1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

V i LÊNIN PHÁT TRIỂN LUẬN điểm THỨ NHẤT của vấn đề cơ bản của TRIẾT học mác TRONG tác PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY vật và CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” ý NGHĨA đối với CUỘC đấu TRANH TRÊN LĨNH vự

27 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 154,5 KB
File đính kèm VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC.rar (32 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một trong những tác phẩm quan trọng trong hệ thống kinh điển của chủ nghĩa MácLênin, được viết dưới dạng luận chiến, chủ yếu sử dụng các phương pháp so sánh và đối chiếu, thể hiện nhất quán tính đảng, đánh dấu sự phát triển mới về chất của triết học Mácxít trong giai đoạn V.I. Lênin; đồng thời, tác phẩm này còn có ý nghĩa vạch thời đại trong giai đoạn phát triển tột cùng của chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa đế quốc và đóng vai trò là cơ sở lý luận cho một đảng chính trị kiểu mới của giai cấp vô sản. Mặt khác, với nội dung phong phú, được trình bày rất rõ nét, phổ thông và bài bản, nên tác phẩm còn thể hiện rõ tính chất khoa học, có giá trị nhập môn; vì thế, việc học tập, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa MácLênin nói chung, triết học MácLênin nói riêng của chúng ta, không thể không nghiên cứu tác phẩm quan trọng này.

Trang 1

V.I LÊNIN PHÁT TRIỂN LUẬN ĐIỂM THỨ NHẤT CỦA VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN Ở NƯỚC

TA HIỆN NAY -

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT

VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” CỦA V.I LÊNIN

Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” đã đượcV.I Lênin viết trong khoảng 9 tháng, từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1908 tạiGiơnevơ (Thuỵ Sĩ) và Luân Đôn (Anh), được xuất bản lần đầu tiên tại Matxcơva(Nga) vào tháng 5 năm 1909 với số lượng 2.000 bản Để có được công trình này,V.I Lênin đã thu thập và nghiên cứu hàng trăm tài liệu thuộc các lĩnh vực khoahọc, nhất là vật lý học, được in bằng các thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức; đặc biệt,Người đã đọc lại các tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, “Biện chứng của tự nhiên” vàcác tác phẩm triết học khác của C Mác và Ph Ăng-ghen, cũng như các tác phẩmcủa G.V Plêkhanốp, Ph Mêrinh, I Đitxơgen và những nhà triết học khác

Đây là một trong những tác phẩm quan trọng trong hệ thống kinh điển của chủnghĩa Mác-Lênin, được viết dưới dạng luận chiến, chủ yếu sử dụng các phươngpháp so sánh và đối chiếu, thể hiện nhất quán tính đảng, đánh dấu sự phát triển mới

về chất của triết học Mác-xít trong giai đoạn V.I Lênin; đồng thời, tác phẩm nàycòn có ý nghĩa vạch thời đại trong giai đoạn phát triển tột cùng của chủ nghĩa tưbản sang chủ nghĩa đế quốc và đóng vai trò là cơ sở lý luận cho một đảng chính trịkiểu mới của giai cấp vô sản Mặt khác, với nội dung phong phú, được trình bày rất

rõ nét, phổ thông và bài bản, nên tác phẩm còn thể hiện rõ tính chất khoa học, cógiá trị nhập môn; vì thế, việc học tập, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lêninnói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng của chúng ta, không thể không nghiêncứu tác phẩm quan trọng này

Trang 2

Tác phẩm được in bằng tiếng Việt Nam trong bộ sách Lênin toàn tập, tập 18,

do Nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva phát hành năm 1980 Ngoài phần lời tựa, chúthích và các bản chỉ dẫn, nội dung chính của tác phẩm được in từ trang 01 đếntrang 449 trong tập sách này

1 Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm

V.I Lênin viết tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán” trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt là:

Vào những năm đầu thế kỷ XX, cách mạng tư sản trên phạm vi toàn thế giới

cơ bản đã hoàn thành, chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang giai đoạn tột cùng là chủnghĩa đế quốc và đã bộc lộ rõ nguyên hình thông qua bản chất phản động của nó.Các giá trị chân chính của nhân loại như “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” vốn đượcchủ nghĩa tư bản gương cao trong giai đoạn đầu phát triển, lúc này đã bị chúngngang nhiên chà đạp và tước bỏ Sau khi C Mác và Ph Ăng-ghen mất, các học giảphương Tây và bọn cơ hội đã tìm mọi cách đưa ra nhiều học thuyết phản độnghòng phủ định chủ nghĩa Mác, bênh vực cho quyền lợi phi nhân tính của giai cấp

tư sản Một trong những học thuyết phản động tiêu biểu lúc bấy giờ là “Chủ nghĩakinh nghiệm phê phán” do E Ma-khơ và R A-vê-na-ri-út tạo ra(1) Đó là thứ họcthuyết triết học duy tâm chủ quan, phục hồi lại quan điểm của G Béc-cơ-li và Đ.Hi-um; thế nhưng, C Cau-xky - một trong những lãnh tụ của Đảng Dân chủ - xãhội Đức và của Quốc tế II, về sau trở thành kẻ phản bội chủ nghĩa Mác, nhà tư

kinh nghiệm phê phán; đã từng giảng dạy toán học và vật lý học tại các trường đại học tổng hợp ở Grát-xơ và Pra-ha, từ năm

1895 đến năm 1901 là giáo sư triết học của trường đại học tổng hợp Viên E Ma-khơ đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về khoa học tự nhiên và đã góp phần đào tạo nên nhiều nhà khoa học nổi tiếng, trong đó có An-be Anh-xtanh, người đã phát minh ra thuyết tương đối Các tác phẩm về triết học của E Ma-khơ sở dĩ được người đọc lúc bấy giờ đón nhận vì ông đã trình bày phương án giải quyết khủng hoảng trong vật lý học thông qua các khái niệm của vật lý cổ điển và những tư tưởng triết học thời trước, từ G Béc-cơ-ly đến I Can-tơ Thực chất là ông ta đã đưa chủ nghĩa duy tâm chủ quan vào môi trường khoa học, điều này chẳng những không khắc phục được cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong khoa học mà còn - theo V.I Lênin, làm cho nó trở nên gay gắt thêm.

Ri-sa A-vê-na-ri-út (1843-1896) - nhà triết học tư sản Đức, một trong những người tạo ra chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán; từ năm 1877 là giáo sư trường đại học tổng hợp Xuy-rích Năm 1876, trong tác phẩm “Triết học với tính cách là quan niệm về thế giới theo nguyên tắc ít tốn công sức nhất” ông ta đã trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán Học thuyết của R A-vê-na-ri-út về “Sự phối hợp có nguyên tắc” (không chủ thể, không khách thể) đã được những nhà lý luận tiểu tư sản Nga phổ biến rộng rãi do tính ôn hoà về thế giới quan, song lại gây nên sự ngộ nhận chính trị đối với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân.

Trang 3

tưởng của chủ nghĩa phái giữa (chủ nghĩa Cau-xky) lại cho rằng có thể bổ sung lýluận của chủ nghĩa Mác bằng nhận thức luận của E Ma-khơ (!).

Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX cũng là thời kỳ mà khoa học tự nhiên đã

có những bước phát triển mới và sâu sắc, đặc biệt là trong lĩnh vực vật lý học đãxuất hiện nhiều phát minh quan trọng, như: năm 1895, Rơn-ghen phát hiện ra tia

“X”; năm 1896, Béc-cơ-ren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ; năm 1897, Tôm-xơnphát hiện ra điện tử; năm 1898, một số nhà khoa học phát hiện ra các chất phóng

xạ mạnh là Plodi và Radi; trong những năm 1905-1906, Anh-xtanh phát hiện rathuyết tương đối… Sự kiện này đã được V.I Lênin gọi là “cuộc cách mạng vật lýhọc” vì nó đã xoá bỏ về cơ bản những quan niệm cổ truyền mang tính chất siêuhình trước đó khi xem xét thế giới vật chất Thế nhưng, trước những phát minhkhoa học có tính chất biến đổi quá đột ngột như vậy, nhiều nhà khoa học tự nhiên

“giỏi về khoa học nhưng kém cỏi về triết học”, do khủng hoảng về thế giới quan vìchịu ảnh hưởng của “thuyết duy năng” (còn gọi là “thuyết năng lượng”), nên đã tánđồng sự luận giải mang tính chất duy tâm chủ quan của E Ma-khơ; vì thế, họ đã

“trượt dài” từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình, đến chủ nghĩa tương đối, hoàinghi, rồi sa xuống vũng bùn của chủ nghĩa duy tâm

Riêng đối với nước Nga, vào thời kỳ này đã trở thành một nước đế quốc nonyếu và là nơi tập trung tất cả những mâu thuẫn gay gắt nhất của thời đại Năm

