1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THỰC TRẠNG CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NỘI TRÚ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ PHÍA BẮC

96 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một nghiên cứu khác của Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với Đại học Melbourne Australia trong khuôn khổ dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh” cho thấy, trong nhà trường luôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ MAI

THỰC TRẠNG CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN

CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NỘI TRÚ

Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ PHÍA BẮC

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC

Người hướng hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Hoàng Minh

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người đã giúp đỡ và chỉ dẫn tôi thực hiện luận văn này

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn của tôi:

PGS, TS Đặng Hoàng Minh, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình

thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo các trường THPTDTNT tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La và các tình nguyện viên thu thập dữ liệu tại 3 tỉnh đã giúp đỡ tôi rất nhiệt tình và tận tâm trong giai đoạn thực hiện nghiên cứu tại địa bàn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu; các thầy cô giáo trong chương trình đào tạo thạc sĩ Tâm lý học Lâm sàng trẻ em và vị thành niên, trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN đã cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường, giúp tôi có nền tảng vững chắc để thực hiện nghiên cứu này

Cuối cùng, tôi vô cùng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã nâng đỡ

và ủng hộ tôi về mọi mặt, đặc biệt về tinh thần để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Do có những giới hạn về thời gian, tài chính và khả năng nên có thể trong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo, các anh, chị, các bạn học viên và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2013

Tác giả

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHƢ̃ VIẾT TẮT

APA: American Psychological Association - Hội Tâm lý học Hoa Kỳ

DSM: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders - Sổ tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm thần (của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ)

ICD: The International Classification of Diseases - World Health Organization: Bảng phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mu ̣c viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mu ̣c bảng, biểu đồ v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 6

1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Nghiên cứu dịch tễ học về sức khỏe tâm thần 6

1.1.2 Nghiên cứu dịch tễ học về Sức khỏe tâm thần trẻ em 10

1.1.3 Nghiên cứu dịch tễ học về sức khỏe tâm thần người dân tộc thiểu số 13

1.2 Các khái niệm/thuật ngữ sử dụng trong đề tài 21

1.2.1 Khái niệm Sức khỏe tâm thần 21

1.2.2 Hệ thống phân loại và chẩn đoán rối loạn tâm thần 22

1.2.3 Khái niệm dịch tễ học 27

1.2.4 Khái niệm Trẻ em và Vị thành niên 28

1.2.5 Các đặc điểm tâm-sinh lý của lứa tuổi vị thành niên 30

1.2.6 Dân tộc thiểu số 33

1.2.7 Học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú và trường trung học phổ thông dân tộc nội trú 36

CHƯƠNG 2 : TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU 41

2.1 Xác định biến nghiên cứu 41

2.2 Phương pháp nghiên cứu 42

2.2.1 Nghiên cứu lý luận 42

2.2.2 Nghiên cứu bảng hỏi (anket) 42

2.2.3 Phương pháp thống kê 43

2.3 Xác định mẫu nghiên cứu 45

2.3.1 Xác định địa bàn nghiên cứu 45

2.4 Tiến độ thực hiện đề tài 54

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ 56

Trang 5

3.1 Tương quan giữa điểm trung bình và một số biến độc lập 58

3.2 Điểm trung bình 8 hội chứng của Achenbach 60

3.3 Tỉ lệ trẻ có vấn đề sức khỏe tâm thần 67

3.4 Tỉ lệ những trẻ có nguy cơ 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHI ̣ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Sự phân bổ mẫu nghiên cứu theo tuổi, giới tính và thứ tự được sinh ra

trong gia đình 52

Biểu đồ 2.2 Sự phân bổ mẫu nghiên cứu theo vùng và dân tộc 52

Biểu đồ 2.3 Phân bố mẫu theo nghề nghiệp của cha mẹ 53

Biểu đồ 3.1 Hàm phân phối tổng điểm thô thang YSR 56

Bảng 3.1 Giá trị trung bình của tổng thang đo 57

Bảng 3.2 Kết quả kiểm định giá trị trung bình YSR theo vùng, dân tộc, giới tính, tuổi, thứ tự con trong gia đình, nghề của bố mẹ 58

