Mục đích của đề tài này là quá trình nghiên cứu thực trang thu thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An, tìm ra các biện pháp tăng cƣờng quản lý hữu hiệu hơn. Đề tài bao gồm những nội dung sau: Phần 1: Lý luận về thuế GTGT và sự cần thiết phải tăng cƣờng quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể. Phần 2: Thực trạng quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh tế cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An. Phần 3: Một số kiến nghị và biện pháp tăng cƣờng quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh tế cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An. Đề tài này là của Nông Thị Lan Chi lớp CQ4602.02học viện tài chính
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại kinh tế thị trường, đất nước ta với mục tiêu CNH – HĐH đất nước ngày càng đòi hỏi nhiều về vốn Trong đó nguồn vốn chủ yếu để ổn định tình hình đất nước là nguồn vốn từ NSNN và khoản thu chủ yếu của NSNN
là thuế, đúng theo khẩu hiệu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra: “Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN”
Hệ thống thuế có nhiều sắc thuế, trong đó thuế GTGT là loại thuế đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nguồn thu NSNN và nền kinh tế xã hội
Trong thời gian qua công tác quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể có nhiều chuyển biến tích cực góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của hộ kinh doanh, hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân sách Tuy nhiên tiềm năng còn và có thể khai thác thu để đạt ở mức cao hơn Tình trạng thất thu tuy có giảm nhưng vẫn còn tình trạng quản lý không hết hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế không sát với thực tế, dây dưa nợ đọng thuế còn nhiều… Vì vậy, vấn đề mang tính vấp thiết đặt ra cho Ngành Thuế là phải tìm cho ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể
Cùng với sự đổi mới về kinh tế của đất nước, Huyện Thạch An là một huyện miền núi của Tỉnh Cao Bằng cũng đang phát triển.Số hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn Huyện tăng làm cho số thu trên địa bàn cũng tăng Tuy nhiên
sự phức tạp trong quản lý thu thuế đối với họ kinh doanh cá thể là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của chi cục thuế Huyện Thạch An là cần
có biện pháp tăng cường quản lý thu thuế Trong đó quản lý thu thuế GTGT đối với khu vực kinh tế cá thể là một mảng nhiệm vụ quan trọng và khó khăn để đảm bảo cho nguồn thu NSNN.Nhận thức được tầm quan trọng này, trong thời gian thực tập tại Chi cục thuế Huyện Thạch An với các kiến thức đã thu lượm được
Trang 2cùng với sự tham gia hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo, đặt biệt là cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Liên, cùng các cán bộ trong Chi cục em đã mạnh dạn tìm hiểu và nghiên cứu công tác quản lý thu thuế với đề tài:
“Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An”
Mục đích của đề tài này là quá trình nghiên cứu thực trang thu thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An, tìm ra các biện pháp
tăng cường quản lý hữu hiệu hơn
Đề tài bao gồm những nội dung sau:
Phần 1: Lý luận về thuế GTGT và sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể
Phần 2: Thực trạng quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh tế cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An
Phần 3: Một số kiến nghị và biện pháp tăng cường quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh tế cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An
Là một sinh viên nên kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế Do vậy, không tránh khỏi những khiếm khuyết trong nội dung, phương pháp nghiên cứu
Em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, các cán
bộ thuế để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Cao Bằng, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Nông Thị Lan Chi
Trang 3Chương 1:
THUẾ GTGT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU
THUẾ GTGT ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 Những vấn đề chung về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Thuế GTGT là sắc thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch
vụ phát sinh từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
- Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tấ
cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán của người tiêu dùng cuối cùng
GTGT là phần giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Đại lượng này có thể được xác định bằng phương pháp cộng hoặc phương pháp trừ Theo phương pháp cộng, GTGT là trí giá các yếu tố cấu thành giá trị tăng thêm bao gồm tiền công và lợi nhuận Theo phương pháp trừ, GTGT chính là khoản chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ trừ đi tổng giá trị hàng hóa dịch
vụ mua vào tương ứng Tổng GTGT ở tất cả các giai đoạn luân chuyển bằng đúng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng Do vậy, việc thu thuế trên GTGT
ở từng giai đoạn tương đương với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao Thuế GTGT không phải là yếu
tố chi phí mà là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả sản xuất kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia chu trình kinh tế,
Trang 4sản phẩm được luân chuyển quan nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi
- Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT là một khoản tiền được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch
vụ mà người mua phải trả khi mua hàng