1903, Đảng Dân chủ - xã hội Nga đã tách thành hai đảng là Bôn-sê-vích (đa số) vàMen-sê-vích (thiểu số) Sau thất bại tạm thời của cuộc cách mạng dân chủ tư sản(1905-1907), do Đảng Bôn-sê-vích Nga lãnh đạo, chính phủ chuyên chế Ngahoàng đã thực hiện chiến dịch khủng bố trắng, thẳng tay đàn áp vô cùng tàn bạonhững người cách mạng, tước đoạt mọi thành quả mà cuộc cách mạng dân chủ thuđược Bọn phản động tìm mọi cách lôi kéo quần chúng, làm cho họ xa rời lý tưởngcách mạng, không tin tưởng vào tương lai của cách mạng và thoả hiệp với trật tự

xã hội hiện tại Tiêu biểu là Đảng “Trăm đen” - một tổ chức chính trị của bọn bảohoàng, địa chủ đã công khai ca ngợi chế độ phản động đương thời, ca ngợi

“Thượng đế - Nga hoàng - Tổ quốc”, ra sức tuyên truyền những tư tưởng bi quan

Trang 4

trong quần chúng nhân dân Trong bối cảnh ấy, những tư tưởng thần bí, tôn giáo,

bi quan dưới mọi màu sắc không những được phục hồi mà còn nảy nở thêm và lantràn nhanh chóng như một thứ bệnh dịch

Nguy hại hơn nữa, sự thoái trào của cách mạng không những đã đem lại cơhội cho bọn phản động mở cuộc tiến công trực diện vào triết học Mác, mà còn làmcho bộ tham mưu của giai cấp công nhân Nga bị phân hoá sâu sắc Một số phần tửtrí thức là đảng viên Đảng Bôn-sê-vích Nga như A Bô-gđa-nốp, V Ba-da-rốp,A.V Lu-na-tsac-xki… và một số người trong giai cấp tư sản vốn từng là đồngminh của cách mạng đã chao đảo, rời bỏ hàng ngũ cách mạng, đi theo chế độchuyên chế Nga hoàng Bọn Men-sê-vích cũng từng có tinh thần cách mạng thì nay

đã sa sút, mất tinh thần, hoảng sợ Những diễn biến bất lợi nêu trên đã làm dấy lênphong trào chống đảng, đòi thủ tiêu đảng, thủ tiêu đấu tranh chính trị, hùa theo tràolưu cơ hội, thoả hiệp với chế độ phản động Xtô-lư-pin, chống lại phong trào cáchmạng Nhận định về tình hình đó, V.I Lênin viết: “Có tình trạng thoái chí, mất tinhthần, phân liệt, chạy dài, từ bỏ lập trường, nói chuyên dâm bôn chứ không phảichính trị nữa Xu hướng ngày càng ngã về triết học duy tâm, chủ nghĩa thần bíđược dùng để che đậy tinh thần phản cách mạng”(1)

Trên lĩnh vực tư tưởng, bọn cơ hội theo chủ nghĩa Ma-khơ ở Nga đã lớn tiếngđòi xét lại những nguyên lý triết học của chủ nghĩa Mác, coi đây là đòn đả kích chủyếu để thủ tiêu đảng về mặt thế giới quan và cơ sở lý luận Chúng cho rằng thất bạicủa cách mạng Nga trong những năm 1905-1907 đã chứng tỏ học thuyết Mác vềcách mạng vô sản là sai lầm và đã bị phá sản hoàn toàn Chiếm địa vị thống trịtrong triết học thời gian này là những hình thức chủ nghĩa duy tâm phản động nhất,phủ định tính quy luật trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, phủ địnhkhả năng nhận thức và cải tạo thế giới của con người Cũng vào thời điểm này,trong giới trí thức tư sản còn lan truyền rộng rãi “thuyết tìm thần”, một trào lưutriết học - tôn giáo phản động Những đại biểu của trào lưu ấy đã khẳng định rằng,nhân dân Nga “đã mất Chúa” và có nhiệm vụ là phải “tìm lại Chúa” Trên thực tế,

