Lý ở Vĩnh Lạc giới thiệu đến Thầy Đến phải có người dìu Thầy chữa 20 hôm khỏi bệnh Ông trung tá đến 103, các bác sĩ báo vào mổ ông ấy chạy nhẩy vung chân tay tại chỗ Hỏi chữa ai? Chữa cụ Tán Mọi người đã biết cụ nên rất hoan nghênh Một nữ bệnh nhân ngoài 20 tuổi bị to bụng như người có thai 4 – 5 tháng, cả nhà lo sợ Bệnh viện Bạch Mai mời Thầy cùng đến chẩn đoán Bác sĩ khám nhưng không thấy tim thai nên không kết luận được Thầy khám và cho rằng: “Đây là bệnh chửa giả, tôi nhận chữa” Thầy chữa bụng nhỏ lại bình thường

Thầy chữa được nhiều bệnh ung thư, nhưng Thầy yêu cầu không tuyên truyền Vì nói ra sẽ sinh rắc rối nên Thầy bảo: “Chúng ta cứ chữa, bệnh nhân sẽ tuyên truyền cho chúng ta.”

Chính tôi đã giới thiệu cô Hà Nhi công nhân hưu trí ở số nhà 307 K1 tập thể In Tiến Bộ bị ung thư Amidan Cô ấy chữa ở bệnh viện K nhưng không nói được, không ăn được, ngồi chờ chết ở

Trang 11

nhà Tôi đã đưa vợ chồng cô chú ấy đến, Thầy chữa bệnh đã khỏi Cô đến bệnh viện khám lại không còn bị ung thư nữa Đã hơn chục năm nay cô vẫn còn sống

Một cháu ở Thanh Hóa bị ung thư Amindan đang chữa ở bệnh viện K Cháu không ăn không uống, không nói được Bác sỹ bệnh viện gọi mẹ cháu vào báo cho biết là bệnh viện không còn khả năng chữa cho cháu Bác phải cho cháu về ngay hôm nay Nếu không đi ngay thì cháu sẽ chết ở dọc đường Mẹ con sợ quá đến nhờ Thầy Chữa 12 lần, cháu lại bình thường, khám ở bệnh viện K không thấy ung thư Amidan nữa

Tôi giới thiệu một bệnh nhân có giấy nhập viện của bệnh viện K đề là: “K vú ngày mai vào mổ” Thầy đã chữa khỏi bệnh – Cô Nguyễn Thị Nhân hiện đã sống hơn 10 năm khỏe mạnh, bệnh không tái phát, cô ở ngõ Lương Sử A, số nhà 33, phố Quốc Tử Giám

Ông nguyễn Văn Hồng, nguyên trưởng phòng tổng hợp Bộ GTVT, đi bệnh viện Hữu Nghị khám chẩn đoán là ung thư trung thất phổi, được điều trị nhưng bệnh càng nặng thêm Hồi đó, Bộ trưởng Y tế là Phạm Song, lúc đó là giám đốc bệnh viện đã nói với ông Hồng: “Anh bị bệnh này, nhưng anh có tiền sử bệnh gan nên không uống được thuốc Rephamicine, vì vậy bệnh viện không có cách gì giúp anh Anh nên về nghỉ tại nhà thôi” Ông Hồng thất vọng, ông đã đến nhờ Thầy chữa, Thầy chữa khoảng gần 2 năm, đi khám lại chỗ ung thư chỉ còn lại một điểm nhỏ Ông Hồng được Bộ cho nghỉ ở nhà chữa bệnh, dần dần ông khỏe ra, ông xin đi làm nửa ngày, sau ông xin đi làm cả ngày cho đến khi về hưu Ông còn sống được 12 năm, bệnh ung thư không tái phát Ông Hồng đã mất vì một bệnh khác

Từ 1981 đến 1985, ở Bệnh viện Bạch Mai , Thầy đã chữa 847 bệnh nhân với 23 loại bệnh thuộc các hệ tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, nội tiết, tiêu hóa, sinh dục, đau cơ năng và các bệnh cơ xương khớp Kết quả tốt và khá từ 87 đến 90%

Thầy vào trường Y học Cổ truyền Tuệ Tĩnh từ năm 1981 làm chủ nhiệm khoa Tác động cột sống Nhà trường tổ chức được 11 khóa học đào tạo về Phương pháp tác động cột sống Riêng

Bộ Công an đã có nhiều Y bác sỹ ở các Trung tâm Y tế tỉnh về dự Chất lượng các khóa đều đạt loại khá và giỏi Các học viên đều say sưa học tập Cục Y tế và Giám đốc bệnh viện Y học dân tộc Cổ truyền Bộ Công an đã mời Thầy dạy hai khóa Tổng cộng là 13 khóa có hơn 300 học viên Trong gia đình Thầy đã có 5 lớp hơn 40 học viên Trong thời gian ở trường, Thầy cũng chữa được bệnh cho nhiều bệnh nhân

Thầy chữa cho bà vợ ông A-Li-Da-Đê, Bí thư thứ nhất Đại sứ qán Liên Xô, bà nặng 103 kg, đi lại khó khăn, Thầy chữa rút xuống được 12,5 kg Bà còn bị vỡ kế hoạch, có thai, Thầy đã điều hòa kinh nguyệt cho nên được bình thường

Trang 12

Thầy được mời sang chữa bệnh ở Mát-Xcơ–Va 2 lần, có thêm 3 cộng sự cùng đi, trong 3 tháng, chữa được 210 bệnh nhân Kết quả đạt loại khá và tốt 91,5 % Có bệnh nhân liệt dương, hai vợ chồng cùng chữa, hôm sau, bà vợ đến chữa đã nói ngay: “Bác sỹ Việt Nam tuyệt vời, tuyệt vời” Một bệnh nhân nặng 82 kg, chữa giảm được 17 kg Viện Thần kinh trung ương Pi- Gô-Rốp đã ký 3 hợp đồng với Thầy, mời sang chữa bệnh, nhưng vì bất ổn chính trị phải ngừng lại

Xưởng phim tài liệu Trung ương quay một cuốn phim tài liệu nói về Thầy đang thực hành chữa bệnh Các đài phát thanh, truyền hình, đài tiếng nói Việt nam, tiếng nói đêm khuya phát đi nhiều bài tiếng nước ngoài tuyên truyền ở trong nước và nước ngoài Các báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Tiền phong, Phụ nữ Hà nội, Khoa học và đời sống, Hà nội mới, Công an Nhân dân, Báo công giáo… đã nhiều lần ca ngợi Phương pháp “Tác động cột sống”

Từ lâu, Thầy đã có mong ước: “Thuốc Nam ta có một số bài thuốc hay, nhưng không có phương pháp chẩn bệnh, nên việc chẩn bệnh phải nhờ vào Đông y Tôi muốn để lại cho Dân tộc ta một phương pháp chữa bệnh mới - có cả chẩn và trị bệnh, nhưng tôi cũng mới chỉ là người lính chiến Rất mong các nhà khoa học, dùng ánh sáng khoa học để chứng minh hiệu quả và xây dựng phương pháp Tác động cột sống trở thành một nền Y học cột sống Việt Nam hiện đại, kết hợp hai nền y học Đông Y và Tây Y để tạo ra một chất mới, chữa trị cho Nhân dân ta ngày càng mạnh khỏe để Xây dựng và bảo vệ Đất nước ta ngày càng phồn vinh và hạnh phúc.”

Trang 13

Bài 2 TIẾP CẬN TỐNG QUAN PHƯƠNG PHÁP

Phương pháp tác động Cột sống tiếp cận người bệnh thông qua bốn yếu tố gồm: CỘT SỐNG, LỚP CƠ, NHIỆT ĐỘ, CẢM GIÁC và được gọi là bốn ĐẶC TRƯNG Người khỏe mạnh bình thường, bốn yếu tố trên được gọi là các đặc trưng SINH LÍ, còn đối với người bệnh, bốn yếu tố trên được gọi là các đặc trưng BỆNH LÝ Hội tụ của bốn đặc trưng bệnh lý được Phương pháp quy định là TRỌNG ĐIỂM Trọng điểm nằm trên đầu gai sau của cột sống, việc xác định đúng Trọng điểm (khám bệnh) có vai trò chi phối quyết định sự thành công của việc trị liệu Giải tỏa Trọng điểm (chữa bệnh) có nghĩa là đưa bốn đặc trưng BỆNH LÝ trở về SINH LÝ giúp cơ thể người bệnh tự điều chỉnh cân bằng và khỏe mạnh