- Thuế GTGT có tính lũy thoái so với nhập khẩu Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau Như vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỉ lệ thấp hơn và ngược lại
- Thuế GTGT có tính lãnh thổ, đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
- Thuế GTGT có khả năng đem lại số thu thường xuyên và ổn định cho NSNN Đồng thời số thuế GTGT cao hay thấp phụ thuộc vào mức tiêu dùng của
xã hội, mà con người muốn tồn tại thì tất yếu phải dùng
- Thuế GTGT đánh vào hoạt động tiêu dùng trong xã hôi, cho nên thuế này điều tiết một phần thu nhập của người tiêu dùng khi mua hàng hóa, dịch vụ Thuế GTGT là công cụ để Nhà nước điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
1.1.1 Những nội dung cơ bản của thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể
Thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào NSNN theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
Thuế GTGT hiện hành của Việt Nam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau:
Trang 5Thông tư 129/2008/TT – BTC ngày 26/12/2008
Thông tư 28/2011/TT – BTC ngày 18/02/2011
Nghị định số 123/2008/NĐ – CP ngày 18/12/2008
Luật thuế số 13/2008/ QH 12 ngày 03/06/2008
Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo quyết định
số 1201/TCT/QĐ/TCCB ngày 26/07/2004
Theo đó nội dung chủ yếu của luật thuế GTGT hiện hành như sau:
- Đối tượng chịu thuế GTGT: là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở trên đất nước ta(bao gồm cả hàng hóa dịch vụ mua của tổ chức cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT
- Đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT: theo luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện hành quy đinh 26 nhóm mặt hàng và dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất phát từ những quan điểm sau:
+ Không thu thuế GTGT đối với một số ngành sản xuất kinh doanh , lĩnh vực còn khó khăn, cần khuyến khích tạo điều kiện phát triển như sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản nuôi trồng và đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt ra và ở khâu nhập khẩu, sản phẩm muối, thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp
+ Không thu thuế GTGT đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống xã hội, cộng đồng không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng như dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, vận chuyển hành khách công cộng bằng xe bus
Trang 6+ Không thu thuế đối với các hàng hóa, dịch vụ sử dụng nhằm các mục đích chính sách xã hội, nhân đạo, không nhằm mục đích kinh doanh, không vì lợi nhuận như hàng nhập khẩu trong các trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, quà tặng từ nước ngoài…
+ Không thu thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ thể hiện ưu đãi có mức
độ đối với sản xuất kinh doanh
+ Không thu thuế GTGT đối với một số dịch vụ hàng hóa khó xác định giá trị tăng thêm như dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư
+ Hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu nhà nước quy định đối với công chức nhà nước
-Đối tượng nộp thuế GTGT: là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghê, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT
- Căn cứ tính thuế: thuế GTGT được dựa trên hai căn cứ đó là giá tình thuế
và thuế suất
+ Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chung có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hóa nhập khẩu
+ Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hóa đơn dịch
vụ có ở các khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay kinh doanh thương mại Hiện hành các mức thuế suất GTGT bao gồm: 0%, 5%, 10%
- Phương pháp tính thuế: Thuế GTGT được xác định theo 2 phương pháp:
Trang 7+ Phương pháp khấu trừ: áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy
đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT
* Xác định thuế GTGT phải nộp:
Thuế Giá trị gia tăng Thuế GTGT Thuế GTGT
phải nộp = đầu ra - đầu vào
Trong đó:
Số thuế đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ hàng hóa bán ra ghi trên hóa đơn GTGT
Thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế bán ra nhân với (X) thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó
Cơ sở kinh doanh thuộc các đối tượng tính thuế thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra Khi lập hóa đơn cơ sở sản xuất kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán Nếu trường hợp hóa đơn chỉ ghi giá thanh toán thì thuế GTGT phải tính trên giá thanh toán ghi trên hóa đơn chứng từ
Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT
+ Phương pháp trực tiếp:
Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT áp dụng đối với các đối tượng sau đây:
Trang 8Cá nhân các hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật
* Cách xác định thuế GTGT phải nộp là:
Thuế GTGT GTGT của hàng hóa, thuế suất thuế
phải nộp = dịch vụ chịu thuế x GTGT tương ứng
GTGT của hàng giá thanh toán của hàng giá thanh toán của hàng hóa, hóa, dịch = hóa, dịch vụ bán ra - dịch vụ mua vào tương ứng
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ, phí thu thêm mà bên bán được hưởng, không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu tiền
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng
Đối với cơ sở kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ có đầy đủ hóa đơn, chứng
từ của hàng hóa, dịch vụ bán ra theo chế độ quy định hoặc có đủ điều kiện xác định được đúng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ như hợp đồng và chứng từ thanh toán nhưng không có đủ hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào thì:
Thuế GTGT Doanh thu Tỷ lệ GTGT trên Thuế suất thuế GTGT
phải nộp = x doanh thu x tương ứng
Đối với hoạt động kinh doanh, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì nộp thuế GTGT như sau:
Trang 9Thuế GTGT Doanh thu Tỷ lệ GTGT trên Thuế suất thuế GTGT
phải nộp = ấn định x doanh thu x tương ứng
1.2 Hộ kinh doanh cá thể và sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu thuế
GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể
1.2.1 Vai trò và đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể
Kinh tế cá thể là loại hình có số lượng lao động tham gia đông hơn hẳn so với những loại hình tổ chức khác Bản thân số lượng này không phải là yếu tố quyết định song lại là cơ sở hình thành tính phong phú, đa dạng, không đồng nhất của hoạt động kinh tế diễn ra ở tất cả các hộ kinh doanh cá thể
Phạm vi hoạt động kinh tế cá thể tương đối rộng lớn và đa dạng, được phát triển ở mọi ngành nghề, phân bố rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, từ đông bằng đến miền núi… và diễn ra trên mọi lĩnh vực sản xuất thương nghiệp dịch vụ Điều này chứng tỏ Nhà nước có số thu thuế từ khu vực kinh tế cá thể trên phạm vi rộng
Cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kinh tế cá thể được coi là bộ phận hỗ trợ hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Kinh tế cá thể tồn tại một cách khách quan xuất phát từ yêu cầu của xã hội và ngày càng khẳng định vai trò to lớn của nó:
- Kinh tế cá thể tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu đời sống sinh hoạt của nhận dân, cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, làm cầu nối giữa sản xuất và lưu thông tiêu dùng, tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiền tệ trong nền kinh tế nhanh chóng và hiệu quả
- Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện cả nước có 2,7 triệu hộ KDCT Còn theo thống kê điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam của Tổng cục
Trang 10Thống kê, giá trị tăng trung bình một năm của một hộ gia đình Việt Nam là 15,5 triệu đồng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) quy ra giá trị gia tăng của khu vực doanh nghiệp hộ gia đình Việt Nam tương đương với gần 13% góp vào GDP của cả nước Điều này không chỉ đơn thuần đảm bảo thu nhập cho người lao động mà còn có tác đụng đến vấn đề an ninh xã hội và gánh nặng chi tiêu cho Nhà nước để giải quyết vấn đề thất nghiệp và tệ nạn xã hội do không
có việc làm tạo nên
- Kinh tế cá thể nắm giữ một khối lượng vốn lớn trong nền kinh tế cá có khả năng huy động được nhiều vốn Lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vẫn còn rất nhiều và chưa được sử dụng hiệu quả Nếu lượng vốn này được tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả kinh tế xã hội tăng lên, thúc đẩy
mở rộng sản xuất, kích thích tiêu dùng Từ đó thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác, Ngược lai, khi những thành phần kinh tế khác thiếu vốn để
mở rộng sản xuất kinh doanh thì có thể cho vay để bớt chi phí tiền vay hơn là phải vay của nước ngoài như hiện nay
Bên cạnh những ưu điểm trên thành phần kinh tế cá thể cũng có một số mặt hạn chế Đặc điểm hộ cá thể là làm ăn riêng lẻ, tản mạn, rời rạc và luôn tìm mọi cách tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế… Dưới tác động của quy luật giá trị, thành phần kinh tế này rất dễ bị phân hóa Sự năng động của thành phần kinh tế cá thể mang tính chất tự phát theo thị trường, nếu thiếu sự định hướng thì sẽ không bao quát được như cầu thị trường
Như vậy, kinh tế cá thể đã và đang tiếp tục phát triển hỗ trợ những mặt hàng mà kinh tế quốc doanh và các thành phần kinh tế khác chưa đáp ứng được
Vì vậy, cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đối với thành
Trang 11phần kinh tế cá thể thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hàng lang pháp lý
và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế trọng điểm đem lại những hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý thu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể
Đối với hộ kinh doanh cá thể thì hầu hết đều có quy mô nhỏ, sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng, hay thay đổi địa điểm và ngành nghề kinh doanh Hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ còn mang tính tự phát có thể bất chấp các thủ đoạn để làm giàu Trình độ am hiểu và chấp hành ý thức pháp luật của người dân không cao nên đã làm cho công tác quản lý thu thuế gặp nhiều khó khăn Hơn nữa lại hoạt động trong phạm vi dàn trải, địa bàn rất rộng gây không ít khó khăn trong công tác quản lý
Ngoài ra, đa số các hộ chưa thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ để làm cơ sở xác định thuế GTGT phải nộp Các hộ đa phần chủ yếu là nộp thuế khoán mà việc nộp thuế khoán dễ phát sinh tiêu cực Nhiều hộ chưa tự nguyện, tự giác đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và nhiều hộ chây ỳ không nộp thuế, nợ đọng thuế… Nhiều trường hợp hộ kinh doanh cá thể khai tạm nghỉ kinh doanh nhưng trên thực tế vẫn hoạt động bình thường mà cán bộ thuế không phát hiện ra hoặc phát hiện được thì số lượng xử lý vẫn còn ít so với thực tế cần xử lý Cho nên những hộ này đã trốn được một khối lượng thuế GTGT khá lớn
Xét về khía cạnh chủ quan trong thực trạng quản lý, cán bộ thuế hoặc thiếu năng lực hoặc không đủ lực lượng hay nghiên trọng hơn là cố tình cấu kết với các đối tượng nộp thuế làm thất thu NSNN
