1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ vận DỤNG ĐẢNG TA về PHÁT TRIỂN văn hóa, CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY THEO QUAN điểm TRIẾT học mác LÊNIN

23 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 145 KB
File đính kèm PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI.rar (30 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong triết học, vấn đề con người là vấn đề lớn, nội dung phức tạp, việc nhận thức và giải quyết vấn đề con người là nội dung cơ bản trong mọi học thuyết chính trị xã hội, tư tưởng và có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, từ lâu, vấn đề con người đã thu hút được sự quan tâm của nhiều triết gia, nhiều học thuyết tư tưởng cả phương Đông và phương Tây. Dù duy tâm hay duy vật, biện chứng hay siêu hình, mọi trào lưu triết học từ cổ đại đến hiện đại đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn đề chung nhất về con người. Cuộc đấu tranh xoay quanh vấn đề con người là một trong những nét nổi bật của triết học. Tuy vậy, do hạn chế về điều kiện lịch sử, do lập trường thế giới quan, phương pháp luận mà những tư tưởng triết học về con người trước Mác dù phong phú, đa dạng nhưng nhìn chung là thiếu khoa học, chưa nghiên cứu và chỉ rõ bản chất cách mạng khoa học trong các hệ thống quan điểm về con người.

Trang 1

MỤC LỤC

Tran

g

MỞ ĐẦU 2

I QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 4

1 Khái quát những quan điểm triết học về con người trong lịch sử 4

2 Phương pháp, nội dung cơ bản tiếp cận vấn đề con người của triết họcMác - Lênin 6

II SỰ VẬN DỤNG ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN 14

1 Quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa, con người ở nước ta hiệnnay 14

2 Giải pháp phát huy giá trị của văn hóa, con người Việt Nam đáp ứngyêu cầu phát triển bền vững đất nước 18

KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong triết học, vấn đề con người là vấn đề lớn, nội dung phức tạp, việcnhận thức và giải quyết vấn đề con người là nội dung cơ bản trong mọi họcthuyết chính trị xã hội, tư tưởng và có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển

xã hội Chính vì vậy, từ lâu, vấn đề con người đã thu hút được sự quan tâm củanhiều triết gia, nhiều học thuyết tư tưởng cả phương Đông và phương Tây Dùduy tâm hay duy vật, biện chứng hay siêu hình, mọi trào lưu triết học từ cổ đạiđến hiện đại đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn đềchung nhất về con người Cuộc đấu tranh xoay quanh vấn đề con người là mộttrong những nét nổi bật của triết học Tuy vậy, do hạn chế về điều kiện lịch sử,

do lập trường thế giới quan, phương pháp luận mà những tư tưởng triết học vềcon người trước Mác dù phong phú, đa dạng nhưng nhìn chung là thiếu khoahọc, chưa nghiên cứu và chỉ rõ bản chất cách mạng khoa học trong các hệ thốngquan điểm về con người

Kế thừa những thành tựu tư tưởng trong lịch sử, vận dụng phép biện chứngduy vật vào nghiên cứu đời sống xã hội, triết học Mác - Lênin đã tạo ra bướcngoặt cách mạng trong quan điểm về vấn đề con người Lần đầu tiên trong lịch

sử vấn đề con người được trình bày một cách bao quát, đặc sắc và được luận giảikhoa học nhất, những giá trị đích thực của con người trong nhận thức và cải tạo

tự nhiên, xã hội và phát triển tư duy mới được trả lại giá trị đích thực Triết họcMác - Lênin đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuấtvật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển lực lượng sản xuất, mà còn

là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội Đây là cơ sở thế giới quan,phương pháp luận khoa học cho Đảng ta nhận thức, vận dụng sáng tạo vào thựctiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam nhẳm: “khơi dậy tinh thần và ý chí, quyếttâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn;phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc”1 vơi mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa và con người

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST,H.2021, tập 1, tr.46

Trang 3

Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinhthần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảngtinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sựphát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”2

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2014

Trang 4

I QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI

1 Khái quát những quan điểm triết học về con người trong lịch sử

Vấn đề con người luôn là trung tâm của các học thuyết triết học trong lịch

sử, trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận, tiền đề kinh tế xã hội khác nhau

mà triết học trong lịch sử đã có nhiều quan niệm đa dạng, phong phú về conngười Theo quan điểm duy tâm, tôn giáo, con người do thần thánh, do lựclượng siêu nhiên tạo ra; cuộc sống con người do trời, thần sắp đặt, an bài Ngượclại, theo quan niệm duy vật mộc mạc, con người do Thái Cực, Ngũ Hành hoặc

do nước, khí… tạo thành Đây là quan niệm mộc mạc, ngây thơ, chưa có cơ sởkhoa học vững chắc