Bảng 3.3 Chỉ số thống kê mô tả điểm số 8 thang hội chứng 60

Bảng 3.4 Điểm trung bình 8 hội chứng nghiên cứu của Nguyễn C Minh 61

Bảng 3.5 Kết quả điểm 8 hội chứng theo giới, tại Úc 63

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các vấn đề cảm xúc, hành vi so sánh giữa nghiên cứu ở nước Úc, và nghiên cứu của chúng tôi 63

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các vấn đề cảm xúc, hành vi ở so sánh giữa nghiên cứu ở nước Úc, và nghiên cứu của chúng tôi theo giới tính nam 65

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ các vấn đề cảm xúc, hành vi ở so sánh giữa nghiên cứu ở nước Úc, và nghiên cứu của chúng tôi theo giới tính nữ 66

Bảng 3.6 Tổng số trẻ gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần 67

Bảng 3.7 Tổng số trẻ gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần 68

Bảng 3.8 Thống kê các trường hợp có vấn đề sức khỏe tâm thần chung 69

Bảng 3.9 So sánh theo giới tính 70

Biểu đồ 3.5 So sánh theo giới tính 70

Hình 3.1 So sánh theo vùng miền 71

Biểu đồ 3.6 So sánh theo dân tộc 72

Biểu đồ 3.7 Phân bố dân tộc theo vùng miền 73

Biểu đồ 3.8 So sánh theo nghề nghiệp của cha mẹ 74

Biểu đồ 3.9 So sánh giữa tỷ lệ trẻ có vấn đề với tỷ lệ trẻ tham gia nghiên cứu theo thứ tự được sinh ra 75

Bảng 3.10 Điểm ranh giới của tám hội chứng 76

Trang 7

Bảng 3.11 Giới tính và tuổi 77

Hình 3.2 So sánh theo vùng miền 78

Biểu đồ 3.11 So sánh theo dân tộc 78

Biểu đồ 3.12 So sánh theo thứ tự con đƣợc sinh ra trong gia đình 79

Biểu đồ 3.13 So sánh theo nghề nghiệp của cha mẹ 79

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, những vấn đề sức khỏe tâm thần là một trong những vấn đề nổi cộm trong trường học, đặc biệt là lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở, THPT ở Việt Nam Trên các phương tiện truyền thông, thông tin, cả ở báo giấy, báo hình và báo mạng (các nguồn cung cấp thông tin được sử dụng thông dụng ở Việt Nam hiện nay) có rất nhiều bài viết, thông tin liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh Với cụm từ “Sức khỏe tâm thần của học sinh” hoặc “Sức khỏe tinh thần của học sinh” được tìm kiếm trên google (một trang web tìm kiếm thông tin thông dụng nhất thế giới) đã cho ra trên dưới 7 triệu kết quả ở cả hai câu lệnh tìm kiếm trên Con số này cũng phản ánh phần nào mối quan tâm của xã hội Việt Nam đối với vấn

đề sức khỏe tâm thần ở học sinh

Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm trên google với cụm từ “Child mental health” có 339 triệu kết quả bằng tiếng Anh, và 235 triệu kết quả với cụm từ “Student mental health” Điều đó càng là minh chứng cho thấy sức khỏe tâm thần ở học sinh thực sự

là một đề tài lớn trong xã hội hiện nay, không chỉ ở riêng Việt Nam Ngày càng xuất hiện nhiều các bài báo phản ánh tình trạng Trầm cảm, bạo lực học đường, lo âu, tự sát, rối loạn hành vi… ở học sinh, đặc biệt học sinh ở khối trung học (cấp 2, cấp 3) Bên cạnh sự quan tâm đến vấn đề SKTT học sinh được phản ánh thông qua các phương tiện truyền thông, những minh chứng sâu sắc và chính xác hơn được phản ánh thông qua các nghiên cứu khoa học về SKTT lứa tuổi học sinh

Ở Hoa Kỳ , các vấn đề SKTT ở trẻ em và thanh niên khá phổ biến Ước tính, cứ năm người thì có một trẻ em và thanh niên có vấn đề liên quan đến SKTT Theo báo cáo mới nhất của Trung tâm Kiểm Soát và phòng ngừa bệnh (CDC) Hoa kỳ, gần 20% trẻ em ở Mỹ có rối loạn tâm thần, và tỷ lệ ngày càng tăng trong hơn một thập

kỷ qua (thống kê ở trẻ từ 3 đến 17 tuổi) [51]

