Vấn đề con người là vấn đề cơ bản, vĩnh cửu là đối tượng trung tâm nghiên cứu của các trường phái triết học từ thời cổ đại cho đến hiện đại. Dù cho các trường phái triết học đó là duy tâm hay duy vật, biện chứng hay siêu hình, mọi trào lưu triết học đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn đề chung nhất về con người. Nhưng sự lý giải ấy xuất phát từ lập trường thế giới quan, phương pháp luận khác nhau nên sự hình thành, phát triển của các trào lưu, trường phái triết học cũng khác nhau hoặc đối lập nhau. Cuộc đấu tranh xoay quanh vấn đề con người là một trong những nét nổi bật của triết học. Chỉ đến Triết học Mác Lênin ra đời mới tạo ra bước ngoặt cách mạng, khoa học về quan niệm con người, những giá trị đích thực của con người trong nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và phát triển tư duy mới được trả lại giá trị đích thực. Ngày nay, lý luận Mác xít về con người đã và đang trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học để Đảng ta xác định những quan điểm, giải pháp để phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trang 1ĐỔI MỚI ĐÁP ỨNG YÊU CẦUCÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Vấn đề con người là vấn đề cơ bản, vĩnh cửu là đối tượng trung tâmnghiên cứu của các trường phái triết học từ thời cổ đại cho đến hiện đại Dù chocác trường phái triết học đó là duy tâm hay duy vật, biện chứng hay siêu hình,mọi trào lưu triết học đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp nhữngvấn đề chung nhất về con người Nhưng sự lý giải ấy xuất phát từ lập trường thếgiới quan, phương pháp luận khác nhau nên sự hình thành, phát triển của cáctrào lưu, trường phái triết học cũng khác nhau hoặc đối lập nhau Cuộc đấu tranhxoay quanh vấn đề con người là một trong những nét nổi bật của triết học Chỉđến Triết học Mác Lênin ra đời mới tạo ra bước ngoặt cách mạng, khoa học vềquan niệm con người, những giá trị đích thực của con người trong nhận thức vàcải tạo tự nhiên, xã hội và phát triển tư duy mới được trả lại giá trị đích thực.Ngày nay, lý luận Mác xít về con người đã và đang trở thành thế giới quan,phương pháp luận khoa học để Đảng ta xác định những quan điểm, giải pháp đểphát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1 Quan điểm về con người trong triết học trước Mác
Bắt đầu từ thuở sơ khai của lịch sử loài người, khi con người bắt đầu có ýthức và khả năng tìm hiểu những bí mật của thế giới xung quanh thì con ngườicũng bắt đầu đặt ra những câu hỏi và lời giải đáp về chính mình: Con người là gì?Con người sinh ra từ đâu? Lời giải đáp đó được diễn tả, phản ánh thông qua cáctruyền thuyết thần thoại, sử thi lưu truyền trong dân gian, mặc dù đó chỉ là nhữngquan niệm có tính chất triết lý thô sơ, nhân sinh về cuộc sống con người Và chođến khi xuất hiện tư duy triết học, nó đã đánh dấu bước nhảy vọt trong năng lựcnhận thức của con người, đồng thời đánh dấu một giai đoạn mới trong việc tự ýthức về bản thân Các nhà duy vật phương Tây cổ đại đã giải thích sự cấu tạo củathân thể con người từ các yếu tố vật chất, họ đã có những "tuyên ngôn" về conngười bằng sức mạnh nhận thức, sức mạnh cải tạo, có thể hiểu biết và cải tạo thế
Trang 2giới, nhận thức và cải tạo được số phận và chính bản thân mình Nhưng sức mạnhtiềm tàng của con người có tính độc lập không phụ thuộc vào sức mạnh nằm ngoàicon người Sự tuyên chiến của triết học với niềm tin ngây thơ vào sức mạnh siêunhiên thần bí, các điều tiên tri kỳ lạ là nhiệm vụ chủ yếu của triết học duy vật đấutranh với triết học duy tâm.
