1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng về đất nước trong thơ Chế Lan Viên

128 564 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 703,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp nối truyền thống yêu nước từ trong văn học dân gian, cảm hứng về đất nước trong văn học trung đại trở thành một trong những cảm hứng chủ đạo.Văn học trung đại Việt Nam nếu hình dung

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướn dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam

HÀ NỘI, 2013

Trang 2

Luận văn được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực học hỏi, nghiên cứu của bản thân, còn nhờ có sự chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tận tình của quý thầy cô, gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, người đã tận tâm hướng dẫn khoa học, giúp tôi giải quyết các vấn đề trong đề tài, định hướng, gợi mở, truyền đạt cho tôi những kiến thức

vô cùng quý báu

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình dìu dắt, truyền dạy kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập

Xin cảm ơn Phòng Sau đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành và bảo vệ luận văn này

Sau cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Dù đã hết sức cố gắng, nhưng vì khả năng và thời gian có hạn nên

đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Tác giả

Đỗ Thu Hường

Trang 3

Tôi xin cam đoan kết quả đạt được của luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong các công trình ngh

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Tác giả

Đỗ Thu Hường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Đóng góp của luận văn 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục luận văn 4

NỘI DUNG 6

Chương 1 Cảm hứng về đất nước trong thơ ca Việt Nam như một truyền thống và hành trình sáng tạo của Chế Lan Viên 6

1.1 Cảm hứng về đất nước trong thơ ca Việt Nam 6

1.2 Hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên 24

Chương 2 Những cảm hứng chủ đạo thể hiện tình yêu đất nước trong thơ Chế Lan Viên 33

2.1 Cảm hứng ca ngợi đất nước đau thương và anh hùng 34

2.2 Cảm hứng ca ngợi đất nước tươi đẹp 45

2.3 Cảm hứng phủ định các thế lực thù địch với đất nước 51

Chương 3 Nghệ thuật biểu hiện cảm hứng đất nước trong thơ Chế Lan Viên 61

3.1 Sự kết hợp giữa trí tuệ và cảm xúc 61

3.2 Thể thơ 67

3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu 74

3.4 Hình ảnh và biểu tượng 84

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

đời hoạt động nghệ thuật của ông bao trùm lên thế kỷ XX và để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học nước ta Chế Lan Viên đã để lại một di sản khá

đồ sộ: làm thơ, viết văn, viết tiểu luận phê bình Ông đã chiếm lĩnh được nhiều đỉnh cao nghệ thuật ở những giai đoạn khác nhau: Giai đoạn Thơ Mới

với Điêu tàn; hoà bình với Ánh sáng và phù sa; thời chống Mỹ cứu nước với

Hoa ngày thường, Chim báo bão; Những bài thơ đánh giặc; giai đoạn đổi mới

với Di cảo thơ Hiện ông để lại 15 tập thơ ( kể cả Di cảo thơ Chế Lan Viên, 3

tập), 7 tác phẩm văn xuôi, 8 tập tiểu luận phê bình…Nghiên cứu sâu về Chế

Lan Viên là một cách giúp ta hiểu thêm về nền văn học Việt Nam hiện đại

thơ Điêu tàn viết bằng chất liệu của đầu lâu, xác chết, nấm mồ, xương khô -

ẩn trong tâm hồn một cậu học sinh tuổi 16, 17 ngồi cạnh tháp Chàm lẻ loi, bí mật, người đọc lại không quên giọng thơ đậm màu sắc trí tuệ, giàu tính chính luận sang sảng bay bổng của một nhà thơ lớn đại diện cho dân tộc đang chiến đấu và chiến thắng trong thời kỳ chống Mỹ Sau cách mạng, Chế Lan Viên thực sự đem đến cho nền thơ hiện đại Việt Nam một tiếng nói riêng, một

“chất mặn” đặc biệt, tạo nên một phong cách đa dạng, độc đáo

Trong quá trình chuyển hoá, ông là người thành công, “đã chín lại một mùa

thơ” trong thời đại bão táp cách mạng Từ một nhà thơ tiền chiến lãng mạn, ông đã thực sự trở thành nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa Tâm hồn, tư tưởng, quan niệm sáng tác của ông đã được ánh sáng của Đảng, của thế giới quan mác xít và phù sa của đời bồi đắp, đổi thay Quá trình chuyển mình của

Trang 6

ông tiêu biểu cho quá trình đổi thay của một loạt các nhà Thơ Mới như: Xuân Diệu yêu đương, Huy Cận sầu não, Hàn Mặc Tử điên loạn, Lưu Trọng Lư mơ màng, Tế Hanh nhớ nhung…

nước, thơ Chế Lan Viên đã chín trong một mùa gặt rộ Qua thơ ông có thể thấy được một số thành quả mà thơ chống Mỹ đã đạt được Chế Lan Viên thực hiện được những bước tổng hợp toàn diện các yếu tố nghệ thuật Nhiều bài thơ của ông là sự kết hợp nhuần nhị giữa các yếu tố anh hùng ca và trữ tình, hiện thực và lãng mạn, cảm xúc và trí tuệ, trữ tình và châm biếm…Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thơ Chế Lan Viên không phải là đường viền quanh đề tài thơ, cũng như không phải là một yếu tố được chắp nối vào đề tài

để có thêm “tư tưởng tính” Mà chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã làm nên sức đẩy bên trong của mỗi bài thơ, làm nên linh hồn của tác phẩm nghệ thuật Bởi thế, qua thơ Chế Lan Viên ta bắt gặp một nét độc đáo của nền thơ Việt Nam chống Mỹ: Tiếng nói anh hùng đã trở thành tiếng nói tự nhiên của tâm hồn, chất trữ tình đã hoà quyện gắn bó với chất anh hùng ca Những bài thơ hào hùng giàu chất trí tuệ, giàu tính chính luận khi viết về Tổ quốc, nhân dân, Đảng và lãnh tụ, về kẻ thù, tình yêu, đời thường…đã và đang sẽ mãi ngân vang trong lòng người đọc

đất nước - một trong những mảng đề tài được ông quan tâm nhiều nhất Cảm hứng về đất nước trong thơ ca Việt Nam xưa nay vẫn được xem như một truyền thống Cũng giống như các thi sĩ khác, thơ ca Chế Lan Viên không nằm ngoài truyền thống đó Thơ viết về đất nước của Chế Lan Viên không chỉ góp phần thể hiện nhân cách nhà thơ mà còn góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện đầy đủ phong cách thơ Chế lan Viên

Trang 7

Chế Lan Viên là một gương mặt độc đáo trong lịch sử văn học Việt

Nam hiện đại Ngay từ tập thơ đầu tay Điêu tàn, Chế Lan Viên đã được đông

đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình chú ý Có nhiều bài viết đánh giá về

Điêu tàn từ các nhà thơ như Xuân Diệu, Bích Khê, Hàn Mặc Tử… đến các

nhà nghiên cứu như Hoài Thanh, Hoài Chân Các tập thơ tiếp theo của Chế

Lan Viên như: Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường- Chim báo

bão, Những bài thơ đánh giặc, Đối thoại mới cũng rất được quan tâm chú ý

Nhiều bài viết, bàn luận, đánh giá xung quanh các tập thơ của ông như: Đọc

ánh sáng và phù sa (Xuân Diệu), Những biển cồn hãy mang đến trong thơ (Lê

Đình Kỵ), Chế Lan Viên những tìm tòi trong nghệ thuật thơ (Nguyễn Lộc),

Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên (Nguyễn Xuân Nam), Đối thoại mới của Chế Lan Viên (Hoàng Lan), Con đường và tầm vóc thơ Chế Lan Viên

(Phạm Hổ), … Các bài viết này tiếp tục khẳng định tên tuổi và những đóng góp của Chế Lan Viên cho nền văn học nước nhà

Sau chiến tranh, đặc biệt là sau đổi mới, nhu cầu nhìn lại, đánh giá lại nền văn học kháng chiến được đặt ra, các tác phẩm của Chế Lan Viên một lần nữa lại được quan tâm chú ý Nhất là sau khi vợ ông, bà Vũ Thị Thường cho

xuất bản 3 tập Di cảo thơ của ông thì sự chú ý của dư luận càng trở nên mạnh

mẽ hơn Nhân các dịp kỉ niệm 10 năm, 15 năm, 20 năm ngày mất, hay 90 năm ngày sinh của ông nhiều bài viết, đánh giá phê bình về thơ Chế Lan Viên lại tiếp tục xuất hiện Các bài viết này cho thấy sức sống, tính thời sự của các tác phẩm thơ Chế Lan Viên Năm 2000, Vũ Tuấn Anh đã cho ra đời công trình:

Chế Lan Viên - về tác gia và tác phẩm Trong công trình này, tác giả đã tuyển

chọn và giới thiệu một cách hệ thống và khá toàn vẹn những công trình tiêu biểu nghiên cứu về thơ văn Chế Lan Viên Các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ lấy thơ Chế Lan Viên làm đối tượng nghiên cứu cũng

có số lượng không hề nhỏ Những luận án này đã cho chúng tôi nhiều gợi mở khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình

Nghiên cứu, đánh giá, phê bình về Chế Lan Viên nhiều về số lượng, đa dạng phong phú ở góc độ tiếp cận cũng như hình thức thể hiện Tuy nhiên mảng thơ viết về cảm hứng đất nước còn chưa được tìm hiểu và nghiên cứu một cách

Trang 8

đầy đủ và có hệ thống Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu:

“Cảm hứng về đất nước trong thơ Chế Lan Viên” nhằm góp phần nhỏ bé trong

việc tìm hiểu sự nghiệp thơ ca của ông

2 Mục đích nghiên cứu

Viên với những đặc sắc riêng, để thấy được đóng góp của nhà thơ vào thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung và thơ viết về quê hương đất nước Việt Nam nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Lan Viên.Trên cơ sở tìm hiểu về cảm hứng đất nước trong thơ Chế Lan Viên, luận văn tập trung đi vào khảo sát toàn bộ mảng đó trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ

4 Đóng góp của Luận văn

cả hai phương diện nội dung và hình thức Từ đó ghi nhận sự đóng góp của

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tất cả các bài thơ viết về đất nước của Chế Lan Viên nằm rải rác ở các tập thơ khác nhau trong cả hai giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945 và sau Cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn tiến hành phân tích những đặc trưng tiêu biểu của thơ viết về đất nước của thi nhân Đồng thời tổng hợp, khái quát hoá các kết quả phân tích để rút ra các kết luận cần thiết

5.2 Phương pháp so sánh

Trang 9

Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu các sáng tác của Chế Lan Viên qua các thời kỳ, sáng tác của Chế Lan Viên với các nhà thơ khác để thấy rõ nét độc đáo, đặc sắc và đóng góp của Chế Lan Viên trong thơ ca dân

tộc

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cảm hứng đất nước trong thơ ca Việt Nam và hành trình

sáng tạo của Chế Lan Viên

Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo thể hiện tình yêu đất nước trong

thơ Chế Lan Viên

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cảm hứng đất nước trong thơ của Chế

Lan Viên

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ CA VIỆT NAM NHƯ MỘT TRUYỀN THỐNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO

CỦA CHẾ LAN VIÊN

1.1 Cảm hứng về đất nước trong thơ ca Việt Nam như một truyền thống

Lòng yêu nước vốn là truyền thống tinh thần tốt đẹp bao đời của dân

tộc Việt Nam “Đó là thứ của quý, bấy lâu nay phải cất giấu kín đáo trong

rương, trong hòm nay nhờ cách mạng được đem ra trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê” (Hồ Chí Minh) Kế thừa truyền thống yêu nước của dân

tộc, nhiều thế hệ người cầm bút luôn hướng về quê hương, đất nước Vì thế, cảm hứng về đất nước trong văn học Việt Nam nói chung và trong thơ ca Việt Nam nói riêng xưa nay được xem như một truyền thống

Cảm hứng về đất nước trong thơ ca Việt Nam không phải đến thời kỳ văn học hiện đại mới xuất hiện Từ thủa còn chưa có văn học thành văn, đất nước đã gợi cảm hứng dạt dào cho nhân dân ta, những người lao động bình thường trở thành thi sĩ Có biết bao bài ca dao về tình yêu quê hương, đất nước mãi còn ngân vang trong lòng người đọc:

- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Nghệ thì vô

- Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi tới đó thời không muốn về

- Bình Định có núi Vọng Phu

Có đầm Thị Nại, có Cù Lao Xanh

Em về Bình Định cùng anh Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa ………

Trang 11

Trong văn học dân gian, những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước thường gợi nhiều hơn tả, hay nhắc đến tên núi, tên sông, tên những vùng đất với những đặc sắc về hình thể, cảnh trí, lịch sử, văn hóa của từng địa danh… Tình yêu đất nước trong văn học dân gian thường gắn liền với tình

yêu quê hương làng xóm

Tiếp nối truyền thống yêu nước từ trong văn học dân gian, cảm hứng về đất nước trong văn học trung đại trở thành một trong những cảm hứng chủ đạo.Văn học trung đại Việt Nam nếu hình dung như một thứ quả màu vàng, một vụ quả bội thu thì mảnh đất gieo trồng của nó đầy máu, mồ hôi và cả ước

mơ của người gieo hạt Thế hệ ông cha chúng ta đã cần mẫn xới vun bằng tình yêu của mình với mảnh đất ấy Sự nghiệp giữ nước gian khổ mà vinh quang, và ý thức trách nhiệm của người cầm bút đã đem đến văn học trung đại một cảm hứng lớn: cảm hứng yêu nước Cảm hứng này như một mạch ngầm chảy xuyên suốt lịch sử văn học dân tộc Từ văn học dân gian đến văn học viết, từ văn học trung đại đến văn học hiện đại không ở đâu, không lúc nào mạch ngầm ấy ngừng chảy Dù với những diện mạo khác nhau, cách thể hiện khác nhau song có thể khẳng định chủ nghĩa yêu nước là cảm hứng lớn nhất của văn học Việt Nam Trong văn học trung đại ngay từ những tác phẩm

đầu tiên như Quốc tộ (Pháp Thuận), Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt) ta đã

thấy dấu ấn của cảm hứng này

Có thể nói, cảm hứng yêu nước trong thơ trung đại Việt Nam thể hiện trước hết ở lòng tự hào dân tộc Chúng ta đã từng thấy dõng dạc vang lên trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt là tiếng nói đầu tiên như âm vang từ khí thiêng sông núi dội về: đất nước Việt Nam do vua Nam làm chủ Nước là của vua, vua là tượng trưng cho chủ quyền của nước:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời

Trang 12

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Niềm tự hào ấy còn được tiếp nối trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc cũng như lịch sử văn học Tự hào vì đất nước hùng vĩ tươi đẹp, tự hào về đất nước anh hùng hiên ngang, tự hào vì đất nước đã được dựng xây bởi biết bao thế hệ:

Ngọc nhĩ hàn quang tẩm quảng đã, Tản Viên tễ sắc chiếu Thăng Long Văn Lang thành cổ sơn trùng điệp Ông Trọng từ thâm vận đạm nùng

(Phạm Sư Mạnh – Họa Minh sứ đề Nhĩ Hà)

(Ánh sáng mát lạnh của dòng sông chảy quanh như vành tai ngọc thấm

vào cánh đồng rộng lớn,

Sắc đẹp rực rỡ của ngọn núi tròn như chiếc tán tròn chiếu xuống kinh

đô rồng bay

Núi lớp lớp vây quanh thành cổ Văn Lang

Mây đậm nhạt che đền thắm Ông Trọng)

Trong thơ trung đại, cảm hứng yêu nước còn thể hiện ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này qua thơ các thi sĩ thời Trần, thơ Nguyễn Trãi…Một trong những thành tựu quan trọng của thơ thời Trần là đã thể hiện được chủ nghĩa yêu nước, ý chí quật cường chống quân xâm lược của dân tộc ta Chính cảm hứng này đã tạo ra Hào khí Đông Á trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc Hào khí ấy vang

lên hùng tráng mà tha thiết qua khúc ca khải hoàn Tụng giá hoàng kinh sư của

Trần Quang Khải:

Đoạt sóc Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử quan

Trang 13

Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang sơn

Bài thơ làm sống dậy một không gian trận mạc chiến trường, đao kiếm với ngựa thét quân reo ngất trời tráng khí Một trong hai trận ấy do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy Chương Dương, Hàm Tử nằm trong hệ thống chiến thắng mở màn có ý nghĩa chiến lược cho cuộc phản công thắng lợi, mạnh và nhanh, cường độ lớn và tốc độ phi thường đã tạo cho lời thơ khí thế hùng tráng, thiêng liêng

Yêu nước, căm thù giặc tất yếu phải chiến đấu đến cùng cho lí tưởng

ấy Trong thơ trung đại Việt Nam dường như vẫn còn văng vẳng tiếng mài

giáo dưới ánh trăng của Đặng Dung (Cảm hoài), cái múa giáo đầy thách thức

của Phạm Ngũ Lão Sự mất còn của non sông đã đặt gánh nặng lên vai con người thời cuộc với thử thách nặng nề: giết giặc cứu nước Vậy nên trong

Thuật hoài Phạm Ngũ Lão đã xây dựng được hình tượng một con người tràn

đầy khí thế, tầm vóc Ở đó có cả sức mạnh của tướng sĩ ba quân trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, đồng thời đó cũng là sức mạnh của cả dân tộc Từ suy ngẫm khái quát về tư thế, tầm vóc và sức mạnh của dân tộc chuyển sang suy ngẫm về bổn phận và trách nhiệm của cá nhân trước cộng đồng, Phạm Ngũ Lão đã có cách khơi gợi thật khéo léo: nếu đấng nam nhi còn vương nợ tức là chưa có công trạng gì với núi sông thì sẽ luống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu Đúng là cái thẹn của một của một nhân cách lớn, cái xấu hổ lớn lao rất đáng trân trọng của Phạm Ngũ Lão Ông xấu hổ với bản thân, với cộng đồng nhất là với một nam nhi thời loạn Đến như Gia Cát Lượng, một con người đã từng xuất thế để quên đi sự đời nhưng cũng dời liều

cỏ giúp Lưu Bị chấn hưng nhà Hán thời Tam Quốc, còn với sĩ phu đời Trần, trước tình thế Tổ quốc ngàn cân treo sợi tóc há chỉ đứng nhìn và bình thản hay sao?

Trang 14

Múa giáo non sông trải mấy thâu

Ba quân hùm khí nuốt Sao ngưu Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

Có thể nói một bối cảnh lịch sử đặc biệt cùng với hào khí của con người thời đại đã mang đến cho văn học yêu nước thời Trần một bộ mặt riêng đặc sắc không thể trộn lẫn với bất kỳ giai đoạn văn học nào Những chiến thắng oanh liệt trước quân Nguyên Mông mạnh như vũ bão khiến nhiều đất nước đã phải khuất phục càng làm cho niềm tự hào dân tộc, ý chí tự tôn, tự lực tự cường lên cao Văn học thời kỳ này chủ yếu là những tác phẩm mang cảm hứng yêu nước thể hiện sâu sắc không khí thời đại

Tiếp nối hào khí Đông A với niềm tự hào dân tộc sâu sắc là những áng thơ văn bất hủ của văn học triều Lê sau chiến thắng quân Minh oanh liệt, trong đó không thể không nhắc tới Nguyễn Trãi với những tác phẩm kiệt xuất

của ông Bình Ngô đại cáo chính là một áng thiên cổ hùng văn vừa tố cáo kẻ

thù tàn ác vừa thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước Đó là niềm tự hào dân tộc,

là ý chí quyết tâm tiêu diệt kẻ thù, là lòng căm thù giặc tột độ, là tư tưởng nhân nghĩa lấy dân làm gốc để dựng xây đất nước thái bình dài lâu Sau những năm tháng kháng chiến chống giặc, nhà thơ Ức Trai trở về với cuộc sống điền viên tình yêu nước lại được thể hiện ở những cung bậc khác:

Bui một tấm lòng trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen

Trang 15

Dục Thúy vũ đình, phong tự ngọc Đại An triều tướng, thủy như thiên

(Núi Dục Thúy mưa tan đỉnh tựa ngọc Cửa Đại An triều nỏi nước như trời) Điều đặc biệt là Nguyễn Trãi thường hay gắn thiên nhiên kỳ vĩ của đất nước với lịch sử hào hùng của dân tộc:

Sóc phong suy hải khí lăng lăng Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng Ngạc đoạn kình phầu sơn khúc khúc Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng

(Bạch Đằng hải khẩu)

(Gió bấc thổi trên mặt nước, hơi biển rùng rợn Nhẹ kéo buồm thơ để qua cửa Bạch Đằng Như cá sấu bị chặt, cá voi bị mổ, núi đứt khúc lại khúc Như mũi qua chìm cây kích gãy, bờ chồng tầng lại tầng) Cái làm sông Bạch Đằng trở nên kì vĩ không phải chỉ bởi cảnh vật tự nhiên mà còn bởi những chiến tích của ông cha đã in bóng trên dòng sông ấy Với Nguyễn Trãi chính những chiến công kia mới là vẻ đẹp của Bạch Đằng

Có thể nói thơ văn Nguyễn Trãi chính là sự hội tụ của những ánh hào quang quá khứ, là sự tiếp nối của cảm hứng yêu nước đã được khơi nguồn từ các giai đoạn trước Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi đồ sộ và đa dạng nhưng những tác phẩm thể hiện tình yêu quê hương đất nước, tấm lòng với dân tộc với nhân dân là những tác phẩm đặc sắc và chiếm phần lớn gia tài nghệ thuật của ông

Đến giai đoạn sau các triều đại phong kiến gặp nhiều khủng hoảng, đất nước với sự phân chia đàng trong – đàng ngoài, với các cuộc nội chiến liên

Trang 16

miên cảm hứng yêu nước vẫn là một nội dung lớn của văn học song nó không

ở bình diện thứ nhất mà thay vào đó là cảm hứng nhân đạo, thế sự Tuy vậy mạch ngầm ấy vẫn chảy Ở thế kỉ XVI, XVII và nửa đầu XVIII chúng ta thấy xuất hiện dòng thơ vịnh sử, thơ đi sứ thể hiện cảm hứng yêu nước một cách sáng tạo, uyển chuyển Thơ vịnh sử thường ngợi ca những nhân vật lịch sử, những ông Vua hiền, nặng về mục đích giáo huấn, phê phán những tên bạo chúa, gian thần thể hiện nhân sinh quan và đạo lý chính nghĩa thời đại Các bài thơ đi sứ thì khéo léo thể hiện niềm tự hào dân tộc

Tinh kỳ ảnh diệu sơn sơn nguyệt

Cổ giác thanh huyên thụ thụ phong Nam phục phiên ly thiên lý tráng Bắc phương tỏa thược nhất phương hùng

(Lạng Sơn hình thế - Nguyễn Tông Khuê)

(Bóng cờ xí chói lọi núi non như có ánh trăng Tiếng trống ốc ầm rung cây cối tưởng chừng nổi gió Làm phên giậu cõi Nam, ngàn dặm mạnh

Là then khóa cửa Bắc một phương hùng) Qua dòng văn học này một lần nữa chúng ta thấy được cảm hứng yêu nước với các nhánh, mạch của nó chảy qua các giai đoạn văn học khác nhau trong những hình thái khác nhau nhưng đều thể hiện chung một tình cảm cao đẹp đã trở thành truyền thống của người Việt Nam đó là tình yêu đất nước

Ngay cả ở nửa sau thế kỷ XVIII, giai đoạn mà chủ nghĩa nhân đạo chiếm bình diện thứ nhất thì tinh thần yêu nước vẫn là một dòng chảy không ngừng Trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương ta đâu chỉ thấy hình ảnh người phụ nữ tài hoa, cá tính, khát khao sống, khát khao yêu, khát khao hạnh phúc

mà còn có cái tự hào về bản thân về dân tộc:

Trang 17

Nghé mắt trông ngang thấy bảng treo Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo

Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu

(Đề đền Sầm Nghi Đống)

Cái nghé mắt trông ngang ấy là cái nghé mắt của một người phụ nữ tự

chủ kiêu hãnh và cũng là cái nhìn coi thường tướng giặc của một người con tự

hào về dân tộc Tình yêu đất nước ở giai đoạn này được biểu hiện thông qua

những bài thơ tố cáo hiện thực xã hội, thể hiện sự cảm thương với những lầm

than của người dân Ta bắt gặp đâu đó trong những bài thơ chữ Hán của

Nguyễn Du, trong những vần thơ của Cao Bá Quát tình cảm yêu nước sâu

nặng thầm kín Từ đó có thể khẳng định một lần nữa tình yêu đất nước là một

cảm hứng vô tận với các nhà thơ ở mọi thời kỳ mọi hoàn cảnh

Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tinh thần yêu nước của con

người Việt Nam lại bật lên mạnh mẽ Không thể cầm gươm tham gia nghĩa

quân như các sĩ phu yêu nước khác, Nguyễn Đình Chiểu đã đánh giặc bằng

ngòi bút:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Nỗi lo lắng và niềm đau xót cho ách nước, nạn dân ngày càng trở nên

sâu sắc hơn Mỗi bữa thấy, mỗi ngày trông kẻ thù trước mắt lấn thêm một

bước, Đồ Chiểu đau đớn như bị cắt đi một phần máu thịt Cảm hứng bao trùm

bài Chạy giặc là sự sửng sốt, nỗi bàng hoàng, lo lắng cho vận nước nạn dân:

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây

Một bàn cờ thế phút sa tay…

Cho nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng không chỉ biểu hiện nơi

trận mạc sa trường Nó còn là lẽ sống, một hạnh phúc được sẵn sàng xả thân

Trang 18

cho Tổ quốc Tư thế của Đặng Dung là tư thế của một kẻ anh hùng, một chí trai thời loạn:

Vai khiêng trái đất mong phù chúa

Giáp gột sông trời khó vạch mây

Trong thơ, chúng ta nhận thấy dường như còn có những nỗi buồn sâu kín của con người trước sự đổi thay của đất nước, những cảnh trớ trêu trong

xã hội, nạn chiến tranh, cát cứ, xâm lựơc Đó là trường hợp Sông lấp (Tú

Xương), Hội Tây (Nguyễn Khuyến)…Nghe tiếng ếch vẳng bên tai mà Tú

Xương giật mình Cái giật mình của Tú Xương là cái giật mình chứa bao đau xót trước hiện thực phũ phàng Đó là cái giật mình của lòng yêu nước, của tinh thần dân tộc sâu kín được ấp ủ, nung nấu nhưng không có cách nào giải

tỏa được:

Sông kia rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

(Sông lấp)

Còn với Nguyễn Khuyến thì sao? Ông xót xa trước những trò lố lăng,

xúc phạm đến danh dự dân tộc do thực dân Pháp bày ra Bài Hội Tây đã thể hiện sâu sắc nỗi đau đó:

Khen ai khéo vẽ trò vui thế

Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu

Tình yêu nước thầm kín được Tam Nguyên Yên Đổ gửi gắm qua bài thơ Dẫu chỉ là vịnh cảnh thu mà sao lòng người thấy man mác một nỗi buồn:

Nhân hứng cũng vừa toàn cất bút Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào

Trang 19

Cái thẹn với ông Đào là cái thẹn của một con người không thể làm gì cho đất nước trong một hoàn cảnh mới Nguyễn Khuyến không thể trực tiếp đánh giặc như những chí sĩ theo phong trào Cần vương, cũng không thể dùng ngòi bút đánh giặc như Đồ Chiểu, không chịu ở lại làm quan, thoái lui ở ẩn Nguyễn Khuyến mang theo một tâm trạng nhiều day dứt trăn trở Sự trăn trở day dứt đó xuất phát từ tấm lòng yêu nước mà bất lực trước thời cuộc

Không chỉ có vậy, cảm hứng yêu nước trong thơ trung đại còn thể hiện

ở việc các nhà thơ ca ngợi cảnh đẹp của quê hương đất nước Trong thơ, thiên nhiên đất nứớc Việt Nam hiện lên thật đẹp đẽ, tráng lệ giàu đường nét, màu sắc Với thơ thời Trần, qua cảnh trí thiên nhiên các thi sĩ đã gửi vào đó tình yêu quê hương đất nước của mình Nguyễn Trung Ngạn khi đi sứ cũng đã viết nên những vần thơ xúc động về tình yêu quê hương đất nước với những phong vị riêng của một vùng đồng bằng Bắc Bộ:

Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm bông thơm cua béo ghê Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt Dẫu vui đất khách chẳng bằng về

Kể cả một chiếc lá đỏ thưa, một cánh cò chao liệng, một tiếng chuông vẳng trong mây trời, một tiếng sáo, thuyền câu ngoài bến đậu…Tất cả đều trở thành nguồn thi hứng cho các thi sĩ thời Trần:

Tiếng sáo thuyền câu ngoài bến đậu Trăng rơi đầy nước, móc đầy sông

Còn Nguyễn Trãi, cảnh đẹp thiên nhiên, khí trời lúc sang xuân thật huyền hồ đầy âm thanh, màu sắc Xuân về mang theo sự tươi tốt với những làn mưa Cỏ ở bến xanh như màu khói bao la bát ngát:

Trang 20

Cỏ xanh như khói bến xuân tươi Lại có mưa xuân nước vỗ trời

(Bến đò xuân đầu trại)

Cảm hứng yêu nước trong thơ trung đại Việt Nam đã thể hiện ở nhiều

khía cạnh phong phú và sâu sắc Đất nước, dân tộc là nỗi niềm khắc khoải

không nguôi trong tâm hồn con người Việt Nam nói chung và các thi sĩ nói

riêng Vậy nên, ở mỗi nhà thơ có cách khai thác, cảm nhận khác nhau song lại

là vẫn sự thống nhất và làm nên một cảm hứng yêu nước lớn Chính cảm

hứng ấy đã làm nên cái độc đáo riêng và giá trị của thơ Việt Nam thời trung

đại Yêu nước trong văn học trung đại gắn với trung quân với tư tưởng phong

kiến nên mang một màu sắc riêng khác biệt với tinh thần yêu nước trong văn

học dân gian Tình yêu đất nước gắn với các tư tưởng của Phật giáo, Đạo giáo

và đặc biệt là Nho giáo sau này Tuy nhiên tựu chung tình yêu nước được thể

hiện bằng niềm tự hào dân tộc, về lịch sử văn hiến lâu đời của đất nước, lồng

trong tình yêu thiên nhiên, ca ngợi những chiến công, những nhân vật lịch sử

vĩ đại Đó là ý chí quyết tâm chiến đấu với kẻ thù, lòng căm thù giặc sâu sắc,

là tư tưởng trung quân tấc đất ngọn rau ơn chúa (Nguyễn Đình Chiểu) Chủ

nghĩa yêu nước phát triển trong dòng văn học viết có những dạng khác nhau

tùy theo hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể Nhưng nó đã đi cùng quá trình

hình thành và phát triển của văn học trung đại với những khúc thăng trầm

riêng

Sang đầu thế kỷ XX, văn học hình thành và phát triển trong sự chi

phối của bối cảnh lịch sử xã hội nói chung (lịch sử dân tộc nằm trọn vẹn trong

chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp) và sự chi phối

của Tân thư nên văn học giai đoạn này không thuần nhất mà chia thành nhiều

xu hướng Trong đó có xu hướng văn học yêu nước và cách mạng (văn học

Trang 21

bất hợp pháp) Tiêu biểu cho xu hướng văn học này phải kể đến các sáng tác của Nguyễn Ái Quốc, Phan Bội Châu…

Cảm hứng về đất nước trong thơ ca đầu thế kỷ XX được biểu hiện rõ qua nội dung yêu nước của các tác giả trong xu hướng văn học này Đó là tấm lòng yêu nước nhiệt tình sôi nổi Yêu nước là yêu non sông gấm vóc, yêu dân tộc anh hùng, yêu truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, là niềm tự hào về các chiến thắng của tổ tiên Yêu nước là tinh thần chiến đấu hi sinh vì

Tổ quốc, là lòng căm thù giặc sâu sắc Cảm hứng về đất nước còn thể hiện qua những trăn trở, nghĩ suy cho vận mệnh của đất nước:

Nước ta mất bởi vì đâu Tôi xin kể hết mấy điều tệ nhân Một là vua sự dân chẳng biết Hai là quan chẳng thiết gì dân

Ba là dân chỉ biết dân Mặc quân với quốc, mặc thần với ai

Phan Bội Châu đã cụ thể hóa những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất nước, từ đó tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian bị giam cầm trong nhà lao của Tưởng Giới Thạch cũng không lúc nào nguôi nghĩ về quê hương, đất nước Người luôn trăn trở về tương lai, vận mệnh của dân tộc:

Một canh, hai canh, lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh

(Không ngủ được)

Trang 22

Cảm hứng về đất nước trong văn học đầu thế kỷ XX được hình thành

từ truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch

sử cụ thể, nó được biểu hiện trong văn học giai đoạn này với những đặc trưng riêng góp phần làm nên đặc trưng của cả một thời kỳ văn học

Cách mạng tháng Tám thành công, là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc,

mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử đất nước Cách mạng đã khơi nguồn và làm bừng dậy những cảm hứng thơ ca mới mẻ, mãnh liệt, làm thay đổi hẳn sắc diện và giọng điệu của nền thơ

Cảm hứng nổi bật và bao trùm trong thơ ca lúc này là niềm vui sướng,

tự hào dến mức say mê, nồng nhiệt trước cuộc tái sinh màu nhiệm (Hoài

Thanh) của đất nước và con người Việt Nam Sức sống dồi dào của đất nước được cảm nhận qua hình ảnh đồng quê bình dị:

Nước non sinh lực dồi dào Còn căng ngọn mạ dào dào mọc lên

(Đồng quê -Xuân Việt)

Thâm Tâm say sưa ngắm nhìn vẻ đẹp mới mẻ của cảnh vật rất thân thuộc ở làng quê được hồi sinh :

Nắng hồng trĩu xuống cây rơm Sáng nay mùa cốm dậy thơm đầy làng Lúa vươn thân hút ánh vàng

Nguồn tươi vồng nở thu sang mát lành

(Mùa thu mới)

Cảm hứng về đất nước là cảm hứng bao trùm và sâu rộng nhất trong thơ ca thời kháng chiến chống chống Pháp Cảm hứng ấy được biểu hiện cụ thể thành muôn nghìn trạng thái tình cảm trong thơ Đó là tình cảm thiết tha

và nỗi nhớ da diết về một quê hương Kinh Bắc trù phú, tươi đẹp đang bị giày

xéo dưới gót giày quân xâm lược (Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm), hay

Trang 23

một “Xứ Đoài mây trắng lắm” (Mắt người Sơn Tây – Quang Dũng), một mùa

thu Hà Nội với hương cốm mới và “Những phố dài xao xác heo may” trong thơ Nguyễn Đình Thi, mảnh đất miền Đông trong thơ Xuân Miễn, Đồng Tháp Mười trong thơ Nguyễn Bính…Đó là tình cảm gắn bó tiền tuyến với hậu phương, quân với dân như cá với nước đã được nói lên rất chân thực và cảm

động trong thơ Hoàng Trung Thông (Bao giờ trở lại), Hồng Nguyên (Nhớ),

trong một lời quê chân chất của Hồ Vy Nó cũng thấm sâu vào tình mẹ con

của những người mẹ nông dân với những đứa con Vệ quốc quân (Bầm ơi, Bà

bủ - Tố Hữu) và nỗi nhớ thương mong đợi của người vợ với người chồng đi

chiến đấu (Thăm lúa – Trần Hữu Thung) Đó là nghĩa tình gắn bó và lòng biết

ơn sâu nặng của người cán bộ kháng chiến với đồng bào Việt Bắc qua bao năm tháng cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi, là tình đoàn kết miền ngược với miền xuôi, là lòng kình yêu vô vàn của nhân dân, chiến sĩ với lãnh tụ của dân tộc mà gần gũi thân thiết bởi “Người là cha, là bác, là anh” Cảm hứng về đất nước còn thể hiện ở tinh thần tự hào dân tộc Kế tiếp truyền thống ấy từ trong lịch sử, ở thời đại cách mạng giải phóng cho quần chúng thì lòng tự hào dân tộc luôn gắn liền với ý thức làm chủ của nhân dân Đã không ít lần trong thơ kháng chiến vang lên những lời khẳng định đầy tự hào:

Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta

(Nguyễn Đình Thi)

- Của ta trời đất, đêm ngày

Núi kia, đồi nọ sông này của ta

- Mây của ta, trời thắm của ta

( Tố Hữu)

Một biểu hiện nữa không thể thiếu của cảm hứng về đất nước đó là cảm hứng phủ định các thế lực thù địch với đất nước Lòng căm thù giặc sâu

Trang 24

sắc, ý chí chiến đấu và tinh thần lạc quan tin tưởng vào ngày mai toàn thắng được thể hiện rõ trong văn học thời kỳ này

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng, từng bước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời nhân dân cả nước ta phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài giành thống nhất Tổ quốc Hoàn cảnh đó dã mở ra những đề tài và nguồn cảm hứng mới cho thơ: Cảm hứng về sự hồi sinh của đất nước gắn liền với cảm hứng về lao động xây dựng, với niềm vui và niềm tự hào của con người lao động làm chủ Bên cạnh đó, cảm hứng về đất nước trong thơ ca thời kỳ này còn được biểu hiện qua tình cảm của miền Bắc hướng về miền Nam ruột thịt và khát vọng thống nhất đất nước Cùng với cảm hứng về cuộc sống mới, về sự hồi sinh của đất nước, vể miền Nam và đấu tranh thống nhất, thơ cũng đã khai thác cảm hứng lịch sử, chủ yếu là về cuộc kháng chiến chống Pháp:

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thơ ca Việt Nam mang những diện mạo mới và những đặc trưng riêng, với những thành tựu đặc sắc Chủ nghĩa yêu nước là nguồn cảm hứng lớn bao trùm và thấm sâu trong mọi tác phẩm thơ ca Kế tục truyền thống yêu nước của nền thơ dân tộc, chủ nghĩa yêu nước trong thơ ca thời kháng chiến chống Mỹ được phát triển tới những chiều cao

và độ sâu mới, và được biểu hiện hết sức phong phú và đa dạng Đã bao nhiêu lần trong thơ thời kì này vang lên những tiếng gọi tổ quốc, khi thì hào hùng trang nghiêm, lúc lại thiết tha sâu lắng:

Ôi tổ quốc giang sơn hùng vĩ Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi

(Miền nam – Tố Hữu)

Trang 25

Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Không chỉ cảm nhận tổ quốc bằng tình cảm, thơ còn khám phá, phát hiện

về tổ quốc bằng nhận thức sâu sắc, bằng sức mạnh tư tưởng của thời đại Đất nước được nhìn nhận trong tính toàn vẹn và trong những chiều kích dài rộng của không gian và thời gian Đất nước là núi sông hùng vĩ, trời biển bao la:

Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang

Cà Mau cuối đất mỡ màng phù sa

(Lê Anh Xuân)

Đất nước còn hiện hữu trong những điều thân thuộc, gần gũi:

- Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

- Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

(Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm)

Ở thời kỳ này, thơ ca đặc biệt coi trọng sự phát hiện về đất nước trong thời gian lịch sử và bề sâu văn hóa Ý thức về lịch sử, chủ yếu là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đã mở rộng và làm sâu sắc hơn cho quan niệm

về đất nước, dân tộc Ta luôn bắt gặp trong thơ những từ ngữ và hình ảnh về thời gian lịch sử, về bốn nghìn năm đất nước: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” (Tố Hữu), “Ta sống cùng tổ quốc bốn nghìn năm, mà ta chưa hiểu hết” (Chế Lan Viên) Chưa bao giờ lịch sử đấu tranh của dân tộc lại được làm sống dậy với tất cả niềm tự hào và say sưa như trong thơ ca thời kỳ này

Đất nước dân tộc còn được nhìn nhận trong tương quan với nhân loại, với thời đại để khẳng định sứ mệnh của dân tộc Việt Nam Các nhà thơ đã tạo dựng những hình tượng thật lớn lao kỳ vĩ về tổ quốc trong không gian và thời

Trang 26

gian Tố Hữu đứng ở nơi giao điểm của vũ trụ thời đại và thời gian lịch sử, kéo gần mặt trời lại để trò chuyện:

Chế Lan Viên thì tự hào khẳng định tầm vóc của Tổ quốc:

Tên tổ quốc vang xa ngoài bờ cõi

Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng

Ta mọc dậy trước mắt nhìn nhân loại Hai chữ Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng

Tình yêu nước trong thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ còn được biểu hiện qua việc ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi vẻ đẹp của anh bộ đội cụ Hồ Những bài thơ viết về Bác với cảm xúc chân thực, xúc động thể hiện sự kính trọng biết ơn, mến thương của cả dân tộc dâng lên Người

Bác sống như trời đất của ta Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ Sữa để em thơ, lụa tặng già

(Bác ơi - Tố Hữu)

Đây có thể coi là một biểu hiện mới, một nội dung mới của tình yêu đất nước trong thơ ca cách mạng Viết về người lính với cảm hứng ngợi ca đã trở thành một chủ đề lớn của thơ ca kháng chiến:

Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Trang 27

Hay:

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)

Như đã nói ở trên, cảm hứng về đất nước là cảm hứng lớn bao trùm lên toàn bộ quá trình lịch sử phát triển của văn học Việt Nam Bởi thế, không phải chỉ trong thơ ca thời kháng chiến các tác giả mới tập trung phản ánh hình tượng đất nước Tiếp nối mạch nguồn truyền thống ấy, thơ Việt Nam sau

1975 vẫn là “dòng thơ cách mạng”, thơ viết về đất nước, về nhân dân

Mặc dù chiến tranh trôi qua chưa lâu nhưng nếu đặt nó trong tương quan với lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc dễ nhận thấy một thực tế: các nhà văn đã có một độ lùi cần thiết để nhìn về cuộc chiến bằng cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn Trước đây, hiện thực hiện lên trong tác phẩm thường là hiện thực “nhìn thấy” thì trong thơ sau 1975, chiến tranh chủ yếu hiện lên

trong ký ức Đó là thứ hiện thực tự cảm thấy Với một khoảng cách thẩm mỹ

như thế, chiến tranh không chỉ được nhìn từ mặt trước mà còn được nhìn từ phía sau với bao nỗi đau trĩu nặng, bao nhức nhối khó lành Chất giọng xót

xa, nỗi buồn được nói nhiều trong thơ Đáng chú ý là trong khoảng gần ba mươi năm qua xuất hiện hai đợt sóng trường ca Đợt thứ nhất xuất hiện vào những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 và đợt thứ hai xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XX Sự xuất hiện của các tập trường ca cho thấy nhu cầu tổng kết về chiến tranh và lịch sử trong thơ là một nhu cầu có thật Từ điểm nhìn hiện tại, các nhà thơ phóng chiếu cái nhìn sâu, xa về lịch sử đất nước - một lịch sử oai hùng nhưng cũng không ít đau thương và bất hạnh Ý thức nói nhiều hơn về bi kịch khiến cho các tập thơ này không rơi vào giọng điệu tụng

ca dễ dãi mà thể hiện chiều sâu ngẫm ngợi của nhà thơ về thế thái nhân tình

Trang 28

trong sự chuyển động không ngừng của lịch sử Bên cạnh những cây bút thành danh ở thể loại trường ca như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức

Mậu …là sự xuất hiện của Trần Anh Thái với Đổ bóng xuống mặt trời, Hoàng Trần Cương với Trầm tích… Sự vạm vỡ, tính trường sức của thể loại được

gắn kết với những trải nghiệm cá nhân và những suy tư mang tính khái quát cao đã khiến cho thơ ca giai đoạn này có được những khúc ca giàu tính nghệ thuật về số phận đất nước, nhân dân

Như vậy, cảm hứng về đất nước luôn là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt quá trình phát triển của thơ ca Việt Nam từ xưa tới nay Ở mỗi một giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội, các nhà thơ lại có những cách tìm tòi, thể hiện không giống nhau, làm nên nét riêng, độc đáo trong từng thời kỳ Nếu trong văn học dân gian tình yêu đất nước giản dị gắn bó với tình yêu làng xóm, quê hương, là sự hòa quyện trong tình yêu lứa đôi, gia đình và tình yêu lao động, trong văn học trung đại là tình yêu gắn với hệ tư tưởng phong kiến, tự hào về văn hiến lịch sử dân tộc, trung quân đi liền với ái quốc thì trong văn học hiện đại tình yêu nước gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa đất nước đi lên

xã hội chủ nghĩa Tình yêu đất nước trong mỗi thời kỳ có thể khác nhau ở những biểu hiện cụ thể song luôn là tình cảm cao đẹp và là nguồn cảm hứng

vô tận của các nhà thơ

1.2 Hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan

Chế Lan Viên là nhà thơ có vị trí riêng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Với một khối lượng đồ sộ tác phẩm trong hơn nửa thế kỉ cầm bút, lại sáng tác trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động lớn lao, từ trường hợp Chế Lan Viên, người đọc có thể thấy được một hành trình thơ ca không phải chỉ của riêng ông mà còn là của cả một thế hệ các nhà thơ Việt Nam, của cả một thời đại cam go trong lịch sử dân tộc Trước hay sau cách mạng tháng Tám, trong thời chiến hay thời bình ông đều cho ra đời những tác phẩm được coi là đỉnh

Trang 29

cao của thời đại, để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc Những tác phẩm

ấy đã có ảnh hưởng tích cực và rộng rãi trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại Con đường thơ của Chế Lan Viên "trải qua nhiều biến động, nhiều

bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ”, thậm chí

có một thời gian dài im lặng (1945-1958)

Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng

nghĩa "trường thơ loạn" Tập thơ Điêu tàn viết lúc ông mới 17 tuổi “ đột

ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị Nó dựng lên một thế giới đầy sọ dừa, xương máu, cùng yêu ma… Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật “ (Chế Lan Viên, Điêu tàn-Tác phẩm và

cháy lòng trước hiện thực cuộc sống đang lưu chuyển Có thể nói Điêu tàn

làm sửng sốt cả giới nghệ thuật, mang một màu sắc khác lạ giữa nền chung

Trang 30

của thơ Mới Tập thơ với khách thể mới lạ đã gửi gắm nỗi đau mất nước

của những người dân muốn thoát khỏi gông cùm nô lệ Trong Điêu tàn bạn

đọc bắt gặp nỗi bi quan buồn chán, sự tưởng nhớ về một quá vãng, một vương quốc đã xa, nhưng đâu đó cũng ẩn hiện những hình ảnh tươi sáng của một thiên nhiên đẹp đẽ, tràn đầy sức sống:

Pháo đã nổ đưa xuân về vang động Vườn đầy hoa ríu rít tiếng chim trong

Cỏ non biếc giãi mình chờ nắng rụng Bên lau già theo gió uốn lưng cong

(Xuân về)

Điêu tàn đã đưa tên tuổi của một chàng trai 17 tuổi đến giữa làng

thơ với nhiều cây đại thụ đi trước, tập thơ đã nhanh chóng khẳng định tên tuổi và hồn thơ đặc sắc riêng có của Chế Lan Viên Chọn một đối tượng miêu tả khác lạ, xây dựng một hệ thống hình ảnh độc đáo Chế Lan Viên đã

để lại dấu ấn của mình trong phong trào Thơ Mới

Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã "đến với cuộc sống nhân dân

và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng", và có những thay đổi rõ

rệt Từ một thi sĩ ẩn trong Đài thơ, Tháp nghĩ của riêng mình, ông đã trở

thành một thi sĩ-chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, góp sức mình vào việc đấu tranh giải phóng dân tộc Nhà thơ đã hòa mình vào cuộc sống kháng chiến, hòa mình vào cuộc đời các chiến sĩ để sáng tác phục vụ kháng chiến Đến ngày kháng chiến thắng lợi thì sự chuyển mình của ông cũng hoàn toàn thành công Thơ ông đã đem đến cho đời những mùa quả ngọt đầu tiên sau ngày hòa bình

Gắn bó với sự nghiệp cách mạng, Chế Lan Viên đã cho ra đời tập thơ

Gửi các anh Tập thơ gồm 16 bài là kết quả của chặng đường 10 năm đi

theo Cách mạng của nhà thơ Tập thơ đánh dấu một bước chuyển biến quan

Trang 31

trọng trong sự nghiệp thơ ca của ông giai đoạn này Người đọc không còn thấy cái tôi-nhân vật trữ tình số một đâu cả - mà là cái ta đang dần dần mở rộng từ cái ta việt Nam đến cái ta quốc tế, từ cái ta bạn bè đến cái ta đồng chí anh em Hình ảnh thơ gần gũi với đời thường, số chữ trong các câu thơ

tăng lên, cảm xúc thơ thiên về hướng ngoại (thay cho hướng nội trong Điêu

tàn) Có thể nói Gửi các anh chính là nhịp cầu nối thơ Chế Lan Viên trước

và sau cách mạng, làm tiền đề cho những tập thơ sau

Tiếp theo tập thơ Gửi các anh, nhà thơ cho ra mắt liên tiếp Ánh sáng

và phù sa (1960), và Hoa ngày thường - chim báo bão (1967)

Ánh sáng và phù sa (69 bài) là một minh chứng chứng tỏ Chế Lan

Viên có sự chín muồi về tư tưởng và phong cách, là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo của Chế Lan Viên Nó cho thấy sự cách tân quan trọng của Chế Lan Viên nói riêng và của cả nền thơ ca Việt Nam nói chung Có thể nói âm hưởng chủ đạo của Chế Lan Viên viết về đất nước trong giai đoạn này là âm hưởng trữ tình, ngợi ca Đất nước sau những ngày tăm tối đau thương giờ đây đã thực sự bừng sáng Miền Bắc được giải phóng sau chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cũng là lúc hồn thơ Chế Lan Viên bừng sáng Hình ảnh đất nước vì thế mang vẻ tươi sáng, trong trẻo, diễm lệ vô ngần:

Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ Con ngọc trai đêm hè đáy bể Uống thủy triều bỗng sáng hạt châu

[Chim lượn trăm vòng, 67]

Ánh sáng và phù sa có sự biến chuyển cả về cảm hứng sáng tạo và

giọng điệu Lúc này Chế Lan Viên đã tìm thấy suối nguồn cảm hứng của mình đó chính là nhân dân, là cuộc kháng chiến Tập thơ thể hiện sự thay đổi sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên, là quá trình day

Trang 32

dứt trăn trở tự đấu tranh quyết liệt để đẩy lùi bóng tối từ thuở Điêu tàn để tiến ra cánh đồng vui đầy ánh sáng và hương sắc Ánh sáng và phù sa vừa

có những bài thơ viết về cái chung vừa có những bài thơ viết về cái riêng khi nhà thơ phải đấu tranh với bệnh tật Nhưng nhìn chung đây là một tập thơ vui nó thể hiện ý chí đi về phía quần chúng một cách mạnh mẽ của nhà thơ Tập thơ không chỉ là thành quả của riêng Chế Lan Viên mà còn là thành tựu chung của nền thơ ca kháng chiến Tập thơ này cũng môt lần nữa khẳng định phong cách thơ giàu cảm xúc đậm chất trí tuệ và suy tưởng của hồn thơ Chế Lan Viên Từ đây có thể khẳng định đây là tập thơ có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp thơ văn của thi sĩ

Hoa ngày thường-chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc

(1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại (1975) đều thống nhất cảm hứng đã hình thành từ Ánh sáng và phù sa Hồn thơ Chế Lan Viên giai đoạn này thay đổi căn bản so với thời viết Điêu tàn (1937), là một cuộc hành trình đi

từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui Đây là những tập thơ viết

trong kháng chiến chống Mỹ Những tập thơ này mang dấu ấn thời đại, với niềm hăng say nhập cuộc, âm hưởng hào hùng Đây là giai đoạn đất nước với hai nhiệm vụ vừa đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội Chưa bao giờ chúng ta thấy tinh thần nhập cuộc nhà văn – chiến sĩ lại mãnh mẽ như trong giai đoạn này Văn học gắn bó máu thịt với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Chế Lan Viên cũng là một trong những tác giả nhanh nhạy, ông luôn có những phản ứng cụ thể cập nhật trước các luận điệu của kẻ thù Hình ảnh tổ quốc với niềm tự hào vô hạn là cảm hứng chủ đạo trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn này Đất nước trước đây là cảnh:

Cha ông xưa đừng đấm nát tay trước cửa cuộc đời Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa

Trang 33

Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời!

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)

Thì bây giờ Tổ quốc đã mang một diện mạo khác:

Ta yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ,

bát ngát câu Kiều, bờ tre mái rạ…

Mái đình cong cong như bàn tay em gái giữa đêm chèo Cánh cò Việt Nam trong câu hát xẩm xoan, cò lả

Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo

(Thời sự hè 72, bình luận)

Bao trùm lên những tập thơ ở thời kỳ chống Mỹ cứu nước của Chế Lan Viên là hình ảnh đất nước đang dần hồi sinh, là những bài phân tích các vấn đề chính trị xã hội đang diễn ra hàng ngày trên đất nước một cách sắc sảo trí tuệ Bên cạnh những vần thơ thể hiện cái dữ dội của cuộc chiến

đấu là những vần thơ thể hiện cái bình dị của cuộc sống hàng ngày, cánh

chim báo bão và hoa ngày thường luôn đi cùng với nhau tạo nên một nét

độc đáo cho thơ Chế Lan Viên Trong những vần thơ đánh Mỹ ngoài bộ mặt kẻ thù dữ tợn, ngoài mất mát đau thương, bom đạn không ngừng vẫn là hình ảnh thiên nhiên tổ quốc tươi đẹp

Những tập thơ viết trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ của Chế Lan Viên đã thể hiện sự chuyển biến sâu sắc của hồn thơ thi sĩ

Điêu tàn ngày nào Những tập thơ ấy còn phản ánh không khí thời đại cho

thấy sự biến chuyển của cả một nền văn học trong giai đoạn mới Mỗi bài thơ của Chế Lan Viên trong giai đoạn này giống như một bài ca khải hoàn,

là tiếng nói hào sảng, đầy tự hào về một dân tộc chịu nhiều đau thương nhưng anh dũng sáng ngời

Trang 34

Sau 1975, Chế Lan Viên cho ra đời 3 tập thơ là: Hái theo mùa, Hoa

trên đá, Ta gửi cho mình Đây là những tập thơ viết trong hoàn cảnh đất

nước hòa bình và cũng là một chặng đường mới trong sự nghiệp thơ văn của nhà thơ Cảm hứng sử thi anh hùng đã được chuyển sang cảm hứng thế

sự đời tư, từ những quan sát chiêm nghiệm về cái chung mang tính bao quát của cả dân tộc giờ thơ Chế Lan Viên hướng tới sự chiêm nghiệm về đời sống cá nhân về lao động nghệ thuật Ra đời sau 1975 nhưng có nhiều

bài thơ trong tập Hái theo mùa sáng tác trong kháng chiến chống Mỹ nên

phần nào vẫn phản ánh không khí của chiến trận Càng những tập thơ sau ta càng thấy chất thế sự đời tư đậm đặc hơn thay thế hẳn cảm hứng sử thi anh

hùng Đến tập Ta gửi cho mình có những bài thơ thể hiện sự trăn trở của

nhà thơ trước hiện thực cuộc sống mới, đã đi qua chiến tranh nhưng vẫn thiếu thốn, gian khổ và đau thương Những bài thơ ở giai đoạn này thể hiện

sự hòa quện của trữ tình đằm thắm và trí tuệ sắc sảo

Ta yêu thương những hịch, những Bình Ngô gọi lòng ra hỏa tuyến Nhưng không quên ngọn lau trắng bên đường Kiều thổi lại tự xa xưa

(Nghĩ thêm về Nguyễn)

Sau khi Chế Lan Viên qua đời, nhà văn Vũ Thị Thường – người bạn

đời của ông đã tập hợp, tuyển chọn và cho ra đời 3 tập Di Cảo thơ I, II, III Đây được coi như Niềm sửng sốt thứ ba (Trần Mạnh Hảo) mà Chế Lan

Viên mang đến cho văn học nước nhà Ba tập Di cảo với 569 bài thơ viết

về ba đề tài chính là: đề tài tình yêu, những chiêm nghiệm về nghề, về cái tâm của người cầm bút và đề tài thể hiện những chiêm nghiệm tự vấn về những vấn đề vĩnh cửu của cuộc sống Ba tập Di cảo được coi là những “lá thơm lúc về già” vừa thể hiện sức sáng tạo không ngừng của Chế Lan Viên vừa giúp bạn đọc hình dung, nhận diện được chính xác tinh thần mới trong thơ ông Không dừng lại ở đó nhà văn Vũ Thị Thường cho biết sẽ tiếp tục

biên soạn, tuyển chọn và cho ra đời Di cảo thơ tập IV Ba tập Di cảo đã

Trang 35

cho thấy những lao động nhọc nhằn và nghiêm túc của nhà thơ, trên nền chất trí tuệ đã trở thành phong cách riêng của mình, Chế Lan Viên có nhiều thể nghiệm tìm tòi để đưa đến bạn đọc những gì mới mẻ và sáng tạo Về mặt tư tưởng, Di cảo thể hiện sự gắn bó của nhà thơ với Đảng, cách mạng

và dân tộc Trong những năm tháng đầu đổi mới bên cạnh những khó khăn của chung xã hội, Chế Lan Viên bước vào những năm tháng cuối đời bệnh tật dày vò, người đọc vẫn nhận thấy một Chế Lan Viên nhất quán từ suy nghĩ đến hành động, sự trung thành với Tổ quốc với cách mạng Với nhiều nhận thức mới về con người về cuộc đời nhưng tình yêu và sự trung thành

đó vẫn không hề mất đi

Trong những tập thơ ra đời sau cách mạng, Chế Lan Viên đã có những cống hiến quan trọng và cũng đặt ra cho chúng ta nhiều điều phải suy nghĩ, nhất là phương pháp biểu hiện Trước cách mạng, thơ Chế Lan Viên quay vào phía chân trời của ông như một sự bí ẩn của hư vô, của siêu thực Cách mạng đã mở ra cho ông nhiều chân trời của người khác, thơ Chế Lan Viên bắt đầu thay đổi căn bản Ông vẫn giữ được phong cách của mình cộng với âm hưởng thời đại Thơ Chế Lan Viên có những mảng như quay hẳn vào bên trong nói về cuộc vật lộn khá là gian khổ để vượt lên và để thắng những khó khăn, đau khổ trong đời riêng, để thắng quan niệm ngày xưa còn rơi rớt, và có những mảng khách quan trực tiếp đến gần chính luận khi đi vào những vấn đề lớn của thời đại, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Mặc dù có nhiều thành tựu đáng kể, Chế Lan Viên vẫn là người không hề biết mệt mỏi trong tìm tòi và thử nghiệm

Tiểu kết: Như vậy ở chương 1 chúng tôi tập trung làm sáng tỏ hai

vấn đề Một là cảm hứng về đất nước là một nội dung mang tính truyền thống của thơ ca Việt Nam Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi không thể tập trung khảo sát toàn bộ mảng đề tài trong văn học dân gian cũng như hơn 10 thế kỷ văn học viết Nhưng chúng tôi đã cố gắng phác họa lại những nét tiểu biểu của cảm hứng đất nước trong thơ ca Việt Nam Từ đó

Trang 36

có thể nhận thấy tuy biểu hiện cụ thể có thể khác nhau song ở giai đoạn nào cảm hứng đất nước cũng là một nội dung quan trọng chiếm vị trí hàng đầu trong nền thơ ca dân tộc Với mỗi bước thăng trầm của lịch sử cách biểu hiện và các nội dung cụ thể lại có sự biến đổi cho phù hợp Nhưng truyền thống ấy luôn được kế thừa và phát huy bởi lớp lớp các nhà thơ Làm nên đặc điểm ấy, có lẽ cũng bởi lịch sử dân tộc là lịch sử đấu tranh kiên cường chống ngoại xâm, bối cảnh đó khiến con người hơn lúc nào hết bộc lộ sâu sắc tình yêu tổ quốc, dân tộc của mình Hoặc cũng có thể bởi con người Việt Nam sinh ra đã mang tình yêu truyền thống đó trong máu, trong mỗi nhịp tim của mình Thơ ca yêu nước không chỉ thể hiện vẻ đẹp về nội dung

tư tưởng mà còn có những tác phẩm kiệt tác điêu luyện về mặt nghệ thuật

có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của nền văn học nước nhà

Hai là chúng tôi tiến hành tóm tắt lại hành trình sáng tạo của nhà thơ

Chế Lan Viên từ tập thơ đầu tay Điêu tàn đến những tập thơ được xuất bản sau khi ông đã qua đời là Di cảo thơ Trên cơ sở tóm tắt hành trình sáng tạo

đó chúng ta có thể nhận thấy, Chế Lan Viên có một gia tài thơ đồ sộ, chất lượng Cũng có giai đoạn gần 10 năm ông mới cho ra đời một tập thơ nhưng nhìn chung sức sáng tạo của Chế Lan Viên là mạnh mẽ và không ngừng nghỉ Các tập thơ của ông thể hiện một hành trình đi từ cái tôi hướng nội quay lưng với thực tại đến cái tôi hướng ngoại tìm về với nhân dân với

tổ quốc, rồi cái tôi ấy lại hướng vào những chiêm nghiệm suy ngẫm ở chặng cuối đời của nhà thơ Các tập thơ sau cách mang thể hiện tinh thần nhập cuộc hăng say, sự tự vươn lên vượt thoát khỏi những hạn chế của bản thân, phản ánh cuộc kháng chiến của dân tộc nhanh nhạy kịp thời Chế Lan Viên bằng lao động nghệ thuật của mình đã có những đóng góp không nhỏ cho thơ ca kháng chiến, thơ ca cách mạng, để lại dấu ấn trong nền văn học dân tộc

Trang 37

CHƯƠNG 2 NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO THỂ HIỆN TÌNH YÊU

ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

Cảm hứng về đất nước quán xuyến toàn bộ sáng tác của Chế Lan Viên Trong tác phẩm của mình, ông luôn có những trăn trở nghĩ suy về đất nước và dân tộc để tìm đến một cách biểu hiện mới Trước cách mạng, cảm hứng về đất nước mới chỉ là tình cảm mơ hồ xót xa với một nước Chàm xa xôi Đến

Ánh sáng và phù sa đã là một đất nước gắn với một tình cảm thắm thiết Nhà

thơ đã đến gần với đất nước, nghe hơi thở đất nước ôm ấp mình Đất nước về sau đã có cái ân tình thắm thiết:

Đất quê hương mỗi ngày tôi qua suốt Đêm ngủ nghe thơ náo động tâm tình Chiếc thuyền gỗ uống nhiều gió nước Nghe đất trời thở bốn xung quanh…

(Chim lượn trăm vòng – Ánh sáng và phù sa)

Lòng yêu nước dần xa cái chủ quan riêng tư để đến với một tình cảm rộng lớn Thơ Chế Lan Viên đã “thoát khỏi phòng nhỏ bé” để “lượn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông” Phải chăng vì đã có những ngày lầm lạc, cánh thơ Chế Lan Viên không có một Tổ quốc để bay lượn, ngợi ca, chỉ biết bay lạc giữa trăng sao những đêm lạnh điêu tàn; và nhờ có Đảng, có dân nuôi dưỡng, chắp thêm cánh cho thơ ông bay cao trên bầu trời Tổ quốc Cảm hứng đất nước trong thơ Chế Lan Viên tồn tại từ những dòng thơ đầu tiên đến những vần thơ cuối cùng của ông Tình yêu đất nước cũng biến đổi theo năm tháng, theo hoàn cảnh xã hội và đặc biệt theo nhận thức của nhà thơ Có lúc

nó đau khổ trong tháp Chàm bi ai với những hồn ma bóng quỷ để rồi nó tìm

Trang 38

về với nhân dân tổ quốc giữa một cánh đồng vui Tình yêu nước khi sôi nổi tuôn trào lúc triết lý chiêm nghiệm, tình yêu ấy khi là lòng căm thù giặc khi là

sự yêu thương với từng ngọn cỏ cành cây trên mảnh đất quê hương… Biểu hiện của cảm hứng về đất nước trong thơ Chế Lan Viên phong phú, sâu sắc Tất cả góp phần làm nên một nội dung độc đáo trong thơ ông trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước của thơ ca dân tộc

2.1 Cảm hứng ca ngợi đất nước đau thương và anh hùng

Ngay từ những bài thơ trong tập thơ đầu tay Điêu tàn, nhà thơ đã thể

hiện tình cảm xót xa đau thương của mình với một đất nước Chàm đổ nát:

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới thời gian Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những tượng Chàm lở lói rỉ rêu than

Trước những biến thiên của đất nước đang bị thực dân phong kiến chà đạp, Chế Lan Viên nói lên nỗi lòng khắc khoải và phản ánh nỗi đau của thời đại mình đang sống Lẩn tránh nỗi thất vọng, bất lực trước thực tại đang lưu chuyển, nhà thơ đã mượn hình ảnh nước Chàm xưa để giãi bày tư tưởng, tình

cảm của mình đối với đất nước

Chế Lan Viên xót xa trước một dân tộc đang ngụp lặn trong sự mất tự

do Trong khi mùa xuân theo quy luật mang lại cho cuộc sống của con người những vui tươi non trẻ, mùa của tự do hạnh phúc thì mỗi khi mùa xuân về

Chế Lan Viên lại cảm thấy sợ:

Ta những muốn, vui cười ta những muốn Dẹp sầu tư ta hát đón xuân tươi

Nhưng than ôi! Xuân về trong nắng sớm

Mà lòng ta đông lạnh giá băng thôi

Trang 39

Thoát ly vào cõi tình, cõi mộng, cõi tiên hay cõi âm cũng nhằm phản ánh tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, tinh thần thời đại Thơ ông giai đoạn này chịu sự ảnh hưởng của trường phái tượng trưng, siêu thực Nhà thơ tìm đến một quá khứ do sự tưởng tượng chủ quan của mình để thấy được những vết

xước đang rớm máu trong lòng dân tộc và thời đại Đất nước trong Điêu tàn

chỉ có đau thương, u buồn

Nhà thơ băn khăn trăn trở về nước Chàm đã bị chìm vào dĩ vãng cũng chính là than vãn cho con người Việt Nam đang tồn tại trong khổ đau, cay đắng, cho vận mệnh dân tộc đang bên bờ vực thẳm Một lần nữa chúng ta thấy ông sợ mùa xuân đến mà luyến tiếc một mùa thu đã qua đi :

Ai đâu trở lại mùa thu trước

Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?

Với của hoa tươi muôn cánh rã

Về đây, đem chắn nẻo xuân sang

Cảm nhận được nỗi đau khi mùa xuân về trên một đất nước đang ngập chìm trong nô lệ lầm than, nỗi buồn ấy càng tăng lên gấp bội Tâm trạng Chế

Lan Viên thể hiện trong Điêu tàn không chỉ là nỗi buồn man mác, mà là nỗi

đau uất hận chua xót So với các nhà thơ cùng thời thì ông và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ cảm nhận sâu sắc nhất nỗi buồn đau dữ dội trước cảnh nước mất nhà tan của cuộc đời Nhìn một đám mây in hình dưới nước, Hàn Mặc Tử không ngăn được nỗi lòng mình, ông thốt lên :

Mây chết đuối ở dàng sông vắng lặng

Trôi thây về xa tận cõi vô biên

Còn Chế Lan Viên thì nghiền ngẫm trước hiện thực những nỗi đau như điên cuồng Theo PGS.TS Nguyễn Bá Thành “ Chế Lan Viên không hát mà hét, không mơ mà mê, không khóc mà gào” Bằng trí tưởng tượng “ngông

Trang 40

cuồng ” về hiện thực ông đã nói lên được nỗi khắc khoải đang chờ thời cơ để chào vụt qua thơ:

Họ Muốn lấy màn quên che lấp cả

Cả đau thương cả dĩ vãng xa xôi Hỡi muôn người, hãy xa dòng quên lãng

Để sầu, lo, buồn, giận đắm say lòng

Dù có thể nói rằng các nhà thơ lãng mạn đều trốn tránh hiện thực, nhưng thơ ở thời đại nào cũng ít nhiều phản ánh hiện thực, vì bản thân nhà thơ là một thực thể đang tồn tại giữa những mối quan hệ ràng buộc của đời sống Có thể những điều mắt thấy tai nghe không tiện cho việc phản ánh vào thơ, nhưng bằng cách này hay cách khác các nhà thơ vẫn phản ánh hiện thực theo cảm nhận cuộc sống của họ Bằng sự cảm nhận của riêng mình, Chế Lan

Viên đã làm nên nét độc đáo trong Điêu tàn khi thể hiện cảm hứng về đất

nước

Nếu như trước Cách mạng, Chế Lan Viên nhìn đất nước bằng con mắt

mơ mộng, nhớ thương thì sau này ông lại nhìn đất nước bằng con mắt tỉnh táo

mà rất thơ Trước đây, ông mới chỉ biết yêu đất nước thì giờ đây khi có ánh sáng của Đảng soi đường, nhà thơ đã suy nghĩ về đất nước một cách sâu sắc

Với tập thơ Gửi các anh, Chế Lan Viên đã bộc lộ tình cảm tha thiết

với đất nước Cuộc kháng chiến chống Pháp anh dũng của dân tộc đã dội vào thơ ông những âm hưởng khỏe khoắn, những hình ảnh đẹp Đất nước hiện lên qua nỗi nhớ về mế : “Những năm con đau mế thức một mùa dài” Nhà thơ thương những anh dân công “mặt veo sắc hồng”

Hình ảnh Tổ quốc được cảm nhận sâu sắc hơn cả bề rộng lẫn chiều sâu của lịch sử Chế Lan Viên khắc khoải nói lên nỗi đau của cha ông ta thuở trước:

Ngày đăng: 23/11/2016, 20:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh, (1997), Nửa thế kỷ thơ ca Việt Nam 1945-1995. Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tuấn Anh", (1997), "Nửa thế kỷ thơ ca Việt Nam 1945-1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh, (1984), Chế Lan Viên, nhà thơ Việt Nam hiện đại, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tuấn Anh", (1984), "Chế Lan Viên, nhà thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1984
3. Aistote, (1964), Nghệ thuật thơ ca. Nxb Văn hoá nghệ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aistote", (1964), "Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aistote
Nhà XB: Nxb Văn hoá nghệ thuật
Năm: 1964
4. Hoàng Minh Châu, (1989), Chế Lan Viên với nghề thơ, Báo văn nghệ số 42, 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Minh Châu", (1989), "Chế Lan Viên với nghề thơ
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Năm: 1989
5. Hoàng Diệp, (1969), Chế Lan Viên, thi sĩ tiền chiến, Nxb Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Diệp", (1969), "Chế Lan Viên, thi sĩ tiền chiến
Tác giả: Hoàng Diệp
Nhà XB: Nxb Khai Trí
Năm: 1969
6. Phan Cự Đệ, (1982), Phong trào thơ mới, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Cự Đệ", (1982), "Phong trào thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1982
7. Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức, (1971), Thơ ca Việt Nam.(hình thức và thể loại), Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức", (1971), "Thơ ca Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1971
8. Nguyễn Lâm Điền, (2001), Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Lâm Điền", (2001), "Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền
Năm: 2001
9. Hà Minh Đức, (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức", (1974), "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1974
10. Hồ Thế Hà, (1999), Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Luận án tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Thế Hà", (1999), "Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Hồ Thế Hà
Năm: 1999
11. Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), "(1992)," Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
12. Tế Hanh, Đọc Hoa trên đá và Ánh trăng. VN số 15- 12/4/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tế Hanh, Đọc Hoa trên đá và Ánh trăng
13. Đoàn Trọng Huy, (1994), Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức thơ Chế Lan Viên từ sau 1945, Luận án PTS Khoa học ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Trọng Huy, "(1994)," Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức thơ Chế Lan Viên từ sau 1945
Tác giả: Đoàn Trọng Huy
Năm: 1994
14. Nguyễn Quốc Khánh, (1999), Thi pháp thơ Chế Lan Viên, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quốc Khánh, "(1999"), Thi pháp thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Nguyễn Quốc Khánh
Năm: 1999
15. M.B. Khrapchenkô, (1978), Cá tính sáng tạo nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác phẩm mới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: M.B. Khrapchenkô", (1978), "Cá tính sáng tạo nhà văn và sự phát triển văn học
Tác giả: M.B. Khrapchenkô
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1978
16. Lê Đình Kỵ, Trí tuệ, tài năng, tâm hồn (Đọc Di cảo thơ của Chế Lan Viên), Tạp chí văn học số 9, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đình Kỵ, Trí tuệ, tài năng, tâm hồn
17. Mã Giang Lân, (2000), Tìm hiểu thơ, Nxb Văn hoá thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mã Giang Lân", (2000), "Tìm hiểu thơ, Nxb Văn hoá thông tin
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin"
Năm: 2000
18. Đỗ Diệu Linh, Di cảo thơ của Chế Lan Viên trong tiến trình đổi mới văn học Việt Nam, luận án tiến sĩ, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Diệu Linh, Di cảo thơ của Chế Lan Viên trong tiến trình đổi mới văn học Việt Nam
19. Nguyễn Văn Long, Chế Lan Viên, (1990), (Văn học Việt Nam 1945- 1975, t2), Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Long, Chế Lan Viên
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Chế Lan Viên
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1990
21. Phương Lựu, (1986, 1987, 1988), Lý luận văn học (tập 1,2,3.), Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Lựu", (1986, 1987, 1988), "Lý luận văn học (tập 1,2,3.)
Nhà XB: Nxb GD

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w