Như vây, việc tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể là công tác cần thiết và hết sức quan trọng không chỉ phục vụ
Trang 12riêng cho công tác thu ngân sách mà còn thực hiện kiểm tra, kiểm soát đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng hướng và đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế nói riêng cũng như đảm bảo công bằng xã hội nói chung Chính vì vậy, từng cấp cơ sở quản lý thu thuế cần có những biện pháp quả lý riêng cho phù hợp với tình trạng thu thuế ở khu vực đó, góp phần chống thất thu thuế, ngăn chặn sự mất mát Ngân sách không đang có từ những thành phần kinh tế
Trên địa bàn Huyện Thạch An việc quản lý thuế GTGT cũng gặp không ít khó khăn Chương 2 sẽ phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn để hiểu rõ tình trạng thu thuế và các biện pháp mà Chi cục thuế Huyện Thạch An đã và đang làm
Trang 13Chương 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ
THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH AN 2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội và tình hình phát triển khu vực kinh
tế cá thể trên địa bàn Huyện Thạch An
2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội Huyện Thạch An
* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Huyện Thạch An nằm ở
phía Đông Nam tỉnh Cao Bằng cách Thị xã Cao Bằng khoảng 45km theo đường
số 4.Diện tích tự nhiên 683,03 km2
, dân số là 31.777 người Có Thị trấn Đông Khê và 15 đơn vị hành chính cấp xã (Đức Long, Danh Sĩ, Lê Lợi, Đức Xuân, Trọng Con, Lê Lai, Thụy Hùng, Thị Ngân, Vân Trình, Thái Cương, Đức Thông, Quang Trọng, Minh Khai, Canh Tân, Kim Đồng)
Huyện Thạch An nằm trong vùng khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc Có tiểu vùng có khí hậu á nhiệt đới Và là cửa ngõ đón gió mùa Đông Bắc
từ Trung Quốc tràn sang vào mùa đông và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam vào mùa hè không có cánh đồng rộng mà chỉ có thung lũng nhỏ nằm xen
kẽ những vùng núi hoặc lòng máng ven các con sông tạo thành những dải phù sa nhỏ bé Đất này chiếm khoảng 4,67% so với tổng diện tích điều tra Trong đó bao gồm nhóm đất phù sa (Phù sa được bồi và phù sa không được bồi) Do vị trí địa lý và địa hình như vậy nên Huyện chủ yếu trồng lúa, các loại cây ăn quả huyện Thạch An đang chỉ đạo tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, phấn đấu đến năm 2015 hình thành các vùng sản xuất hàng hóa đạt khối lượng và chất lượng
Trang 14* Về kinh tế: Trong những năm qua tăng trưởng bình quân năm là 12,1%, thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 14 triệu/năm
Về cơ cấu kinh tế năm 2011 của Huyện Thạch An là: Nông – Lâm nghiệp
là 68,93%, công nghiệp xây dựng: 3,67%, thương mại và dịch vụ: 27,40% Các sản phẩm điển hình của Huyện là lúa gạo và các loại hoa màu, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp…
* Về mặt văn hóa – xã hội: trong những năm vừa qua được sự quan tâm của UBND Huyện cũng như các đơn vị, đời sống tinh thần của người dân cũng được nâng cao, văn hóa giáo dục cũng đặc biệt được chú ý và có nhiều bước phát triển Cơ sở vật chất trường học được nâng cấp, chất lượng giáo dục cũng được nâng lên rất nhiều, điều này có tác động tích cực đến tình hình dân trí của Huyện
và tình hình kinh tế xã hội của tỉnh
Trước những tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn Huyện cùng với nhiệm
vụ thu của Chi cục, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Chi cục cần cố gắng hơn, phát huy những thế mạnh vốn có của mình để đóng góp vào công cuộc xây dựng kinh tế trên địa bàn Huyện riêng và nền kinh tế nói chung
2.1.2 Tình hình phát triển khu vực kinh tế cá thế trên địa bàn Huyện Thạch
An
Huyện Thạch An đang trên đà phát triển về mọi mặt, mục tiêu phấn đấu trong giai đoạn 2010 – 2015 là thoát khỏi Huyện nghèo của Tỉnh Cao Bằng Vì vậy, cuộc sống của người dân ở trên địa bàn Huyện mấy năm gần đây đang trở nên sôi động, kinh tế - xã hội phát triển, khu vực kinh tế cá thể cũng nhờ đó mà phát triển với nhiều ngành nghề đa dạng: sản xuất, thương nghiệp, dịch vụ, ăn uống, vận tải
Trang 15Tính đến ngày 31/12/2011, Chi cục đã thống kê được khoảng 959 hộ cá thể có tham gia kinh doanh trên địa bàn, cụ thể như sau:
Biểu 1: CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH AN NĂM 2011
(Báo cáo tổng kết bộ môn bài)
Nhìn trên bảng số liệu trên ta thấy rõ ngành thương nghiệp trên địa bàn Huyện phát triển mạnh, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hộ cá thể là 337 hộ (35,14%), là nguồn thu chủ yếu của NSNN của Huyện, bên cạnh đó việc kinh doanh nhà hàng, nhà nghỉ trên địa bàn đang phát triển, cũng đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách các ngành nghề này xuất hiện hầu hết ở trên địa bàn Huyện, tùy thuộc vào mức độ, quy mô kinh doanh của từng địa bàn Những năm gần đây do đời sống của người dân phát triển những ngành nghề kinh doanh dịch
vụ nhà nghỉ, nhà trọ đang có xu hướng phát triển thêm ở địa bàn Tuy nhiên, khu vực kinh tế còn thất thu lớn, tập trung chủ yếu ở những ngành nghề như: dịch vụ karaoke, nhà nghỉ, quán ăn Còn lĩnh vực vận tải số hộ là 93 chiếm (9,69%), nhưng thực chất lĩnh vực này khó quản lý và thất thu nhiều
Số thống kê là tương đối lớn nhưng đa số các hộ kinh doanh đều là các hộ nhỏ lẻ, lưu động theo các chợ, kinh doanh không thường xuyên, các mặt hàng
Trang 16kinh doanh chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày Khu vực tập trung kinh doanh chủ yếu là chợ Thị trấn Đông Khê, bên cạnh đó còn có các chợ ở các xã như Vân Trình, Canh Tân Đối tượng kinh doanh phân tán trên địa bàn rộng, sản xuất nhiều khi mang tính tự cung tự cấp trong nội bộ thôn xóm,
