1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HOI DAP TRIET HOC MAC

43 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 339,5 KB
File đính kèm HOI DAP TRIET HOC MAC.rar (54 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TRIẾT HỌC MÁC VẦ SỰ VẬN DỤNG CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM. Đất nước ta đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài với những biến động và thăng trầm của riêng mình. Gắn liền với nó là sự ảnh hưởng của rất nhiều các trường phái triết học khác nhau đã du nhập, đã được chọn lọc và áp dụng trong cách sống, cách tư duy của người Việt Nam chúng ta

Trang 1

Phần 6 điểm Câu 1: Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của sự hình thành triết học Mác?

Những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của sự hình thành triết học Mác

Điều kiện kinh tế - xã hội

* Nền đại công nghiệp cơ khí ra đời và phát triển nhờ cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19:

+ Nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất với lực lượngcông nghiệp hùng mạnh Cuộc cách mạng công nghiệp ở Pháp đang được hoàn thành

+ Ở Đức và một số nước Tây Âu khác, cuộc cách mạng công nghiệp cũng làm chophương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lớn lên nhanh chóng trong lòng xã hội phong kiến

Nhờ vậy, tính hơn hẳn của chế độ tư bản chủ nghĩa so với chế độ phong kiếnđược thể hiện một cách rõ rệt “Giải cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưađầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sảnxuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”

* Cùng với nền đại công nghiệp cơ khí là CNTB được xác lập và giữ địa vị thống trị; giai cấp công nhân công nghiệp ra đời Đây là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất mới có bản chất cách mạng triệt để nhất

* Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hộivốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt Nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã mang ý

nghĩa là:

+ Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyông (Pháp) năm 1831 -1834

+ Ở Anh có phong trào Hiến chương vào cuối những năm 1930 là “phong tràocách mạng vô sản to lớn đầu tiên thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chínhtrị”2

+ Cuộc khởi nghĩa tự phát của thợ dệt Xilêdi năm 1844 đến sự xuất hiện “Đồngminh những người chính nghĩa” - một tổ chức vô sản cách mạng

* Trong điều kiện lịch sử xã hội đó, giai cấp vô sản không còn đóng vai trò là giai cấpcách mạng, vì vậy giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử không chỉ là “ kẻ phá hoại” chủnghĩa Tư bản mà còn là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ

Thực tiễn xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản nảy sinh yêu cầu khách quan là phải được soi sáng bằng lý luận khoa học Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là sự giải đáp về mặt lý luận những vấn đề thời đại đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng

Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác Nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, của triết học Mác nói riêng.

Một là: triết học cổ điển Đức, đặc biệt với hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen vàPhiơbắc, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác

* C.Mác và Ph Ăngghen đánh giá cao tư tưởng biện chứng của triết học Hênghen C Mác cho rằng tính chất thần bí mà biện chứng đã mắc phải ở triết học

Hênghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày mộtcách bao quát và có ý thức hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy Ở Hêghen,phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất; chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện được cáihạt nhân hợp lý của nó sau lớp vỏ thần bí

* Kế thừa những giá trị trong chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc; đồng thời đã cải

tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử của nó Từ

đó, Mác và Ăngghen xây dựng học thuyết mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện

Trang 2

chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng, mộthình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học

Từ những giá trị của phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc,Mác và Ăng ghen đã xây dựng lên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật vàphép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ là chủ nghĩa duy vật biện chứng, mộthình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học

Hai là: thừa kế và cải tạo kinh tế chính trị học Anh với những đại biểu xuất sắc là

A.Xơmít và Đ Ricácđô là một nhân tố không thể thiếu được góp phần làm hình thànhquan niệm duy vật về lịch sử của triết học Mác

Ba là: cải tạo một cách phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những

đại biểu tiêu biểu là Xanh Ximông và S Phuriê Nhờ đó, triết học Mác trở thành vũ khí

lý luận cải tạo xã hội bằng cách mạng

Những thành tựu của khoa học tự nhiên

Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng không thể thiếuđược cho sự ra đời của triết học Mác Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làmbộc lộ rõ tính hạn chế, chật hẹp và những bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trongviệc nhận thức thế giới; đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học để phát triển tư duybiện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật

Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên thời đó, Ăngghen nêu bật ý nghĩacủa ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vật biện chứng: định luật bảotoàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hoá của Đắcuyn Với nhữngphát minh lớn của khoa học tự nhiên đã làm cho quan niệm mới về tự nhiên đã đượchoàn thành trên những nét cơ bản

* Những yếu tố chủ quan thuộc về Mác và Ăngghen

Các Mác sinh ngày 5/5/1818, mất ngày 14/3/1883

Phriddrich Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 tại Bácman, Đức, mất ngày 5/8/1895tại Luân Đôn, nước Anh

Có thể nói tình yêu thương những người lao động, tinh thần hi sinh không mệtmỏi vì sự nghiệp giải phóng họ, niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cách mạng của giai cấ vôsản, cùng sự thông minh hơn người của CMác và Ph Ăngghen là những yếu tố chủ quan,quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác

Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác đã ra đời như một tất yếulịch sử không những vì nó một sự phản ánh thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn cách mạng củagiai cấp công nhân mà còn là sự phát triển hợp logíc của lịch sử tư tưởng nhân loại

Câu 2: Nguyên tắc khách quan và việc vận dụng nguyên tắc này

Theo quan điểm triết học Mác Lênin “Vật chất là một phạm trù triết học đúng đểchỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác củachúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Ý thức là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của conngười Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng trong đó vật chất quyết địnhđối với ý thức và ý thức có tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại đối với vật chất

Từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, một nguyên tắc được rút ra,

đó là nguyên tắc, khách quan

Nội dung của nguyên tắc khách quan: Nguyên tắc khách quan là nguyên tắc

hàng đầu của phương pháp nhận thức biện chứng duy vật Nguyên tắc này đòi hỏi chúng

ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ chính bản thân sự vật với những thuộctính, những mối liên hệ vốn có của nó, những quy luật khách quan, phải có thái độ tôn

Trang 3

trọng sự thật, tránh thái độ nóng vội, phiến diện, định kiến Nguyên tắc này đòi hỏi phảitôn trọng và hành động theo quy luật khách quan không được lấy ý muốn chủ quan củamình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sáchlược cách mạng.

Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc khách quan không có nghĩa là quan điểmkhách quan xem nhẹ, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà còn đòi hỏi chúng ta phảibiết phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức vào trong quá trình hoạt động thực tiễn.Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động,sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhậpsâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó thực hiện việc biến đổi từ cái “vật tự nó” thànhcái phục vụ cho nhu cầu lợi ích của con người

Trong thực tế nhận thức và hoạt động của con người, nếu chúng ta tuyệt đối hóamột trong hai mặt của vật chất và ý thức thì sẽ có những sai lầm và rơi vào một trong 2bệnh: chủ quan duy ý chí và bảo thủ trì trệ

Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm trong tư duy, trong đó chủ thể tư duy thểhiện khuynh hướng tuyệt đối hoá vai trò của chủ thể trong quan niệm và hành động, phủnhận hoàn toàn hay phần nào bản chất và tính quy luật của thế giới vật chất, của hiệnthực khách quan Thực chất của căn bệnh này là trong nhận thức và hoạt động thực tiễn,người ta tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan, xa rời hiện thực khách quan, coi thường các quyluật khách quan của sự vận động và phát triển Bệnh chủ quan duy ý chí còn là biểu hiệncủa sự thiếu tư duy biện chứng khoa học, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí,

xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, điều kiện khách quan, lấynhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về trí thức khoa học Sai lầm của bệnh chủquan duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội áp đặt ý chí vào thực tếkhi định ra chủ trương chính sách

Ngược lại với bệnh chủ quan duy ý chí là bệnh bảo thủ trì trệ Đây là tình trạng ỷlại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại đổi mới thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái

đã có do khuynh hướng cường điệu vai trò quyết định của vật chất, hạ thấp vai trò củanhân tố chủ quan

Vận dụng:

Bệnh chủ quan duy ý chí và là bệnh bảo thủ trì trệ là một sai lầm của Đảng tatrước thời kỳ đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 12-1986) Đánh giá về mức độ sai lầm

do chủ quan duy ý chí của Đảng trong thời kỳ này, Đại hội lần thứ VI đã chỉ rõ Đảng đã

“nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”, “giản đơn hóa, muốn thực hiện nhiều mục

tiêu của CNXH trong điều kiện nước ta mới có chặng đường đầu tiên” Do chủ quan duy

ý chí và bảo thủ trì trệ, Đảng đã có những sai lầm nghiêm trọng và kèo dài về chủtrương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện trong giai đoạn này, viphạm các quy luật khách quan, biểu hiện qua một số lĩnh vực cụ thể được Văn kiện ĐHĐảng lần VI đánh giá như sau : “chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

ở nước ta tồn tại trong một thời gian tương đối dài” nên “đã có những biểu hiện nóng vộimuốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa”, “chưa nắm vững và vậndụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ SX với tính chất và trình độ LLSX” nên

“có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triểncông nghiệp nhẹ”

Trên thực tế, do việc đầu tư tràn lan, không có cơ sở khoa học, không phù hợp vớiđiều kiện thực tế về tài nguyên, lao động của từng vùng nên việc khai thác nguồn vốnđầu tư không hiệu quả, nhiều công trình đầu tư dở dang và thậm chí không đủ nguyênliệu để đưa vào hoạt động (VD như đầu tư nhà máy đường đều khắp các tỉnh nhưng có

Trang 4

tỉnh không đủ nguyên vật liệu để cung cấp cho nhà máy hoạt động, không tính toán đếncác điều kiện……).

Ngoài ra, cũng do chủ quan duy ý chí trong việc dùng kế hoạch, pháp lệnh để chỉhuy toàn bộ nền kinh tế đất nước, “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quanliêu bao cấp” - một cơ chế "gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giảnđơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí", “có nhiều chủtrương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ” cùng với việc bố trí cơ cấu kinh

tế trước hết là SX và đầu tư thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, khôngtính đến điều kiện khả năng thực tế nên dẫn đến việc SX chậm phát triển, mâu thuẩngiữa cung và cầu ngày càng gay gắt do việc áp dụng những chính sách, chủ trương trên

đã vi phạm những quy luật khách quan của nền kinh tế SX hàng hóa (quy luật cung cầuquy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, …) Việc bỏ qua không thừa nhận và vận dụngnhững quy luật khách quan của phương thức sản xuất, của nền kinh tế hàng hóa vàoviệc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế nước ta bị trì trệkhủng hoảng trầm trọng

Nguyên nhân của bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ mà Đảng ta mắcphải có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan đó là sựyếu kém về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn; đó

là việc hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, ; chưa chú ý tiếp thu

kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại,thậm chí còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó

Những nguyên nhân khách quan: do xuất phát điểm của nước ta quá thấp, nền SXnhỏ với trình độ SX lạc hậu, do hậu quả của chiến tranh kéo, cơ chế quan liêu bao cấp,bệnh quan liêu ảo tưởng, kiêu ngạo cộng sản… cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của cănbệnh chủ quan duy ý chí và bảo thủ trì trệ

Đại hội Đảng lần VI (1986) đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm trong thực tiễn cách

mạng ở nước ta là “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng” Đây là sự vận dụng đúng đắn nguyên tắc

khách quan, thừa nhận các quy luật khách quan trong việc đề ra các chủ trương, chính sáchvào thực tế của công cuộc xây dựng đất nước ta từ sau ĐH Đảng lần VI

Đại hội Đảng lần VI đã xác định xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa

là một công việc to lớn, không thể làm xong trong một thời gian ngắn, không thể nóng

vội làm trái quy luật Văn kiện Đại hội xác định: "Nay phải sửa lại cho đúng như sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất" Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớn có tính

lý luận, hoàn toàn mới mẻ: "Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãmkhông chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất pháttriển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất" Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặctrưng của thời kỳ quá độ"

Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, Đảng và Nhà nước đã điều chỉnh theo

hướng "không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực

tế", tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản

xuất lương thực- thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu.

Do đó đã đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúc bấy giờ và là điều kiện thúc đẩy sảnxuất và lưu thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sản phẩm hàng hóa

Trang 5

Về cơ chế quản lý kinh tế, lần đầu tiên khái niệm về hàng hóa, thị trường đượcđưa vào Nghị quyết một cách rõ ràng "Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của

Nhà nước” Cơ chế quản lý kinh tế được Đại hội VI xác định : "Tính kế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế về quản lý kinh tế"

Vấn đề phân phối đã được chú trọng hơn: thực hiện nhiều hình thức phân phối,

lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội

Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từngbước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện cả ở khâu phânphối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất "Để phát triển sức sảnxuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn cóbóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm bảo

vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phipháp, vừa coi trọng xóa đói giảm nghèo"

Đồng thời với các đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, việc đổi mới bắt đầu từ việcĐảng phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực, trình độ lý luận của Đảng để nhậnthức đúng và hành động đúng phù hợp với hệ thống các quy luật khách quan Đồng thờivới việc đổi mới tư duy lý luận, việc tăng cường phát huy dân chủ, phát huy tiềm năngcán bộ KHKT, đội ngũ cán bộ quản lý và tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, tổngkết cái mới, không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh lý luận về mô hình, mục tiêu,bước đi, đổi mới và kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị

… là những biện pháp nhằm từng bước sửa chữa sai lầm và khắc phục bệnh của chủquan duy ý chí

Kết quả: Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chínhsách của Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được

ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộckhủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả cáclĩnh vực đời sống xã hội… (Có thể lấy thêm các dẫn chứng nữa)

Tóm lại, từ những phân tích trên cho thấy thắng lợi của công cuộc đổi mới củanước ta là do chúng ta quán triệt và vận dụng đúng quy luật khách quan,…

Câu 3 Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong quá trình đổi mới ở Việt Nam(Nội dung nguyên lý mối liên hệ phổ biến; Ý nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng của Đảng ta)

Trong Văn kiện Đại hội ĐCSVN lần thứ X có đoạn viết: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp”

= Trong Văn kiện Đại hội ĐCSVN lần thứ X có đoạn viết: “Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững”.

“Đổi mới toàn diện đồng bộ có nguyên tắc và có bước đi vững chắc, đó là mệnhlệnh của cuộc sống là quá trình không thể đảo ngược – (VK VII, trang 168)

“Tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâuvới bước đi vững chắc lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm Đồng thời thúc đẩy mạnh mẽcác lãnh vực khác” (VK ĐH6 trang 61)

I Lý luận

Trang 6

Phép biện chứng duy vật được C.Mác và Ph Angghen xây dựng vào đầu thế kỷXIX, sau đó được V.Lênin phát triển, Phép BCDV đã khái quát một cách đúng đắnnhững quy luật vận động và phát triển chung nhất của thế giới.

Lênin đã gọi PBCDV là linh hồn của chủ nghĩa Mác Hồ Chí Minh: Học lý luận

là học lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng mà

giải quyết những vấn đề thực tế của cách mạng

Ngay từ khi ra đời, ĐCSVN xác định Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tưtưởng và vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để đề ra đường lối, cương lĩnhđúng đắn CM T8 1945, chiến dịch HCM toàn thắng ngày 30/4/1975 minh chứng cho sựvận dụng sự đúng đắn đó

Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: “CTrị, KT, VH, XH,…” và triệt để với những hìnhthức, bước đi, cách làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm mà trướchết là đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng quy luật, trình độchuyên môn nghiệp vụ của Đảng viên dựa trên nguyên lý của mối liên hệ phổ biến vàđược rút ra từ quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể

1.Tóm tắt những nội dung chính của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và rút

ra quan điểm toàn diện.

Mối liên hệ phổ biến là một phạm trù triết học dùng để sự quy định và tác độnglẫn nhau trong quá trình tồn tại và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giớikhách quan hay giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong cùng 1 sự vật, hiện tượng.PBCDV khẳng định rằng mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là khách quan trên cơ

sở sự thống nhất vật chất của thế giới Do đó, mối liên hệ ấy đều bị chi phối bởi nhữngđặc điểm của vật chất và được thể hiện các thuộc tính sau:

- Tính khách quan: Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là cái vốn có của mọi

sự vật, hiện tượng, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Bắt nguồn từtính thống nhất vật chất của thế giới, từ sự tồn tại và phát triển của chính sự vật, hiệntượng;

- Tính phổ biến: Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là phổ biến, có nghĩa là

các sự vật, hiện tượng không những liên hệ với nhau mà các yếu tố, bộ phận cấu thành

sự vật, hiện tượng cũng liên hệ hữu cơ với nhau Mối liên hệ gọi là phổ biến bởi vì nókhông những xảy ra trong các giai đoạn, trong các quá trình mà còn diễn ra trước và sautrong sự trong sự vận động, phát triển của thế giới nói chung và từng sự vật, nói riêngcũng luôn liên hệ với nhau; gọi là phổ biến cũng có nghĩa là không chỉ nó diễn ra trong

tự nhiên, mà cả trong lĩnh vực đời sống xã hội và tinh thần mọi sự vật, hiện tượng cũngluôn luôn có mối liên hệ với nhau;

- Tính nhân quả: Sự vật này có thể là nguyên nhân và là kết quả của sự vật, hiện

tượng khác Không có nguyên nhân đầu tiên, cũng không có kết quả cuối cùng;

- Tính đa dạng của mối liên hệ được biểu hiện ở tính nhiều vẽ phong phú của các

mối liên hệ PBCDV cho rằng có mối liên hệ: bên trong, bên ngoài; có mối liên hệ chủyếu, thứ yếu; có mối liên hệ chung bao quát toàn thế giới Có mối liên hệ: trực tiếp, giántiếp Có mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất

- Tính lịch sử: vì sự vật, hiện tượng luôn luôn tồn tại trong không gian và thời

gian cụ thể nên mối quan hệ giữa chúng là lịch sử cụ thể

=> Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cho ta rút ra ý nghĩa phương pháp luậntrong nhận thức, xem xét một sự vật, hiện tượng và hành động trong thực tiễn, đó là quanđiểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể

Trang 7

* Quan điểm toàn diện (ncứu tính phổ biến của mối liên hệ), quan điểm này đặt ra

2 yêu cầu: khi xem xét các SV,HT phải đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại giữacác bộ phận, các yếu tố, thuộc tính khác nhau của SV,HT đó; xem xét các SV, HT phảiđặt nó trong mối quan hệ với các SV,HT khác (kể cả gián tiếp và trực tiếp) khi nghiêncứu 1 đối tượng cụ thể phải bao quát, xem xét đầy đủ tất cả các mối liên hệ của nó, tránh

bỏ sót Đồng thời, vừa xem xét đầy đủ nhưng không có nghĩa là xem xét dàn trải, liệt kênhững thuộc tính khác nhau của SV hay HT đó; mà phải có trọng tâm, trọng điểm, xácđịnh được cái trọng tâm, trọng điểm; xác định mối liên hệ cơ bản, bên trong, xem xétlàm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của SV, HT đó

* Quan điểm lịch sử cụ thể (ncứu tính đa dạng của MLhệ): Quan điểm này đòi hỏi

khi xem xét mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra hoặc khi đánh giá một SVHT, để nhìn thấyđược bản chất của sự vật hiện tượng chúng ta gắn nó với không gian và thời gian cụ thể,với những điều kiện, những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự tồn tại của sự vật, khôngđược đánh giá chung Yêu cầu của quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đúng mứctới hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời và phát triển của nó,tới bối cảnh hiện thực - cả khách quan lẫn chủ quan Tư duy của chúng ta chỉ có thể chânthực khi chúng ta theo sát sự thay đổi của những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vật.Quan điểm hoàn cảnh lịch sử cụ thể đòi hỏi khi vận dụng những nguyên tắc lý luận vàothực tiễn không được dừng lại ở những công thức chung, sơ đồ chung mà phải tính đếnnhững điều kiện lịch sử cụ thể của sự vận dụng; tránh phiêu lưu, mạo hiểm, xa rời thực

tế, ảo tưởng; khắc phục quan điểm siêu hình, giáo điều, cào bằng, bình quân chủ nghĩa.Nói cách khác, khi xem xét một luận điểm, một chân lý nào đó phải gắn với những hoàncảnh lịch sử cụ thể của luận điểm, của chân lý đó, bởi vì chân lý sẽ trở thành sai lầm nếu

nó bị đẩy ra ngoài giới hạn tồn tại của nó, trong những điều kiện không gian và thời giannhất định của nó Lênin nói “Bản chất linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác là phân tích cụthể một tình hình cụ thể, điều kiện cụ thể”, quán triệt quan điểm: chân lý là cụ thể, cáchmạng là sáng tạo

=>Quán triệt quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể, chúng ta cần phảikhắc phục và nghiêm khắc phê phán quan điểm phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, thuậtngụy biện Vận dụng phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lý mối liên hệphổ biến để cải tạo sự vật, bằng hoạt động thực tiễn của mình biến đổi những mối liên hệnội tại của sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác Muốn vậy,phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm

thay đổi những liên hệ tương ứng chứng minh cho việc “Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có

kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp” = “Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững”, cụ thể như sau:

* Trong thời chiến, Đảng ta quán triệt quán điểm toàn diện và thể hiện rất sinhđộng trong đường lối kháng chiến toàn dân và toàn diện chống thực dân Pháp; trongđường lối chống Mỹ; kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh thời đại, sức mạnhquân sự với sức mạnh CT, KT, VH, ngoại giao; sức mạnh của 3 vùng chiến lược và mũigiáp công…Nhờ có sức mạnh toàn diện, tổng hợp mà sự nghiệp giải phóng dân tộc đãgiành được thắng lợi hoàn toàn

* Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN VN Đặc biệt là trong côngcuộc đổi mới của đất nước, Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn diện, đổi mới bao quátnhiều mặt, lĩnh vực của đời sống XH, song mỗi bước đi của quá trình đổi mới phải xácđịnh đúng khâu then chốt, trọng tâm để tập trung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới cáckhâu, các lĩnh vực khác Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng

Trang 8

định: “Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết

và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố miền tin cùa nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống XH”.

Thực tiễn qua những năm đổi mới của đất nước đã mang lại nhiều bằng chứngsinh động, thuyết phục, xác định những quan điểm đổi mới của Đảng nêu trên là đúngđắn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử nước ta Chính vì vậy, Văn kiện ĐH đại biểu toànquốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định “Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa,

có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp”

II Liên hệ thực tiễn hơn 20 năm đổi mới để khẳng định sự đúng đắn của luận điểm trên.

Đất nước đã ra khởi khủng hoảng kinh tế - xã hội, sự thay đổi cơ bản và toàn diện

KT tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển KTTT định hướng XHCNđược đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đạiđoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - XH ổn định Quốc phòng

và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao.Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nướctiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp

Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sángtạo, phù hợp với thực tiển VN Nhận thức về CHXH và con đường đi lên CNXH ngàycàng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về XHCN và con đường

đi lên CNXH ở VN đã hình thành trên những nét cơ bản./

Câu 4: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng vào nhận thức con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hànhtheo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sựquan tâm của nhiều đối tượng

Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứhình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phươngpháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn,xây dựng và phát triển xã hội Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, conngười có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra.Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơnthuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới,

mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Lênin

đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác

Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả Trên cơ sở nền tảngtriết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ranhững mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xãhội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránhkhỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từngbước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt

Trang 9

Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua gần 30 năm đổi mới

là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễncùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta làmột vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Trên cơ sở “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và việc vận dụng vào quátrình đổi mới ở Việt Nam:

+ Thực tiễn là những hoạt động vật chất có tính chất loài (loài người)

+ Là những hoạt động vật chất có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên

và xã hội

- Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn:

+ Là hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động đã đưa con người từ một trạng tháithú vật lên trạng thái người

+ Là hoạt động chính trị xã hội: xuất hiện khi xã hội phân chia giai cấp; là hoạtđộng đấu tranh giai cấp.v.v nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội,chế độ xã hội

+ Là hoạt động thực nghiệm khoa học: là hoạt động của con người được tiến hànhtrong những điều kiện “nhân tạo” nhằm rút ngắn “độ dài” của quá trình con người nhậnthức và cải tạo thế giới

* Phạm trù lý luận:

- Khái niệm lý luận: Là một hệ thống những tri thức về tự nhiên và xã hội được khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất yếu, những tính quy luật của thế giới khách quan.

Để có lý luận, nhận thức nhân loại phải phát triển qua hai trình độ, đó là trình độtri thức kinh nghiệm và trình độ tri thức lý luận:

- Tri thức kinh nghiệm:

+ Tri thức kinh nghiệm là tri thức chủ yếu thu được từ quan sát và thí nghiệm Cóhai loại tri thức kinh nghiệm, đó là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinhnghiệm khoa học

+ Vai trò của tri thức kinh nghiệm: có vai trò không thể thiếu được trong cuộcsống hàng ngày của con người và càng có vai trò quan trọng trong đấu tranh cách mạng,nhất là trong sự nghiệp xây dựng CNXH

Vì vậy, đồng thời với coi trọng lý luận phải coi trọng thực tiễn, không đượccường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn Điều

Trang 10

đó đòi hỏi chúng ta phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trongnhận thức khoa học và hoạt động cách mạng.

1 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, giữa lý luận và thực tiễn có mối

quan hệ biện chứng với nhau, quy định, tác động qua lại với nhau, trong đó:

- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:

+ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, lý luận, khoa học: Bằng hoạt động thực tiễn

con người tác động và sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới, bắt chúng bộ lộnhững thuộc tính, quy luật, bí ấn để con người nhận thức

+ Thực tiễn là động lực của nhận thức, lý luận khoa học: Thực tiễn luôn đặt ra

những vấn đề mới, phải tổng kết, khái quát kinh nghiệm thành lý luận mới; còn là độnglực chế tạo ra những dụng cụ máy móc để hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn

+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận, khoa học: Lý luận khoa học chỉ

có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng và thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội, phục

vụ mục tiêu phát triển con người

+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Triết học Mác – Lênin khẳng định và

chứng minh rằng thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra nhận thức, lý luận, khoa học Tức làđem áp dụng lý luận, khoa học và thực tiễn mới xác nhận tri thức đạt được là chân thựchay giả dối

- Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:

+ Lý luận khái quát những kinh nghiệm thực tiễn; góp phần vào việc tổ chức, giáo dục, thuyết phục quần chúng; có thể dự báo tương lai.

+ Sự tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn theo hai hướng:

Một là: nếu lý luận phản ánh đúng thực tiễn thì nó sẽ góp phần thúc đẩy thực tiễnphát triển

Hai là: Nếu lý luận phản ánh sai thực tiễn thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của thực tiễn

* Vận dụng vào nhận thức con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

- Quá trình nhận thức về CNXH thời kỳ trước đổi mới:

VN là một quốc gia không lớn, trình độ phát triển lực lượng sản xuất rất thấp, lạiliên tục trải qua các cuộc chiến tranh với các cường quốc, với những hậu quả nặng lề nênnhân dân có niềm khát vọng muốn có nhanh một cuộc sống thực sự hạnh phúc là tưtưởng phổ biến

Từ thực tế ấy, nhận về con đường lên CNXH đã có những khuyết điểm, yếu kém như: + Chưa nhận thức rõ mục tiêu trước mắt, mục tiêu tổng quát mà chưa cụ thể hóađược các mục tiêu ấy; chưa nhận thức đẩy đủ, đúng đắn về động lực cách mạng XHNC;chưa xây dựng được cơ chế đúng để phát hiện, sử dụng nguồn nhân lực; chưa gắn bóhữu cơ mục tiêu kinh tế - chính trị với mục tiêu phát triển con người.v.v

+ Nhận thức sai về động lực trong lý luận về mô hình CNXH như nhiều cái người

ta đã biết, nhưng lại không được huy động vào như những nhân tố động lực, mà lại cho

là phản động lực như: cơ chế thị trường, năng lực cá nhân, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bảnnhà nước

+ Ngược lại có những cái ở vào thời điểm của chúng ta hiện nay chúng trở thànhphản động lực, lại được coi là động lực của CNXH như: sự phân phối bình quân; tập thểhóa tràn lan; cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp

Từ mô hình đến con đường đi lên CNXH ở VN đều dựa vào kinh nghiệm của nướcngoài, đặc biệt là LX Điều đó vừa không đúng với tinh thần của chủ nghĩa Mác, khôngthấm nhuần tư tưởng HCM và cũng không xuất phát từ thực tiễn VN Đó là sự vi phạmnghiêm trọng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin

Trang 11

- Thời kỳ đổi mới:

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra rằng:

“Trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểmnghiêm trọng do giáo điều chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” ĐCSVN

đã xây dựng những nhận thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở VN như:

+ Thứ nhất: Nhận thức về mục tiêu của cách mạng XHCN ở VN: mục tiêu tổngquát trên các lĩnh vực được cụ thể hóa qua nhiều bước quá độ; đó là việc giải quyết cácquan hệ: giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng, giữa kinh tế với chính trị và văn hóa, giữa xây dựng và bảo vệ tổ quốc

+ Thứ hai: Nhận thức về hệ thống động lực của cách mạng XHCN ở VN: nhữngnhân tố mà thời kỳ trước đổi mới được coi là phản động lực, thì nay được xem là động lựcnhư: cơ chế thị trường, năng lực cá nhân, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước

Đại hội VII đã nêu 6 đặc trưng của XHCN và 7 phương hướng xây dựng CNXH ởnước ta Những nội dung này tiếp tục phát triển qua các Đại hội VIII, IX, X và đến Đạihội XI, Đảng ta đã đi đến kết luận: “xã hội xã hội chủ nghĩa” mà nhân dân ta xây dựng làmột xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;

có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuấttiến bộ phù hợp.v.v có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu CNXH, cần phải nhận thức rõ những khó khăn

và thuận lợi của cách mạng XHCN ở nước ta trong những thời gian tiếp theo:

+ Khó khăn: Là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, phức tạp và lâu dài vớinhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen

+ Thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của ĐCSVN do Chủ tịch HCM sáng lập

và rèn luyện, có bản chất chính trị vững vàng và dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo; nhân dân ta

có lòng yêu nước nồng nàn; đoàn kết; cần cù.v.v tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng

Những quan điểm lý luận trên còn tiếp tục được bổ sung, nhưng nó cũng phản ánhmột bước phát triển mới của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn trong tiến trình cách mạng Việt Nam

Câu 5: Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để phê phán bệnh giáo điều, chủ quan trong đội ngũ đảng viên ở nước ta?

Mở bài

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản và quantrọng nhất của chủ nghĩa Mác - Lê nin như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có kinhnghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”

1 Phạm trù lý luận, phạm trù thực tiễn

* Phạm trù lý luận:

Lý luận là một hệ thống những tri thức về tự nhiên và xã hội được khái quát từthực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất yếu, những tính quy luật của thế giớikhách quan

Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách quan.Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận,quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản chất của lýluận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần đúng đốitượng nhận thức

Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Lý luận được hình thànhtrên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từkinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiệnkinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm

Trang 12

cơ bản nhất và quan trọng nhất Đó là “hoạt động đã đưa con người từ một trạng thái thúvật lên trạng thái con người”, là “cơ sở vật chất của các loại hình hoạt động khác của conngười” như Ăngghen đã nói, cũng là cơ sở quyết định sự tồn tại, phát triển của con người

và xã hội loài người trong suốt tiến trình lịch sử

2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Hoạt động lý luận thống nhất hữu cơ với hoạt động thực tiễn Sự thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn có nhiều hình thức và trình độ biểu hiện khác nhau Lý luận bắtnguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống hiện thực Nhưngthước đo tính thống nhất của lý luận với thực tiễn thể hiện trước hết là ở chỗ lý luận phảihướng hẳn về đời sống sinh động; tổng kết, khái quát kinh nghiệm hoạt động thực tiễn;

lý luận phải đi sâu nghiên cứu, khám phá và làm rõ những vấn đề lý luận do chính sựphát triển của thực tiễn để ra và như vậy, góp phần thúc đẩy, hướng dẫn thực tiễn pháttriển đúng hướng

Thống nhất với thực tiễn và trên cơ sở đó, sáng tạo và phát triển - đó là nguyên tắcphát triển rất cơ bản của lý luận, bảo đảm sức sống cho lý luận; đưa lại cho nó khả năng xemxét, định hướng giải quyết những mâu thuẫn cốt lõi của thực tiễn đời sống Nếu vi phạmnguyên tắc này thì không những bản thân lý luận sẽ bị sơ cứng, giáo điều hoá, mất động lựcphát triển, mà ngay cả thực tiễn cũng mất phương hướng phát triển, rơi vào chủ nghĩa thựcdụng, chủ quan, duy ý chí như lịch sử từng nghiêm khắc cảnh cáo

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội Công cuộc đổi mới, sựnghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng XHCN ở nước ta; sự sụp đổ củaCNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ đầu những năm 90 của thế kỷ XX cùng nhiềubiến động gần đây của đời sống quốc tế đang đặt ra những vấn đề rất mới, cần được nghiêncứu và giải đáp theo yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

3 Liên hệ việc khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa.

Do vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mà dẫn đến sai lầmcực đoan, đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa Đây là hai cănbệnh tư tưởng mà cán bộ, đảng viên chúng ta ít nhiều mắc phải trong quá trình xây dựngCNXH vừa qua đã gây những tác hại nhất định Vì vậy, các đại hội của Đảng ta đều đề

ra nhiệm vụ là phải xây dựng phương pháp tư duy khoa học, chống chủ nghĩa kinhnghiệm và chủ nghĩa giáo điều

- Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa

Đặc trưng của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đó là khuynh hướng tuyệt đối hoá kinhnghiệm thực tiễn, hoàn toàn thoả mãn với kinh nghiệm bản thân, chỉ dừng lại ở trình độ kinhnghiệm, coi kinh nghiệm là tất cả, hạ thấp lý luận, ít am hiểu lý luận, không chịu vươn lên

Trang 13

để nắm lý luận, lười học lý luận, không quan tâm tổng kết rút kinh nghiệm để đề xuất lýluận Sự yếu kém về lý luận không chỉ dẫn đến bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn đến bệnh giáođiều Bởi vì, chính sự yếu kém về lý luận sẽ dẫn tới sự tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin mộtcách giản đơn, phiến diện, cắt xén, sơ lược, không đến nơi, đến chốn.

Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đã gây ra hậu quả: Dễ dẫn đến tư duy áng chứng, đạikhái, thiếu chính xác, thiếu chặt chẽ trong công tác; dễ rơi vào sự vụ trong công tác,thiển cận, tự mãn, thiếu nhìn xa trông rộng; dễ dấn đến coi thường chất xám, coi thườnggiới trí thức, coi thường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; dễ nặng về quá khứ, rơi vàokhuynh hướng thủ cựu, phục cổ, dễ bảo thủ trì trệ, không chịu đổi mới, không chịu làmcách mạng; dễ rơi vào khuynh hướng đánh giá cán bộ nặng về quá khứ Đó là những táchại của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa như chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Có kinh nghiệm

mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một măt mờ”

- Bệnh giáo điều chủ nghĩa

Đặc trưng của bệnh giáo điều chủ nghĩa đó là bệnh cường điệu lý luận, tuyệt đốihoá lý luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch, tách rời lýluận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể

Hai biểu hiện của bệnh giáo điều đó là giáo điều lý luận và giáo điều kinh nghiệmhay giáo điều về hành động

Giáo điều lý luận: Đó là bệnh sách vở trong nghiên cứu, học tập lý luận, nắm lýluận chỉ dừng lại ở câu chữ theo kiểu “tầm chương trích cú”, hiểu lý luận một cách trừutượng mà không thâu tóm được bản chất cách mạng và khoa học của nó, nặng về diễngiải những gì đã có trong sách Thực chất của giáo điều lý luận là đọc sách, nhưng khônghiểu sách, không gắn sách với cuộc sống, không gắn lý luận với thực tiễn Khi đề ra chủtrương và chính sách, người mắc bệnh giáo điều thường nặng về xuất phát từ sách vở màkhông xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể, xa rời thực tiễn sinh động

Giáo điều về kinh nghiệm hay giáo điều về hành động: Đó là áp dụng một cáchrập khuôn, máy móc kinh nghiệm của nước khác vào nước ta, của địa phương khác vàođịa phương mình, của ngành khác vào ngành mình; là áp dụng rập khuôn kinh nghiệmtiến trình chiến tranh cách mạng trong thời chiến vào quá trình xây dựng kinh tế trongthời bình

- Phương hướng chung để khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa.

Coi trọng cả lý luận, cả thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn; phải đổi mới

tư duy lý luận, đổi mới lý luận của Đảng, đồng thời phải không ngừng nâng cao trình độ

lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Khắc phục sự yếu kém về lý luận, trước hết phải coi trọng lý luận và công tác lýluận, phải đổi mới công tác lý luận của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh; phải quán triệt nhiệm vụ và phương hướng nghiên cứu chủ yếucũng như những phương châm lớn chỉ đạo hoạt động lý luận đã được nêu ra trong cácNghị quyết về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay của Đảng

Khắc phục bệnh giáo điều chủ nghĩa phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, khắcphục sự lạc hậu của lý luận, thu hẹp tối đa khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn; phảiđổi mới việc nghiên cứu lý luận, từ bỏ lối nghiên cứu kinh viện, tư biện; thường xuyênđối chiếu lý luận với cuộc sống, gắn lý luận với thực tiễn; vận dụng lý luận vào hoàncảnh thực tế cách mạng của cả nước, địa phương, ngành, đơn vị một cách sáng tạo

4 Liên hệ bản thân:

- Tăng cường nghiên cứu lý luận, chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ ChíMinh đồng thời tiếp thu những lý luận mới…

Trang 14

- Biết vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách sáng tạo…

- Thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, khái quát kinh nghiệm vànâng tầm thành lý luận…

- Không ngừng học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt…

- Kiên quyết đấu tranh chống hai căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và giáo điềuchủ nghĩa…

Kết luận

Nắm vững nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác

-Lê nin, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) nêu rõ nhiệm vụ: “Tăngcường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về Đảng cầmquyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn

đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối

và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc hậu, yếukém của công tác nghiên cứu lý luận Tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoahọc, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiêncứu lý luận Khẩn trương ban hành quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị.Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận, cải tiến tổ chứcnghiên cứu lý luận phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn.”

Câu 5 Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để phê phán bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

+ Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản: Hình thức cơ bản đầu tiên là hoạtđộng sản xuất vật chất Hình thức cơ bản thứ 2 là hoạt động chính trị - xã hội Hình thức

cơ bản thứ 3 là hoạt động thực nghiệm khoa học

- Khái niệm lý luận: Lý luận là một hệ thống những tri thức về tự nhiên và xã hộiđược khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ về bản chất, tất yếu, những tínhquy luật của thế giới khách quan

- Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận: Lý luận được hình thànhtrong mối liên hệ với thực tiễn Do vậy, giữ thực tiễn và lý luận có mối quan hệ biệnchứng với nhau, tác động qua lại nhau; trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định lý luận

và lý luận có sự tác động to lớn trở lại thực tiễn

- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:

+ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, lý luận, khoa học;

+ Thực tiễn là động lực của nhận thức, lý luận, khoa học;

+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận, khoa học;

+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

- Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:

+ Lý luận khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, do đó nó soi đường, dẫn dắt,chỉ đạo thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực tiễn đạt kết quả cao;

+ Lý luận góp phần vào việc tổ chức, giáo dục, thuyết phục quần chúng;

+ Lý luận có thể dự báo tương lai, từ đó có thể hướng dẫn con người trong cuộcsống hiện tại, cũng như trong hoạt động thực tiễn tiếp theo;

Trang 15

+ Sự tác động trở lại của lý luận đối thực tiễn theo hai hướng:

Thứ nhất: nếu lý luận phản ánh đúng thực tiễn thì nó sẽ góp phần thúc đẩy thựctiễn phát triển Lý luận có tính khoa học càng cao khả năng tác động tích cực càng lớn

Thứ hai: nếu lý luận phản ánh sai thực tiễn thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển củathực tiễn

=> yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chửnghĩa Mác – Lênin là:

- Mọi lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, phải phục vụ thực tiễn, được kiểmnghiệm trong thực tiễn, được phát triển, bổ sung qua thực tiễn

- Mọi thực tiễn phải được soi sáng bởi lý luận, phải được lý luận dẫn đường.Trong hoạt động thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã có không ít cán

bộ, đảng viên do vi phạm nguyên tắc thống nhất giữ lý luận và thực tiễn mà đã dẫn đếnhai sai lầm cực đoan, đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa và

đã gây ra những tác hại nhất định Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn đề ra nhiệm vụphải quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội

* Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa:

- Bản chất của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa: Là khuynh hướng tuyệt đối hóa kinhnghiệm thực tiễn, hoàn toàn thỏa mãn với kinh nghiệm của bản thân, chỉ dừng lại ở trình

độ kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là tất cả, hạ thấp lý luận, ít am hiểu lý luận, coi thường

lý luận khoa học, ngại học lý luận, không chịu vươn lên để năm lý luận, không quan tâmđến tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận

- Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm có nhiều, chẳng hạn như ảnh hưởng tiêucực của nền sản xuất nhỏ, lúa nước, theo mùa, theo chu kỳ; ảnh hưởng tiêu cực của tưtưởng gia trưởng, phong kiến; ảnh hưởng của kinh nghiệm chiến tranh du kích quá lâudài,v.v Nhưng nguyên nhân cơ bản, trực tiếp nhất là vi phạm nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn, không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn củacán bộ, đảng viên

- Hậu quả của bệnh kinh nghiệm: Dễ dẫn đến tư duy áng chừng, đại khái, thiếuchính xác, thiếu chặt chẽ trong công tác; dễ rơi vào sự vụ trong công tác, thiển cận, tựmãn, thiếu nhìn xa trông rộng; dễ dẫn đến coi thường chất xám; coi thường giới trí thức;coi thường đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật; dễ nặng về quá khứ, rơi vào khuynhhướng thủ cựu; phục cổ, dễ bảo thủ trì trệ, không chịu đổi mới, không chịu làm cáchmạng; dễ rơi vào khuynh hướng đánh giá cán bộ nặng về quá khứ, quá trình, lấy quákhứ, quá trình làm tiêu chuẩn để đề bạt cán bộ

- Liên hệ thực tiễn:

- Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả thì phải thực hiện đồng bộ nhiềugiải pháp như, thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để khắcphục ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ; khắc phục tư tưởng gia trưởng, phongkiến, như tư tưởng coi thường trí thức, tuyệt đối hóa kinh nghiệm của người caotuổi,v.v Đặc biệt phải quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu vàvận dụng đúng quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn

* Bệnh giáo điều chủ nghĩa:

- Bản chất của bệnh giáo điều chủ nghĩa: bệnh giáo điều là khuynh hướng tưtưởng và hành động tuyệt đối hoá lý luận, coi thường hạ thấp thực tiễn, không đánh giáđúng vai trò của thực tiễn trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động lý luận, hoặc

áp dụng lý luận và kinh nghiệm không tính tới điều kiện thực tiễn lịch sử - cụ thể

Trang 16

Nước ta có hai loại bệnh giáo điều Một là, giáo điều lý luận, thể hiện ở chỗ vận

dụng lý luận không căn cứ vào những điều kiện thực tiễn - cụ thể; học tập lý luận táchrời thực tiễn, xa rời cuộc sống, rơi vào bệnh bệnh sách vở; bệnh “tầm chương, trích cú”;

bệnh câu chữ,v.v Hai là, giáo điều kinh nghiệm, thể hiện ở chỗ vận dụng kinh nghiệm

của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào mình nhưng không tính tớinhững điều kiện thực tiễn lịch sử - cụ thể của mình

- Bệnh giáo điều ở nước ta có nhiều nguyên nhân như ảnh hưởng tiêu cực của cơchế tập trung, bao cấp quá lâu; ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản, như bệnh thành tích,bệnh hình thức,v.v Đặc biệt là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn

và không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn ở một số cán bộ, đảng viên.Đây là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp nhất của căn bệnh giáo điều ở nước ta

- Liên hệ thực tiễn:

- Để ngăn ngừa, khắc phục có hiệu quả bệnh giáo điều cần thực hiện nhiều giảipháp như từng bước hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;khắc phục chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa hình thức,v.v Đặc biệt là phải quán triệt tốttrên thực tế sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu và vận dụng đúng đắn quan hệbiện chứng giữa lý luận với thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Tóm lại:

Như vậy, cả hai căn bệnh kinh nghiệm và giáo điều ở nước ta đều có một nguyênnhân chung là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Do đó, để ngănngừa, hạn chế, khắc phục hai căn bệnh này cần quán triết tốt nguyên tắc thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn Để quán triệt tốt nguyên tắc này cần thực hiện tốt trên thực tếphương châm học đi đôi với hành; lý luận liên hệ với thực tiễn và đặc biệt tăng cườngtổng kết thực tiễn Tổng kết thực tiễn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triểncủa lý luận, ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Xét vềbản chất, tổng kết thực tiễn là hoạt động trí tuệ của chủ thể tổng kết thực tiễn; là quátrình chủ thể tổng kết thực tiễn bằng tư duy khoa học với phương pháp biện chứng duyvật làm cơ sở phân tích, đánh giá, khái quát hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động cảitạo chính trị - xã hội, cải tạo các quan hệ xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học nhằmkiểm tra chân lý, kiểm tra sự đúng sai của lý luận để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lýluận và rút ra những bài học kinh nghiệm chỉ đạo hoạt động thực tiễn và hoạt động lýluận tiếp theo Trên cơ sở đó ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnhgiáo điều có hiệu quả Tuy nhiên, để tổng kết thực tiễn có hiệu quả thì cần phải quán triệtquan điểm khách quan; các kết luận rút ra phải mang tính khái quát cao; mục dích củatổng kết thực tiễn phải đúng đắn

Câu 6: Bằng lý luận và thực tiễn làm rõ quan điểm thực tiễn đời sống là quan điểm cơ bản nhất của triết học Mác (Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn? Liên hệ?)

1 Vị trí phạm trù thực tiễn

Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù trung tâm, nên tảng, cơ bảncủa toàn bộ triết học Mác - Lê nin Lênin viết rằng: “Quan niệm về đời sống, về thựctiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”

2 Khái niệm thực tiễn

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hộilàm biến đổi thế giới tự nhiên và xã hội

3 Nội hàm của phạm trù thực tiễn

Qua nội dung phạm trù thực tiễn rút ra nội hàm cơ bản sau:

- Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là nhữnghoạt động vật chất (đối lập với hoạt động tinh thần)

Trang 17

- Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích: không chỉ mục đích tồn tại

mà cải tạo tự nhiên, xã hội

- Thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử-xã hội:

+ lịch sử: mỗi thời đại # thực tiễn #

+ xã hội: không fai hoạt động mang tính cá thể mà xã hội

4 Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn.

- Hình thức cơ bản đầu tiên của hoạt động thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất.Đây là hình thức hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ bản nhất, vì nó quyết định

sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các hình thức khác của hoạtđộng thực tiễn

- Hình thức cơ bản thứ hai của hoạt động thực tiễn là hoạt động chính trị - xã hội.Hình thức hoạt động này xuất hiện khi xã hội phân chia giai cấp, đó là hoạt động đấutranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh chính trị, đấu tranh cho hoà bình,cách mạng xã hội… nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ

xã hội

- hình thức cơ bản thứ ba của thực tiễn là hoạt động thực nhiệm khoa học.Thựcnghiệm là thình thức đặc biệt của thực tiễn bao gồm: thực nghiệm sản xuất, thực nghiệmkhoa học, thực nhiệm xã hội cũng biến đổi giới tự nhiên và xã hội Đó là hoạt động củacon người được tiến hành trong điều kiện “nhân tạo” nhằm rút ngắn “độ dài” của quátrình con người nhận thức và cải tạo thế giới

- Trên cơ sở những hình thức cơ bản này, những hình thức không cơ bản của thựctiễn được hình thành Đó là mặt thực tiễn của các hoạt động trong một số lĩnh vực như:nghệ thuật, giáo dục, y tế… Sở dĩ gọi là “không cơ bản” không phải vì những hình thứcnày kém quan trọng, mà chỉ vì chúng được hình thành và phát triển từ những hình thức

cơ bản, chúng phụ thuộc vào những hình thức hoạt động cơ bản, chúng là những hìnhthức thực tiễn phái sinh

5 Vai trò của thực tiễn với nhận thức

- Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, lý luận, khoa học:

Bằng hoạt động thực tiễn, con người trực tiếp tác động vào sự vật, hiện tượng vàquá trình của thế giới, bắt chúng bộc lộ những thuộc tính, những bí ẩn, những tính quyluật để cho con người nhận thức Điều đó có nghĩa là thực tiễn cung cấp những tài liệucho nhận thức, cho lý luận, cho khoa học Tri thức của con người thu nhận được dướidạng trực tiếp hoặc gián tiếp, từ thế hệ này truyền cho thế hệ khác đều nảy sinh từ hoạtđộng thực tiễn Do đó, không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có lý luận vàkhông có khoa học Hiểu biết của con người xét đến cùng phải bắt nguồn từ thực tiễn

- Thực tiễn là động lực của nhận thức, lý luận, khoa học.

Thực tiễn không ngừng biến đổi, phát triển và luôn để ra nhu cầu, nhiệm vụ vàphương hướng phát triển của nhận thức, của lý luận, cho sự ra đời của các ngành khoahọc Thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết,khái quát kinh nghiệm mới thành lý luận mới trên cơ sở đó thúc đẩy sự ra đời và pháttriển của các ngành khoa học nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh Đóchính là động lực thúc đẩy nhận thức, lý luận, khoa học phát triển

- Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận, khoa học

bản thân lý luận, khoa học không có mục đích tự thân mà lý luận, khoa học ra đờichính vì và chủ yếu vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người Cho nênsau khi ra đời, nhận thức, lý luận, khoa học phải quay về phcụ vụ thực tiễn, hướng dẫnchỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động cách mạng của quần chúng Lý luận, khoa

Trang 18

học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn cải tạo tự nhiên, xãhội phục vụ mục tiêu phát triển con người.

- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.

Thực tiễn là tiêu chuẩn đánh thép chứng minh chân lý, nghiêm khắc bác bỏ sailầm Tuy nhiên, khi nói thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý thì cũng phải hiểu tiêu chuẩn

đó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối

Tính tuyệt đối của tiêu chuẩn thực tiễn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩnkhách quan duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thểkhẳng định hay bác bỏ tính chân lý của lý luận Đây là nguyên tắc bất di bất dịch

Tính tương đối của tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ thực tiễn không phải là bấtbiến, đứng nguyên một chỗ mà luôn vận động, biến đổi, phát triển Thực tiễn là một quátrình, cho nên nhận thức chân lý cũng là một quá trình Điều đó đòi hỏi nhận thức củacon người cũng phải đổi mới và phát triển cho phù hợp với thực tiễn mới Nhận thứcngày hôm qua là phù hợp, là chân lý; song, nếu đem áp dụng nhận thức, lý luận cũ vàothực tiễn mới đã thay đổi sẽ làm cho nhận thức, lý luận trở nên bảo thủ, sai lầm

6 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Hoạt động lý luận thống nhất hữu cơ với hoạt động thực tiễn

+ Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sốnghiện thực

+lý luận phải hướng hẳn về đời sống sinh động; tổng kết, khái quát kinh nghiệmhoạt động thực tiễn; lý luận phải đi sâu nghiên cứu, khám phá và làm rõ những vấn đề lýluận do chính sự phát triển của thực tiễn để ra và như vậy, góp phần thúc đẩy, hướng dẫnthực tiễn phát triển đúng hướng

+ Thống nhất với thực tiễn và trên cơ sở đó, sáng tạo và phát triển - đó là nguyên tắcphát triển rất cơ bản của lý luận, bảo đảm sức sống cho lý luận; đưa lại cho nó khả năng xemxét, định hướng giải quyết những mâu thuẫn cốt lõi của thực tiễn đời sống

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội

7 Liên hệ việc khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa.

Do vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mà dẫn đến sai lầmcực đoan, đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa

- Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa

Đặc trưng của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đó là khuynh hướng tuyệt đối hoá kinhnghiệm thực tiễn, hoàn toàn thoả mãn với kinh nghiệm bản thân, chỉ dừng lại ở trình độkinh nghiệm, coi kinh nghiệm là tất cả, hạ thấp lý luận, ít am hiểu lý luận, không chịuvươn lên để nắm lý luận, lười học lý luận, không quan tâm tổng kết rút kinh nghiệm để đềxuất lý luận

Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đã gây ra hậu quả: Dễ dẫn đến tư duy áng chứng, đạikhái, thiếu chính xác, thiếu chặt chẽ trong công tác; dễ rơi vào sự vụ trong công tác,thiển cận, tự mãn, thiếu nhìn xa trông rộng; dễ dấn đến coi thường chất xám, coi thườnggiới trí thức, coi thường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; dễ nặng về quá khứ, rơi vàokhuynh hướng thủ cựu, phục cổ, dễ bảo thủ trì trệ, không chịu đổi mới, không chịu làmcách mạng; dễ rơi vào khuynh hướng đánh giá cán bộ nặng về quá khứ

Bệnh giáo điều chủ nghĩa

Đặc trưng của bệnh giáo điều chủ nghĩa đó là bệnh cường điệu lý luận, tuyệt đốihoá lý luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch, tách rời lýluận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể

Trang 19

Hai biểu hiện của bệnh giáo điều đó là giáo điều lý luận và giáo điều kinh nghiệmhay giáo điều về hành động.

Giáo điều lý luận: Đó là bệnh sách vở trong nghiên cứu, học tập lý luận, nắm lýluận chỉ dừng lại ở câu chữ theo kiểu “tầm chương trích cú”, hiểu lý luận một cách trừutượng mà không thâu tóm được bản chất cách mạng và khoa học của nó, nặng về diễngiải những gì đã có trong sách Thực chất của giáo điều lý luận là đọc sách, nhưng khônghiểu sách, không gắn sách với cuộc sống, không gắn lý luận với thực tiễn Khi đề ra chủtrương và chính sách, người mắc bệnh giáo điều thường nặng về xuất phát từ sách vở màkhông xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể, xa rời thực tiễn sinh động

Giáo điều về kinh nghiệm hay giáo điều về hành động: Đó là áp dụng một cáchrập khuôn, máy móc kinh nghiệm của nước khác vào nước ta, của địa phương khác vàođịa phương mình, của ngành khác vào ngành mình; là áp dụng rập khuôn kinh nghiệmtiến trình chiến tranh cách mạng trong thời chiến vào quá trình xây dựng kinh tế trongthời bình

- Phương hướng chung để khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa.

Coi trọng cả lý luận, cả thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn; phải đổi mới

tư duy lý luận Khắc phục sự yếu kém về lý luận, trước hết phải coi trọng lý luận và côngtác lý luận, phải đổi mới công tác lý luận của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin

và tư tưởng Hồ Chí Minh; phải quán triệt nhiệm vụ và phương hướng nghiên cứu chủyếu cũng như những phương châm lớn chỉ đạo hoạt động lý luận đã được nêu ra trongcác Nghị quyết về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay của Đảng

Khắc phục bệnh giáo điều chủ nghĩa phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, khắcphục sự lạc hậu của lý luận, thu hẹp tối đa khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn; phảiđổi mới việc nghiên cứu lý luận, từ bỏ lối nghiên cứu kinh viện, tư biện; thường xuyênđối chiếu lý luận với cuộc sống, gắn lý luận với thực tiễn; vận dụng lý luận vào hoàncảnh thực tế cách mạng của cả nước, địa phương, ngành, đơn vị một cách sáng tạo

8 Liên hệ bản thân:

- Đặc thù công việc bản thân là…

- Tăng cường nghiên cứu lý luận, chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ ChíMinh đồng thời tiếp thu những lý luận mới…

- Biết vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách sáng tạo…

- Thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, khái quát kinh nghiệm vànâng tầm thành lý luận…

- Không ngừng học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt…

- Kiên quyết đấu tranh chống hai căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và giáo điềuchủ nghĩa…

Câu 7: Vận dụng biện chứng giữa LLSX và QHSX trong quá trình đổi mới ở Việt Nam? Nêu khái niệm:

Trả lời:

1 Khái niệm:

Theo quan điểm của C Mác: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗchúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao độngnào” Phương thức sản xuất - cách thức con người tiến hành sản xuất chính là sự thống nhấtgiữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định của quan hệ sản xuất tương ứng

- Lực lượng sản xuất: Là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trướchết là công cụ lao động Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự

Trang 20

nhiên Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con ngườitrong một giai đoạn lịch sử nhất định.