Công cụ chủ yếu và quan trọng của Phương pháp là ĐÔI BÀN TAY của Người chuyên gia, lấy NHU THUẬT là chủ đạo Đôi bàn tay đủ năng lực để cứu giúp người bệnh phải là đôi bàn tay hội tụ đầy đủ các yếu tố AN TOÀN, KHÉO LÉO hay nói cách khác đôi bàn tay phải là sứ giả của TRÁI TIM và KHỐI ÓC của người Thầy Chữa tâm huyết – Của người chuyên gia có đủ KIẾN THỨC – KỸ NĂNG và THÁI ĐỘ tích cực

Thao tác của đôi tay trị liệu được Phương pháp quy định gọi là THỦ THUẬT Có năm (5) thủ thuật khám bệnh (ÁP, VUỐT, ẤN, VÊ, MIẾT) và sáu (6) thủ thuật trị bệnh (ĐẨY, XOAY, BẬT, RUNG, BỈ, LÁCH) Để liệu pháp đạt được HIỆU QUẢ, AN TOÀN, Phương pháp được xây dựng trên cơ sở một hệ thống các NGUYÊN TẮC và PHƯƠNG THỨC trong chẩn và trị bệnh Ngoài việc khám và chữa bệnh, Phương pháp còn có giá trị trong việc PHÒNG BỆNH, TIÊN LƯỢNG BỆNH trên cơ sở đó giúp Người chuyên gia của Phương pháp đưa ra ý kiến, hành động đúng đắn, hiệu quả và thuyết phục nhất đối với người bệnh

Để phát huy hiệu quả, ngoài dùng Thủ thuật trị liệu, Phương pháp còn dùng CAO để dán, đắp, xông Với các bệnh NAN Y thì Phương pháp chỉ có giá trị hỗ trợ nâng cao sức khỏe giúp cơ thể tự điều chỉnh nên Người bệnh vẫn cần uống thuốc theo chỉ định của Bệnh viện Ngoài ra Phương pháp còn quy định Người bệnh không ăn THỊT TRÂU, BÒ, TÔM và không tắm

NƯỚC LẠNH trong quá trình điều trị

Trang 14

Phương pháp Tác Động cột sống là Liệu pháp Y Học Dân tộc, là hội tụ của sự kết tinh giữa Y học Cổ Truyền và ứng dụng thành tựu của Y Học hiện Đại, hướng đến SỨC KHỎE – là tài sản vô giá của mỗi người Phương pháp dựa trên cơ chế và khả năng tự thay đổi thích nghi, khả năng TỰ CHỮA LÀNH không giới hạn của cơ thể để phụ hồi, để KHỎE MẠNH

Đây là một phương pháp có khối lượng kiến thức khá đồ sộ và càng đi sâu thì càng phức tạp Vì vậy, bất cứ đối tượng nào, để thực hành liệu pháp có hiệu quả cũng như tránh được các hậu quả không mong muốn đều cần phải được các Chuyên gia có kinh nghiệm của Phương pháp hướng dẫn và cần có thời gian học hỏi, thực hành lâu dài và hợp lý cũng như cần phối hợp các kiến thức Cổ Kim từ các nguồn hợp lý … đặc biệt tránh tình trạng CHỦ QUAN, nóng vội và trên hết là phải tuân thủ Hiến Pháp và Pháp Luật

Cùng với các thành tựu phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung và các phát minh sáng chế

về máy móc hỗ trợ, về dược phẩm mới trong ngành y tế nên ngày càng có nhiều Phương pháp chữa bệnh tiên tiến, hiện đại và hiệu quả Tuy nhiên cũng không khó để cảm nhận được vai trò quan trọng của các liệu pháp cổ truyền đối với người dân như Châm cứu bấm huyệt, Tác Động Cột Sống, Thập Chỉ Đạo Việc học tập và ứng dụng các liệu pháp Y học Dân tộc, YHCT trong công cuộc chăm sóc, nâng cao sức khỏe bản thân, của gia đình và của cộng đồng phải là cuộc cánh mạng tổng hợp, liên tục và cần sự quan tâm, hành động của các Nhà khoa học, của chính quyền các cấp và của toàn thể Người Dân chúng ta

Trang 15

Phần 1 ĐẶC ĐIỂM CỦA 4 ĐẶC TRƯNG

Phần giới thiệu về đặc điểm sinh lí và bệnh lí của 4 đặc trưng bao gồm:

Đốt C1 nâng đỡ hộp sọ nên có hình một vòng tròn dẹt, thân đốt không rõ và lỗ đốt rất rộng, đảm bảo cho hộp sọ có thể quay chuyển được dễ dàng

Vì thế chúng ta gọi đốt C1 là đốt đội, người Châu Âu gọi là đốt Atlas (lấy tên Atlas là một đại

lực sĩ trong điển tích thần thoại Hy-Lạp)

Đốt cổ thứ hai (C2) được gọi là đốt trục Đốt C2 có hình khuyên tròn, phía trên và trước

khuyên này lồi lên một mỏm gọi là mấu răng khế - giải phẫu học hiện đại gọi là mỏm răng

(apophyse odontoide)

Đốt trục khớp với đốt đội giúp cho hộp sọ chuyển động, quay phải, quay trái được dễ dàng Ngay cả khi ta gật đầu, cúi đầu ra phía trước cũng là nhờ trục của đốt C2 nghiêng về phía

trước Vì thế người Châu Âu đặt tên cho nó là Axis (trục)

Khi khám một cột sống, thầy thuốc cần chú ý đến đốt sống cổ thứ 6 và thứ 7 (C6 và C7)

Trang 16

Ở mỏm ngang đốt sống C6 có một chỗ lồi cao, ta gọi là lồi trên, người Châu Âu gọi là củ

Sát-xe-nhắc (tubercule de Chasaignas) Ở mỏm gai C7 cũng có một lồi cao rất rõ, trội hơn cả củ Sát-xe-nhắc, ta gọi là lồi dưới

Các đốt sống cổ, nếu lấy đốt C1 và C7 làm mốc, thì đều cong về phía trước và đốt C4 là đốt cong sâu nhất

Các đốt sống lưng, do cần tiếp xúc với các đầu sườn ra sau, nên mỗi đốt có tới 4 diện khớp để tiếp giáp với xương sườn Các lỗ đốt đều tròn Thân đốt khá dầy, mỏm gai rất dài và thõng sâu,

do đó khi ta sờ thấy đuôi gai của đốt sống nào đó thì ngón tay của ta đã đặt ngang tầm với đốt dưới rồi

Để tìm đốt sống, ta phải dựa vào các xương bả vai, xương sườn cụt và bờ xương hông, dùng các góc cạnh của các xương đó làm mốc để tìm

Đốt D1 nằm dưới lồi dưới của C7

Đốt D3 nằm trên đường thẳng nối hai bờ trong trên của hai xương bả

Đốt D7 nằm trên đường thẳng nối hai góc dưới của xương bả

Từ đốt D1 trở xuống, cột sống lưng có xu thế cong về phía sau và D4 là điểm thứ nhất nhô cao lên Từ D8 trở đi, cột sống có hình cong lướt và D10 là điểm thứ hai nhô cao lên

Các đốt sống thắt lưng so với các đốt sống lưng khỏe hơn rất nhiều vì chúng phải chịu toàn bộ sức nặng của con người gia trọng lên nó Các mỏm gai ngắn, rộng và ngang thân đốt sống to, không tiếp khớp với xương sườn nên các mỏm ngang dài và nhọn Lỗ đốt hình tam giác

Đốt thắt lưng thứ hai (L2) nằm trên đường thẳng nối hai đầu xương sườn cụt (nhìn phía ngoài mặt da, đó là nơi cơ lưng bắt đầu thắt lại.)