xã với nhau nên việc quản lý thu thuế trên địa bàn là rất khó khăn
Tuy đặc điểm kinh tế xã hội cũng như sự phát triển kinh tế hộ cá thể mấy năm gần đây có nhiều thuận lợi cũng như khó khăn trong công tác quản lý thuế trên địa bàn Huyện nhưng Chi cục thuế đã nỗ lực phối hợp cùng các ban ngành địa phương để hoàn thành tốt công tác thu thuế trên địa bàn Huyện
2.1.3 Tổ chức bộ máy của Chi cục thuế Huyện Thạch An
Chi cục Thuế Huyện Thạch An là tổ chức trực thuộc cục Thuế tỉnh Cao Bằng có chức năng tổ chức thực hiện thu thuế, lệ phí và các khoản thu khác của Ngân sách nhà nước (gọi chung là thuế) trên địa bàn Huyện theo quy định của pháp luật Chi cục Thuế có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc thu thuế và các khoản thu khác cho ngân sách theo quy định trên toàn địa bàn Huyện, thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác do cục Thuế giao Chi cục thuế Huyện Thạch An được Chính phủ công nhận vào ngày 10/09/1945, năm 2010 Chi cục
đã kỉ niệm 60 năm ngày thành lập
Chi cục gồm có 1 chi cục trưởng, 1 chi cục phó và có 08 phòng chức năng
và 1 đội Liên xã với tổng số cán bộ làm việc là 20 người
Trang 17SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI CỤC THUẾ HUYỆN THẠCH AN
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng trong Chi cục
Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế
Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về
chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp thuế trong việc thực hiện pháp luật
thuế; Đây là bộ phận tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch
vụ về thuế
Phòng Kê khai và Kế toán thuế
Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý
hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý
CHI CỤC PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG
Phòng
kê khai
và kế toán thuế
Phòng tin học
Phòng thanh tra, kiểm tra thuế
Phòng tổng hợp, nghiệp
vụ, dự toán
Phòng quản lý thuế Thu nhập cá nhân
Phòng quản
lý nợ
và cưỡng chế thuế
ấn chỉ tài vụ, kiểm tra nội bộ
Đội liên
xã
Trang 18Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt trong phạm vi quản
lý
Phòng Kiểm tra,thanh tra thuế
Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế kiểm tra, giám sát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý
trực tiếp của Chi cục
Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế triển khai thực hiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm vi Chi cục quản lý;
Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ - Dự toán
Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế trong việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế; xây dựng và thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước thuộc phạm vi Chi cục quản lý
Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân
Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế tổ chức, chỉ đạo triển khai quản lý thuế
thu nhập cá nhân đối với các cá nhân có thu nhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý
Trang 19Phòng Tổ chức cán bộ, hành chính nhân sự, tài vụ ấn chỉ, kiểm tra nội bộ
Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Chi cục thuế Tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, chương trình, kế hoạch công tác của Chi cục Thuế trong phạm vi toàn Chi cục Thực hiện các công tác in ấn chỉ thuế theo phạm vi được phân cấp; thực hiện cấp phát, bán hoá đơn ấn chỉ thuế cho các đơn vị trong và ngoài ngành thuế và các tổ chức và cá nhân nộp thuế; quản lý sử dụng hoá đơn ấn chỉ thuế và quản lý hoá đơn tự in của các tổ chức và cá nhân nộp thuế
Giữa lãnh đạo và các cán bộ, công nhân viên chức giữa Chi cục và các ban ngành, cơ quan thuộc Huyện như: Viện kiểm sát nhân dân Huyện đã phối hợp chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau giải quyết kịp thời nhiệm vụ được giao, phấn đấu hoàn thành kế hoạc thuế, từng bước hoàn thiện công tác quản lý thuế, nâng cao ý thức chấp hành luật thuế trên địa bàn
2.2 Thực trạng quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể của Chi cục thuế Huyện Thạch An
2.2.1 Đánh giá chung
Trang 20Chi cục thuế Huyện Thạch An được giao nhiệm vụ quản lý thu thuế tất cả
các nguồn thu thuế, phí, lệ phí phát sinh trên địa bàn Trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ Chi cục thuế đã áp dụng theo đúng các quy định trong luật quản lý
thuế, luật thuế GTGT, các quy định về quyền hạn, phòng ban trong cơ quan thuế,
các quy định về quy trình quản lý thuế hiện hành Tuy trong quá trình thực hiện
Chi cục gặp không ít khó khăn vướng mắc cả về khách quan lẫn chủ quan nhưng
với sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ thuế trong Chi cục nên trong những năm qua
Chi cục thuế Huyện nhưng cũng chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách
được giao Sau đây là trích dẫn bảng “kết quả thực hiện thu ngân sách năm 2011
trên địa bàn” của Chi cục thuế Huyện Thạch An
Biểu 2: KẾT QUẢ THU NSNN NĂM 2011
kỳ Trong tháng Lũy kế
Trang 21(Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2011)
* Kết quả thu ngân sách hàng năm của Chi cục năm sau cao hơn năm
trước Tính đến ngày 30 tháng 11năm 2011 thu NSNN do ngành thuế quản lý
trên địa bàn huyện tăng 132,79% so với cùng kỳ năm trước Cụ thể kết quả thu
theo khu vực, sắc thuế
Năm 2011 do có những điều kiện về chủ quan và khách quan tác động lớn
đã làm cho kết quả thu về tổng thế của Chi cục thuế Thạch An không hoàn
thành, mới chỉ đạt 66.5% dự toán của Bộ tài chính giao Kết quả cụ thể như sau:
Trang 22Thu từ DN NQD được 7.333.588.104 đồng đạt 102,7% so với kế hoạch cụ thể: Thu từ DNQD địa phương được 20.000.000 đồng đạt 28,8% so với kế hoạch và bằng 262,8 % cùng kỳ năm 2010
Thu từ CTN và DVNQD được 4.685.192.247 đồng đạt 70,5% so với kế hoạch
và bằng 150,9 % so với cùng kỳ năm 2010
Số thu của hộ cá thể được 1.444.492.396 đồng đạt 128,9% so với kế hoạch
Thuế thu nhập cá nhân được 530.670.127 đồng đạt 135,5% so với kế hoạch giao và bằng 131,8 % so với cùng kỳ năm 2010
Thu thuế nhà đất được 88.864.316 đồng đạt 72,2% so với kế hoạch và bằng 100,14% so với cùng kỳ năm 2010
Thu lệ phí trước bạ thu được 889.283.287 đồng đạt 93,6 % so với kế hoạch và bằng 157,99 % cùng kỳ năm 2010
Thu phí và lệ phí được 261.982.771 đồng đạt 44,7% so với kế hoạch giao
2.2.2 Thực trạng quản lý thu thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể của Chi cục thuế Huyện Thạch An
2.2.2.1 Quản lý đối tượng nộp thuế
Mục tiêu của công tác quản lý đối tượng nộp thuê là phấn đấu 100% đối tượng có thực tế kinh doanh bao gồm cả về kinh doanh cố định, kinh doanh lưu
Trang 23động, kinh doanh thời vụ vào diện quản lý thu thuế và chấm dứt tình trạng thất thu về đối tượng nộp thuế Mục tiêu này tưởng chừng như đơn giản nhưng thông qua viêc cấp mã số thuế, nhưng thực tế có nhiều vướng mắc, khó khăn nhất định
Tính đến ngày 31/12/2011, Chi cục thuế Huyện Thạch An đã quản lý được
959 hộ kinh doanh cá thể, trong đó hộ kê khai là 175 hộ, còn lại là hộ khoán Như vậy, số họ kê khai chỉ chiếm 18,2% con số này tương đối nhỏ chứng tỏ trên địa bàn Huyện hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể chủ yếu là hoạt động buôn bán nhỏ lẻ, tình hình thực hiện hóa đơn chứng từ chưa tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế GTGT Điều này gây khó khăn cho việc quản lý thu nộp thuế GTGT vì tỷ lệ số hộ nộp thuế theo phương pháp ấn định lớn
sẽ ảnh hưởng đến việc thu đúng, thu đủ tiền thuế, dễ tạo ra kẽ hở gây thất thu thuế cho Nhà nước Tuy nhiên dưới sự chỉ đạo của ban lãnh đạo Chi cục và UBND xã với ban quản lý chợ, ban quản lý thị trường, để rà soát các hộ sản xuất kinh doanh, các hộ đã đăng ký nộp thuế, các hộ chưa đưa vào quản lý thuế Tình hình quản lý đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Huyện được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Trang 24Biểu 3: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ HỘ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
Đơn vị tính: hộ
Chỉ tiêu
Đến ngày 31/12/2010 (1)
Đến ngày 31/12/2011 (2)
So sánh Tuyệt đối
(3)=(2)-(1)
Tương đối (4)=(3)/(1)
(Nguồn số liệu: báo cáo tổng hợp thực thu)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, số hộ được cấp mã số thuế năm 2011 là tăng 199 hộ ứng với 17,6%, song số hộ thự tế đang hoạt động lại giảm, tuy không nhiều chỉ giảm 21 hộ với tỷ lệ là 2,1% nhưng phần nào cho thấy số hộ ngừng kinh doanh trên địa bàn tăng lên, điều này cho thấy tiềm năng về số thu đã giảm đi Năm 2010 số hộ chưa đưa vào quản lý là 308 hộ với tỷ lệ là 31,4% đến năm 2011 số hộ chưa đưa vào quản lý là 236 hộ với tỷ lệ là 24,6% Như vậy, qua các năm Chi cục thuế đã đưa được thêm số hộ thực tế sản xuất kinh doanh vào diện nộp thuế, năm 2011 đã thêm được 51 hộ chiếm 7,6% vào quản lý, tuy nhiên
số này còn quá nhỏ và số hộ chưa được quản lý vẫn còn nhiều Nguyên nhân của tình trạng này là do một số hộ không tự giác kê khai nộp thuế, cố tình trốn thuế, cũng có trường hợp là hộ kinh doanh chưa hiểu về pháp luật thuế nên đã không
Trang 25đến cơ quan thuế để đăng ký và nộp thuế Bên cạnh đó còn có nguyên nhân là trách nhiệm của cán bộ thuế chưa nắm vững được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ cá thể trên địa bàn, công tác kiểm tra còn lỏng lẻo chưa có
sự phân công, quy trách nhiệm cho từng người Công tác phối hợp với ban ngành còn mang tính chất định kì chưa liên tục
Để biết rõ hơn về tình hình số hộ chưa đưa vào quản lý ở các ngành nghề
ta xem bảng số liệu sau:
Biểu 4: SỐ HỘ CHƯA QUẢN LÝ ĐƯỢC NĂM 2011
(Nguồn số liệu: Chi cục thuế Thuế Thạch An)
Qua bảng trên ta thấy được số hộ chưa được đưa vào quản lý chủ yếu ở các ngành sau: ngành ăn uống có 70 hộ, tiếp đến là ngành sản xuất là 64 hộ, ngành dịch vụ chiếm 57 hộ sau đó là ngành thương nghiệp và vận tải Số hộ chưa quản lý được còn khá nhiều mỗi ngành đều có những đặc thù riêng của từng ngành ví dụ nổi bật là ngành dịch vụ cho thuê nhà trọ, nhà nghỉ ngành này khó quản lý vì đặc thù kinh doanh khá là phức tạp, và cán bộ thuế không thể quản lý được sát sao tình hình doanh thu của đối tượng này, có nhiều lý do để trốn tránh việc nộp thuế Đồng thời do địa bàn rộng nên cũng chưa nắm bắt và kiểm tra sát
Trang 26được hết các hộ kinh doanh cá thể tự phát, do trình độ hiểu biết của người dân chưa cao nên chưa hiểu những quy định của chính sách quản lý thuế, có hộ kinh doanh mở ra nhưng không đến đăng ký với cơ quan thuế, hoặc những hộ kinh doanh được mở ra để kinh doanh hoạt động nhưng lại ở vùng sâu nên việc nắm bắt của cán bộ thuế khá khó khăn nên dẫn đến việc còn nhiều hộ chưa đưa vào quản lý của cơ quan thuế được
Thực trạng cho thấy nhiều hộ xin nghỉ kinh doanh nhưng vẫn kinh doanh
Ta có thể xem bảng số liệu sau:
Biểu 5: TÌNH HÌNH HỘ NGHỈ KINH DOANH
(Nguồn số liệu: Tổng kết hộ nghỉ và hộ vào bộ)
Qua bảng trên ta thấy: các hộ tạm nghỉ và nghỉ hẳn tháng 12/2011 so với tháng 12/2010 tăng , tuy tăng không nhiều, số hộ tạm nghỉ tăng 15 hộ, số hộ nghỉ hẳn tăng 2 hộ, song cũng ảnh hưởng đến số thu của Chi cục Cuối tháng 12/2010 số thu hộ cá thể giảm là 14.604.700 + 2.707.600 = 17.312.300 đồng, cuối tháng