Vấn đề bản chất con người, trong triết học phương Đông đã được giải thíchtheo các khuynh hướng khác nhau Đáng chú ý là quan điểm “Thiên nhân hợpnhất”, tức là trời và người hoà hợp với nhau Thuyết “con người là một tiểu vũtrụ” tức con người là một bộ phận của tự nhiên, mang các tính chất của tự nhiên

và chịu sự chi phối của tự nhiên Những quan điểm trên có đóng góp cho tưtưởng triết học về nguồn gốc, bản chất con người Mặc dù vậy, do hạn chế vềđiều kiện lịch sử và trình độ khoa học các quan điểm đó chưa lý giải được mộtcách đầy đủ và sâu sắc những vấn đề trên

Trong triết học phương Tây cổ đại, chủ nghĩa duy vật đã giải thích nguồngốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật chất phác, mộc mạc Theo quanđiểm của các nhà triết học tự nhiên, con người là một bộ phận cấu thành của tồntại, của thế giới, là một bản nguyên vật chất xác định Phái nguyên tử luận, tiêubiểu là Đêmôcrít cho rằng mọi sinh vật đều cấu tạo từ nguyên tử Linh hồn conngười cũng là vật chất, được cấu tạo từ nguyên tử Chủ nghĩa duy tâm thời cổđại đã coi con người có hai phần thể xác và linh hồn, trong đó linh hồn là bất tử.Aritxtốt cho rằng, con người là một động vật chính trị, qua đó ông đã đặt vấn đềnghiên cứu cả mặt tự nhiên và mặt xã hội của con người từ rất sớm

Với sự thống trị của tôn giáo và thần học nên trong triết học thời kỳ trung

cổ quan niệm con người mang tính duy tâm, tôn giáo Theo giáo lý Kitô, conngười do Chúa sáng tạo ra, con người có phần thể xác và linh hồn Khi thể xác

Trang 5

mất đi, linh hồn vẫn tồn tại Thể xác và linh hồn đối lập nhau như cái thấp hèn

và cái cao thượng Chúa là lực lượng siêu tự nhiên, định đoạt mọi số phận củacon người, ban phước hoặc trừng phạt con người

Trong triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng - Cận đại, quan niệm về conngười có bước phát triển đáng kể, phản ánh những vấn đề do khoa học và thựctiễn đặt ra Các nhà triết học duy vật, dựa trên cơ sở những thành tựu của khoahọc tự nhiên đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo về vấn đềnguồn gốc, bản chất con người Theo quan điểm duy vật, con người là một thựcthể vật chất, ý thức từ vật chất sinh ra, là thuộc tính của vật chất

Trong triết học cổ điển Đức quan niệm con người đã phát triển mạnh mẽ ở

cả hai khuynh hướng duy tâm và duy vật Hêghen tuyệt đối hoá con người lýtính, cho rằng ý niệm tuyệt đối tha hoá thành tự nhiên, xã hội và con người Ýniệm tuyệt đối là thực thể tinh thần sinh ra vũ trụ và con người Chủ nghĩa duyvật nhân bản của Phoiơbắc trong lúc phê phán chủ nghĩa duy tâm, đã khẳng định

ý thức là sản phẩm của bộ óc, tinh thần là sản phẩm của vật chất và tuyệt đối hoácon người tự nhiên, sinh vật, không thấy được bản chất xã hội - lịch sử của conngười; không thấy vai trò hoạt động thực tiễn của con người

Triết học tư sản hiện đại tiếp cận vấn đề con người mang tính chất siêuhình phiến diện, họ tuyệt đối hóa yếu tố cá nhân, cả thể từ đó tuyệt đối hóa chủnghĩa cá nhân, hoặc đề cao bản năng, tính dục của con người, tuyệt đối hóa cácyếu tố về nhu cầu, mong muốn, ham muốn cá nhân… chưa tiếp cận con ngườitrong tính chỉnh thể trọng vẹn, trong sự thống nhất giữ tính sinh vật và tính xãhội của con người, chưa thấy được bản chất xã hội mang tính hiện thực, “tổnghòa” khi tiếp cận bản chất con người…