Trang 5

chỉ trong vòng chưa đầy sáu tháng của năm 1908, ở nước Nga đã xuất hiện bốn tậpsách có nội dung công kích chủ nghĩa duy vật biện chứng… Thực trạng đó đãchứng tỏ, đây là thời kỳ chủ nghĩa Mác bị các thế lực thù địch phản động liên tụccông kích từ nhiều phía Mặc dù giữa chúng còn có những quan điểm về chính trịkhác nhau rõ rệt, nhưng lại có chung quan điểm là “cùng thù ghét chủ nghĩa duyvật biện chứng”(1), nên chúng luôn tìm mọi cách để liên kết với nhau nhằm chốnglại chủ nghĩa Mác một cách tinh vi thông qua việc giải thích lại chủ nghĩa Mác;đúng như V.I Lênin đã nhận xét: “Nhiều nhà trước tác muốn là người Mác-xít,năm nay đã tiến hành ở nước ta một chiến dịch thật sự chống lại triết học của chủnghĩa Mác… Trên thực tế, như thế là hoàn toàn rời bỏ chủ nghĩa duy vật biệnchứng, tức chủ nghĩa Mác”(2).

Như vậy, lịch sử đã đòi hỏi V.I Lênin phải tiến hành một cuộc luận chiến đểchống lại âm mưu đen tối của các thế lực thù địch phản động trên nhiều phươngdiện của lĩnh vực chính trị - tư tưởng, nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác nóichung, triết học Mác nói riêng Việc tiến hành cuộc luận chiến này, như V.I Lênin

đã khẳng định: “ chẳng những vì đây là một nghĩa vụ văn học mà còn là mộtnghĩa vụ chính trị thật sự nữa”(3) Những nghĩa vụ đó đã được V.I Lênin hoànthành một cách xuất sắc thông qua tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán” - một tác phẩm mẫu mực cho việc khái quát về mặt triết họcnhững thành tựu mới nhất trong vật lý học, chỉ ra thực chất cuộc khủng hoảngtrong khoa học tự nhiên, vạch ra phương pháp thoát khỏi sự khủng hoảng đó bằngcon đường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, góp phần làm giàu thêm chủ nghĩaduy vật Mác-xít trên cả hai phương diện: nội dung và phương pháp

Tóm lại, thông qua việc tranh luận với quan điểm của E Ma-khơ và nhữngngười theo chủ nghĩa Ma-khơ trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học,vạch ra thực trạng diễn biến tư tưởng của xã hội lúc ấy, V.I Lênin đã bảo vệ vàphát triển thành công các giá trị về thế giới quan và phương pháp luận của chủ

Trang 6

nghĩa Mác, Người đã tiếp tục cụ thể hoá và hoàn thiện những nội dung cơ bản củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chứng minh tính đúngđắn của nó trong điều kiện bùng nổ xã hội và khám phá khoa học, trong điều kiệnliên minh giữa triết học và khoa học tự nhiên cần được lý giải một cách hợp lý đểphát huy tác dụng tích cực đối với sự phát triển của cả hai lĩnh vực khoa học này.

2 Kết cấu và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Trong bản tiếng Việt của bộ sách V.I Lênin toàn tập, tập 18, do Nhà xuất bảnTiến bộ, Mát-xcơ-va phát hành năm 1980, được in theo bản dịch của Nhà xuất bản

Sự thật, Hà Nội thì, ngoài phần lời tựa, mười câu hỏi dành cho báo cáo viên, phầnthay lời mở đầu, bổ sung và kết luận, nội dung chính của tác phẩm “Chủ nghĩa duyvật và chủ nghĩa kinh nghiêm phê phán” gồm có 6 chương với 39 mục (tiết)

Về phần Lời tựa, sau khi điểm tên một loạt tác giả cùng các tập luận văn của

họ và chỉ ra âm mưu, thủ đoạn của họ đã chống phá chủ nghĩa Mác như thế nào;V.I Lênin đã tự xác định cho mình nhiệm vụ là: “Tìm xem những kẻ đã đưa ra,dưới chiêu bài chủ nghĩa Mác, những cái vô cùng hỗn độn, hồ đồ và phản động, đãlầm đường, lạc lối ở chỗ nào”(1)

Trong phần Mười câu hỏi dành cho báo cáo viên, V.I Lênin yêu cầu báo cáo

viên phải đứng vững trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng, kiên quyết đấutranh với chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán - thứ chủ nghĩa cố tình nặn ra cái gọi là

“đường lối thứ ba”, dung hoà giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm màthực chất “hoàn toàn chỉ là phục vụ cho bọn tín ngưỡng chủ nghĩa trong cuộc đấutranh của chúng chống chủ nghĩa duy vật nói chung và chống chủ nghĩa duy vậtlịch sử nói riêng”(2)

Phần Thay lời mở đầu với cách đặt vấn đề cho tiêu đề Vào năm 1908, một số

người “Mác-xít” và vào năm 1710, một số nhà duy tâm đã bác bỏ chủ nghĩa duy vật như thế nào, V.I Lênin đã chỉ rõ sự giống nhau hoàn toàn về bản chất chống

chủ nghĩa duy vật của những nhà triết học đương thời ở Nga “đội lốt Mác-xít” theo

Trang 7

chủ nghĩa Ma-khơ với chủ nghĩa duy tâm chủ quan của G Béc-cơ-li vào năm 1710trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.