Trang 2712/2011 sô thu hộ cá thể giảm là 15.662.900 + 3.069.000 = 18.731.900 đồng Như vậy, so với năm 2010 thì năm 2011 số thuế GTGT giảm thêm do hộ nghỉ hẳn và tạm nghỉ tăng lên là 18.731.900 – 17.312.300 = 1.419.600 đồng Trong tất cả các ngành thì thương nghiệp có số hộ nghỉ cao nhất, cụ thể tháng 12/2010 tạm nghỉ là 27 hộ, nghỉ hẳn là 9 hộ, đến tháng 12/2011 tạm nghỉ tăng 35 hộ, nghỉ hẳn tăng 12 hộ Các ngành tiếp theo là ăn uống, dịch vụ, sản xuất, vận tải
Nguyên nhân dẫn đến số hộ nghỉ chủ yếu là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nên việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn hơn Một số mặt hàng thường được sắm vào dịp trước tết như quần áo, giày dép, hàng điện tử… ra tết sức mua giảm hẳn Điều này thể hiện qua số hộ nghỉ của ngành dịch vụ, thương nghiệp, ăn uống Khi gần đến tết một số hộ kinh doanh ở các Huyện khác và các
hộ kinh doanh không chuyên cũng tham gia vào kinh doanh để đáp ứng như cầu tiêu dùng tăng Họ thuê cửa hàng, địa điểm kinh doanh trong những tháng gần tết Một số hoạt động kinh doanh của ngành thương nghiệp, dịch vụ mang tính chất thời vụ nên đã làm cho số hộ nghỉ trong tháng tăng lên Thêm vào đó lợi dụng quy định của chính sách hiện hành, các hộ cá thể thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khoán, có nguyện vọng tạm nghỉ sản xuất kinh doanh hoặc đột xuất nghỉ kinh doanh với lý do khách quan như ốm, tai nạn… thực tế có xin nghỉ kinh doanh thì được xét miễn giảm, giảm thuế, các hộ làm đơn nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh doanh Ta thấy rằng ý thức chấp hành luật thuế của các
hộ chưa cao, lợi dụng các điều kiện miễn giảm thuế để trốn tránh trách nhiệm đối với Nhà nước một cách bất hợp pháp Do địa bàn rộng, cán bộ thuế thiếu lực lượng nên chưa thể bao quát hết được tình hình kinh doanh các hộ
Bên cạnh việc tìm hiểu về thực trang hộ nghỉ kinh doanh trên địa bàn chúng ta có thể bao quát được tình hình đối tượng nộp thuế trên địa bàn qua tình
Trang 28hình hộ mới ra kinh doanh Năm vừa qua tại địa bàn Huyện số hộ mới ra kinh doanh có thể thấy như sau:
Biểu 6: TÌNH HÌNH HỘ MỚI RA KINH DOANH
Số thuế
(Nguồn số liệu: báo cáo hộ nghỉ và hộ vào bộ)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy quý I/2010 có 30 hộ mới ra kinh doanh, quý I/2011 có 35 hộ mới ra kinh doanh, như vậy hộ mới ra kinh doanh quý I/2011 tăng so với quý I/2010, tuy tăng không nhiều chỉ có 5 hộ nhưng cũng đã làm tăng
số thu của Chi cục Tổng số thu do hộ mới ra kinh doanh qua 2 quý (8.338.000 + 10.528.000 = 18.866.000 đồng) trong đó ngành dịch vụ tăng nhiều nhất là 6 hộ mới ra kinh doanh làm cho số thuế tăng thêm 1.031.000 đồng Tuy nhiên ở một
số lĩnh vực khác thì hộ mới ra kinh doanh giảm đi như ăn uống, thương nghiệp
Nếu so sánh biểu số 4 và biểu số 5 ta thấy: ở biểu 4 trong tháng 12/2011
số hộ tạm nghỉ và nghỉ hẳn kinh doanh là 106 hộ số thuế GTGT đã giảm đi là
Trang 2918.731.900 đồng Ở biểu 5 trong quý I/2011 số hộ mới ra kinh doanh là 35 hộ số thuế tăng thêm là 10.528.000 đồng Mặc dù có hộ mới ra kinh doanh nhưng cũng không thể bù đắp được khoản thu bị mất do các hộ nghỉ kinh doanh
Tóm lại, quản lý đối tượng nộp thuế ở hộ kinh doanh cá thể gặp nhiều khó khăn, gây thất thu thuế rất lớn, chủ yếu là các hộ không đăng lý kinh doanh, những hộ này thường không thu được thuế Hoạt động của những hộ này chủ yếu
là ở các ngành thương nghiệp, vận tải, buôn bán hàng rong… Ngoài ra còn có những hộ có quy mô kinh doanh lớn nhưng không đăng ký kinh doanh, những hộ xin nghỉ kinh doanh nhưng vẫn cố tình kinh doanh, và một số hộ xin nghỉ kinh doanh nhưng được một thời gian lại kinh doanh trở lại nhưng không thông báo với cơ quan thuế
Qua nghiên cứu công tác quản lý đối tượng nộp thuế cho thấy việc quản lý chặt chẽ các hộ kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tăng nguồn thu cho NSNN đồng thời thực hiện công bằng giữa các đối tượng nộp thuế
2.2.2.2 Quản lý căn cứ tính thuế
Trong công tác quản lý thu thuế, để nâng cao chất lượng thu ngân sách, cơ quan thuế không chỉ tập trung vào quản lý đối tượng nộp thuế mà còn cần quản
lý tốt doanh thu của các hộ cá thể, đảm bảo thu sát với doanh thu thực tế kinh doanh Doanh thu của các hộ kinh doanh là cơ sở để các định số thuế phải nộp Mục tiêu của quản lý căn cứ tính thuế là làm sao xác định được chính các doanh thu tính thuế và áp dụng thuế suất để làm căn cứ tính thuế đúng và đủ Việc quản
lý chặt chẽ doanh thu của các hộ kinh doanh, đặc biệt là hộ kinh doanh lớn có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành dự toán thu, đảm bảo công bằng bình đẳng
về thuế Hiện nay, Chi cục quản lý các hộ kinh doanh dưới hình thức kê khai và
Trang 30ấn định doanh thu Đối với những hộ thực hiện đầy đủ sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ mua vào bán ra hoặc thực hiện đầy đủ hóa đơn chứng từ bán ra xác định được doanh thu thì áp dụng theo hình thức kê khai Còn những hộ chưa thực hiện đầy đủ những yếu tố trên thì nộp thuế theo hình thức ấn định doanh thu Năm 2011 số hộ nộp theo phương pháp ấn định là khá lớn 784 hộ trên tổng
số hộ là 959 Còn lại là hộ kê khai 175 hộ Để thấy rõ được tình trạng quản lý căn cứ tính thuế tại Chi cục ta đi xem xét từng hình thức nộp thuế sau:
* Đối với hộ nộp thuế theo kê khai