Đốt thắt lưng thứ tư (L4) nằm trên đường thẳng nối hai bờ trên xương hông

Về mặt hình thái, từ L1 đến L5, cột sống có xu thế thẳng đều, nhưng cần chú ý:

- Ở nam giới, L4 và L5 đưa về phía trước

- Ở nữ giới, L4 và L5 vẫn thẳng đều

(và nếu không như vậy là hiện tượng bệnh)

Từ S1 đến S5, cột sống có xu hướng đưa về phía sau Điểm cao nhất là S5

Riêng xương cụt đưa về phía trước

Giải phẫu học hiện đại chia cột sống ra làm 5 khu vực:

Trang 17

1/ Khu vực thứ nhất là khu cổ, kí hiệu bằng chữ C (do lấy mẫu kí tự C, bắt đầu của từ Cervicalis V., có nghĩa là đốt sống cổ), gồm 7 đốt

2/ Khu vực thứ hai là khu lưng, kí hiệu bằng chữ D (Doralis), gồm 12 đốt

3/ Khu vực thứ ba là khu thắt lưng, kí hiệu bằng chữ L (Lombalis), gồm 5 đốt

4/ Khu vực thứ tư là khu hông, kí hiệu bằng chữ S (Sacrilis), gồm 5 đốt

Khu vực thứ năm là khu cụt, vẫn dùng nguyên từ coccyx.Để ứng

dụng các thủ thuật thích hợp, Phương Pháp Tác Động Cột Sống căn

cứ vào đường cong sinh lí của cột sống để chia hệ cột sống thành 9

vùng khác nhau:

3/ Khu lưng trên: từ D1 đến D3 gồm 3 đốt

4/ Khu dưới lưng trên: từ D4 đến D7 gồm 4 đốt

6/ Khu thắt lưng trên: từ L1 đến L3 gồm 3 đốt

7/ Khu thắt lưng dưới: từ L4 đến L5 gồm 2 đốt

(Đã điều chỉnh 9 khu vực phân chia so với bản gốc năm 1991)

Hình thái cột sống nhìn nghiêng:

E - Gù chính giữa

Rõ ràng giải phẫu học hiện đại phân chia cột sống theo hình thái học là chủ yếu, còn Phương Pháp Tác Động Cột Sống phân chia theo yêu cầu xử lí và tác động thích hợp cho từng khu vực

Trang 18

Điều đó không gây ra trở ngại gì phức tạp cho thủ thuật viên, vì tên gọi và kí hiệu chúng tôi vẫn giữ nguyên như y học hiện đại đang sử dụng

Khi đứng trước người bệnh, người thầy thuốc theo Phương pháp Tác động Cột sống cũng cần quan sát hình thái cột sống của người bệnh như các trường hợp phái cột sống thế giới đã làm Phương pháp của chúng tôi trùng hợp với một số hình vẽ của André de Sambucy (Pháp) về mặt hình học, còn những điểm khác biệt chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới

a) Lưng vẹo trái hoàn toàn

b) Vẹo vùng thắt lưng bên trái, phía trên hầu như vô sự

c) Lưng vẹo phải hoàn toàn

d) Vẹo vùng thắt lưng bên phải

e) Vẹo lưng trái (ít gặp)

f) Vẹo hình chữ S với hai khoảng cong (một ở vùng thắt lưng bên trái và một ở vùng lưng phải) g) Vẹo lưng phải (hay gặp ở học sinh)

h) Cột sống không bình thường (nhiều đường cong nhỏ chạy dích-dắc)

Những điểm khác biệt của Phương pháp Tác động Cột sống trị bệnh so với các trường phái cột sống thế giới

Phương pháp Tác động Cột sống trị bệnh không chỉ quan sát hình thái của cột sống và còn tìm hiểu kĩ càng về sự biến đổi của từng đốt sống nhìn nghiêng và nhìn thẳng Chẳng hạn khi đi sâu về hình thái, chúng tôi phân biệt đốt sống lồi và đốt sống lõm khi nhìn nghiêng, và phân biệt đốt sống lệch, lõm lệch, lồi lệch khi nhìn thẳng Những biểu hiện này trên hình thái cột sống cộng với những phản ứng và phản xạ cụ thể về nhiệt độ da tại các khu vực, về hiện tượng

co cơ, và cảm giác chủ quan của người bệnh mới hợp thành những cơ sở để thầy thuốc đoán định các khu vực bệnh lí cần xử lí

Do đó việc quan sát những biến đổi về cấu trúc của cột sống là một khâu quan trọng trong quá trình chẩn và trị bệnh

Trang 19

Nhưng cao hơn thế, người thầy thuốc trong trường phái cột sống Việt Nam không được bỏ qua

và không được sao nhãng việc rèn luyện ngón tay để thăm khám trực tiếp trên cột sống người bệnh, để có thể đi sâu vào những chi tiết nhỏ bé nhất trong khu vực bệnh lí biểu hiện trên cột sống

Cảm giác chủ quan trên đầu ngón tay của thầy thuốc phải được coi là một trong những công

cụ quan trọng nhất trong kĩ thuật chẩn và trị bệnh theo Phương pháp Tác động Cột sống

II HIỆN TƯỢNG ĐỐT SỐNG KHÔNG BÌNH THƯỜNG

Hiện tượng đốt sống không bình thường gồm 2 phần:

1 Hình thái đầu gai đốt xương sống không bình thường

2 Hình thái lớp cơ trên đầu gai sống không bình thường

A - ĐẶC ĐIỂM VÀ HÌNH THÁI ĐỐT SỐNG KHÔNG BÌNH THƯỜNG

1 Hình thái đốt sống Lồi

Đốt sống Lồi ra phía sau bao gồm các hiện tượng:

a) (Đầu gai sống) lồi ra phía sau toàn phần

b) Đầu gai sống lồi cân phần trên ra phía sau

c) Đầu gai sống lồi cân phần dưới ra phía sau

d) Nhiều đốt sống liền nhau lồi ra phía sau

2 Hình thái đốt sống Lồi lệch

Đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái gồm có:

a) Đầu gai sống lồi ra phía sau và lệch cân về một bên phải hoặc trái

b) Đầu gai sống có một góc trên lồi và lệch về một bên phải hoặc trái

c) Đầu gai sống có một góc dưới lồi và lệch về một bên phải hoặc trái

d) Nhiều đốt sống liền nhau lồi và lệch về một bên phải hoặc trái

3 Hình thái đốt sống Lệch

Đốt sống không lồi, không lõm mà lệch về một bên phải hoặc trái gồm có:

a) Đầu gai sống lệch cân về một bên phải hoặc trái

b) Đầu gai sống lệch một góc trên về một bên phải hoặc trái

c) Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải hoặc trái

d) Nhiều đốt sống lệch về một bên phải hoặc trái

4 Hình thái đốt sống Lõm lệch

Đầu gai sống lõm đưa về phía trước và lệch về một bên phải hoặc trái, gồm có:

a) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch cân về một bên phải hoặc trái

b) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc trên về bên phải hoặc trái

Trang 20

c) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc dưới về bên phải hoặc trái

d) Nhiều đốt sống liền nhau lõm về phía trước và lệch về bên phải hay bên trái

5 Hình thái đốt sống Lõm

Đầu gai sống lõm cân đưa về phía trước gồm có:

a) Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về phía trước

b) Đầu gai sống lõm cân , phần trên đưa về phía trước

c) Đầu gai sống lõm cân, phần dưới đưa về phía trước

d) Nhiều đốt sống lõm liền nhau đưa về phía trước

B- HÌNH THÁI ĐẦU GAI SỐNG KHÔNG BÌNH THƯỜNG

1 Đầu gai sống của đốt lồi có hình thái to lớn hơn các đầu gai sống của các đốt bình thường

2 Đầu gai sống của đốt lồi lệch có hình thái to và đưa lệch về một phía phải hoặc trái

3 Đầu gai sống của đốt sống lệch có hình thái bình thường như những đốt khác nhưng lệch về một phía phải hoặc trái

4 Đầu gai sống của đốt sống Lõm Lệch có hình thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt sống bình thường nhưng lệch về một phía phải hoặc trái

5 Đầu gai sống của đốt sống Lõm có hình thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt sống bình thường nhưng đầu gai của các đốt còn có các dạng như sau:

a) Đầu gai sống sần sùi như những mẩu xương

b) Đầu gai sống nhẵn nhụi như bình thường

c) Đầu gai sống có lớp gai như răng cá ở hai bên phải hoặc trái của gai sống

d) Đầu gai sống lõm xuống, ở đốt trên và đốt dưới của đốt sống lõm nổi lên thành hai gờ trên và dưới đè đốt sống lõm xuống

C - ĐẶC TÍNH CỦA ĐỐT SỐNG BỆNH LÍ

1 Các đốt sống bệnh lí có thể phục hồi được qua thao tác điều trị

Theo kinh nghiệm điều trị bằng Tác Động Cột Sống, các hình thái mất bình thường như Lồi, Lệch, Lõm nếu rối loạn ít thì có thể phục hồi ngay qua một lần điều trị, nếu rối loạn lớn hơn thì có thể phục hồi dần dần trong quá trình điều trị Như vậy có nghĩa là trong quá trình điều trị đốt sống bệnh lí có hình thái lồi sẽ bớt và hết Lồi, đốt sống bệnh lí có hình thái lệch sẽ bớt và hết Lệch, đốt sống bệnh lí có hình thái lõm sẽ bớt và hết Lõm

Điều này chứng minh rằng thao tác trị bệnh khi tuân thủ các nguyên tắc định lực, định hướng, định lượng, và các phương thức, các thủ thuật của Phương Pháp Tác Động Cột Sống đã có hiệu lực tức khắc với hiện tượng bệnh lí, rằng thủ thuật có khả năng kích thích sự tự điều chỉnh của

cơ thể chống lại bệnh tật bằng cách giải tỏa các ổ bệnh trên hệ cột sống và các điểm rối loạn liên quan tương ứng ở ngoại vi cột sống