Các nghiên cứu, khảo sát về SKTT ở Việt Nam những năm gần đây cũng trở nên nhiều hơn, đặc biệt là những nghiên cứu dành cho ở lứa tuổi học sinh Điều đó cho thấy các công trình nghiên cứu khoa học về tâm lý đang đáp ứng phần nào sự quan tâm của xã hội về các vấn đề SKTT, để có những chiến lược phòng ngừa, can thiệp

Trang 9

Khảo về SKTT của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở Việt Nam trong độ tuổi 10-16 tuổi,

tỷ lệ học sinh có vấn đề về SKTT chung là 19,46% [45] Một nghiên cứu khác của Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với Đại học Melbourne (Australia) trong khuôn khổ dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh” cho thấy, trong nhà trường luôn có một tỷ lệ học sinh có vấn đề về SKTT, có 15,94% em có rối nhiễu tâm trí trong tổng số học sinh các cấp học

Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra tỷ lệ học sinh có các vấn đề SKTT khá cao, như: Nghiên cứu trong năm 2010, của Đại học Y Hà Nội về thực trạng SKTT ở một trường THPT Cầu Giấy Hà Nội, có 22,9% học sinh THPT có vấn đề về SKTT Một nghiên cứu khác về Thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường, của Hoàng Cẩm Tú, Đặng Hoàng Minh trên

1727 học sinh cho thấy số học sinh có vấn đề về SKTT chiếm 25% , trong đó 50%

có biểu hiện bất thường bệnh lý cần hỗ trợ thuộc các vấn đề hướng nội, biểu hiện dưới dạng rối loạn cảm xúc lo âu- buồn chán (trầm cảm) dạng cơ thể và hướng ngoại như có hành vi hung bao công kích hoặc làm sai qui tắc xã hội [14] Một nghiên khác trong năm năm 2012, của Nguyễn Cao Minh “Điều tra tỷ lệ trẻ em và

vị thành niên miền Bắc có các vấn đề sức khỏe tâm thần” cho thấy 18% trẻ có nguy

cơ mắc phải các vấn đề về SKTT [13]

Một điểm chung của các nghiên cứu nói trên là đều nghiên cứu ở các địa bàn đồng bằng, với các đối tượng thuộc dân tộc Kinh, không có nghiên cứu riêng biệt

trên người dân tộc thiểu số Trong khi đó, theo thống kê năm 2006 (Điều tra đa chỉ

số Việt Nam), các dân tộc thiểu số chiếm 14% dân số Việt Nam, trong đó có 65% trẻ em dân tộc thiểu số đi học trung học (tỷ lệ đi học trung học ở trẻ em dân tộc kinh

là 86%) Mặc dù tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số đến trường thấp hơn trẻ em dân tộc Kinh, và tỷ lệ dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 1/7 dân số Việt Nam nhưng cũng không thể phủ nhận trẻ em đều có quyền được chăm sóc và quan tâm như nhau về mọi mặt “Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào” (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 10

Hơn nữa, do vấn đề khác biệt văn hóa, xã hội, kinh tế càng đặt ra một câu hỏi lớn liệu với những khác biệt văn hóa, xã hội, môi trường sống (sống rải rác ở vùng núi, đa phần là vùng núi cao), kinh tế (chiếm gần 30% dân nghèo của cả nước) học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía bắc có các vấn đề SKTT nhiều hơn trẻ em đồng bằng và trung du Bắc bộ?