Ngoài ra, thời kỳ cổ đại ở Phương Tây, người ta đã cho rằng: triết họcphải là học thuyết dạy cho con người biết sống như thế nào, do đó, nhiệm vụ đặt
ra phải nhận thức và tự nhận thức (Xôcrát) Triết học cổ đại cho ta những tưtưởng xuất sắc, chẳng hạn Đêmôcrít cho rằng: lúc đầu con người cũng sinh sốngnhư các động vật, sử dụng các vật phẩm sẵn có trong thiên nhiên Chính sự thiếuthốn làm cho nhu cầu ngày càng tăng, từ sự thúc đẩy của nhu cầu mà bàn tay, trítuệ của con người tạo nên văn minh về nhà ở, quần áo và các công cụ sản xuất Arixtốt - đại biểu đại diện giai cấp chủ nô, ông coi con người nô lệ là "nhữngcông cụ biết nói" Ông đã nêu lên luận đề: “Bẩn sinh, con người là động vậtchính trị” Con người là động vật xã hội và con người cũng là động vật chính trị.Thừa nhận con người cần phải nghiên cứu thế giới tự nhiên vì bản thân conngười là một bộ phận của tự nhiên còn theo nhà triết học duy tâm Plalôn chorằng: con người là động vật có lý tính, con người gồm phần xác (lửa, nước,không khí, đất) và phần hồn (linh hồn vũ trụ), ông ta cho rằng mỗi con ngườitương ứng với một vì sao trong vũ trụ, con người là do vì sao bay xuống mặt đấttrú ngụ vào một ai đó, khi chết sao lại bay về vũ trụ và có chăng chỉ là sự dịchchuyển từ người này sang người khác Như vậy, trong quan niệm của một số nhàtriết học Phương Tây cổ đại đã rất chú ý bàn đến những vấn đề thực tiễn của conngười, hướng con người với tự nhiên để chinh phục, cải tạo tự nhiên đáp ứngnhu cầu cuộc sống của mình Những vấn đề nhân sinh quan cũng giải quyếtđược dựa trên mối quan hệ con người với tự nhiên
Ở phương Đông thời cổ đại, người ta lại bàn luận về các vấn đề "nhân tìnhthế thái" với quan niệm con người là tiểu vũ trụ, giải quyết quan hệ người -người là gốc để giải quyết các quan hệ khác Sức mạnh của con người đượchướng vào cải tạo chính con người Khổng Tử quan niệm con người và số phậncon người là do mệnh trời quyết định, ông đưa ra chủ trương nhập thế "Tu thân,
tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" và tư tưởng “hữu giáo vô loại” Lão Tử cho rằng
Trang 3“Đạo” là gốc của vạn vật, con người là do “Đạo” sinh ra và ông khuyên răn conngười sống "Vô vi", "Vô kỷ" Thích ca màu ni cứu vớt chúng sinh bằng conđường tu hành "diệt dục", sống từ bi, hỷ sả, hạnh phúc tột đỉnh của con ngườikhi nó từ bỏ hoàn toàn đời sống xã hội để quay về sống với cái "tâm" của mình,cõi “niết bàn” không ở đau xa lạ mà ngay chính ở trong tâm mình và cũng chính
là sự giải phóng, tiễu trừ, loại bỏ sự “vô minh” Mặc dù chưa tìm thấy đượcnhững quan hệ cốt lõi trong việc cải tạo con người và xã hội loài người, nhưngnhững triết gia phương Đông cũng có những cống hiến quan trọng trong các giảipháp cải tạo xã hội, con người về đạo đức, về giáo dục, về nhân sinh quan
Đến thế kỷ XIV - XV, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời đưanhân loại thoát khỏi "đêm trường trung cổ", xuất hiện những tư tưởng mới, phùhợp với sự ra đời của chế độ xã hội mới Cuộc đấu tranh kéo dài giữa các hệ tưtưởng diễn ra liên tục và khá quyết liệt Lý trí và tự do tư tưởng của con người,chống lại lòng tin mông muội có tính tôn giáo và sự biện hộ cho nó là thần họckinh viện Sự giải phóng cá nhân con người, sự đề cao cuộc sống hạnh phúc,chống lại sự chà đạp thô bạo lên nhân cách và chủ nghĩa khổ hạnh Đến thời kỳphục hưng đã xây dựng nên một quan niệm khá hoàn chỉnh, có hệ thống về conngười và đã diễn đạt được một hình thái sáng sủa đầy sức sống Đó là đặt conngười vào vị trí trung tâm của thế giới Hạnh phúc, sự phát triển và sự hoànthiện của con người là mục đích của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, đây cũng là
sự phản ánh khát vọng của giai cấp tư sản ở giai đoạn hình thành Bên cạnh mặttiến bộ, cách mạng chứa đựng sẵn những mặt yếu và mâu thuẫn bên trong.Những mặt này sẽ lớn dần lên cùng với sự tiến lên của giai cấp tư sản thành giaicấp thống trị Dù sao triết học thời phục hưng đã chuẩn bị cho một bước pháttriển mới về khoa học, về sự nghiên cứu con người Niềm tin và sức mạnh củacon người, đặc biệt là tri thức và năng lực tư duy của con người được thể hiệnđậm nét Những luận đề "Tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức" của Bêcơn,hay "Tôi tư duy nên tôi tồn tại" - Đềcáctơ Đặc biệt các nhà duy vật thời kỳ này,trong khi khẳng định nguồn gốc tự nhiên, những yêu cầu "bản chất" của conngười và xuất phát từ đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ xã hội cho phù hợp vớibản chất con người Họ cho rằng lý trí, khoa học và giáo dục là những động cơthúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Học thuyết về con người, về xã hội chiếm một vị
Trang 4trí quan trọng trong di sản tư tưởng của các nhà duy vật thuộc phái khai sáng ởPháp thế kỷ XVIII Đại biểu Môngtexkiơ cho rằng xã hội cũng như giới tự nhiênđều phải phục tùng những quy luật khách quan, trạng thái tự nhiên của conngười là sống hoà bình và bình đẳng với nhau Hônbách cho rằng con người sinh
ra vốn không thiện, cũng không ác, thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên, đặcbiệt là những điều kiện chân chính của xã hội Theo ông, sự hiểu biết đúng đắn
về lợi ích cá nhân với tư cách là cơ sở tất yếu của hành vi con người, có thểdung hợp với lợi ích của xã hội
Ở Đức, cuộc cách mạng dân chủ tư sản chậm hơn các nước Tây Âu Kinh