Trang 21

2 Khi đã gọi là đốt sống bệnh lí thì dù ở hình thái nào (Lồi, Lệch hay Lõm) bao giờ

cũng có hiện tượng dính cứng ở một hay nhiều đốt sống

Có trường hợp đốt sống chỉ bị dính phần trên hoặc góc trên với đốt trên, hoặc các trường hợp đốt sống chỉ bị dính phần dưới hoặc góc dưới với đốt dưới (hình thái đơn lệch), lại có trường hợp đốt sống bệnh lí bị dính cả phần trên với đốt sống trên và cả phần dưới với đốt sống dưới (hình thái lệch cân toàn phần) Dựa vào hình thái của đốt sống và đặc tính này, khi chẩn bệnh ta phải căn cứ vào cơ sở của các đốt sống bị dính cứng ấy để quy nạp chẩn đoán, đề ra phương hướng điều trị

3 Chỉ khi thầy thuốc tuân thủ đúng các nguyên tắc về định lực, định hướng và định lượng, ứng dụng đúng các phương thức và thủ thuật để tác động tại trọng điểm thì các đốt sống bệnh lí ấy mới khắc phục được tình trạng dính cứng và phục hồi được nguyên trạng

Trang 22

Bài 2 LỚP CƠ

I ĐẶC ĐIỂM VÀ HÌNH THÁI LỚP CƠ TRÊN CÁC ĐỐT SỐNG BỆNH LÍ

Khi các đốt sống có hiện tượng không bình thường thì lớp cơ trên đầu gai sống cũng thay đổi hình thái khác thường tùy thuộc vào 5 hiện tượng của đốt sống không bình thường, ở lớp cơ đầu gai sống thể hiện dày cộm hay teo mỏng như sau:

1 Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi

a) Đầu gai sống lồi ra phía sau toàn phần thì lớp cơ trên đốt sống đó dày cộm hẳn lên, dầy hơn lớp cơ trên các đốt sống bình thường

b) Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở phần trên ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó

dầy cộm hơn các khu vực bình thường

c) Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở phần dưới ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó

dầy cộm hơn các khu vực bình thường

d) Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lồi ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dầy cộm

hơn các khu vực bình thường

2 Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi Lệch

Đốt sống lồi ra phía sau và Lệch về một bên phải hoặc trái gồm có các hình thái:

a) Đầu gai sống lồi ra phía sau và Lệch cân về một bên thì lớp cơ bên Lồi Lệch đó dày cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường

b) Đầu gai sống có một góc trên Lồi ra phía sau và Lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp

cơ ở góc lồi của đốt sống dày cộm hơn các khu vực bình thường, và bên đối xứng của đốt sống lớp cơ bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường

c) Đầu gai sống có một góc dưới bị lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp

cơ ở góc lồi của đốt sống dày cộm hơn các khu vực bình thường, và bên đối xứng của đốt sống lớp cơ bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường

d) Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở khu vực lồi lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, và lớp cơ bên đối xứng của các đốt sống lệch bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường

3 Hình thái lớp cơ trên đốt sống lệch

Đốt sống lệch là đốt không lồi, không lõm, nhưng lệch về một bên phải hoặc trái, gồm có các hình thái:

Trang 23

a) Đầu gai sống lệch cân về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở bên lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường

b) Đầu gai sống lệch một góc trên về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của các khu vực bình thường

c) Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của các khu vực bình thường

d) Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở khu vực lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của các đốt sống lệch bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường

4 Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lõm Lệch

a) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch cân về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, đặc biệt là phía bên lệch lớp cơ bị co cứng, và lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết lõm

b) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch về một góc phần trên ở phía bên phải hoặc bên trái thì lớp cơ ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, ngoài ra lớp cơ ở phía góc lệch đó bị co cứng, và lớp cơ phía bên đối xứng của đốt sống

bị lõm khuyết

c) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch về một góc phần dưới về bên phải hoặc bên trái thì lớp cơ ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, đặc biệt là phía góc lệch đó, lớp cơ bị co cứng, và lớp cơ phía bên đối xứng của đốt sống bị lõm khuyết

d) Nhiều đốt sống liền nhau lõm về phía trước và lệch về bên phải hoặc bên trái thì lớp cơ

ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, đặc biệt là lớp cơ bên lệch bị co cứng và lớp cơ phía bên đối xứng của các đốt sống lệch bị lõm khuyết

5 Hình thái lớp cơ trên đốt sống lõm

Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về phía trước gồm có các hình thái:

a) Đốt sống lõm cân về phía trước thì lớp cơ ở đầu đốt sống lõm bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường

Trang 24

b) Đốt sống lõm phần trên đưa về phía trước thì lớp cơ ở chỗ lõm bị teo mỏng hơn lớp cơ

6 Hình thái lớp cơ dầy cộm

Lớp cơ dầy cộm ở đốt sống không bình thường có các hình thái: Hình thái thư nhuận, hình thái cứng hơn thư nhuận, hình thái mềm hơn thư nhuận, như sau:

a) Hình thái cơ thư nhuận: Khi ấn, miết và vê trên lớp cơ co cộm ta cảm thấy lớp cơ có vẻ

thư nhuận như những lớp cơ bình thường Đặc biệt là lớp cơ này bị cộm Còn có cộm ít

là mỏng, và cộm nhiều là dầy Hình thái này đẩy không chuyển động

b) Hình thái lớp cơ cứng: Khi ấn, miết và vê trên lớp cơ co cộm ta cảm thấy lớp cơ có bị

cứng hơn các lớp cơ thư nhuận Đặc biệt là lớp cơ này còn có cộm ít (tức là mỏng) và cộm nhiều (tức là dầy) Hình thái này đẩy không chuyển động

c) Hình thái lớp cơ mềm: Khi ấn, miết và vê trên lớp cơ co cộm ta cảm thấy lớp cơ có bị

mềm và nát hơn các lớp cơ thư nhuận bình thường Đặc biệt là lớp cơ này còn có cộm ít (tức là mỏng) và cộm nhiều (tức là dầy) Hình thái này đẩy không chuyển động

7 Hình thái lớp cơ thành sợi

Lớp cơ thành sợi ở trên đốt sống không bình thường có các hình thái: sợi tròn to (như dây thừng), sợi xơ nhỏ (thành lớp lăn tăn), sợi xơ rối (như cục tóc rối kết lại), sợi dẹt to thành dải dai chắc, sợi dẹt mỏng thành lớp lăn tăn

a) Hình thái sợi tròn to: Khi miết ta cảm thấy chuyển động, trật trẹo, có hình dáng tròn

thành sợi như sợi dây thừng cứng, ấn không tan và dai chắc

b) Hình thái sợi xơ cứng: Khi miết ta cảm thấy những sợi xơ nhỏ này căng và cứng, ấn

không tan và dai chắc, có trường hợp thể hiện lên thành đám (rộng, hẹp khác nhau) nhưng xếp theo một chiều như ta xếp nắm tăm Miết trượt trên lớp này thấy lăn tăn và chuyển động

c) Hình thái sợi xơ rối: Khi miết và vê ở trên thể này ta cảm thấy lăn tăn rất nhỏ, hình

dung như cục tóc rối kết lại thành khối và bám chắc ở đầu gai sống

d) Hình thái sợi dẹt, dày to: Khi miết và vê ta cảm thấy như dải dẹt dai chắc, miết trượt

cảm thấy chuyển động hình dung như một sợi dẹt dài ngắn khác nhau

Trang 25

e) Hình thái sợi dẹt mỏng: Khi miết và vê ta cảm thấy nhiều lớp mỏng co cứng xếp lại

chồng lên nhau không thành sợi dài Khi miết trượt cảm thấy chuyển động và thành lớp

lăn tăn co cứng Những hình thái sợi dải nói trên đây có nhiều trường hợp khác nhau:

sợi dài bắt chéo từ cột sống sang cơ lưng, từ cơ lưng nằm ngang đè lên đầu gai sống và nằm dọc ở cột sống dài hay ngắn, to hay nhỏ khác nhau

8 Hình thái lớp cơ teo mỏng

Lớp cơ teo mỏng trên đốt sống không bình thường có các hình thái:

a) Hình thái teo mỏng: Khi miết và vê trên đốt sống không bình thường ta cảm thấy lớp cơ

trên đầu gai sống bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường Chú ý là khi đặt ngón tay trên đầu gai sống chỉ cảm thấy có một lớp da mỏng phủ trên đầu đầu gai sống

mà không cảm thấy lớp cơ đệm

b) Hình thái khuyết lõm: Khi miết và vê trên đốt sống không bình thường ta cảm thấy đầu

gai sống như bị khuyết đi mà lớp cơ ở chỗ khuyết đó bị lõm sâu xuống khác thường

2/ Khi lớp cơ đã thư nhuận bình thường là ổ bệnh đã được giải toả, thao tác đến ngưỡng phải dừng ngay