Các hộ nộp thuế theo hình thức kê khai sẽ được nộp thuế phụ thuộc và kết quả kinh doanh, không cần phải ấn định doanh thu tính thuế Đối với hộ này, đối tượng kê khai sẽ có nghĩa vụ kê khai và xác định đúng số thuế phải nộp đồng thời chịu trách nhiệm về số liệu đã kê khai theo quy định của pháp luật Cơ quan thuế phải kiểm tra giám sát quá trình ghi chép sổ sách kế toán, sử dụng hóa đơn… dùng làm căn cứ tính thuế của các hộ kinh doanh
Tuy số hộ nộp thuế theo kê khai chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng số hộ cá thể của địa bàn Huyện nhưng trong thời gian qua ý thức chấp hành nộp tờ khai của các hộ sản xuất kinh doanh có nhiều tiến bộ Hầu hết các hộ đã tự giác nộp tờ khai đầy đủ, đúng quy định tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế của Chi cục Tuy nhiên nhiều hộ nộp tờ khai thuế GTGT hàng tháng đầy đủ nhưng việc xác định tỉ lệ % GTGT trên doanh thu còn chưa chính xác Qua đó có thể thấy công tác kiểm tra tờ khai của cán bộ thuế là khá tốt, cán bộ thuế nhận tờ khai và bảng kê theo quy định,kiểm tra đầy đủ các yếu tố trên tờ khai xem có đúng với quy định không, có chữ kí của hộ kinh doanh không, kiểm tra sự chính xác của kì tính thuế, các bảng kê, phụ lục kèm theo… Tờ khai phải đảm bảo doanh thu kế khai phải phù hợp với doanh thu thực tế kinh doanh, nếu như có
Trang 31nghi vấn doanh thu thực tế cao hơn với doanh thu đã kê khai thì Chi cục phải kiểm tra làm rõ nghi vấn và khi có kết quả phải thông báo trở lại với hộ kinh doanh Nếu có thông tin cần chỉnh sửa thì phải được ghi trong phiếu điều chỉnh kèm theo tờ khai thuế, có xác nhận của hộ kinh doanh để lưu vào hồ sơ của hộ kinh doanh Còn đối với những hộ đã qua thời gian nộp tờ khai hoặc đã nộp tờ khai nhưng kê khai không đúng căn cứ tính thuế đã được cơ quan thuế thông báo nhưng chỉnh sửa không đúng hoặc không chỉnh sửa thì Chi cục thuế sẽ ấn định
số thuế phải nộp theo quy định pháp luật hiện hành Ngoài việc kiểm tra tờ khai, Chi cục cần tiến hành kiểm tra tại cơ sở từng hộ kinh doanh quan sát tình hình thực tế kinh doanh của các hộ, tiến hành kiểm tra doanh thu…
Đối với hộ kê khai thì điều quan trọng là cần phải quản lý doanh thu kê khai, các hộ phải phản ánh trung thực đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ Các hoạt động mua bán phải có hóa đơn chứng từ kèm theo Tuy nhiên, việc chấp hành lại có rất nhiều bất cập, hầu hết các hộ đều tìm cách ghi giảm doanh thu thực tế mà các hộ có được, ghi tăng thuế đầu vào để được khấu trừ, bán hàng không xuất hóa đơn, các hộ chỉ kê khai doanh thu trên hóa đơn còn doanh thu bán lẻ hầu như không kê khai
Trong kê khai thuế không tránh khỏi những sai sót do tính tự giác của các
hộ chưa cao, nhiều hộ lợi dụng quy trình quản lý thuế như tự kê khai, tự tính thuế đã không kê khai đúng với hoạt động kinh doanh của mình ghi giảm doanh thu để giảm số thuế thực tế phải nộp, khai sai tờ khai,
Ta có thể xem bảng số liệu dưới đây để hiểu rõ hơn tình hình doanh thu tính thuế đối với hộ cá thể nộp theo hình thức kê khai:
Trang 32Biểu 7: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ DOANH THU ĐỐI VỚI HỘ KÊ KHAI
Đơn vị tính: đồng
Ngành nghề Tính đến
31/12/2010 (1)
Tính đến 31/12/2011 (2)
So sánh Tuyệt đối
(3)=(2) – (1)
Tương đối (4)=(3)/(1)
Sản xuất 23.108.236 33.258.020 10.149.784 43,9 Thương nghiệp 71.069.124 79.075.260 8.006.136 11,3 Dịch vụ 48.125.273 46.166.140 -1.959.133 - 4,1
Ăn uống 45.101.087 54.096.148 8.995.061 19,9 Vận tải 28.039.180 38.236.132 10.196.952 36,4
Cộng 215.442.900 250.831.700 35.388.800 14,1
( Nguồn số liệu: tổng kết bộ GTGT – TNDN – TTĐB)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tính đến ngày 31/12/2011 Chi cục đã quản lý tương đối tốt doanh thu kê khai của các hộ kinh doanh Trong năm qua, doanh thu các hộ kê khai là 250.831.700 đồng tăng 35.388.800 đồng so với năm 2010 với tỷ lệ là 14,1% Trong đó đáng chú ý là ngành vận tải đã tăng nhiều nhất là 10.196.952 đồng Tiếp đến là ngành sản xuất tăng 10.149.784 đồng tương ứng với 43,9% Trong đó chỉ có ngành dịch vụ giảm 1.959.133 đồng tương ứng với 4.1% Như vậy, doanh thu của hầu hết các hộ đều tăng, có ý nghĩa quyết định tới việc tăng số thuế thu được Có được kết quả như vậy ngoài nguyên nhân tình hình sản xuất kinh doanh của các hộ ổn định và phát triển còn có lý do rất quan trọng đó là các cán bộ thuế đã bán sát tình tình của các hộ, hướng dẫn đôn đốc kê khai đúng, đủ, kịp thời Việc các hộ trong các ngành ăn uống, vận tải, sản xuất,
Trang 33thương nghiệp chiếm phần lớn trong tổng doanh thu cho thấy các hộ trong ngành tiếp tục phát triển làm ăn phát đạt, liên tục tăng về số lượng và doanh thu góp phần tăng số thuế Tuy nhiên số hộ nghỉ cũng tương đối nhiều, làm giảm doanh thu cũng như số thuế nhưng doanh thu kê khai cũng tăng chứng tỏ các hộ kê khai dần ổn định và tìm được chỗ đứng vững chắc, thích nghi tốt với cơ chế tự kê khai
Tuy nhiên trên thực tế không tránh khỏi những sai sót, những sai sót thường hay mắc phải đó là khai tờ khai sai, chưa đúng với thực tế, kê khai tăng
để được giảm số thuế phải nộp cho NSNN
Biểu 8: QUẢN LÝ DOANH THU KÊ KHAI MỘT SỐ HỘ ĐIỂN HÌNH
Tỷ lệ kê khai, kiểm tra (%) Hoàng Văn Tùng thương nghiệp 18.824 25.425 74,03
Nguyễn Thanh Bình Ăn uống 25.875 35.820 72,23
(Nguồn số liệu: báo cáo tổng hợp thực thu cá thể tháng 12/2011)
Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh thu thực tế kiểm tra cao hơn doanh thu
tự kê khai tính thuế của các hộ Doanh thu kê khai chỉ bằng 78,49% doanh thu thực tế Điều này sẽ ảnh hưởng tới số thu vào NSNN nếu như Chi cục không tiến hành kiểm tra lại Đây là vấn đề nan giải trong công tác quản lý thuế đối với hộ
cá thể Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi như: