văn học dân tộc thiểu số aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaâsssssssssssssssssssssssssssssssssssssxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxcccccccccccccccccccc sssssssssss llllllllllllllllllllllllâ qqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqqq ccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccc
Trang 1CÂU HỎI THẢO LUẬN: NÊU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT NHẤT CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC MÔNG
Người H’mông ở Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc chủ yếu từ phương Bắc Các tài liệu khoa học, cũng như các truyền thuyết đều cho biết rằng người Mông là tộc người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100 năm về trước Theo các nhà dân tộc học Việt Nam thì phần lớn những người H’mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc đều di cư trực tiếp từ Qúy Châu, Quảng Tây và Vân Nam sang Riêng một số nhóm ở Thanh Hóa, Nghệ An di cư đến Việt Nam qua Lào Người
H’mông đến Việt Nam qua những con đường khác nhau và chia thành nhiều vùng địa bàn khác nhau Vùng thứ nhất có những hộ thuộc họ Lù, họ Giàng đến khu vực các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Từ đây họ bắt đầu tiếp tục di cư vào sâu hơn các tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam Vùng thứ hai có những hộ thuộc hộ Vàng, họ Lý cũng vào khu vực Đông Văn Còn một nhóm số người ít hơn, thuộc vào họ Vàng, Lù, Chấu, Sùng, Hoàng, Vừ vào khu vực Si Ma Cai, Bắc Hà ( Lào Cai) Sau đó khoảng 30
hộ gồm các họ Vừ, Sùng chuyển sang phía Tây Bắc Việt Nam và người Hmông tiếp tục
di cư đến các huyện của các tỉnh thuộc Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam Người Hmông
Trang 2đã từng có một quốc gia riêng Tuy nhiên, họ là một dân tộc có ý thức tự cường mạnh
mẽ, không bao giờ chịu khất phục trước sức mạnh của các thế lực tàn bạo nên họ đã không ngừng nổi dậy đấu tranh chống sự áp bức, đô hộ của người Hán, người Mãn Cáccuộc đấu tranh khốc liệt đẫm máu và nước mắt nên họ thiên di đến Việt Nam chủ yếu là
do trốn chạy khỏi sự truy sát và hủy diệt
1.1.1.Địa bàn cư trú và kinh tế
a. Địa bàn cư trú
Dân số và địa bàn cư trú: Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 người H’Mông ở Việt Nam có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Dân tộc H’mông thường cư trú ở độ cao từ 800 đến 1500m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt-Trung và Việt - Lào, từ Lạng Sơn đến Nghệ An Họ cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thanh Hóa
Căn cứ vào địa phương người Mông còn được chia thành Hmông Đỏ hoặc Hmông Đâu (H mông Trắng), Hmông Đu (H’mông Đen), Hmông Si (Hmông Đỏ), Hmông Dua (Hmông Xanh), Hmông Lềnh (Hmông Hoa),Hmông Súa (Hmông Lai), Ná Mẻo
(Hmông Nước) Như vậy, dân số và địa bàn cư trú của dân tộc Mông cũng rất phong phú và đa dạng
b. Kinh tế
Do chịu ảnh hưởng của điều kiện địa hình nên người Hmông sống hòa đồng với thiên nhiên bỏi vậy nên kinh tế nương rẫy là mộ hoạt đọng sản xuất gắn liền với tập quán du canh du cư là nét đặc trưng của người Hmông Nó làm cho mỗi gia đình người Hmông trở thành một đơn vị kinh tế độc lập Họ trực tiếp làm ra mọi thứ thiết yếu để phục vụ cuộc sống Dân tộc Hmông nổi tiếng với các nghề thủ công như: đan lát, xe
Trang 3lanh dệt vải, in hoa văn bằng sáp ong, đúc, rèn… Các sản phẩm thủ công của người Hmông vừa có tính kỹ thuật cao, vừa độc đáo và rất đặc sắc bởi tính nhân văn và bản sắc văn hóa đậm đà của dân tộc Hmông Kinh tế của người Hmông hoàn toàn không có tính cộng đồng càng không phải là nền tảng cho sự cố kết và thống nhất Đó là một trở ngại lớn nhất cho sự phát triển kinh tế của dân tộc này trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đang trong công cuộc hội nhập ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc.
1.2. Văn hóa vật chất
1.2.1.Nhà ở - kiến trúc độc đáo
Môi trường sống trên các triền núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt thì ngôi nhà trình tường bằng đất, lợp ngói hay tranh của người HMông có ưu điểm mát mẻ về mùa hè, giữ ấm về mùa đông, chống thú dữ…Người Hmông thường ở nhà đất trình tường lợp gói hay nhà gỗ lợp mái tranh phiên vách Cấu trúc chung của ngôi nhà Hmông truyền thống gồm 3 gian, gian giữa có cửa chính nhìn về phía trước nhà Đây là gian tiếp
khách, vách sau của gian giữa là chỗ thiêng Ở gian bên cạnh có buồng ngủ và bếp Đầuhồi nhà có một của phụ nhưng đó mới chính là lối ra vào Hằng ngày, người trong gia đình chủ yếu đi lại bằng cửa này Trong gia đình người HMông, phòng ngủ của vợ chồng con cái được bố trí riêng Người HMông ngủ bằng phản hoặc giát bằng tre mai đập giập Người HMông rất khắt khe, nơi ngủ của con dâu, em dâu thì bố chồng và anh chồng không được vào và ngược lại, con dâu, em dâu không được vào chỗ ngủ của bố chồng, anh chồng
Phong tục người HMông không cho con gái, đàn bà được ngủ trên gác Khi đàn ông trong nhà đi vắng thì con dâu không được phép lên gác Nhà của người HMông không bao giờ làm dính sát vào nhau, cho dù là anh em ruột thịt Khi chọn đất làm nhà, người Mông lấy 3 hạt gạo hoặc ngô đặt xuống khu đất đã chọn rồi đặt bát hoặc chậu gỗ lên trên, sau đó thắp 3 nén hương khấn thần đất, đốt 3 tờ giấy bản xin thổ công thổ địa cho gia chủ làm nhà Sáng hôm sau hoặc sau 3 tháng, chủ nhà quay lại xem số hạt ngô đặt dưới đất, nếu thấy vẫn còn nguyên thì coi như đất ở nơi đó tốt, làm nhà được Nếu
Trang 4những hạt gạo hay ngô đó đã bị sâu hay kiến ăn thì coi như đất ở đó dữ, không làm nhà được Nhà người HMông thường được xếp đá xung quanh làm hàng rào che chắn hàng rào đá xếp xung quanh một nhà hoặc hai, ba nhà có quan hệ anh em nội tộc với nhau, làm thành một khu riêng biệt.Người HMông cũng làm nhà dựa lưng vào núi, kiêng làm nhà quay lưng ra khe, vực sâu Bản của người Mông có từ vài ba nóc nhà trở lên, có bảnchỉ có một dòng họ, nhưng không nhiều, còn lại đa số là một bản có nhiều dòng họ sốngcùng nhau.