- Quan hệ sản xuất: Là quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất, thểhiện ở quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổihọat động với nhau và quan hệ phân phối sản phẩm

2 Quy lụât về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạothành quy luật Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng,quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội

Khi trình độ lực lượng sản xuất còn thủ công thì tính chất của nó là tính chất cánhân Nó thể hiện ở chỗ chỉ một người có thể sử dụng được rất nhiều công cụ khác nhautrong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm Như vậy, tất yếu dẫn đến quan hệ sản xuất

sở hữu mang tính cá nhân về tư liệu sản xuất

Khi sản xuất bằng máy ra đời, trình độ lực lượng sản xuất công nghiệp đòi hỏikhông thể một người có thể đảm nhận được tất cả các khâu của quá trình sản xuất, màmỗi người chỉ phụ trách được một khâu trong dây chuyền sản xuất Như vậy, quá trìnhsản xuất đòi hỏi phải có nhiều người tham gia, sản phẩm lao động là thành quả của nhiềungười ở đây, lực lượng sản xuất đã mang tính xã hội hóa, tất yếu quan hệ sản xuất thíchhợp với nó phải là quan hệ sản xuất mang tính xã hội hóa về tư liệu sản xuất

Theo C.Mác, sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển”tất yếu của lực lượng sản xuất Nghĩa là trạng thái mà ở đó các yếu tố cấu thành quan hệsản xuất “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển

- Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất

Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất là sự phù hợp củanhững mặt đối lập, thể hiện ở chỗ Lực lượng sản xuất thường xuyên thay đổi, phát triển,còn quan hệ sản xuất có tính ổn định tương đối do tác động của thể chế, nhà nước, luậtpháp Khi lực lượng sản xuất phát triển tới một trình độ nhất định, quan hệ sản xuất từchỗ là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm hãm sựphát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn trong quan hệ sản xuất với lực lượng sảnxuất ngày càng gay gắt Lực lượng sản xuất sẽ đòi hỏi phải phá vỡ quan hệ sản xuất cũ,thay thế bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với nó Quan hệ sản xuất mới phù hợplại tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, với mâu thuẫn trong chúng trở nên gaygắt…Cứ như vậy, tình trạng phù hợp, không phù hợp rồi lại phù hợp đen xen, chuyểnhóa lẫn nhau diễn ra trong xuốt quá trình tác động qua lại biện chứng trong lực lượng sảnxuất, thúc đẩy nền sản xuất vật chất của xã hội không ngừng phát triển từ phương thứcsản xuất này lên phương thức sản xuất khác và qua đó thúc đẩy xã hội loài người pháttriển không ngừng từ xã hội này sang xã hội khác, từ thấp đến cao

- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất tuy bị quyết định bởi lực lượng sản xuất nhưng nó cũng có tínhđộc lập tương đối nên có thể tác động trở lại lực lượng sản xuất, vì nó quy định mục đích

xã hội của sản xuất, quy định khuynh hướng phát triển của các nhu cầu về lợi ích vậtchất, lợi ích tinh thần, quy định hình thức quản lý sản xuất, quản lý xã hội Do đó, nó cóthể hình thành một hệ thống những nhân tố tác động trở lại mâu thuẫn lực lượng sảnxuất Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo hai hướng

Trang 21

Thứ nhất, khi quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Thứ hai, khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽthúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất là quy luật cơ bản, phổ biến của xã hội Nó chi phối sự vận động, phát triển củatoàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại

3 Vận dụng biện chứng giữa LLSX và QHSX trong quá trình đổi mới ở Việt Nam

a Thời kỳ trước đổi mới:

Lực lượng sản xuất của nước ta cũn yếu kộm do xuất phát điểm là một nước nụngnghiệp nghốo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phỏ nặng nề trong một thời gian dài Đặcbiệt là sự không đồng đều về trỡnh độ sản xuất Lỳc này, trỡnh độ thủ cụng là phổ biến,ngoài ra cũn cú trỡnh độ sản xuất tự nhiên, thô sơ, trỡnh độ cơ khí hoá, trỡnh độ hiện đại(cỏc nhà mỏy, xớ nghiệp của nước ngoài đầu tư) Theo như quy luật thỡ tương ứng vớicỏc trỡnh độ và tớnh chất của lực lượng sản xuất này, phải cú nhiều phải cú nhiều quan

hệ sản xuất khỏc nhau Tuy nhiờn, do nhận thức không đầy đủ về thực chất của quy luật,

do chủ quan, nóng vội nên chúng ta đã tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất mới mộtcách nhanh chóng dưới hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu tập thể và sở hữu quốcdoanh, cụ thể như sau:

Về quan hệ sở hữu, chỉ công nhận hai hình thức là sở hữu tập thể và sở hữu toàndân Sở hữu tập thể chỉ phù hợp với trình độ cơ khí hoá Sở hữu toàn dân chỉ phù hợpvới trình độ hiện đại, tự động Còn hai trình độ chiếm phần lớn trong xã hội lúc bấy giờ

là thủ công và tự nhiên, thô sơ thì không có quan hệ sản xuất nào tương ứng

Về cách phân công lao động thì được thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, hành chính,

áp đặt và kế hoạch hoá cao độ

Về phân phối thì nhà nước thực hiện phân phối bình quân và bao cấp Chế độ phân phốinày chỉ thích ứng với trình độ rất cao của lực lượng sản xuất thì mới có thể kham nổi

Như vậy, xét trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất, chúng ta đều nhận thấy rõ ràngquan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất, vi phạm quy luật khách quanlàm cho lực lượng sản xuất trì trệ không phát triển, đưa đất nước rơi vào tình trạngkhủng hoảng kinh tế- xã hội Những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta nghèo nàn, tiêuđiều xơ xác Nhân dân thiếu ăn, nhiều nơi bị nạn đói hoành hành trong khi ruộng đồng

bỏ hoang hoá nhiều, tinh thần làm việc của các xã viên rất chán nản và chiếu lệ khiếncho năng suất lao động đạt rất thấp Hàng hoá trên thị trường khan hiếm, người dân phảixếp hàng cả ngày mới mua được số thực phẩm, hàng hoá ít ỏi Là một đất nước nôngnghiệp nhưng Việt nam phải nhập khẩu 1 triệu tấn lương thực mỗi năm

b Thời kỳ đổi mới:

Thời điểm năm 1986, lực lượng sản xuất của nước ta về cơ bản vẫn như trước,trỡnh độ thủ cụng là phổ biến, ngoài ra cũn cú trỡnh độ sản xuất tự nhiên, thô sơ, trỡnh

độ cơ khí hoá, trỡnh độ hiện đại (cỏc nhà mỏy, xớ nghiệp của nước ngoài đầu tư)

Song, về quan hệ sản xuất thỡ đó cú nhiều thay đổi Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI, VII, VIII của Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần là đúng đắn, dựa trên quan hệ biện chứng trong lực lượng sản xuất-quan hệ sảnxuất Đường lối đó xuất phát từ trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất ở nước tavừa thấp, vừa không đồng đều nên không thể nóng vội và nhất loạt xây dựng quan hệ sảnxuất XHCN dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất như trước kia Đảng

Ngày đăng: 03/12/2016, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w