Như vậy, căn cứ vào các vấn đề thực tiễn và các nghiên cứu đã được tiến hành,

chúng tôi thấy tính cần thiết phải thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng các vấn đề

Sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông nội trú ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc”, với mục đích nhằm cung cấp thêm cho khoa học một số liệu về

tỷ lệ có các vấn đề SKTT ở học sinh THPTDTNT, để cùng các nghiên cứu của các tác giả khá đã tiến hành, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể hơn về tình trạng SKTT

ở học sinh THPT ở Việt Nam nói chung, và học sinh THPTDTNT nói riêng Đó cũng là tiền đề, làm cơ sở cho các chương trình, chính sách thiết kế các chương trình, chính sách phòng ngừa và can thiệp về các vấn đề SKTT ở học sinh phù hợp với tình hình với các vấn đề SKTT theo các dân tộc và vùng miền

2 Giả thuyết khoa học

Tỷ lệ học sinh THPTDTNT các vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có các vấn đề sức khỏe tâm thần khoảng 15-20%

Các thông tin nhân khẩu như : Tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp của cha mẹ , thứ tự con được sinh ra trong gia đình, vùng miền có mối tương quan với các vấn đề sức khỏe tâm thần

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu tỉ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh THPTDTNT các vùng

dân tộc thiếu số miền núi phía Bắc

- Tìm hiểu mối tương quan giữa một số thông tin nhân khẩu: Tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp của cha mẹ, thứ tự con được sinh ra trong gia đình, vùng miền với các vấn đề sức khỏe tâm thần

- Kết quả nghiên cứu có thể là cơ sở cho các đề xuất về chính sách dự phòng và can thiệp về SKTT cho học sinh THPTDTNT các vùng dân tộc thiểu số phía Bắc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về các vấn đề sức khỏe tâm thần

- Xác định tỷ lệ học sinh THPTDTNT có các vấn đề sức khỏe tâm thần bằng việc sử dụng thang đo về hành vi do trẻ em tự báo cáo của Achenbach đã được thích nghi ở Việt nam (Achenbach, 1991) để điều tra tại địa bàn nghiên cứu

- Xác định các yếu tố nguy cơ có mối quan hệ hay không với các vấn đề SKTT như: Tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp của cha mẹ, thứ tự con được sinh ra trong gia đình, vùng miền

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú có các vấn đề về SKTT

5.2 Khách thể nghiên cứu

- 210 học sinh độ tuổi 15-18 tuổi

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Chỉ nghiên cứu tại các trường THPTDTNT, tại 3 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam

- Nguồn thông tin: Trẻ tự thuật

7 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp mô

tả tình trạng SKTT, những vấn đề sức khỏe tâm thần hay gặp phải, mức độ của các vấn đề đó ở học sinh THPTDTNT các vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Ngoài ra, còn nhằm chỉ ra có hay không mối tương quan giữa tỉ lệ học sinh THPTDTNT có vấn

đề SKTT với một số vấn đề như: nơi ở, tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp của cha

mẹ, thứ tự được sinh ra trong gia đình

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản liên quan giúp nhận biết được những nghiên cứu, lý thuyết liên quan đến thực trạng SKTT trên thế giới, cũng như ở Việt Nam Dựa trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu kế thừa và tiếp tục nghiên cứu nhằm bổ sung thêm những thông tin về thực trạng SKTT học sinh THPTDTNT cho khoa học

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 12

Chúng tôi phát 210 phiếu Bảng kiểm hành vi của trẻ em (YRS) của Achenbach

đã thích nghi ở Việt nam (Achenbach, 1991), để thu thập số liệu từ 3 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La Bảng kiểm hành vi của trẻ em bao gồm 113 câu hỏi, học sinh trả lời bằng cách khoanh vào số điểm tương ứng (0 = Không đúng, 1 = Thỉnh thoảng

đúng, 2 = Hoàn toàn đúng) theo mỗi câu hỏi

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Qua số liệu thu thấp được, chúng tôi sử dụng chương trình SPSS để xử lý số liệu, và phân tích các số liệu đã được xử lý để đưa ra tỷ lệ, phân loại và đánh giá

mức độ tổn thương về SKTT của học sinh THPTDTNT

8 Đóng góp mới của Luận Văn:

Đây là nghiên cứu dịch tễ đầu tiên về tỷ lệ các vấn đề SKTT ở học sinh THPTDTNT các vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sử dụng thang đo đã

được chuẩn hóa ở Việt Nam

9 Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được

dự kiến trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu dịch tễ học về sức khỏe tâm thần