1.2.2.Trang phục – rực rỡ sắc màu văn hóa
Trang phục hiện diện trong đời sống hằng ngày của người Hmông Trang phục vừa
là của cải vặt chất vừa có ý nghĩa vượt qua giá trị của vật chất thông thường để thể hiện những giá trị văn hóa, xã hội của người Hmông từ trong lịch sử Quần áo của người Mông chủ yếu may bằng vải tự dệt, đậm đà tính cách tộc người trong tạo hình và trang trí với kỹ thuật đa dạng Chỉ với 4 màu chủ đạo xanh, đỏ, trắng, vàng của chỉ tơ tằm mà họa tiết của trang phục đã tỏa ra muôn sắc màu, tạo cảm giác trầm ấm Trang phục của phụ nữ Mông có họa tiết hoa văn đẹp từ khăn đội đầu đến xà cạp quấn chân Phụ nữ Mông trắng trang phục có họa tiết tập trung ở cổ áo, nẹp áo, thắt lưng, bồ giáo phía trước Phụ nữ H’Mông Hoa trang trí họa tiết ở trang phục phong phú hơn, ở cả khăn đội đầu, cổ áo, nẹp áo, thắt lưng, bồ giáo, thân váy, xà cạp… kỹ thuật thêu hoa văn của người H’Mông rất phức tạp và vì thế, nó thể hiện sự tinh tế của người phụ nữ H’Mông Trang phục nam:Nam thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp, ống tay hơi rộng Áo nam có hai loại: năm thân và bốn thân Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc trong khu vực Đầu thường chít khăn, có nhóm đội mũ xung quanh có đính những hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ,
có khi không mang Như vậy, cách bố cục và họa tiết trên trang phục của người Mông còn thể hiện sức sống, bản lĩnh của người Mông trước thiên nhiên…
Trang 51.2.3.Ẩm thực
Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng Người Mông nơi đây cho rằng:" uống rượu Bản Phố vào buổi sáng sẽ có thêm sức mạnh, tựa như có một vị thần dũng mãnh hỗ trợ làm việc đồng áng suốt ngày khôngcảm thấy mệt mỏi Nếu uống vào buổi tối, cùng với bằng hữu, rượu như có sợi dây vô hình ràng buộc tình yêu thương khăng khít, trong lòng mọi người trào dâng lời hay, ý đẹp, nói lên được những điều mới mẻ, ý nghĩa thấm sâu và hào hứng mà những lúc kháckhông có rượu chưa nói được”
1.3. Văn hóa tinh thần
1.3.2.Đời sống tâm linh
Người Hmông quan niệm “vạn vật hữu linh” Tất cả sự vật hiện tượng trong đời trong đời sống đều có linh hồn Họ rất coi trọng việc chọ gỗ làm nhà và họ luôn quan niệm rằng có sự tồn tại của thần cây và thần rừng Hệ thống thần bản mệnh trong quan niệm của người Hmông rất phong phú và đa dạng Đời sống tâm linh đã góp phần hình thành nên những đặc trưng tâm lí và tính cách, bản lĩnh của dân tộc Hmông Đời sống văn học của người Mông được thể hiện tiêu biểu qua tết lễ, cưới hỏi và ma chay để thấy
Trang 6được nét khu biệt đặc sắc về đời sống tâm linh của dân tộc Hmông với các dân tộc khác.1.4 Đời sống văn học
Tiếng Hmông là tiếng nói của khoảng 80 vạn người Hmông ở nước ta Tiếng Hmông thuộc họ Nam Á, ngữ hệ Mèo – Dao Người Hmông có 5 ngành là 5 phương ngữ Về cơ bản, tiếng Hmông là một ngôn ngữ thống nhất Hiện nay, chữ viết của ngườiHmông trên thế giới đã thống nhất cùng 1 loại Người Hmông trên khắp thế giới cùng thống nhất được một tiếng nói, đó là tiếng Hmông Đơư (Hmông Trắng) Bởi người Hmông ở các nước có nền văn hóa phát triển như Thái Lan, Mỹ, Pháp, Úc, Lào …đều chủ yếu là người Hmông trắng
Người H’mông có đời sống văn nghệ khá phong phú, đặc biệt là văn học truyền miệng có rất nhiều thể loại, như Truyện thần thoại về anh hùng văn hóa tìm ra loại giống và dạy người H’mông cách trồng ngô, lúa, trồng lanh làm vải mặc … Truyện cổ tích về các con vật chiếm khá nhiều, đặc biệt là truyện về hổ…Người H’mông say đắm dân ca dân tộc mình, đó là Tiếng hát tình yêu (gầu plềnh), Tiếng hát cưới xin (gầu xuống)… mà họ thường hát khi lao động nương rẫy, trong lúc se sợi dệt vải, trong khi đichợ, đi hội Trong những dịp lễ hội, đặc biệt là hội Gầu tào (đón năm mới), những bài hát dân ca này không chỉ thể hiện bằng lời mà còn có thể giãi bày thông qua những nhạc
cụ dân tộc (sáo, khèn, kèn lá, đàn môi…) Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình Sau một ngày lao động mệt mỏi, thanh niên dùng khèn, đàn môi gửi gắm và thể hiện tiếng lòng mình với bạn tình, ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống, của quê hương, đất nước
Bên cạnh đó thi ca hiện đại cũng đang rất phát triển và từng bước khẳng định mìnhtrong nền văn học, thi ca các dân tộc thiểu số Thơ ca hiện đại dân tộc H’mông xuất hiện vào khoảng những năm 60 của thế kỉ XX, nó được phổ biến chủ yếu ở các khu tự trị Đông Bắc, Tây Bắc và các tỉnh Hà Giang, Lào Cai là những khu có đông người H’mông sinh sống
Người Hmông có một kho tàng thơ ca phong phú được hình thành và không ngừngphát triển trong suốt chiều dài lịch sử Thơ ca Hmông là sự phản ánh trung thực dời
Trang 7sống và tâm hồn dân tộc Hmông từ quá khứ đến hiện tại với những nét đặc trưng, giàu bản sắc.
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN TỘC MÔNG2.1 Khái quát về văn xuôi
2.2 Khái quát về thơ ca
2.2.1 Thơ ca dân gian
Thơ ca dân gian Cùng với chiều dài lịch sử, dân tộc Mông sớm có một nền văn học dân gian phong phú, đa dạng phản ánh đời sống văn hoá cũng như tâm tư nguyện vộng của cộng đồng Các thể loại văn học dân gian của dân tộc Mông cũng giống như các dân tộc khác như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích và đặc biệt là thơ ca dân gian vớihai mảng chính là truyện thơ và dân ca
Truyện thơ của người Mông không chỉ chứa đựng những phong tục tập quán, những cách cảm nhận về đời sống rất đặc trưng của người Mông, mà còn thể hiện
những khát vọng mãnh liệt về tình yêu và hạnh phúc Nó còn là một quá trình tự sự hoá dân ca trữ tình Mỗi truyện thơ là một tác phẩm hoàn chỉnh cả về cốt truyện lẫn hệ thốngnhân vật Có thể tìm thấy trong truyện thơ quá trình phát triển của xã hội người Mông; những truyền thống văn hoá và đạo lí, những phong tục tập quán qua nhiều thế kỷ đã tạonên bản sắc riêng của cả một cộng đồng Tiêu biểu như các truyện thơ “A Thào Nù Câu”, “Nàng Dợ Chà Tăng”, “Dìa Pàng - Dùa phông”, “Nàng Phan- Nồng Dí”
Dân ca là một thể loại rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt tinh thần của người Mông Đó là những bài hát mang nội dung trữ tình, biểu lộ tình cảm, tâm tư, nguyện
Trang 8vọng của đồng bào trong cuộc sống thường ngày Ẩn chứa trong đó bao niềm vui, nỗi buồn các sắc thái, cung bậc tình cảm khác nhau Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu, dân ca Mông có thể được phân chia nội dung thành 5 mảng đề tài chính bao gồm: Tiếnghát tình yêu (gầu plềnh), tiếng hát cưới xin (gầu xống), tiếng hát làm dâu (gầu ua
nhéng), tiếng hát mồ côi (gầu tú giua) và tiếng hát cúng ma (gầu tuờ) Người dân tộc Mông họ yêu bằng bản năng nên cuộc sống như nằm trong dân ca Bởi vậy, nên dân ca trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của người Mông trong cuộc sống hàng ngày
Tục ngữ của người Mông phản ánh những tri thức và kinh nghiệm sống của dân tộc trong lịch sử Trong đời sống và tư duy, tục ngữ thể hiện những kinh nghiệm sản xuất, cách thức ứng xử, các mối quan hệ xã hội Đặc điểm nghệ thuật của tục ngữ nói chung và tục ngữ Mông nói riêng là ngắn gọn, xúc tích, tuy chứa đựng những nội dung tương đối lớn, nhưng hình thức mỗi câu lại rất nhỏ Tuy nhiên, tục ngữ có tính bền vững, ổn định, là những câu nói ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc, ít dị bản, là lời ăn tiếng nói của nhân dân Tục ngữ Mông rất phong phú về ý nghĩa, cái cụ thể thường gắn liền với cái khái quá và ngược lại Có những câu tục ngữ mang ý nghĩa biểu tượng, ẩn dụ: “Bò
có đường bò cày/ Ngựa có đường ngựa đi”, câu văn ngắn gọn mà phản ánh được nhiều
ý muốn diễn đạt, có nghệ thuật, như một chân lý “Gừng già gừng càng cay/ Người già hiểu điều hay” Tục ngữ Mông mặc dù ngắn gọn nhưng không khô khan vẫn là những hình ảnh đẹp được ví von sinh động “Tiền bạc trên đá/ Không làm khó nhọc thì không
có tiền” Nhìn chung, “Tục ngữ có bao nhiêu hiện tượng phong phú…Và tất cả bao nhiêu thứ đó được chồng lên một diện tích ngôn ngữ nhỏ hẹp” (L Ôzêrốp)
Ngoài ra, trong mảng thơ ca dân gian thì người Mông cũng rất ưa sử dụng câu đố
Nó vừa là một phương thức giải trí lại vừa là phương tiện để nhận thức thế giới Đồng bào Mông thể hiện những hiểu biết của mình về giới tự nhiên thông qua các câu đố Câu
đố Mông có vần điệu nhịp nhàng, cân xứng, với cách kết cấu ngắn gọn, cách gieo vần,
Trang 9nó còn uyển chuyển với cách sử dụng vần điệu như tục ngữ: “Không phải đồng, không phải sắt/ Chặt không đứt, ăn không được” (Nước), “Năm anh em địu năm viên ngói” (Năm ngón tay) Câu đố Mông không chỉ giàu âm thanh mà còn giàu hình tượng Có khi, hình tượng được gợi lên bằng cách miêu tả trực tiếp đặc điểm của sự vật: “Không
có cành/Lại có lá/Đầu hoa nhọn, thân quả nhẵn” (Cây chuối) Như vậy, câu đố có khả năng làm cho cuộc sống của người Mông thêm sinh động, đồng thời nâng cao kiến thức
và rèn luyện kỹ năng quan sát, óc thông minh rất cần thiết cho cuộc sống
Thơ ca dân gian Mông tồn tại dưới dạng các làn điệu dân ca, tục ngữ, câu đố phongphú cả về nội dung lẫn hình thức, những hình thức dân gian ấy thể hiện quan niệm nhân sinh, về thiên nhiên, con người và các mối quan hệ tình cảm như: tình yêu, hôn nhân, quan hệ gia đình, xã hội, lối sống và phương thức ứng xử, những kinh nghiệm trong lao động sản xuất
2.2.2 Thơ ca hiện đại
Thơ ca hiện đại dân tộc Mông được xuất hiện dưới hình thức các tập thơ in riêng của các tác giả người Mông thì phải đợi đến những năm 90 của thế kỷ XX với các tập thơ: “Người Mông nhớ Bác Hồ” (1993); “Chỉ vì quá yêu” (1998) của Hùng Đình Quí Nhà thơ Mã A Lềnh với các tập “Bên suối Nậm Mơ” (1995), “Mã A Lềnh thơ” (2002); rồi đến các tác giả trẻ hơn như Hờ A Di và thế hệ sau này có sáng tác đôi chút thơ văn như Mã Anh Lâm, Mã Én Hằng, Hùng Thị Hiền xuất hiện trên các báo, tạp chí của các Hội Văn học Nghệ thuật Trung ương và địa phương Thơ ca Mông cũng đã xuất hiện vàphát triển, tạo nên một mảng màu riêng biệt, đậm đà bản sắc dân tộc Mông, trong bức tranh nhiều màu sắc rực rỡ của thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Các tác giả dân tộc Mông có hai gương mặt nhà thơ tiêu biểu cho dân tộc mình là Mã A Lềnh (Lào Cai) và Hùng Đình Quí (Hà Giang) Bên cạnh đó còn có các nhà thơ người Mông khác là hội viên các hội văn học nghệ thuật các tỉnh và các địa phương
Trang 10Cuộc sống hiện đại, sự giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc ngày càng phát triển làm cho các dân tộc thiểu số ngày càng tiếp cận và hội nhập với cuộc sống văn minh Thơ ca Mông hiện đại, trước hết, phản ánh những nét đặc trưng về cuộc sống, thiên nhiên, con người của cộng đồng Mông Thiên nhiên ở đây thật hùng vĩ, tươi đẹp nhưng cũng rất đỗi khắc nghiệt; con người hết sức trung thực, mộc mạc, nhưng cũng rất mạnh mẽ và phóng túng; cuộc sống ở đây đầy khó khăn, gian khổ cộng với những hủ tục lạc hậu - nhưng cũng rất phong phú, đáng yêu và giàu bản sắc Thơ ca hiện đại dân tộc Mông mang những đặc trưng riêng về nghệ thuật Nhiều bài thơ mang hình thức và
âm điệu của dân ca với kết cấu đối ngẫu và lối so sánh ví von trùng điệp Thơ Mông hiện đại dường như có sự phân chia thành những xu hướng rõ rệt; Xu hướng trung thànhvới hình thức và ngôn ngữ thơ mang tính truyền thống; đại diện cho xu hướng này là các tác giả: Hùng đình Quí, Mùa A Sấu, Giàng A Páo…; lối thiên về cách tân và những khám phá thể nghiệm như các tác giả: Mã A Lềnh, Giàng Xuân Hồ và đặc biệt là các tácgiả trẻ như Mã Anh Lâm, Mã Én Hằng… Những năm đầu của thế kỷ XXI, một lớp trí thức trẻ người Mông đã làm thơ, viết văn bằng tiếng phổ thông, bình đẳng chan hoà với các dân tộc anh em khác Thơ của họ mang sức sống và hơi thở của cuộc sống hiện đại
Cả cách nghĩ, cách cảm, cách biểu hiện cũng đã có sự khác biệt rạch ròi vói thơ ca truyền thống: “Mùa đông về trên vòm lá/ Rụng dần những mắt thời gian/ Mùa đông chạy trên sườn núi/ Ngập ngừng cây cỏ xám dần” (Mã Anh Lâm)
Từ sau năm 1975, thơ hiện đại dân tộc Mông có sự chuyển hướng về nội dung đề tài, từ những vấn đề chung, lớn lao của dân tộc sang chiều hướng suy tư, chiêm nghiệm của mỗi cá nhân về cuộc đời Thơ dân tộc Mông đi vào chiều sâu của trí tuệ bằng nhữngsuy nghĩ cảm nhận mang dấu ấn cá nhân rõ rệt: “Đêm thức cùng cha/ Sao khuya nhỏ giọt bên thềm/ Lặng thầm/ Cha miệt mài trang sách/ Trang sách nối dài rộng bao la…” (Mã Ngân Hà)
Trang 11Như vậy, Thơ ca hiện đại Mông đã đóng góp cho thơ ca các dân tộc thiểu số nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung một số thành tựu không thể phủ nhận Nó như một tấm hoa văn thổ cẩm của thơ ca các dân tộc thiểu số hay một tiếng khèn Mông trầm bổng đầy quyến rũ trong bản hoà tấu của thơ ca hiện đại Việt Nam Chính vì vậy mà những sáng tác của các nhà thơ Mông đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng quan trọng của Hội nhà văn và các Hội Văn học nghệ thuật từ Trung ương Mặc dù thơ hiện đại Mông vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định: Với một đội ngũ sáng tác còn mỏng
và không đồng đều; với những hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ thơ bằng tiếng phổ thông của một số tác giả; với vốn sống, vốn văn hoá và năng lực bản thân của người cầm bút, chưa thể phản ánh, biểu hiện được đầy đủ về bức tranh thiên nhiên, cuộc sống
và con người của dân tộc Mông; những phong tục tập quán, đời sống tinh thần, sinh hoạt phong phú và giàu bản sắc chưa được chuyển tải vào thơ nhưng chúng ta không thểphủ nhận sự góp mặt của thơ ca hiện đại Mông trong đời sống văn học đương đại nói chung và nền thơ Việt Nam hiện đại nói riêng
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA THƠ CA MÔNG QUA NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
3.1 Nội dung và nghệ thuật
3.1.1 Nội dung
a Tư tưởng chủ đề, đề tài
Cùng với chiều dài của lịch sử, dân tộc Mông đã sơm cómọt nền văn học phong phú, đa dạng phản ánh đời sống văn hóa cũng như tâm tư, tình cảm, nguyên vọng của cộng đồng Thơ ca dân tộc Mông không chỉ phản ánh những phong tục tập quán, những cách cảm nhận về đời sống của con người mà nó còn thể hiện khát vọng mãnh liệt về
Trang 12tình yêu, hạnh phúc Thơ ca Mông như những chiếc váy của các cô gái Mông đậm màu sắc của dân tộc mình, nó còn khoe những nét đẹp thơ ca qua chủ đề và đề tài
Đề tài trong thơ ca văn học dân tộc Mông trước hết phản ánh những nét đặc trưng
về cuộc sống, thiên nhiên, con người, tình yêu, sự ca ngợi và lòng biết ơn của cộng đồngMông Trước hết hình ảnh thiên nhiên ở trong thơ ca thật hùng vĩ, tươi đẹp nhưng cũng thật khắc nghiệt Nơi thiên nhiên chót vót trên những đỉnh núi , quanh năm mây mù bao phủ, khí hậu khắc nhiệt như một thách thức cho sức sống sinh tồn của con người Hình ảnh người đàn ông dân tộc Mông với “mái đầu trơ một mỏm đá hoang” gợi lên hình ảnh
so sánh liên tuởng rất thú vị độc đáo về sự từng trải hết sức chai sạn, vượt lên sương giócuộc đời, khắc phục thiên nhiên hung dữ, thiên nhiên cũng như một con người sống động với tính cách con người:
“ hoa rừng hoa núi đua nhau nở”, núi tuy “cằn cỗi” nhưng lại là nơi trú ngụ của cây vàng, măng bạc “ Triền núi cao sinh ra cây vàng / Lòng núi cao sinh ra măng bạc” Thiên nhiên còn thơ mộng như “ Bầy ong tung tăng đi hút nhụy hoa gianh”; nó ấm áp,
no đủ qua những cánh ruộng bậc thang chênh vênh sườn núi mà vẫn cho con người
Trang 13những bông lúa thơm, thiên nhiên mang vẻ đẹp kiều diễm “ mặt trời nâng hoa mây / Bồng bềnh sáng núi đá” Thiên nhiên núi rừng của người Mông thật tuyệt diệu nó không
hề vô tình mà đó là một vật thể hữu tình Có dữ dội, có đẹp dịu dàng và cũng có cả sự
ấm áp,nó còn là nơi để người Mông có thể tự hào, mặc dù sông ở một nơi địa hình cao, hiểm trở và khó nhọc nhưng con người vẫn yêu thiên nhiên, sống “đoàn kết” với thiên nhiên như những người bạn thân thiết
Đề tài về con người Mông sống giữa một nơi thiên nhiên hùng vĩ và hoang sơ, conngười Mông đầy cá tính và bản lĩnh, họ mang những nét đẹp riêng cả về hình thức, tâm hồn và tính cách mà khó có dân tộc nào lại có bản sắc riêng đến vậy Ở đó những con người sống như những người nghệ sĩ tài hoa của núi rừng vừa mạnh mẽ, phóng túng nhưng lại vừa mộc mạc, chân thành Họ là những con người sống hồn nhiên, ngây thơ, sống hết mình, đam mê mãnh liệt, họ quây quần bên nhau quanh những chén rượu ngô ngây ngất men đất, men rừng “hồn nhiên như chim khướu chim ri” (Mã A Lềnh) hay bản tính hiền lành đến ngây thơ “ sống hiền hậu như con gà”, “sống hiền lành như con chim núi” ( Hùng Đình Quý), họ vô tư giữa cao nguyên đá, những mái nhà làng xóm chụ vào nhau Trang phục tiêu biểu cho tính cách con người Mông chính là những chiếcváy mông xòe đủ sắc “những chiếc váy hoa phơi trên những tảng đá xòe như con bướm sặc sỡ “núi rừng Tây bẳc trở nên thơ mộng, quyến rũ và say mê biết bao” , hình ảnh những cô gái Mông đôi gò má ửng hồng, cái nhìn tinh anh, rụt rè và táo bạo với những bắp chân to khỏe, dáng đi uyển chuyển mềm mại trong những chiếc váy Mông “trắng đẹp trắng xinhnhư hoa mạch lan nở lưng rừng”, những cô gái ngây thơ ấy còn “ Vẽ vào gấu váy của mình / và thêu ngọn gió hoang thổi vào mơ ước” Những chàng trai Mông mắt sáng, mày sắc, mạnh mẽ tài hoa, các chàng trai hào hoa ấ còn bộc lộ tình yêu một cách khẳng khái, bộc trực đến “ chín rụng cõi lòng” đam mê yêu đương mãnh liệt:
“Nếu ta là bông tuyết trắng
Trang 14Ta xin tan dưới bàn chân nàng
ca hát, yêu âm nhạc mà khèn Mông và múa Xòe là những nét đặc trưng riêng biệt của người Mông, họ cho rằng “ không xòe lúa không tốt, không xòe thóc không đầy bồ” nenngười Mông họ yêu nghệ thuật Nghệ thuật cũng được đi vào thơ ca Mông một cách êm dịu:
“Nhớ buổi tiễn chân ta qua đồi
Em ngắt lá thổi bài kèn réo rắt”
(Dân ca Mông)
Đề tài về cuộc sống của người Mông Cuộc sống du canh du cư nghèo đói và lạc hậu đã dần qua nó đã hun đúc cho con người những phẩm chất và ý chí Giờ đây chính
Trang 15vì họ có ý chí kiên cường đó mới tạo nên thành quả đó là một cuộc sống ổn định, ấm no
và đủ đầy hơn trước Mạnh mẽ trong lao động sản xuất để tạo ra bắp ngô, hạt thóc nơi cao nguyên khắc nghiệt “ Be vờ ruộng bậc thang mỗi năm một vụ” ( Mã Én Hằng), âm vang của cuộc sống thời đổi mới vang vọng trong thơ Mông hiện đại với những giai điệu ngọt ngào “ Đồi nương ngô chín vàng / rộn ràng từng hốc đá” họ luôn thích khám phá, tìm tòi nên thành quả của họ thu được là tất yếu, người Mông luôn yêu quê hương,
tự hào về quê hương mình và Bác Hồ cũng được các nhà thơ ca ngợi hết sức tôn vinh
mà gần gũi qua bài thơ “Người Mông nhớ Bác” ( Mã A Lềnh) Cuộc sống bình yên ấy
đã no ấm ngấm vào tim vào não người Mông để họ ca vang bài ca hạnh phúc:
Từ đá
Sinh ra những chàng thi sĩ Hát về đất trời, tình yêu của mình ( Đá ở Sa Pa – Mã A Lềnh) Cuộc sống phát triển nên con người được làm chủ bản thân và tương lai mình, được tự
do học hành niềm vui phơi phới Những cô gái Mông ngây thơ giờ đây đã thành những
cô giáo toát lên một vẻ đẹp lạ thường và cái nhfn hoàn toàn khác về ngườu phụ nữ dân tộc thiểu số Họ đem cái chữ đến với dân tộc mình làm cho hình ảnh thơ thêm phần thi
vị về cuộc sống trong xã hội mới:
“Đom đóm thắp đuốc dầuĐom đóm thắp đuốc sángSáng soi Vần Chải những mái nhà tranhĐấy là cô giáo Gầu Mông
Tay giỏi cầm sách