Trong Chương I với tựa đề: “Lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm

phê phán và của chủ nghĩa duy vật biện chứng I”, V.I Lênin vạch ra sự đối lập

của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải thích luận điểm thứnhất của vấn đề cơ bản của triết học, nghĩa là về tính có trước của một trong haithực thể vật chất và tinh thần; đồng thời, Người phê phán và bác bỏ quan niệm củaphái Makhơ khi cho rằng, cảm giác (còn được gọi là “yếu tố”) là cái có trước, rằngcác quan niệm của họ là hoàn toàn mâu thuẫn với những kết luận đẫ được kiểmchứng trong lịch sử khoa học tự nhiên

Chương II với tựa đề: “Lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ nghĩa duy vật biện chứng II”, V.I Lênin đã xem xét các vấn đề

về nhận thức, trả lời câu hỏi “con người có thể nhận thức được thế giới không; nếu

có, thì nhận thức như thế nào?”; thông qua đó, Người phân tích kỹ tính chất nhịnguyên trong quan niệm của I Can-tơ và đi đến kết luận: E Ma-khơ và môn pháicủa ông ta đã bắt đầu từ triết học I Can-tơ, nhưng đã không phát triển theo hướngduy vật mà đã đi lùi về phái theo thuyết “bất khả tri” (thuyết “không thể biết”) của

G Béc-cơ-li và Đ Hi-um (phủ nhận khả năng và nội dung khách quan trong nhậnthức của con người) Cũng trong chương này, V.I Lênin đã nêu lên những kết luậnquan trọng làm nền tảng cho lý luận nhận thức duy vật và trình bày định nghĩa kinhđiển của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất

Ở Chương III với tựa đề: “Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán III”, V.I Lênin đã tập trung phê

phán tính chất duy tâm chủ quan của phái Ma-khơ xung quanh các vấn đề về vậtchất, các mối liên hệ và các hình thức tồn tại của nó, nhất là quan niệm của pháinày cho rằng “yếu tố” (cảm giác) là cái có trước, là nền tảng xuất phát của tất cảnhững vấn đề nói trên; thông qua đó, Người đã xác lập nên lý luận nhận thức củachủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 8

Chương IV với tựa đề: “Những nhà triết học duy tâm, bạn chiến đấu và kẻ kế thừa chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I Lênin đã nêu rõ khuynh hướng phát

triển của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và mối liên hệ của nó với các khuynhhướng triết học phương Tây đương đại Thông qua đó, Người “điểm mặt, chỉ tên”những biến tướng của nó ở Nga như: Thuyết kinh nghiêm ký hiệu, Thuyết kinhnghiệm nhất nguyên, Thuyết thực tại ngây thơ… Cũng ở chương này, V.I Lênin

đã đưa ra những quan điểm có tính nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật rằng, giới tựnhiên là vốn có, tồn tại từ lâu, trước khi có con người và là cơ sở hình thành nêncon người, ý thức là đặc trưng phản ánh của bộ óc con người

Chương V với tựa đề: “Cuộc cách mạng mới nhất trong khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy tâm triết học”, V.I Lênin đã phân tích thực chất và vai trò của

“cuộc cách mạng vật lý học” cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; phê phán “chủ nghĩaduy tâm vật lý học” (chủ nghĩa Ma-khơ), chỉ ra mối liên hệ của triết học Ma-khơvới các phát minh mới nhất trong vật lý học, những nguyên nhân dẫn đến khủnghoảng thế giới quan trong khoa học nói chung và trong vật lý học nói riêng, chỉ racon đường thoát khỏi cuộc khủng hoảng đó Trên cơ sở này, V.I Lênin đã pháttriển, làm giàu thêm lý luận nhận thức Mác-xít về chân lý khách quan, về tính tuyệtđối và tương đối của chân lý, về quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