tế, chính trị lạc hậu, nhưng những tư tưởng, lý luận với hình thức tư biện về thếgiới và con người tương đối phát triển Heghen đã biết tất cả lo âu và những hyvọng của con người Ông chứng kiến sự thay đổi của hai thế giới cũ và mới.Ông viết: "Con người phải sống trong cả hai thế giới tương phản nhau đến mức
ý thức cũng phải vật lộn trong mâu thuẫn ấy Một mặt chúng ta thấy con người
bị gắn với tính thời sự tầm thường và tính thời gian của trái đất bị dằn vặt bởinhững nhu cầu và khổ cực, bị đe doạ bởi giới tự nhiên, bị sa lầy vào trong vậtchất, bị thống trị bởi các bản năng tự nhiên Mặt khác, con người vươn lên cái ýniệm vĩnh cửu, lên vương quốc của tư duy và tự do Nó tự coi như là ý chí củacác quy luật và các quy định phổ biến Nó tước bỏ thế giới khỏi tính thời sựphong phú và giải quyết tính thời sự ấy bằng sự trừu tượng Tinh thần khẳngđịnh quyền lực và phẩm giá của nó trước tình trạng hỗn loạn và tàn bạo của giới
tự nhiên"
Heghen là đỉnh cao của triết học tư biện vì ông đã vận dụng sự trừu tượnghoá trừu tượng đến 2 lần khi ông quy khách thể và khái niệm của nó và quy conngười vào nhận thức của họ Hai lần ấy khá giống nhau để có thể ghép thànhmột hiện thực duy nhất, hiện thực của tinh thần tuyệt đối mà sự vận động của nó
sẽ tạo ra thế giới vì thông qua con người tạo ra sự nhận thức về thế giới ấy Tinhthần của con người được đồng nhất với tinh thần của triết học tư biện Heghenkhi con người đạt tới tột cùng của nhận thức Nhưng con người trong quan niệmcủa Heghen chỉ là con người tư biện và cái thế giới bắt nguồn từ ý niệm conngười cũng là một thế giới lộn ngược, ông quy sự tha hoá hiện thực của bản chấtcon người thành sự tha hoá của tự ý thức Thực thể trở thành chủ thể, ý niệm trở
Trang 5thành bản chất của thế giới và động lực của lịch sử Còn hành động thực tiễn củacon người thì bị xoá bỏ trước tư biện biện chứng Đây cũng là sự thể hiện tínhchất thoả hiệp về chính trị của giai cấp tư sản Đức, Heghen coi chế độ chuyênchế Phổ là "hợp" quy luật, là hình thức cuối cùng và hoàn thiện của "ý niệmtuyệt đối" Như vậy, Heghen đã xây dựng một lâu đài triết học đồ sộ, nhưng ông
để cho con người sống trong một túp lều tranh của một hiện thực tồi tàn củavương quốc Phổ Cuối cùng sự phát triển về kinh tế - chính trị ở Đức đã làm nổtung sự điều hoà và chấm dứt bước chuyển tiếp ấy
Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, Feuerbach (nhà triết học theo phái dân chủcấp tiến của giai cấp tư sản Đức) đã bàn đến những vấn đề con người và xã hộinhiều hơn Cùng với tự nhiên, con người là đối tượng chân chính của triết học.Chính vì vậy ông đã gọi triết học của ông là triết học mới "Triết học tương lai vềnhân bản học - học thuyết về con người" Ông đã khôi phục chủ nghĩa nhấtnguyên về thế giới và con người theo chủ nghĩa duy vật Theo Feuerbach, conngười là một bộ phận của tự nhiên, là một sinh vật có hình thể vật chất ở trongkhông gian và thời gian Không phải thượng đế tạo ra con người, mà con người
do giới tự nhiên đem lại Không thể tách linh hồn ra khỏi thể xác được Ý thứcchỉ là thuộc tính của vật chất đặc biệt, chỉ có ở con người - đó là bộ óc.Feuerbach tin tưởng vào khả năng nhận thức của con người Con người vừa đủcác giác quan cần thiết để có thể lĩnh hội được toàn bộ thế giới một cách đại thể.Những quan điểm nhân bản đã làm Feuerbach nhìn nhận con người có tính chấtmột chiều, phiến diện, càng không thể đánh giá đúng bản chất của con người.Feuerbach quan niệm con người chỉ là một sinh vật có thực thể, có cảm giác chứkhông phải là một sinh vật xã hội có tính lịch sử cụ thể của nó Đó chỉ là conngười trừu tượng chung chung có tính tộc loại tổng hợp với những tính chất sinh
lý và đạo đức nhất định, con người đứng ngoài lịch sử, trên giai cấp với bản chấtbất biến của nó Ông tưởng tượng ra một sự thống nhất linh thiêng của bản chấtcon người trong tất cả mọi cá nhân, mọi thời đại, mọi nước Feuerbach phản đốiviệc đồng nhất con người với tư duy ý thức như chủ nghĩa duy lý trước kia đãquan niệm, song ông cho rằng bản chất con người là sự thống nhất toàn vẹn củalinh hồn và thể xác Nhưng bản chất con người trong quan niệm của ông chỉ làcảm tính, là đời sống của ý trí và trái tim, là lương tâm, là tính đa dạng của
Trang 6những cảm xúc, của cá nhân (yêu ghét, đau khổ, khao khát, hạnh phúc ) Tínhchất tĩnh quan của chủ nghĩa duy vật Feuerbach thể hiện rất rõ trong vấn đề ýthức Trong việc xem xét hoạt động của con người Theo ông, con người chỉphản ánh thế giới khách quan một cách thụ động, ý thức chỉ là bản sao chép hìnhảnh các sự vật một cách đơn giản có tính chất tự nhiên chủ nghĩa Feuerbachkhông nhìn thấy bản chất xã hội của con người và ông hoàn toàn không nghiêncứu hoạt động thực tiễn của con người, hoạt động cách mạng nhằm biến đổi hiệnthực khách quan Cho nên, triết học mới của Feuerbach chỉ là để giải thích cái gì
đã có chứ không phải để thay đổi những gì đang có
Như vậy, trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, việc con người tự nhận thức
về bản thân mình đã được nâng lên không ngừng, cùng với việc nhận thức tự nhiên và xã hội Nhưng chúng ta cũng thấy rằng trong lịch sử, rất nhiều vấn đề
về con người chưa được giải quyết một cách thoả đáng, căn bản và triệt để Loài người chỉ có thể tìm thấy câu trả lời xác đáng cho mọi vấn đề về con người trong triết học Mác-Lênin
2 Con người trong quan niệm của triết học Mác - Lênin