Sở dĩ thầy thuốc cần theo dõi sự biến đổi của lớp cơ trong khi thao tác vì khi đã có hiện tượng báo đến ngưỡng của định lượng mà vẫn cứ tiếp tục thao tác thì lớp cơ bị tác động quá ngưỡng tiếp thu của cơ thể sẽ có phản vệ co lại, hiệu quả vừa đạt được sẽ bị xoá hoàn toàn, lớp cơ bị tác động quá nhiều có thể bị xưng đau, người bệnh lại có cảm giác khó chịu như ban đầu 3/ Lớp cơ co căng cứng như mặt trống Những trường hợp này chỉ có thể làm lớp cơ thay đổi bằng cách đắp bột cua đồng phối hợp với thủ thuật mới phục hồi được sự thư nhuận của lớp cơ 4/ Lớp cơ co dầy gây cảm giác rất đau nhưng khả năng phục hồi rất nhanh Có khi thầy thuốc dùng thủ thuật thao tác chỉ một lần điều trị tại trọng điểm đã hết co

Trang 26

5/ Lớp cơ co mỏng phải điều trị lâu dài mới hồi phục được Những lớp cơ này tương ứng với những bệnh mạn tính, với những ổ bệnh đã có tổn thương thực tế

6/ Lớp cơ mềm dày tương ứng với các dạng nhiễm trùng lao vì vậy phải kết hợp dùng thuốc chống lao trong quá trình điều trị mới giải toả được

7/ Lớp cơ mềm mỏng không gặp trong hình thái bệnh lí mà chính là hậu quả biến đổi đột ngột của sự tác động quá lực, nếu không điều chỉnh lại sẽ gây ra một sự rối loạn mới Vì vậy gặp trường hợp này thầy thuốc phải tập tức tác động ngay bên đối xứng của trọng điểm để cho lớp

cơ mềm mỏng đó được phục hồi lại ngay

8/ Lớp xơ sợi chỉ gặp trong lớp cơ sâu của các đốt sống bị khuyết Lõm, ít gặp trong các đốt sống Lệch, và không gặp trong các đốt sống Lồi Hình thái này chỉ thay đổi khi thầy thuốc đã giải toả được các đốt sống Lồi hoặc Lồi Lệch ở phía trên của các đốt sống Lõm bệnh lí ấy 9/ Lớp cơ teo nhược chỉ phục hồi khi đã giải toả được những lớp cơ co cộm ở phía trên của chỗ

cơ teo nhược

Trang 27

Khi cơ thể có bệnh, nhiệt độ da biểu hiện ba trạng thái cao, thấp hay rối loạn

I NHIỆT ĐỘ DA Ở CƠ THỂ KHỎE MẠNH

Nhiệt độ da của cơ thể bình thường được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo từng vùng như sau:

14 Vùng nách, dưới lưỡi, hậu môn, Trung bình 36,9 độ C

Nhiệt độ da ở cơ thể khỏe mạnh có thể thay đổi tạm thời trong các trường hợp lao động, nghỉ ngơi, có sự thay đổi đột ngột về tâm lý (buồn, lo sợ, suy nghĩ, tức giận …) tùy tình trạng cơ thể (đói, no…) tùy theo thời gian sáng, trưa, tối, tùy theo mùa mà có thể có những thay đổi khác nhau ở từng cá thể con người, tùy theo vị trí và các bộ phận cơ thể

Những trường hợp thay đổi nhiệt độ da tức thời như đã nói ở trên thường nhiệt độ ấy không kéo dài và vẫn được coi là nhiệt độ sinh lí bình thường

Chẳng hạn khi người mẹ đang cho con bú thì nhiệt độ vùng vai phải và vùng thắt lưng nóng cao Khi con ngừng bú thì nhiệt độ trở lại bình thường Hiện tượng này được coi là hoạt động sinh lí bình thường mà không phải là hiện tượng bệnh lí

Trang 28

Phương pháp Tác động Cột sống coi nhiệt độ da là cơ sở cơ bản để chẩn bệnh và theo dõi trong khi trị bệnh nên đã chia nhiệt độ da ở tình trạng bệnh lí thành ba lĩnh vực:

A.Nhiệt độ trọng khu – trọng điểm:

Là nhiệt độ trên phạm vi cột sống trong phạm vi có ổ rối loạn

B.Nhiệt độ vùng tương ứng với nội tạng chia ra 11 vùng:

1 Vùng cổ, vai, ngực trái Liên quan đến chức năng tim mạch

2 Vùng cổ phải Liên quan đến chức năng hô hấp

3 Vùng dưới vú phải Liên quan đến chức năng gan

4 Vùng vai phải Liên quan đến chức năng mật

5 Vùng mỏ ác Liên quan đến chức năng dạ dày

6 Vùng lưng giữa Liên quan đến chức năng lá lách, các tuyến

nội tiết, tuyến tụy, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận

7 Vùng thắt lưng bên phải Liên quan đến chức năng thận

8 Vùng khe mông Liên quan đến chức năng tử cung, vòi trứng

9 Vùng bụng non Liên quan đến chức năng bang quang, tiết

niệu

10 Vùng trước rốn Liên quan đến chức năng ruột non

11 Vùng chẩm Liên quan đến chức năng ruột già, trực tràng

C.Nhiệt độ địa phương được chia ra 14 vùng sắp xếp theo nhiệt độ sinh lí lúc bình thường từ

thấp đến cao nhất để làm nhiệt độ chuẩn so sánh với nhiệt độ bệnh lí (Xem bảng nhiệt độ da của cơ thể khỏe mạnh)

II NHIỆT ĐỘ DA THAY ĐỔI DO TÌNH TRẠNG BỆNH LÍ

Khi trong cơ thể có bệnh thì nhiệt độ da có thể biểu hiện:

1 Nhiệt độ da cao hơn bình thường

2 Nhiệt độ da thấp hơn bình thường

3 Nhiệt độ da rối loạn

1/ Nhiệt độ da cao hơn bình thường

Nhiệt độ da cao hơn bình thường có thể biểu hiện:

a) Nhiệt độ da cao toàn thân: Khi áp dụng thủ thuật Áp thấy không có vùng nào ở nhiệt độ bình

thường (Thông thường biểu hiện khi người bệnh sốt cao)

Trang 29

b) Nhiệt độ da cao ở từng vùng nhất định: Nhiệt độ da cao hoặc không ổn định thường biểu

hiện ở 3 nơi:

- Trên cột sống ở vùng đốt sống lồi

- Ở hai bên cơ lưng có hiện tượng co, cộm, phù…

- Ở từng vùng ngoài thân mình (đầu, mặt, cổ, chân)

2/ Nhiệt độ da thấp hơn bình thường

Nhiệt độ da thấp hơn bình thường có thể biểu hiện:

a) Toàn thân nhiệt độ da thấp: Khi áp dụng thủ thuật Áp tại các vùng da trên cơ thể thấy có cảm

giác lạnh hoặc lạnh ngắt

b) Nhiệt độ da thấp thể hiện từng vùng nhất định: Nhiệt độ da thấp hoặc không ổn định thường

biểu hiện ở 3 nơi:

- Trên cột sống ở vùng đốt sống lõm

- Ở hai bên cơ lưng tại các cơ có trạng thái mềm duỗi

- Từng vùng nhiệt độ da thấp có liên quan đến bệnh tật thuộc nội tạng và các bộ phận cơ thể tương ứng

Hiện tượng nhiệt độ da thấp có thể rộng hẹp tùy theo diện tích khuyết tật của cột sống và diện tích của các cơ mềm duỗi trên cơ lưng

3/ Hiện tượng nhiệt độ da rối loạn:

Hiện tượng nhiệt độ da rối loạn là có những vùng nhiệt độ da cao trong lúc đó có những vùng nhiệt độ da thấp, lại có những vùng nhiệt độ da ổn định trên cùng cơ thể một người bệnh Biểu hiện của sự rối loạn này thường đối xứng theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc trên dưới

a) Nhiệt độ da rối loạn ở hai bên cột sống: một bên có nhiệt độ da cao, một bên nhiệt độ da

thấp có liên quan đến tật của đốt sống lồi và tình trạng các cơ, da nhiệt cao xuất hiện ở đốt sống lồi và vùng cơ co cứng, da nhiệt thấp xuất hiện ở đốt sống khuyết và vùng cơ mềm duỗi

b) Nhiệt độ da rối loạn đối xứng trên dưới: thông thường khi vùng trên có nhiệt độ da cao thì

vùng dưới có nhiệt độ da thấp Hiện tượng da nhiệt cao cũng có ở các đốt sống lồi và lớp cơ co cứng, và nhiệt độ thấp có ở các đốt sống lõm và khuyết, các lớp cơ mềm duỗi như đã nói ở trên