Chương VI với tựa đề: “Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử”, V.I Lênin đã phê phán chủ nghĩa duy tâm của quan của phái Ma-khơ

trong lĩnh vực xã hội, phát triển và làm giàu thêm học thuyết duy vật về lịch sử củachủ nghĩa Mác; đồng thời, Người đã nêu lên những kết luận, phương pháp luận đểtập trung làm sáng tỏ việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học và một lần nữanhấn mạnh tính đảng trong triết học, chỉ rõ thực chất của “con đường thứ ba” trongtriết học phương Tây đương đại

Trong phần Kết luận, với mấy dòng cô đọng trong hai trang, V.I Lênin đã phê

phán tính chất sai lầm, thoái bộ của chủ nghĩa Ma-khơ; đồng thời, Người nêu lênbốn quan điểm quan trọng, định hướng cho việc nhận diện và đánh giá thực chấtchủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Trang 9

Tóm lại, nội dung tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán” của V.I Lênin đề cập đến nhiều tư tưởng cơ bản của triết học, có ý nghĩađặc biệt to lớn trong việc tiếp tục hoàn thiện chủ nghĩa duy vật biện chứng, đápứng yêu cầu đòi hỏi được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cuộc đấu tranhchống lại chủ nghĩa duy tâm triết học, nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vậttriết học Mác-xít, cũng như bảo vệ và phát triển lý luận duy vật biện chứng vềnhận thức trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

II V.I LÊNIN PHÁT TRIỂN LUẬN ĐIỂM THỨ NHẤT CỦA VẤN ĐỀ CƠBẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT

VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN”

1 V.I Lênin phát triển học thuyết về vật chất

Cuộc tranh luận của V.I Lênin với chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán xoayquanh luận điểm thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học được Người trình bàytrong Chương I của tác phẩm Sở dĩ V.I Lênin đề cập vấn đề này vì theo Người,

sự đối lập trước tiên giữa chủ nghĩa Ma-khơ với chủ nghĩa duy vật là ở việc giảiquyết vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, vật chất và ý thức, tinh thần và giới tựnhiên Vì thế, trước tiên phải trang bị cho khoa học một màn giáo đầu về thế giớiquan và phương pháp luận để họ lấy đó làm cơ sở, tiền đề cho việc đi sâu nghiêncứu các vấn đề khác đạt hiệu quả cao hơn; đồng thời, tiếp tục phát triển luận điểmnày lên tầm cao mới vì trước đó C Mác và Ph Ăng-ghen chỉ đưa ra những vấn đềcăn bản chứ chưa đưa ra những khái niệm cụ thể do điều kiện lúc bấy giờ

Điều dễ dàng nhận thấy là, thế giới quan duy tâm của E Ma-khơ và nhữngngười theo chủ nghĩa của ông ta bộc lộ rõ ràng trong cách hiểu về đối tượng củanhận thức, do chịu ảnh hưởng bởi quan niệm của G Béc-cơ-li (trước đó, khi mởmột cuộc luận chiến với những người duy vật, G Béc-cơ-li đã nêu lên quan điểmcủa mình, một quan điểm mà V.I Lênin gọi một cách mỉa mai là “danh ngôn”,quan điểm đó như sau: “Tôi hoàn toàn không quan niệm được rằng người ta có thểnói đến tồn tại tuyệt đối của những vật mà không nghĩ rằng có người nào đó tri

Trang 10

giác được chúng Tồn tại có nghĩa là bị tri giác”)(1) Như vậy, E Ma-khơ đã đứngtrên lập trường duy tâm chủ quan để xem xét vấn đề vật chất, ông ta xem thế giớivật chất như là “các yếu tố của thế giới”, mà trên thực tế là tổ hợp của các cảmgiác Các yếu tố đó là màu, sắc, mùi, vị; còn toàn bộ thế giới khách quan sinh độngthì dường như không phải là đối tượng trực tiếp của nhận thức Thực ra, trong suynghĩ của mình, E Ma-khơ không muốn dừng lại ở cái “vật chất nói chung”, màmuốn đi tới tận cùng của “các yếu tố” tác động lên cảm giác của con người V.I.Lênin đặt vấn đề: Không lẽ “các yếu tố”, theo cách hiểu của Ma-khơ, là cái quyếtđịnh? Mà nếu vậy thì quyết định cái gì? Người viết: “Toàn bộ lý luận của Ma-khơ

và A-vê-na-ri-út - cái lý luận coi trái đất là một phức hợp cảm giác (“vật thể lànhững phức hợp cảm giác”) hay là một “phức hợp yếu tố, trong đó cái tâm lý đồngnhất với cái vật lý”, hay là “một vế đối lập mà vế trung tâm của nó thì không bao

giờ có thể bằng số không” - chỉ là một chủ nghĩa ngu dân triết học, tức là chủ

nghĩa duy tâm chủ quan được phát triển đến chỗ vô lý”(1)

Mặc dù phái Ma-khơ đứng trên lập trường duy tâm chủ quan để xem xét vấn

đề vật chất như đã nêu trên, song lại thích tuyên bố rằng: họ là những nhà triết họchoàn toàn tin vào sự chứng thực của các giác quan của con người và coi thế giớithực sự đúng như nó biểu hiện ra với con người, trên thực tế là không phải nhưvậy Về vấn đề này, V.I Lênin chỉ rõ: “Phái Ma-khơ thực ra chỉ là những kẻ chủquan và bất khả tri, vì họ không tin tưởng đầy đủ vào sự chứng thực của các giácquan của chúng ta và họ áp dụng thuyết cảm giác không được triệt để Họ khôngthừa nhận rằng thực tại khách quan, độc lập đối với con người, là nguồn gốc cáccảm giác của chúng ta Họ không coi các cảm giác là hình ảnh đúng đắn của thựctại khách quan đó, như vậy là họ mâu thuẫn trực tiếp với khoa học tự nhiên và mởcửa đón chủ nghĩa tín ngưỡng”(2)

Ngược lại với những người theo quan điểm chủ nghĩa duy tâm chủ quan khixem xét vấn đề vật chất là những người duy vật, V.I Lênin chỉ rõ: “Đối với người

Trang 11

duy vật thì thế giới lại phong phú, sinh động, có nhiều vẻ hơn là nó biểu hiện ra, vìmỗi bước phát triển của khoa học lại phát hiện ra những khía cạnh mới của thếgiới Đối với người duy vật, cảm giác của chúng ta là hình ảnh của thực tại kháchquan duy nhất và cuối cùng”(3) Tiếp theo đó, Người giải thích: “Cuối cùng, khôngphải theo nghĩa là nó đã được nhận thức triệt để rồi, mà theo nghĩa là ngoài nó ra,không có và không thể có một thực tại nào khác nữa Quan điểm ấy tuyệt đốikhông những không dung nạp mọi thứ chủ nghĩa tín ngưỡng mà còn không dungnạp cả triết học kinh viện lối nhà giáo nữa, một thứ triết học không thấy thực tạikhách quan là nguồn gốc của các cảm giác của chúng ta”(1).

Mặt khác, trong quá trình tranh luận của V.I Lênin với những người theo chủnghĩa Ma-khơ, chủ yếu là ở Nga xung quanh sự khủng hoảng của vật lý học vàphương hướng khắc phục cuộc khủng hoảng đó, đã gợi ra vấn đề cực kỳ quantrọng là: cần phải xác lập một cách hiểu khác với trước đây về phạm trù “vật chất”trong triết học để tránh những khó khăn và bế tắc trước những biến đổi trong khoahọc về thực tại vật chất, do những phát minh mới trong lĩnh vực vật lý học đem lạilúc đó Từ gợi ý này, khi phê phán quan niệm về “vật chất đang tiêu tan”, V.I.Lênin viết: ““Vật chất đang tiêu tan”, điều đó có nghĩa là giới hạn hiểu biết vậtchất cho đến nay của chúng ta đang tiêu tan, tri thức của chúng ta trở nên sâu sắchơn; những đặc tính của vật chất, trước đây được coi là tuyệt đối, bất biến, đầu tiên(tính không thể thâm nhập được, quãng tính, khối lượng…) đang tiêu tan và bâygiờ tỏ ra là tương đối và chỉ là đặc tính vốn có của một số trạng thái nào đó của vậtchất Vì “đặc tính” duy nhất của vật chất - mà chủ nghĩa duy vật triết học là gắn

liền với việc thừa nhận đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là thực tại

Như vậy, từ nhu cầu khắc phục cuộc khủng hoảng trong vật lý học gắn liềnvới cách hiểu mới về vật chất (bởi vấn đề vật chất, xét đến cùng cũng là một vấn

đề của nhận thức), đã trở thành động lực để V.I Lênin nghiên cứu, đề cập đến vấn

(

Trang 12

đề nhận thức, lý giải vật chất và các phương thức tồn tại của nó; trên cơ sở đó,Người đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất, nhằm đáp trả hiệu quả nhất về mặt

lý luận trước những cách hiểu sai lầm về thế giới sau khi phát hiện ra điện tử(electron)

Trung thành với học thuyết của C Mác và Ph Ăng-ghen, đứng vững trên lậptrường duy vật triệt để, V.I Lênin nêu vấn đề: “Nếu ta cảm thấy được thực tạikhách quan, thì phải đặt cho nó một khái niệm triết học; và khái niệm này đã được

xác định từ lâu, lâu lắm rồi, đó chính là khái niệm: vật chất”(3) Từ cách đặt vấn đềnhư vậy, V.I Lênin nêu định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng đểchỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giáccủa chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảmgiác”(1)

Từ nội dung định nghĩa “Vật chất” như đã nêu trên cho thấy rằng: V.I Lênin

đã đưa ra một phương pháp định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù nền tảng nàycủa chủ nghĩa duy vật, Người đã định nghĩa triết học về “vật chất” bằng cách chỉnêu lên dấu hiệu đặc trưng nhất của phạm trù này (dùng để chỉ “thực tại kháchquan”), chứ không phân tích chi tiết, mang tính chuyên biệt như các môn khoa học

cụ thể Với quan niệm “vật chất là một phạm trù triết học” và định nghĩa “vật chất”thông qua phạm trù đối lập với nó là “ý thức”, V.I Lênin đã chỉ ra cái “Đặc tínhduy nhất của vật chất - mà chủ nghĩa duy vật triết học là gắn liền với việc thừa

nhận đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn

tại ở ngoài ý thức của chúng ta”(2) Điều này không những có ý nghĩa to lớn đối với

sự phát triển của chủ nghĩa duy vật, mà còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cổ vũcác nhà khoa học tự nhiên trong quá trình khám phá thế giới vật chất; đồng thời,nội dung định nghĩa đó cũng thể hiện những ý tưởng chính sau:

- Thừa nhận có một thực tại khách quan, được đem đến cho chúng ta trongcảm giác; không có và không thể có cái nào khác ngoài thực tại khách quan ấy

Trang 13

(chính thành tựu của vật lý học hiện đại thời gian gần đây đã bổ sung vào cách hiểunày nội dung mới, làm cho nó sâu sắc và phong phú hơn).

- Khẳng định dứt khoát rằng, nói đến vật chất là nói đến thực tại tồn tại bênngoài chúng ta và không lệ thuộc vào cảm giác của chúng ta

- Chỉ ra vật chất được đem đến cho chúng ta trong cảm giác, các cảm giác lànguồn gốc của nhận thức

- Qua cách hiểu về vật chất, V.I Lênin đi đến kết luận rằng con người có thểnhận thức được thế giới, qua đó đề cao tính năng động, sáng tạo của con người vàchống lại thuyết bất khả tri

- Việc thừa nhận tính có trước của vật chất đã hàm chứa các yếu tố lịch sử, bởi

lẽ cách hiểu như thế có nghĩa là, trong lịch sử phát triển của giới tự nhiên, vật chấttồn tại trước ý thức con người, rằng trong quá trình phát triển của giới tự nhiên đãdần hình thành bộ não con người, cơ quan của tư duy, là hình thức, hay nấc thangđược tổ chức cao của vật chất

Cũng theo V.I Lênin, vật chất có thuộc tính cố hữu là vận động, vận động củavật chất diễn ra trong không gian và thời gian Điều đó là hoàn toàn khách quan.Người nhấn mạnh: “Thừa nhận sự tồn tại của thực tại khách quan, nghĩa là của vậtchất đang vận động, không lệ thuộc vào ý thức của chúng ta, chủ nghĩa duy vật tấtnhiên cũng phải thừa nhận tính thực tại khách quan của không gian và thời gian”,và: “Cũng như sự vật hay vật thể không phải là những hiện tượng giản đơn, khôngphải là những phức hợp cảm giác, mà là những thực tại khách quan, tác động vàogiác quan chúng ta, không gian và thời gian cũng là những hình thức khách quan

và thực tại của tồn tại chứ không phải là những hình thức giản đơn của hiệntượng”(1) Trên cơ sở lập luận đó, V.I Lênin khẳng định: “Trong thế giới, không có

gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ởđâu ngoài không gian và thời gian”(2) Từ nội dung khẳng định một cách dứt khoátnhư vậy, Người luận giải: “Tính khả biến của những quan niệm của con người về

Ngày đăng: 23/12/2021, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w