Trên cơ sở kế thừa và phát triển một cách sáng tạo, các nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác Lênin đã đưa ra phương pháp nghiên cứu tiếp cận vấn đề conngười thể hiện tính cách mạng khoa học triệt để, vượt qua và hơn hẳn về chất sovới các trường phái triết học trước đó Ngay trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế -triết học" năm 1844 Mác đã trình bày một cách rõ nét, hệ thống và khái niệmcon người theo quan điểm duy vật lịch sử Mác viết: “ Con người không chỉ là
thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài” 1 Khái niệm đó là khái niệm
đa nghĩa, con người không đơn giản là những cá nhân riêng biệt, là phương thứctồn tại của con người trong thế giới và không đơn giản là chủ thể trừu tượng củanhân loại Mà con người là cá nhân đặc biệt thực hiện trong nó bản chất tộc loại
và có mọi khả năng để phát triển Đối với con người thì toàn bộ lịch sử là quátrình sinh thành của nó, còn đối với lịch sử, con người thể hiện ra là một chủ thểcủa sự phát triển lịch sử Toàn bộ sự phát triển của con người thể hiện ra là sự
"tự tha hoá", là sự "lột bỏ" Xoá bỏ sự tha hoá đó là sự chiếm hữu bản chất của
Trang 7con người "Con người chiếm hữu bản chất toàn diện của mình một cách toàndiện, nghĩa là như một con người toàn vẹn"1 Với quan niệm đó, Mác chỉ ra sựhình thành phương thức tồn tại mới của con người.
Con người gắn nó với sự phát triển ngày một phong phú về đời sống củamình, với việc tổ chức theo cách mới mối quan hệ của con người, với sự thayđổi địa vị của con người trong xã hội Mác coi chủ nghĩa cộng sản là sự xoá bỏmột cách tích cực "sự tự tha hoá" của con người, là "sự chiếm hữu một cáchthực sự bản chất của con người, bởi con người và vì con người, là việc "conngười hoàn toàn quay trở lại con người với tính cách là con người xã hội, nghĩa
là có tính chất người Sự quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức và có giữlại tất cả sự phong phú của sự phát triển đã đạt được"2
Khẳng định vai trò của con người trong việc cải biến tự nhiên, cải tạo xãhội, chủ nghĩa Mác khẳng định: Con người không chỉ là chủ thể của hoạt độngsản xuất vật chất, mà còn là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong sựphát triển của lực lượng sản xuất, nó là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ
xã hội Bằng lao động sản xuất, con người cải tạo tự nhiên để thoả mãn nhu cầucủa mình, đồng thời cải tạo cả bản thân mình Theo Mác, sự phát triển của lựclượng sản xuất của loài người dẫn tới sự phát triển xã hội nói chung có mục đích
là “sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tựthân”3 Ăngghen viết: "Lao động là nguồn gốc của mọi của cải, lao động là điềukiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức
mà trên ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân conngười"4 Trong hoạt động lao động chinh phục tự nhiên, con người cải biến tựnhiên và trên cơ sở đó, sáng tạo ra những điều kiện bảo đảm cho sự sinh tồn củabản thân mình, sáng tạo ra lịch sử của chính mình, sản phẩm lao động của conngười thể hiện sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên Con người bằng hoạt độnglao động sáng tạo của mình, chinh phục, cải biến tự nhiên không phải tư cách lànhững thành viên của cộng đồng xã hội Sống trong cộng đồng xã hội, conngười tất yếu có quan hệ với nhau, trao đổi hoạt động với nhau, nhất là trong
Trang 8hoạt động lao động sản xuất, con người và xã hội không tách rời tự nhiên Nó cóthể tồn tại, phát triển dựa vào tự nhiên và trên cơ sở biến đổi tự nhiên "Mọi khoaghi chép lịch sử đều phải xuất phát từ những cơ sở tự nhiên ấy và những thayđổi của chúng do hoạt động của con người gây ra trong quá trình lịch sử"
Với quan niệm đó, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã cho rằng: nếukhông có tự nhiên và xã hội thì con người không thể tiến hành sản xuất được.Song đến lượt mình, sản xuất xã hội lại trở thành điều kiện tiên quyết để conngười cải biến tự nhiên, biến đổi xã hội trở thành nhân tố quyết định trực tiếp sựtồn tại phát triển của con người, của xã hội loài người Trình độ sản xuất của conngười càng cao thì càng có điều kiện để thoả mãn nhu cầu vật chất của mình và
do đó càng làm phong phú thêm đời sống xã hội, đời sống tinh thần của conngười, thông qua đó tự phát triển mình, phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ xãhội Mác, Ăngghen khẳng định: Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực pháttriển của lịch sử, của tiến bộ xã hội Lịch sử loài người là lịch sử của con người,
do con người và vì con người
Mục tiêu cao cả, ý nghĩa vĩnh hằng, bản chất nhân đạo, thước đo nhânvăn, sự phát triển tiến bộ xã hội là phát triển con người, đưa "con người từvương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do"1 Để sản xuất ra những conngười phát triển toàn diện, cần phải có một nền kinh tế phát triển cao, một nềnvăn hoá tiên tiến, một nền khoa học kỹ thuật hiện đại, một nền giáo dục pháttriển và việc tạo ra những thành tựu kinh tế xã hội, “đó không phải chỉ là mộtphương pháp để tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương thức duynhất để sản xuất ra những con người phát triển một cách toàn diện"2 Điểm đặcbiệt của triết học Mác - Lênin còn thể hiện khi xem xét giải quyết vấn đề tươngquan giữa nhân tố sinh học và nhân tố xã hội trong bản chất của con người Cácnhà kinh điển cho rằng cái quyết định trong con người là cái xã hội Con người
và xã hội không tách rời nhau và chỉ có trong xã hội, trong khuôn khổ của hoàncảnh xã hội cụ thể, con người mới tồn tại với tư cách con người, ý thức tư duycủa con người xuất hiện như là sản phẩm xã hội, do đó là tính thứ hai trong sựtồn tại của xã hội của con người Từ phê phán con người của PhoiơBắc, Mác
Trang 9khẳng định "bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của
cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hoà các mốiquan hệ xã hội"1
Như vậy đã xác định rõ bản chất xã hội của con người, nhấn mạnh ý nghĩacủa những mối liên hệ, những đặc tính xã hội của con người Chủ nghĩa Máctuyệt đối không cào bằng những đặc thù của cá nhân riêng biệt, không hạ thấpnhững phẩm chất đặc thù nhân cách Mặt sinh học của con người là những quyluật sinh học nói chung, như những đặc điểm về cơ cấu chức năng của cơ thể,ảnh hưởng của môi trường đối với hoạt động cơ thể, đặc tính di truyền, một sốnét tâm lý biểu hiện đặc tính phản ánh cấp thấp: tri giác, cảm tính, hoạt động thụcảm và phân tích
Chính mặt xã hội của con người đã làm cho mặt sinh học trong con ngườiphát triển ở một trình độ khác hẳn về chất đối với những động vật khác Bằng hoạtđộng lao động sáng tạo, con người đã vượt lên trên các động vật không chỉ ở trongmối quan hệ với xã hội mà cả ở trong mối quan hệ sinh học Thậm trí mặt sinh họctrong con người cũng không tồn tại bên cạnh mà tồn tại ngay trong con người xãhội, khó có thể phân biệt đâu là mặt sinh học, đâu là mặt xã hội, chỉ có trong nhậnthức chúng ta mới tách chúng ra được mà thôi Đặc điểm sinh học của con ngườichính là ở chỗ con người đã được chuẩn bị về mặt di truyền học để tiếp thu hìnhthái xã hội của sự vận động vật chất, đặc biệt là cấu tạo bộ óc Con người, ngoài sự
di truyền còn có sự kế thừa xã hội, bằng con đường giáo dục, chương trình nàytruyền lại kinh nghiệm của những thế hệ trước cho thế hệ sau Mặc dù chương trình
kế thừa về mặt xã hội không được ghi lại trong các gien di truyền, nhưng nó vẫnbiểu hiện như nguyên nhân bên trong của sự phát triển cá nhân nhưng nó khôngthực hiện một cách tự động tách rời với di truyền nhận được từ cha mẹ Những đặcđiểm di truyền của từng người vừa bảo đảm những thuộc tính sinh học của mình,vừa bảo đảm để con người tiếp thu chương trình xã hội
Lê nin có nhận xét trong xã hội có đứa bé lọt lòng đã bú ngay phải cái tâm
lý tư hữu từ dòng sữa mẹ Như thế không phải cái tâm lý đó đã được truyền lạibằng con đường di truyền sinh học mà là bằng con đường kế thừa xã hội Bởi vìnhững điều kiện môi trường lặp lại trong hàng loạt thế hệ đã ảnh hưởng đến việc
Trang 10con người tiếp thu những hành vi xã hội nhất định nào đó Lịch sử loài người đãdiễn ra bên cạnh sự tiến hoá di truyền Nhưng sự tiến hoá này chậm chạp vôchừng nếu so với sự tiến hoá xã hội Quyết định sự tiến bộ của loài người khôngphải là nguyên nhân sinh học mà là nguyên nhân xã hội, là sự phát triển của lựclượng sản xuất, của các cuộc cách mạng xã hội Chương trình di truyền chỉ là cơ
sở, là khả năng cho sự phát triển năng lực và phẩm chất con người Chỉ có bằngcon đường rèn luyện giáo dục làm cho mọi người có điều kiện tiếp thu tất cảnhững thành tựu của nền văn hoá vật chất và tinh thần đã được gắn chặt trongchương trình xã hội mới có thể tạo ra những năng lực và phẩm chất tốt đẹp củacon người
Song như thế không có nghĩa chủ nghĩa Mác-Lênin xem nhẹ tính sinh họccủa con người, bỏ qua việc tiếp thu những thành tựu của sinh học và di truyềnhọc Khi nghiên cứu những hành vi của những người cụ thể thì không chỉ xétđến những điều kiện xã hội, mà còn phải xét đến cả những điều kiện sinh học(và điều kiện tự nhiên nói chung) Nói một cách khác, phải xem xét cả nhữngmầm mống tự nhiên của con người mà bằng cách này hay cách khác đã ảnhhưởng ít nhiều đến sự phát triển năng lực người Các nhà sáng lập chủ nghĩaMác-Lênin chưa bao giờ nói rằng mọi người đều có năng lực ngang nhau Quanniệm bình đẳng của Chủ nghĩa Mác-Lênin là sự bình đẳng xã hội chứ khôngphải là sự bình đẳng về mặt sinh học, bình đẳng về năng lực Bởi thế nên "hànhvi" của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội được quy định về mặt xãhội thì trong sự quy định hành vi của từng con người cụ thể cần phải tính đến sựtác động qua lại hết sức phức tạp giữa mặt xã hội và mặt sinh vật
Như vậy, tương ứng với luận điểm mà Mác nêu ra về bản chất của conngười là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, thì con người chính là một thực thể xãhội Cùng với điều đó cũng cần phải khẳng định rằng con người là một bộ phậncủa tự nhiên, là một thực thể sinh học, tổ chức sinh học của thực thể người làmột cái gì đó có giá trị tự thân Việc nhìn nhận, đánh giá con người trong mốiquan hệ biện chứng giữa các yếu tố sinh học và yếu tố xã hội là phương phápluận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử
Trang 11Mặt khác, quan niệm của triết học Mác Lênin khi xem xét bản thân con người từcác quan hệ xã hội không phải đơn giản, thô thiển của một phép tính cộng cácquan hệ xã hội hoặc chỉ tính đến quan hệ giai cấp, quan hệ chính trị Theo quanđiểm duy vật lịch sử, quan hệ sản xuất là cơ sở của các quan hệ xã hội khác,nhưng các quan hệ xã hội khác có tính độc lập tương đối Bản thân quan hệ sảnxuất là quan hệ của con người trong quá trình sản xuất.
Các quan hệ xã hội quy định bản chất của con người được triết học Lênin xem xét không tách rời, cô lập với quan hệ giữa con người với tự nhiên.Hơn nữa, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin đòi hỏi phải xem xét cácquan hệ xã hội cấu thành bản chất con người trong sự liên hệ "tổng hoà" giữachúng Mặt khác, không chỉ là tổng hoà của các quan hệ kinh tế với chính trị vàvăn hoá, đạo đức và pháp quyền mà còn phải xem xét mặt vật chất và tinhthần, mặt không gian và thời gian của các quan hệ xã hội Trong sự tổng hoànày, đặc biệt cần thấy rõ sự thống nhất chung toàn nhân loại với cái đặc thù giaicấp và dân tộc trong cái riêng của mỗi cá nhân con người Ở đây, cái riêng chỉtồn tại trong mối quan hệ với cái chung, những cái chung chỉ là "một bộ phận,một khía cạnh hay một bản chất" của cái riêng Sự xem thường cái cá nhân, cáinhân loại trong việc giải quyết những vấn đề chính trị xã hội là biểu hiện xa lạvới quan điểm Mác xít Mặt khác, cũng cần phải phê phán, thổi phồng cái chungtoàn nhân loại, hạ thấp đặc thù của cái giai cấp, dân tộc nếu quan niệm trừutượng về con người là một hạn chế của các học thuyết triết học trước Mác thìngày nay việc thổi phồng tính chung nhân loại của con người thường lại là cáchche đậy tính giai cấp của các quan điểm chính trị, phản động nhất định
Mác-Như vậy, Mác, Ăngghen, Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nhậnthức và quan niệm về vấn đề con người - một vấn đề, một hiện tượng phức tạpnhất trong lịch sử Không chỉ dừng lại ở sự phân tích khoa học về bản chất conngười mà chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét con người trong sự thống nhất giữa bảnchất và tồn tại, giữa lý luận và thực tiễn Công lao bất hủ của các ông chính là ởchỗ đã làm cho người ta thấy "sự phù hợp giữa sự biến đổi của hoàn cảnh vàhoạt động của con người, chỉ có thể xét và hiểu một cách hợp lý như là thực tiễncách mạng"
Trang 12Cần phải coi lịch sử như một quá trình tự sinh của con người, do conngười thực hiện quá trình cải tạo thế giới Đối với triết học Mác-Lênin, quá trìnhxây dựng và phát triển của con người là sự tác động của điều kiện khách quan,thống nhất với quá trình tự biến đổi, phát triển của con người Quá trình đó đượcthực hiện trong tiến trình hoạt động của chính con người.
Thực tiễn phát triển lịch sử của nhân loại đã chứng minh tính đúng đắn củanhững tư tưởng, quan niệm đó của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lịch sử xã hộiloài người đã trải qua nhiều nấc thang phát triển khác nhau, nhiều chế độ xã hội cótrình độ khác nhau, ứng với mỗi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự pháttriển của lịch sử xã hội là xã hội với những con người tương ứng Những con người
ấy vừa là sản phẩm của xã hội, vừa là chủ thể cải tạo xã hội Xã hội càng phát triểnthì càng tạo ra những con người phát triển cả về năng lực, trình độ, thể chất Đồngthời những con người ấy lại chính là chủ thể để cải biến xã hội
Tóm lại: qua nghiên cứu Về vấn đề con người trong triết Mác- Lênin, chúng ta rút ra một số kết luận:
- Con người là thực thể tự nhiên có tính người; Con người là một bộ phậncủa tự nhiên; giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người
- Bản chất của con người tự nhiên chỉ là tồn tại đối với con người xã hội
- Con người- động vật biết chế tạo công cụ lao động Lao động đã sáng tạo
ra bản thân con người
- Con người là sản phẩm của lao động
- Con người- một động vật xã hội
- Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra conngười đến mức độ đó
- Con người sinh học không cần sự thừa nhận, con người xã hội phải được
sự thừa nhận của người khác
- Những cá nhân con người hiện thực là tiền đề hiện thực của nhận thức conngười Về sau, khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con người cũngnhư khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học tự nhiên; đó là một khoahọc
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ
xã hội
Trang 13- Đời sống xã hội về bản chất, là tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần
bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí đều được giải đáp một cách hợp lítrong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy
- Con người bẩm sinh đã là một động vật xã hội Xã hội là sự thống nhấtbản chất đã hoàn thành của con người với tự nhiên
- Xã hội là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các
cá nhân đối với nhau
- Nếu như con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội thì do đó conngười chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội
Con người- đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và nhữngđiều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng nhưnhững điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra
- Không thể nhận thức con người bằng tư duy siêu hình
- Gốc rễ của con người chính là bản thân con người
- Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã, rồi mới có thểlàm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và …
- Hoạt động sống của con người như thế nào thì họ như thế ấy Con người
là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất racũng như với cách mà họ sản xuất
- Xã hội sản xuất ra con người thế nào thì con người cũng sản xuất ra xã hộinhư thế
- Những quan hệ kinh tế- cơ sở xuất phát để giải thích các hiện tượng lịchsử
- Phân công lao động làm cho con người bị thu nhỏ lại
- Xã hội tư bản chủ nghĩa- môtọ bước tiến của văn minh nhân loại Dướichủ nghĩa tư bản, quan hệ lẫn nhau của toàn bộ nên sản xuất chi phối nhữngngười hoạt động trong sản xuất như một quy luật mù quáng
- Tư tưởng tác động trở lại cơ sở hạ tầng kinh tế và có thể biến đổi cơ sở hạtầng ấy Điều này là đương nhiên
- Quan hệ sản xuất là tất yếu, khách quan đối với con người Bản thân conngười thay đổi và phát triển trong quá trình sản xuất vật chất
Trang 14- Tồn tại xã hội của con người quyết định ý thức của nó Với quan niệmduy vật về lịch sử, chủ nghĩa duy tâm đã bị tốtn ra khỏi nơi ẩn náu cuối cùng.
- Con người tự làm ra lịch sử một cách có ý thức Với con người, chúng ta
đi vào lịch sử
Xã hội không thể giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi
cá nhân riêng biệt
- Thiên nhiên không sinh ra quan hệ bóc lột Con người trước hết phải là kẻđại biểu cho những quan hệ và những lợi ích giai cấp nhất định
- Tha hoá biến đời sống có tính loài của con người thành phương tiện đểduy trì đời sống cá nhân Nó làm cho đời sống cá nhân trở thành mục đích củađời sống có tính loài
- Tha hoá làm cho quan hệ giữa người với người bị biến thành quan hệ giữavật với vật Tha hoá làm cho thế giới vật phẩm càng tăng giá trị thì thế giới conngười càng mất giá trị Xoá bỏ tha hoá, nghĩa là con người từ tôn giáo, gia đình,nhà nước… quay trở về tồn tại con người
- Giải phóng chính trị là quy con người, một mặt, thành viên của xã hộicông dân, thành cá nhân vị kỉ, độc lập và mặt khác, thành công dân của nhànước, thành pháp nhân
- Bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ là nó trả thế giới con người,những quan hệ của con người về với bản thân con người
- Trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo tự nhiên của sự giải phóng conngười
Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do củatất cả mọi người
- Sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tựthân
- Con người khẳng định sự tồn tại của mình là tồn tại chính trị
- Quan niệm về bình đẳng là cái gì cũng được, nhưng quyết không phải làmột chân lý vĩnh cửu
- Có một xã hội mà trong đó sự phát triển độc đáo và tự do của các cá nhânkhông còn là lời nói suông
Trang 15- Làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân- con người trở thành tự do Từhưởng theo năng lực đến hưởng theo nhu cầu.
- Vương quốc của tự do chỉ bắt đầu ở nơi nào có sự chấm dứt thứ lao động
do cần thiết Vương quốc của tự do nằm ở bên kia lĩnh vực sản xuất
- Từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do Con người bắt đầu
tự giác làm ra lịch sử của mình
Những tư tưởng của triết học Mác - Lênin về con người tuy đã ra đời cáchđây hơn 150 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc Lầnđầu tiên trong lịch sử, triết học Mác Lênin đã đưa lại cho chúng ta một phươngpháp luận đúng đắn, thế giới quan khoa học cách mạng trên cơ sở của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong xem xét và nhận thức vềcon người một cách khoa học, đồng thời các nhà kinh điển đã đặt ra vấn đề phảigiải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội thoát khỏi mọi bấtcông trong xã hội Những tư tưởng đó có ý nghĩa to lớn trong tiến trình pháttriển của nhân loại đấu tranh cho mục tiêu cao cả, những tiến bộ xã hội trong thế
kỷ XX vừa qua và càng có ý nghĩa đặc biệt trong những thiên niên kỷ tới
3 Vấn đề con người trong Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tiếp cận với Chủ nghĩa Mác - Lênin, từ phương pháp luận về vấn đề conngười, trong toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã lĩnh hội và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, xây dựng nên hệthống những quan điểm, tư tưởng, nội dung các vấn đề về con người một cáchsâu sắc Hồ Chí Minh luôn coi các vấn đề của con người, bản chất con người, sựnghiệp trồng người là mục tiêu, là quan tâm thường trực, là trách nhiệm vẻ vangtrong cuộc đời hoạt động của mình Từ lá thư đầu tiên gửi Cụ Phan Chu Trinhnăm 1913 đến lời di chúc cuối cùng, vấn đề tha thiết nhất mà Hồ Chí Minhthường đề cập là các vấn đề thuộc về con người Mong muốn cháy bỏng trongsuốt cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm sao cho dân ta, nhữngngười cùng khổ, trẻ em, thanh niên, phụ nữ, những người già cả đều vui vẻ,khoẻ mạnh, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và sống tronghoà bình, trong tình hữu nghị, tình yêu thương và niềm hạnh phúc
Hồ Chí Minh quan niệm rằng con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa
là động lực phát triển của lịch sử Con người sinh ra trong xã hội, do đó các
Trang 16hoàn cảnh xã hội làm nảy sinh trong con người cả cái thiện và cái ác Vì lẽ đó,khi kiến tạo một xã hội mới, theo quan niệm của Hồ Chí Minh trước hết phảitích cực, chủ động xây dựng những con người, những nhân cách cho xã hội đó.