Như vậy, du rất phong phú và đa dạng, có những đóng góp nhất định trong sựphát triển tư tưởng nhân loại về vấn đề con người nhưng nhìn chung các quan điểm

về con người trong lịch sử chưa thoát khỏi tính chất duy vật siêu hình hoặc duy tâmthần bí Mặc dù vậy, sự phát triển của lịch sử triết học về con người đã để lại những

tư tưởng quý giá về nguồn gốc, bản chất con người, làm cơ sở, tiền đề, điều kiệncho triết học Mác kế thừa, phát triển đưa ra quan điểm khoa học về con người

Trang 6

2 Phương pháp, nội dung cơ bản tiếp cận vấn đề con người của triết học Mác - Lênin

* Khái niệm con người

Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội và về conngười, triết học Mác - Lênin đã đem lại một quan niệm hoàn chỉnh về con

người Theo quan điểm chung nhất, con người là thực thể sinh học xã hội.

Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trongquá trình tiến hoá của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọithành tựu văn hoá trên trái đất Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bảncấu thành con người là mặt sinh học và mặt xã hội Con người có mặt tự nhiên,vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại… Đồng thời, con người có mặt xã hội, tinhthần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động, giao tiếp, đạo đức… Hai mặt đó hợpthành một hệ thống năng động, phức tạp, luôn luôn biến đổi, phát triển Về vaitrò của con người, triết học Mác - Lênin khẳng định con người là chủ thể hoạtđộng thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người sáng tạo ra mọi của cải vậtchất, tinh thần, đồng thời sáng tạo ra bộ óc và tư duy của mình

* Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất

Khác với quan điểm triết học về con người trong lịch sử, triết học Mác Lênin nghiên cứu con người trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vậtbiện chứng, đã tiếp cận và luận giải sự hình thành, phát triển con người tronglịch sử gắn với quá trình phát triển của sản xuất vật chất “Có thể phân biệt conngười với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũngđược Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con

-người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến

do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạtcủa mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất củamình”3 Từ đó, khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hìnhthành, phát triển của con người Chính trong lao động, thông qua lao động mà

3 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, t.3, tr.29.

Trang 7

con người biến đổi điều kiện tự nhiên bên ngoài; làm biến đổi bản chất tự nhiên,cải tạo bản năng sinh học của con người; đồng thời hình thành và phát triểnnhững phẩm chất xã hội của mình.

Con người khác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩmcủa tự nhiên, còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên,sáng tạo ra của cải vật chất, thoả mãn nhu cầu ngày càng phát triển của mình,như Mác từng nhấn mạnh: “Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với

xã hội loài vật là ở chỗ: loài vượn may mắn lắm chỉ hái lượm trong khi conngười lại sản xuất Chỉ riêng sự khác biệt duy nhất nhưng cơ bản ấy cũng khiến

ta không thể chuyển - nếu không kèm theo những điều kiện tương ứng - các quyluật của các xã hội loài vật sang xã hội loài người”4 Lịch sử sản xuất vật chấtcũng là lịch sử con người cải tạo tự nhiên phù hợp với nhu cầu tồn tại và pháttriển của mình C.Mác khẳng định: “Nhờ sự sản xuất đó, giới tự nhiên biểu hiện

ra là tác phẩm của nó (con người) và thực tại của nó”5, làm cho tự nhiên “có tínhngười”, tự nhiên được “nhân loại hoá” Lịch sử phát triển của tự nhiên gắn bóhữu cơ với lịch sử phát triển của xã hội loài người Chính vì vậy, C Mác nói:

“Con người không bao giờ đứng trước một tự nhiên có tính chất lịch sử và mộtlịch sử có tính chất tự nhiên”6

Triết học Mác - Lênin khẳng định, thông qua lịch sử sản xuất vật chất, nhờlao động đã biến đổi bản chất tự nhiên của tổ tiên loài người Lao động đã cảitạo bản năng sinh học của con người, bắt bản năng phục tùng lý trí, phát triểnbản năng con người thành một trạng thái mới về chất C Mác cho rằng, “trongcon người, ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng con người là bản năng đãđược ý thức”7 Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành phát triểnphẩm chất xã hội của con người Trong lao động tất yếu hình thành quan hệ xãhội, thông qua hoạt động giao tiếp hình thành lên ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm,

ý chí và cả phương pháp tư duy của con người… Chính vì vậy, Ph Ăngghen

Trang 8

khẳng định: “…trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động sáng tạo rabản thân con người”8.

Có thể nói, chính nhờ lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừahoà nhập với tự nhiên trở thành một thực thể sáng tạo Hoạt động lịch sử đầutiên mang ý nghĩa sáng tạo chân chính của con người là chế tạo ra công cụ laođộng Con người bắt đầu lịch sử của mình từ đó Nhờ công cụ lao động tư liệucủa mọi tư liệu - sức mạnh vật chất đầu tiên mà con người tách khỏi tự nhiên,tách khỏi loài vật với tư cách là một chủ thể hoạt động thực tiễn xã hội Đồngthời, bằng hoạt động cải tạo tự nhiên, con người hoà nhập với tự nhiên, biến “tựnhiên thứ nhất” thành “tự nhiên thứ hai”, “tự nhiên thứ ba”…, sáng tạo ra củacải, tri thức, tinh thần Như vậy, sáng tạo là thuộc tính tối cao của con người.Bản chất con người là sáng tạo ngay từ đầu với đầy đủ ý nghĩa của nó

* Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội.

Trên cơ sở quan điểm toàn diện, triết học Mác - Lênin tiếp cận con ngườitrong tính toàn vẹn, khẳng định con người là một chỉnh thể tồn tại và phát triểntrong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Đây là một chỉnh thể phứctạp, năng động, luôn luôn vận động, phát triển

Theo C Mác, con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triểncao nhất của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạonên tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa Về phương diện sinh học, conngười là một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xãhội “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyếtđịnh việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn

có của con vật”9 Điều đó có nghĩa rằng con người cũng như mọi động vật khácphải tìm kiếm thức ăn, nước uống, phải “đấu tranh sinh tồn” để tồn tại và pháttriển Tuy nhiên, không được tuyệt đối hóa điều đó, không phải đặc tính sinhhọc, bản năng sinh học, sự sinh tồn thể xác là cái duy nhất tạo nên bản chất củacon người, mà con người còn là một thực thể xã hội Theo quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin, khi xem xét con người, không thể tách rời hai phương diện

8 C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 641.

9 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, t.20, tr.146.

Trang 9

sinh học và xã hội của con người thành những phương diện biệt lập, duy nhất,quyết định phương diện kia.

Không chỉ là một thực thể sinh học, mà con người cũng còn là một bộ

phận của giới tự nhiên “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người,

đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”10 Vềphương diện thực thể sinh học, con người còn phải phục tùng các quy luật củagiới tự nhiên, các quy luật sinh học như di truyền, tiến hóa sinh học và cácquá trình sinh học của giới tự nhiên Con người là một bộ phận đặc biệt, quantrọng của giới tự nhiên, nhưng lại có thể biến đổi giới tự nhiên và chính bảnthân mình, dựa trên các quy luật khách quan Đây chính là điểm khác biệt đặcbiệt, rất quan trọng giữa con người và các thực thể sinh học khác Bằng hoạtđộng thực tiễn con người trở thành một bộ phận của giới tự nhiên có quan hệvới giới tự nhiên, thống nhất với giới tự nhiên, bởi giới tự nhiên là “thân thể

vô cơ của con người”

Con người còn là một thực thể xã hội có các hoạt động xã hội Hoạt động

xã hội quan trọng nhất của con người là lao động sản xuất “Người là giống vậtduy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”11.Nếu các động vật khác phải sống dựa hoàn toàn vào các sản phẩm của tự nhiên,dựa vào bản năng thì con người lại sống bằng lao động sản xuất, bằng việc cảitạo tự nhiên, sáng tạo ra các vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình Nhờ cólao động sản xuất mà về mặt sinh học con người có thể trở thành thực thể xã hội,thành chủ thể của “lịch sử có tính tự nhiên”, có lý tính, có “bản năng xã hội”.Lao động đã góp phần cải tạo bản năng sinh học của con người, làm cho conngười trở thành con người đúng nghĩa của nó Lao động là điều kiện tiênquyết, cần thiết và chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển của conngười cả về phương diện sinh học lẫn phương diện xã hội

Trong hoạt động, con người không chỉ có các quan hệ lẫn nhau trong sảnxuất, mà còn có hàng loạt các quan hệ xã hội khác Những quan hệ đó ngàycàng phát triển phong phú, đa dạng, thể hiện những tác động qua lại giữa họ

10 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t.42, tr.135.

11 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, t.20, tr.673.

Trang 10

với nhau Xã hội, xét đến cùng, là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhaugiữa những con người Tính xã hội của con người chỉ có trong xã hội loàingười, con người không thể tách khỏi xã hội và đó là điểm cơ bản làm cho conngười khác với các động vật khác Hoạt động của con người gắn liền với cácquan hệ xã hội không chỉ phục vụ cho con người mà còn cho xã hội, khác vớihoạt động của con vật chỉ phục vụ cho nhu cầu bản năng sinh học trực tiếp của

nó Hoạt động và giao tiếp của con người đã sinh ra ý thức người Tư duy, ýthức của con người chỉ có thể phát triển trong lao động và giao tiếp xã hội vớinhau Cũng nhờ có lao động và giao tiếp xã hội mà ngôn ngữ xuất hiện và pháttriển Ngôn ngữ và tư duy của con người thể hiện tập trung và nổi trội tính xãhội của con người, là một trong những biểu hiện rõ nhất phương diện conngười là một thực thể xã hội Chính vì vậy, khác với con vật, con người chỉ cóthể tồn tại và phát triển trong xã hội loài người

* Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người

Phê phán quan niệm sai lầm của Feuerbach và của các nhà tư tưởng khác

về con người, kế thừa các quan niệm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại

và dựa vào những thành tựu của khoa học, chủ nghĩa Mác khẳng định conngười vừa là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa là sảnphẩm của lịch sử xã hội loài người và của chính bản thân con người C Mác

đã khẳng định trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức rằng, tiền đề của lý luận duy

vật biện chứng và duy vật lịch sử là những con người hiện thực đang hoạtđộng, lao động sản xuất và làm ra lịch sử của chính mình, làm cho họ trởthành những con người như đang tồn tại Cần lưu ý rằng con người là sảnphẩm của lịch sử và của bản thân con người, nhưng con người, khác với cácđộng vật khác, không thụ động để lịch sử làm mình thay đổi, mà con ngườicòn là chủ thể của lịch sử

* Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử

Con người vừa là sản phẩm của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, nhưngđồng thời, lại là chủ thể của lịch sử bởi lao động và sáng tạo là thuộc tính xã hộitối cao của con người Con người và động vật đều có lịch sử của mình, nhưng lịch

Trang 11

sử con người khác với lịch sử động vật Lịch sử của động vật “là lịch sử nguồngốc của chúng và sự phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay củachúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực màchúng có tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không

hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xacon vật hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mìnhlàm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”12 Hoạt động lịch sử đầutiên khiến con người tách khỏi các động vật khác, có ý nghĩa sáng tạo chân chính

là hoạt động chế tạo công cụ lao động, hoạt động lao động sản xuất Nhờ chế tạocông cụ lao động mà con người tách khỏi loài vật, tách khỏi tự nhiên trở thànhchủ thể hoạt động thực tiễn xã hội Chính ở thời điểm đó con người bắt đầu làm ralịch sử của mình “Sáng tạo ra lịch sử” là bản chất của con người, nhưng conngười không thể sáng tạo ra lịch sử theo ý muốn tùy tiện của mình, mà phải dựavào những điều kiện do quá khứ, do thế hệ trước để lại trong những hoàn cảnhmới Con người, một mặt, phải tiếp tục các hoạt động trên các tiền đề, điều kiện

cũ của thế hệ trước để lại; mặt khác, lại phải tiến hành các hoạt động mới củamình để cải biến những điều kiện cũ Lịch sử sản xuất ra con người như thế nàothì tương ứng, con người cũng sáng tạo ra lịch sử như thế ấy

Con người tồn tại và phát triển luôn luôn ở trong một hệ thống môi trườngxác định Đó là toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội, cả điều kiện vật chất lẫn tinhthần, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người và xã hội.Một mặt, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, để tồn tại và phát triển phảiquan hệ với giới tự nhiên, phải phụ thuộc vào giới tự nhiên, thu nhận và sử dụngcác nguồn lực của tự nhiên để cải biến chúng cho phù hợp với nhu cầu của chínhmình Mặt khác, là một bộ phận của tự nhiên, con người cũng phải tuân theo cácquy luật của tự nhiên, tuân theo các quá trình tự nhiên như cơ học, vật lý, hóa học,đặc biệt là các quá trình y học, sinh học, tâm sinh lý khác nhau Về phương diệnsinh thể hay sinh học, con người là một tiểu vũ trụ có cấu trúc phức tạp, là một hệthống mở, biến đổi và phát triển không ngừng, thay đổi và thích nghi khá nhanh

12C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, t.20, tr.476.

Ngày đăng: 22/12/2021, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w