Trang 30

ĐẶC TÍNH CỦA NHIỆT ĐỘ DA

Nhiệt độ da giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong chẩn và trị bệnh theo Phương pháp Tác động cột sống Bởi vậy, thủ thuật đầu tiên được ứng dụng là thủ thuật ÁP để tìm nhiệt độ trọng khu và trọng điểm, nhiệt độ vùng tương ứng nội tạng, qua đó ứng dụng các thủ thuật khác để xác định chính xác trọng điểm để điều trị (giải tỏa)

Cơ sở để so sánh là nhiệt độ sinh lí bình thường của từng vùng nhiệt độ da trên cơ thể con người

Vì vậy trong khi điều trị bằng Phương pháp Tác động cột sống, người thầy thuốc phải chú trọng tới những đặc tính sau đây về nhiệt độ da trên cơ thể người bệnh:

1/ Chỉ khi cơ thể có bệnh thì nhiệt độ sinh lí mới thay đổi

Phương pháp Tác động cột sống phân biệt nhiệt độ địa phương, nhiệt độ trọng khu – trọng điểm, và nhiệt độ vùng tương ứng nội tạng (Xem phần trên về nhiệt độ)

Căn cứ vào đặc tính này, Phương pháp Tác động cột sống chẩn bệnh nhanh và chính xác vì thầy thuốc có cơ sở là nhiệt độ da để kiểm tra lời kể bệnh, mà không có lời kể bệnh thì thầy thuốc căn cứ vào nhiệt độ da biến đổi vẫn chẩn bệnh được chính xác

2/ Nhiệt độ da biến đối rất nhậy trên cơ thể người bệnh trong khi thao tác trị bệnh

Cụ thể là trên cùng một người bệnh, có lần thầy thuốc mới chỉ tác động độ 2, 3 giây đồng hồ thì nhiệt độ cơ thể đã có thay đổi, nhưng cũng có lần tác động đến 20 hay 30 giây mới có phản

xạ báo đến ngưỡng định lượng mà cơ thể người bệnh có thể tiếp nhận được

3/ Nhiệt độ da biến đổi không phụ thuộc vào ngưỡng tiếp nhận định lượng của cơ thể người bệnh

Căn cứ vào đặc tính này, người thầy thuốc phải chú ý tới hai trường hợp sau:

Trang 31

a) Khi tác động đúng trọng điểm, nhiệt độ da có biến đổi nhưng chưa đến ngưỡng của định lượng thì phải chẩn để tìm trọng điểm mới, tiếp tục điều trị cho đến ngưỡng của định lượng mới ngừng thao tác

b) Mặc dầu nhiệt độ da đã biến đổi nhưng chưa giải tỏa hoàn toàn được ổ bệnh mà cơ thể người bệnh đã có phản xạ đến ngưỡng định lượng thì vẫn phải ngừng thao tác, chờ đến lần điều trị sau

4/ Nhiệt độ da biến đổi thuận chiều khi thao tác bệnh đúng trọng điểm

Trong khi thao tác trị bệnh, thầy thuốc thường xuyên phải thăm dò nhiệt độ tại những vùng có nhiệt độ bệnh lí Biến đổi thuận chiều có nghĩa là nhiệt độ bệnh lí nếu cao hơn nhiệt độ sinh lí bình thường thì trong quá trình điều trị nhiệt độ sẽ hạ dần đến mức nhiệt độ sinh lí bình thường (chẳng hạn trong khi chữa bệnh huyết áp cao); hoặc là nhiệt độ bệnh lí thấp hơn nhiệt độ bình thường thì trong quá trình điều trị nhiệt độ sẽ tăng dần lên đến mức nhiệt độ sinh lí bình thường (chẳng hạn trên những lớp cơ teo nhược) Nhiệt độ biến đổi thuận chiều chứng minh rằng ta đã tác động đúng trọng điểm, nguyên tắc, phương thức và thủ thuật

5/ Nhiệt độ chỉ chở lại bình thường khi ổ rối loạn đã được giải tỏa hoàn toàn

Sau khi thao tác, khi thăm dò thấy nhiệt độ đã trở lại đúng nhiệt độ sinh lí bình thường là ổ rối loạn đã hết rối loạn, chẳng hạn như trên cơ thể người mẹ mất sữa, hoặc trên bệnh nhân hen, thầy thuốc rất dễ nhận biết sự thay đổi nhậy bén trong khi thao tác trị bệnh

Căn cứ vào những đặc tính trên đây của nhiệt độ da, Phương pháp Tác động cột sống quy định một nguyên tắc quan trọng trong khi trị bệnh:

Khi tác động trị bênh mà nhiệt độ bệnh lí không thay đổi thì tuyệt đối không được tác động nữa vì một vùng nhiệt độ da không chỉ liên quan đến một đốt sống mà liên quan đến nhiều đốt sống, do đó trong khi điều trị phải luôn luôn theo dõi sự biến đổi của nhiệt độ da Khi

đã có tác động mà nhiệt độ bệnh lý không thay đổi chứng tỏ rằng tác động chưa đúng trọng điểm, khi đó phải xác định lại trọng điểm thật chính xác mới được tiếp tục tác động trị bệnh

Trang 32

Bài 4 CẢM GIÁC

Cơ thể con người có nhiều cảm giác khác nhau nhưng Phương pháp Tác động cột sống chỉ căn

cứ vào giác đau tăng hoặc giảm trên hệ cột sống để làm cơ sở chẩn đoán và trị bệnh

Bởi vậy sự bình thường và mất bình thường về cảm giác trên hệ cột sống là một trong bốn đặc trưng để xác định về sinh lí và bệnh lý của cơ thể

I PHÂN LOẠI CẢM GIÁC ĐAU

Phương pháp tác động cột sống lại phân biệt cảm giác đau tăng hoặc giảm thành hai dạng khác nhau:

1/ Cảm giác đau khu trú ở một vùng nhất định trên cột sống mà người bệnh tự nhận biết

được gọi là cảm giác đau bệnh lí

2/ Cảm giác đau trên cột sống mà người bệnh chỉ nhận biết được khi thầy thuốc dùng thủ

thuật tác động đúng vị trí đó gọi là cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí

Cảm giác đau bệnh lý là cảm giác đau thuộc về bệnh của cột sống như: cột sống có hình gai đôi, cột sống vôi hóa hay thoái hóa, trượt đĩa đệm, trật khớp, viêm cột sống dính khớp và nhiều trường hợp khác nữa

Cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí là hiện tượng có liên quan đến bệnh lí của các cơ quan nội tạng và mọi bộ phận cơ thể

Trong khi chẩn bệnh, phương pháp Tác động cột sống còn chú ý tới mối liên quan của cảm giác đau hoặc cảm giác giảm với các đặc trưng bệnh lí

Các đặc trưng bệnh lí gồm có sự biến đổi về các đốt xương sống, lớp cơ đệm, nhiệt độ và cảm giác như sau:

1/ Trên các đốt sống Lồi, Lồi Lệch và Lệch thì ở nơi cao nhất hoặc lệch nhất trên đầu gai sống biểu hiện lớp cơ co cộm, nhiệt độ nóng cao Khi đặt ngón tay tác động trên lớp cơ co thì người bệnh có cảm giác đau tăng

2/ Trên các đốt sống Lõm hoặc Lõm Lệch thì ở nơi lõm sâu nhất trên đầu gai sống biểu hiện lớp cơ teo nhược, nhiệt độ thấp và cảm giác giảm Khi dùng thủ thuật tác động tại chỗ đó thì người bệnh cũng không nhận biết được rõ ràng về cảm giác đau

Trang 33

II ỨNG DỤNG CẢM GIÁC ĐAU TRONG CHẨN VÀ TRỊ BỆNH

Ở đây chúng tôi muốn nhắc lại rằng khi cơ thể người bệnh có cảm giác đau mỏi, bạc nhược thì bao giờ trên hệ cột sống cũng biểu hiện cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí, tức cảm giác đau khi có tác động bằng thủ thuật

Phương pháp Tác động cột sống căn cứ vào tính chất đau của cảm giác để chẩn đoán bệnh

Tính chất đau:

Cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí thường khu trú trên một diện rộng, có thể từ một đến nhiều đốt liền nhau nhưng trong đó bao giờ cũng phải có một điểm nhỏ có cảm giác đau nhất Điểm đau này thầy thuốc có thể nhận biết được bằng sự phản ứng của cơ thể người bệnh như giật thót mình, hoặc phản ứng của hệ cột sống như oằn lún lưng, cong gù lưng, hoặc vặn vẹo qua phải hay qua trái v v

Điểm đau nhất này được coi là trung tâm của hiện tượng bệnh lí khu trú ở trên hệ cột sống mà

phương pháp Tác động quy định là trọng điểm Trọng điểm được coi như là căn cứ để chẩn

đoán quy nạp mối liên quan của các bộ phận của cơ thể bị rối loạn vì có liên quan với các đặc trưng bệnh lí: lớp cơ co dầy nhất, đốt sống lồi, lệch nhất, nhiệt độ cao nhất

Điểm đau của hiện tượng bệnh lí là một đặc điểm không chỉ riêng khu trú ở trọng điểm trên hệ cột sống mà còn biểu hiện ở nhiều khu vực khác nữa, cụ thể như:

1/ Khi ta đã phát hiện trên hệ cột sống có điểm đau thường khu trú trên những đốt sống Lồi bệnh lí thì ngay trên hệ cột sống cũng có điểm đau liên quan ở phía trên hoặc phía dưới điểm đau ấy

2/ Khi ta phát hiện trên hệ cột sống có điểm đau trên những đốt sống Lồi Lệch và Lệch thì ngoài phạm vi cột sống cũng có điểm đau khu trú hoặc ở gần, hoặc ở xa cột sống, tương ứng với trọng điểm gọi là điểm đối động Những điểm đau ở ngoài phạm vi cột sống này thường khu trú ở vị trí khác nhau theo độ ngang, chếch chéo lên hoặc chéo xuống, có nhiều trường hợp chạy lan vòng quanh thân mình ra phía trước, tận cùng ở bờ xương ức, xương mu hoặc xương chậu phía bên kia

Những điểm đối động này thường liên quan với lớp cơ co gợn, dai chắc và cũng là cơ sở để quy nạp chẩn đoán bệnh theo phương thức đối động

III ĐẶC TÍNH VỀ CẢM GIÁC

Phương pháp Tác động cột sống căn cứ vào cảm giác đau hoặc cảm giác giảm trên hệ cột sống người bệnh để chẩn và trị bệnh, chủ yếu là cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí, nghĩa là cảm giác đau khi thầy thuốc tác động bằng thủ thuật tại trọng điểm

Trang 34

Đặc tính của cảm giác trong quá trình điều trị là:

1/ Khi thầy thuốc tác động tại trọng điểm người bệnh cảm thấy đau nhưng dễ chịu và trong quá trình thao tác trị bệnh, người bệnh cảm thấy bớt đau dần, từ đau nhiều đến đau ít, và khi hết đau là lúc ổ bệnh được giải tỏa

2/ Cảm giác đau cùng với nhiệt độ cao biểu hiện trên đốt sống Lồi bệnh lí và điểm đau liên quan ở trên hoặc dưới trọng điểm, cùng bên với trọng điểm

3/ Cảm giác đau cùng với nhiệt độ cao biểu hiện trên đốt sống Lồi Lệch hoặc Lệch bệnh lí và điểm đối động gần hoặc xa, khác bên với trọng điểm

4/ Cảm giác tê biểu hiện khác bên với trọng điểm

5/ Cảm giác giảm cùng với nhiệt độ thấp biểu hiện trên đốt sống Lõm hoặc Lõm Lệch

Căn cứ vào đặc tính của cảm giác nói trên, phương pháp Tác động cột sống quy định trong quá trình thao tác, nếu người bệnh cảm thấy đau tăng và khó chịu thì phải ngừng ngay thao tác, vì như vậy thao tác chưa đúng trọng điểm (chẳng hạn tác động đúng mỏ gai đôi là điểm đau bệnh lí, trong khi phương pháp Tác động cột sống nhằm giải tỏa điểm đau của hiện tượng bệnh lí)

Trang 35

Phần 2 PHÂN BIỆT LOẠI VÀ THỂ

Các LOẠI là sự phân biệt về hình thái của đốt sống mất bình thường như đốt sống LỒI, đốt sống LỒI LỆCH, đốt sống LỆCH, đốt sống LÕM, đốt sống LÕM- LỆCH

Về hình thái lớp cơ đệm thì các LOẠI phân biệt lớp cơ trên đầu gai sống mất bình thường như lớp cơ DẦY, lớp cơ MỎNG, lớp cơ CO, lớp cơ CỨNG, lớp cơ MỀM, lớp cơ XƠ, lớp cơ SỢI, lớp cơ TEO v…v…

Các THỂ là sự phân biệt về vị trí của lớp cơ bệnh lí khu trú nông hay sâu ở lớp ngoài, lớp giữa hay lớp trong, và bề mặt phát triển Hẹp, Rộng hay Lớn sang cơ lưng

Ngoài các thể Đơn còn có những thể Liên có định nghĩa riêng ở phần sau

Ngoài hai hình thái về đốt sống và lớp cơ nói trên, ở khu vực đó còn có trạng thái nhiệt độ da cao hoặc thấp, cảm giác đau tăng hoặc giảm ở trên đầu các đốt sống bệnh lí

Các loại và thể là cơ sở cho chẩn đoán bệnh, kết luận bệnh, tiên lượng bệnh và đề ra phương hướng điều trị của Phương pháp Tác động cột sống

Hình thái các loại và thể của đốt sống và lớp cơ mất bình thường gồm có:

Trang 36

Bài 1 HÌNH THÁI LOẠI VÀ THỂ ĐỐT SỐNG LỒI

LOẠI đốt sống Lồi là hình thái của đốt sống cong lồi ra phía sau ảnh hưởng đến đường cong sinh lí của cột sống, biểu hiện bằng các hình thái như:

Hình thái lớp cơ đệm trên đầu đốt sống Lồi gồm: Co, Cứng, Mềm, Dày, Mỏng, Xơ Rối, chia ra làm nhiểu Thể

THỂ: Các loại đốt sống Lồi đều có thể biểu hiện 1 trong 3 thể:

I HÌNH THÁI LOẠI ĐƠN LỒI

ĐƠN LỒI là biểu hiện của một đốt sống lồi ra phía sau: trên đầu gai sống Lồi, lớp cơ đệm biểu hiện Co, Cứng, Mềm, Dầy, Mỏng, Xơ rối, nhiệt độ da tăng, cảm giác đau, phân chia thành các loạt như sau:

7/ Loại Đơn Lồi Xơ Rối

II HÌNH THÁI LOẠI LIÊN LỒI

LIÊN LỒI là biểu hiện của nhiều đốt sống liền nhau bị dính cứng lồi ra phía sau, trên đầu gai các đốt sống Lồi, lớp cơ đệm biểu hiện Co, Cứng, Mềm, Dầy, Mỏng, Xơ rối, nhiệt độ da tăng, cảm giác đau, phân chia thành các loại như sau:

7/ Loại Liên Lồi Xơ Rối

III HÌNH THÁI LOẠI LỒI TRÊN

Trang 37

Lồi Trên là biểu hiện của phần trên một đốt sống LỒI ra phía sau, trên đầu gai đốt sống lồi Trên, lớp cơ đệm biểu hiện Co, Cứng, Mềm, Dầy, Mỏng, Xơ rối, nhiệt độ da tăng, cám giác đau, phân chia thành các loạt như sau:

7/ Loại Lồi Trên Xơ Rối

IV HÌNH THÁI LOẠI LỒI DƯỜI

Lồi Dưới là biểu hiện của phần dưới một đốt sống LỒI ra phía sau; trên đầu gai đốt sống lồi dưới, lớp cơ đệm biểu hiện Co, Cứng, Mềm, Dầy, Mỏng, Xơ rối, nhiệt độ da tăng, cám giác đau, phân chia thành các loạt như sau:

7/ Loại Lồi Dưới Xơ Rối

Bài 2 HÌNH THÁI LOẠI VÀ THỂ ĐỐT SỐNG LỒI- LỆCH

Đốt sống Lồi- Lệch là hình thái của đốt sống mất bình thường lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái, ảnh hưởng đến đường cong và đường thẳng sinh lí của hệ cột sống biểu hiện bằng nhiều hình thái khác nhau Lớp cơ đệm trên đốt sống Lồi- Lệch cũng biểu hiện thành nhiều hình thái mất bình thường khác nhau Ngoài các hình thái nói trên, ở khu vực này còn có cảm giác đau khi có tác động và nhiệt độ nóng cao hơn bình thường biểu hiện bằng các hình thái như:

I HÌNH THÁI LOẠI ĐƠN LỒI – LỆCH

Đơn Lồi – Lệch là biểu hiện của một đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái, bên đối xứng bị khuyết, trên đầu gai sống phía bên bị khuyết, lớp cơ đệm biểu hiện Teo, Nhược và phía bên Lệch biểu hiện các hình thái: Co, Cứng, Mềm, Dày, Mỏng, Xơ, Sợi; phân chia thành các loại như sau:

1 Loại Đơn Lồi - Lệch co dày

2 Loại Đơn Lồi - Lệch cứng dày

3 Loại Đơn Lồi - Lệch mềm dày

Trang 38

4 Loại Đơn Lồi - Lệch co mỏng

5 Loại Đơn Lồi - Lệch cứng mỏng

6 Loại Đơn Lồi - Lệch mềm mỏng

7 Loại Đơn Lồi - Lệch xơ rối

8 Loại Đơn Lồi - Lệch xơ dọc

9 Loại Đơn Lồi - Lệch sợi tròn dọc

10 Loại Đơn Lồi - Lệch sợi dẹt dọc

11 Loại Đơn Lồi - Lệch xơ ngang

12 Loại Đơn Lồi - Lệch sợi tròn ngang

13 Loại Đơn Lồi - Lệch sợi dẹt ngang

14 Loại Đơn Lồi - Lệch xơ chéo

15 Loại Đơn Lồi - Lệch sợi tròn chéo

16 Loại Đơn Lồi - Lệch sợi dẹt chéo

II HÌNH THÁI LOẠI LIÊN LỒI – LỆCH

Liên Lồi – Lệch là biều hiện của nhiều đốt bị dính cứng lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái , bên đối xứng bị khuyết Lớp cơ đệm bên khuyết thường bị Teo, Nhược; cảm giác giảm, nhiệt độ thấp; phía bên lệch biểu hiện các hình thái Co, Cứng, Mềm, Dày, Mỏng, Xơ, Sợi; cảm giác đau, nhiệt độ cao; phân chia thành các loại như sau:

1 Loại Liên Lồi - Lệch co dày

2 Loại Liên Lồi - Lệch cứng dày

3 Loại Liên Lồi - Lệch mềm dày

4 Loại Liên Lồi - Lệch co mỏng

5 Loại Liên Lồi - Lệch cứng mỏng

6 Loại Liên Lồi - Lệch mềm mỏng

7 Loại Liên Lồi - Lệch xơ rối

8 Loại Liên Lồi - Lệch xơ dọc

9 Loại Liên Lồi - Lệch sợi tròn dọc

10 Loại Liên Lồi - Lệch sợi dẹt dọc

11 Loại Liên Lồi - Lệch xơ ngang

12 Loại Liên Lồi - Lệch sợi tròn ngang

13 Loại Liên Lồi - Lệch sợi dẹt ngang

14 Loại Liên Lồi - Lệch xơ chéo

15 Loại Liên Lồi - Lệch sợi tròn chéo

16 Loại Liên Lồi - Lệch sợi dẹt chéo

Trang 39

III HÌNH THÁI LOẠI LỒI – LỆCH TRÊN

Lồi – Lệch trên là biểu hiện phần trên đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái, bên đối xứng bị khuyết Lớp cơ đệm trên đầu gai sống bên khuyết bị teo nhược, cảm giác giảm , nhiệt độ thấp Lớp cơ đệm trên đầu gai sống bên Lệch có hình thái: Co, Cứng, Mềm, Dày, Mỏng, Xơ, Sợi; nhiệt độ tăng, cảm giác đau, phân chia thành các loại như sau:

1 Loại Lồi - Lệch trên co dày

2 Loại Lồi - Lệch trên cứng dày

3 Loại Lồi - Lệch trên mềm dày

4 Loại Lồi - Lệch trên co mỏng

5 Loại Lồi - Lệch trên cứng mỏng

6 Loại Lồi - Lệch trên mềm mỏng

7 Loại Lồi - Lệch trên xơ rối

8 Loại Lồi - Lệch trên xơ dọc

9 Loại Lồi - Lệch trên sợi tròn dọc

10 Loại Lồi - Lệch trên sợi dẹt dọc

11 Loại Lồi - Lệch trên xơ ngang

12 Loại Lồi - Lệch trên sợi tròn ngang

13 Loại Lồi - Lệch trên sợi dẹt ngang

14 Loại Lồi - Lệch trên xơ chéo

15 Loại Lồi - Lệch trên sợi tròn chéo

16 Loại Lồi - Lệch trên sợi dẹt chéo

IV HÌNH THÁI LOẠI LỒI – LỆCH DƯỚI

Lồi – Lệch dưới là biểu hiện phần dưới đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái, bên đối xứng bị khuyết Lớp cơ đệm trên đầu gai sống bên khuyết bị teo nhược, cảm giác giảm , nhiệt độ thấp Lớp cơ đệm trên đầu gai sống bên Lệch có hình thái: Co, Cứng, Mềm, Dày, Mỏng, Xơ, Sợi; nhiệt độ tăng, cảm giác đau, phân chia thành các loại như sau:

1 Loại Lồi - Lệch dưới co dày

2 Loại Lồi - Lệch dưới cứng dày

3 Loại Lồi - Lệch dưới mềm dày

4 Loại Lồi - Lệch dưới co mỏng

5 Loại Lồi - Lệch dưới cứng mỏng

6 Loại Lồi - Lệch dưới mềm mỏng

7 Loại Lồi - Lệch dưới xơ rối

8 Loại Lồi - Lệch dưới xơ dọc

9 Loại Lồi - Lệch dưới sợi tròn dọc

Trang 40

10 Loại Lồi - Lệch dưới sợi dẹt dọc

11 Loại Lồi - Lệch dưới xơ ngang

12 Loại Lồi - Lệch dưới sợi tròn ngang

13 Loại Lồi - Lệch dưới sợi dẹt ngang

14 Loại Lồi - Lệch dưới xơ chéo

15 Loại Lồi - Lệch dưới sợi tròn chéo

16 Loại Lồi - Lệch dưới sợi dẹt chéo

V PHÂN BIỆT HÌNH THÁI CÁC THỂ CỦA CÁC LOẠI LỒI – LỆCH

THỂ là sự phân biệt về vị trí của lớp cơ bệnh lý khu trú nông hay sâu ở LỚP NGOÀI, LỚP GIỮA hay LỚP TRONG và về mặt phát triển HẸP, RỘNG hay LỚN sang cơ lưng

Đốt sống Lồi – Lệch gồm các thể như sau:

5/ Thể Ngoài Lớn là hình thái khu trú của trọng điểm ở lớp cơ ngoài, nhưng lan rộng ra ngoài

cơ thẳng lưng, viết tắt là (NL)

6/ Thể Ngoài Giữa Lớn là hình thái khu trú của trọng điểm ở lớp cơ ngoài và lớp cơ giữa,

nhưng lan rộng ra ngoài cơ thẳng lưng, viết tắt là (NGL)

Ngày đăng: 20/04/2021, 03:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. CẨM NANG về PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG (Biên soạn: Chuyên gia Bùi Đức Cương – 2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: CẨM NANG về PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG
Tác giả: Chuyên gia Bùi Đức Cương
Năm: 2002
5. PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG – Quyển I & II (Biên soạn: Lương Y Nguyễn Xuân Trang) Sách, tạp chí
Tiêu đề: PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG – Quyển I & II
Tác giả: Lương Y Nguyễn Xuân Trang
6. “Tài liệu Hướng dẫn phổ cập Phương pháp Tác động cột sống”, (Trung tâm nghiên cứu và phát triển Phương pháp Tác động cột sống ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hướng dẫn phổ cập Phương pháp Tác động cột sống
7. Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam, (của Hội Tác động cột sống Hà Nội) 8. PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẦU VÀ CỘT SỐNG(Biên soạn: Chuyên gia Công Kim Thắng – 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam
Tác giả: Chuyên gia Công Kim Thắng
Nhà XB: Hội Tác động cột sống Hà Nội
Năm: 2001
1. Bài giảng PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG (Giáo trình dùng trong nhà trường – Trường Y Học Dân Tộc Tuệ Tĩnh.Tác giả: Lương Y Nguyễn Tham Tán – 1991) 2. PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNGCÁC PHƯƠNG THỨC CHẨN BỆNH VÀ TRỊ BỆNH (Tác giả: Lương Y Nguyễn Tham Tán – 1998) Khác
4. BÀI GIẢNG TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG, Tập I, II, (HVYDHCT Việt Nam – Chủ biên PGS. TS. Trương Việt Bình NXB Y Học – 2010) Khác
11. Và một số tài liệu viết tay của Thầy Đỗ Đình Thi và các nguồn khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w