Xã hội nào cũng có những con người đại diện cho nó Xã hội phong kiến ở ViệtNam, có những nhân cách kẻ sỹ, bậc trượng phu, người quân tử làm nòng cốtxây dựng xã hội ấy Xã hội tư sản đã coi các thương gia, nhân sỹ, các nhà tư bản
là nòng cốt xây dựng xã hội đó Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu phấn đấutrong cuộc cách mạng của chúng ta là chủ nghĩa xã hội, vì vậy “muốn có chủnghĩa xã hội thì trước hết phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa”
Con người xã hội chủ nghĩa vừa là sản phẩm sinh thành của quá trình pháttriển xã hội mới, vừa là kết quả của hoạt động lao động sản xuất tích cực Conngười xã hội chủ nghĩa là những con người có phẩm chất rất mới mà xã hội cũkhông có Con người xã hội chủ nghĩa khác với nhân cách của kẻ sỹ, thương gia,trượng phu, quân tử, nhà tư bản Đó là những con người được hình thành khôngchỉ gắn với tiến trình cách mạng của nhân dân mà nó còn phải đại diện cho cácgiá trị đạo đức mới, lý tưởng của xã hội mới Đó là những con người kiên quyếtchống áp bức và bóc lột, coi lao động là nguồn sống, là trách nhiệm, là vinh dự,
là nguồn tạo ra hạnh phúc Đó là những con người có tình yêu sâu sắc với đồngloại, yêu những người lao động nghèo khổ trên thế giới Nhân tố cơ bản tạothành tính cách của những con người như vậy là tính cách mạng của nó Congngười vừa có đạo đức trong sạch, vừa có lý tưởng tiên tiến
Những quan điểm, tư tưởng trên đây và những lời dạy của Chủ tịch HồChí Minh: "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, taphải hết sức tránh", "Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm nămphải trồng người", "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con ngườimới xã hội chủ nghĩa" đã trở thành những tư tưởng xuyên xuốt toàn bộ sựnghiệp cách mạng của Đảng ta trong thế kỷ XX, trong những năm đầu và nhữngnăm tiếp theo của thế kỷ XXI
Thực tế chứng minh rằng, những tư tưởng vĩ đại về con người của các nhàkinh điển, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo vàođiều kiện cụ thể ở Việt Nam Con người và nhân tố con người đã trở thành mụctiêu, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, và “chiến lược con người” được
Trang 17Đảng và Nhà nước ta xác định trong những năm thực hiện công cuộc đổi mớiđất nước, trong hệ thống các chính sách xã hội là phù hợp với điều kiện và hoàncảnh nước ta Mỗi con người Việt Nam sẽ tự vươn lên và khẳng đinh đúng diệnmạo của mình trong đời sống xã hội
Trước đây, trong một thời gian dài do nhận thức không đúng và thực hiệnkhông có hiệu quả trên phương diện lý luận cũng như trong thực hiện chínhsách xã hội cho nên không phát huy hết được mọi tiềm năng, trí sáng tạo củacon người Việt Nam, coi lợi ích của tập thể là cái cao cả, cái tốt đẹp và hoànthiện nhất, vì vậy, mà lợi ích của cá nhân, của người lao động bị xem nhẹ, thậmtrí cho rằng quan tâm đến lợi ích cá thể là tính xấu, là cái mà cần phải lên án Đặc biệt là trong thời gian dài của chế độ bao cấp thì đã có lúc lợi ích riêng của
cá nhân bị xem nhẹ, không được khuyến khích phát triển Như vậy đã làm triệttiêu động lực của sự phát triển, làm lu mờ, cũng như không phát huy được tàinăng của mỗi cá nhân và con người trong sự phát triển kinh tế – xã hội, đánhđồng giữa lợi ích của nhân tố con người với các nhân tố khác, nói cách khác chỉthấy con người như một phương tiện của sự phát triển kinh tế – xã hội
Các Mác và Ăngghen đã dùng khái niệm con người không phải với tư cách
là một phạm trù độc lập, mà những di sản của các ông để lại chính là phương phápluận nghiên cứu con người một cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và pháttriển Nghiên cứu nhân tố con người dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chúng ta phải thấy được conngười vừa có tính chủ thể, vừa có tính khách thể, phải thấy được hoạt động của conngười vừa có tính chủ thể, vừa có tính khách thể, hoạt động ấy được gắn chặt vớicác hoạt động xã hội khác Vì thế nhân tố con người phải được xác định là nhân tốtrung tâm của sự phát triển kinh tế – xã hội Có như vậy thì mới khai thác tối đatinh thần và tài trí của con người, vì con người và do con người
4 Phát huy nhân tố con người trong quá trình đổi mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
Ngày nay, đất nước ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệphoá, hện đại hoá nhằm phát triển lực lượng sản xuất Trong đó, con người là yếu tốtrung tâm quyết định Những tư tưởng, quan niệm về con người của Chủ nghĩaMác- Lê nin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhận thức và vận dụng ngày càng