1.1.1.1 Dịch tễ học về sức khỏe tâm thần trên thế giới

Trên thế giới, tỷ lệ các bệnh tâm thần tăng dần từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2 Điểm này được giải thích bởi 2 lý do: (1) Tỷ lệ chết giảm, dân số tăng, tuổi thọ tăng Ví dụ: Tăng dân số ở độ tuổi nguy cơ đối với bệnh tâm thần phân liệt (độ tuổi 15-45) nên tỷ lệ bệnh này tăng Tăng dân số ở người cao tuổi nên tỷ lệ các bệnh tâm thần ở người già tăng (2) Sự biến động lớn về tâm lý- xã hội Trong hơn 40 năm qua do vấn đề công nghiệp hoá, đô thị hoá Ví dụ: Tỷ lệ các rối loạn tâm thần tăng liên quan đến stress, rối loạn hành vi và phạm pháp ở thanh thiếu niên, lạm dụng rượu, nghiện ma tuý, trầm cảm, tự sát [57]

Theo thông cáo báo chí của WHO năm 2001 Trên thế giới cứ 4 người thì có một người sẽ mắc chứng rối loạn tâm thần hoặc rối loạn thần kinh vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời Theo đó có 121 triệu người bị ảnh hưởng bởi Trầm cảm, 50 triệu người mắc chứng động kinh, 24 triệu người mắc chứng tâm thần phân liệt và mỗi năm có 1 triệu người tự sát, 20 triệu người có ý định tự sát [57] WHO nhấn mạnh, để đảm bảo việc chăm sóc sức khoẻ tâm thần ở các tuyến có các thuốc mới và các kỹ thuật mới chưa đủ mà phải có một sách lược hợp lý dựa vào các số liệu dịch tễ học

Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc trong đời các rối loạn tâm thần là 32,2% dân số [61], ít nhất 15% dân số Hoa kỳ bị rối loạn tâm thần trong 1 năm ( D.Regier,1978) Theo Harold I.Kaplan, tỷ lệ mắc trong đời 1 số bệnh tâm thần như sau: Bệnh Tâm thần phân liệt 1,5%; Rối loạn trầm cảm 1 cực 6,0%; Rối loạn trầm cảm 2 cực 1,0%; Nghiện rượu 13,3%; Nghiện ma tuý 5,9%; Rối loạn tâm căn 3-8%

Một số nghiên cứu dịch tễ học điển hình trên thế giới [61]:

Năm 1855, E.Jarvis đã tiến hành một điều tra thu thập thông tin về các điều kiện sinh hoạt của 2471 bệnh nhân tâm thần có 169 bệnh nhân loạn thần và 791 bệnh nhân chậm phát triển tâm thần Ông kết luận: Các bệnh loạn thần liên quan

Trang 14

phần nào đến nghèo khó, những người nhập cư dễ bị bệnh hơn những người dân bản địa

Năm 1857 Tuke.D.H nghiên cứu so sánh thấy ở các vùng đô thị công nghiệp hoá, tỷ lệ các bệnh loạn thần cao hơn ở các vùng nông nghiệp

Năm 1931, Minger G điều tra 66 gia đình gồm 1357 người, thấy tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt rất cao (4%) và tỷ lệ các bệnh tâm thần nói chung là 12 % Ông cho rằng kết quả đó là do tính đồng huyết tộc

Năm 1933, Brugger C nghiên cứu ở vùng nông thôn Thuringia (Đức) thấy tỷ

lệ bệnh tâm thần không cao lắm (13,1/1000 ), nửa số người bị loạn thần không phải nằm viện Theo dõi lịch sử gia đình tất cả các bệnh nhân nằm viện trong 2 năm ông thấy tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt là 9,8%o

Năm 1953 Nghiên cứu của Lin T.Y ở Đài Loan trên toàn thể dân thuộc 5 làng nông thôn, một quần thể nhỏ và một phường thuộc thành phố, với dân số tổng cộng 1931 người.tất cả các ca bệnh tâm thần đều được khám xét, chẩn đoán chính xác, kết quả tìm thấy 214 bệnh nhân tâm thần các loại, các bệnh loạn thần chiếm 3,8%

Năm 1958, Hollingshead A.B và Redlich F.C điều tra các rối loạn tâm thần

đã được điều trị tại một quần thể thành thị ở New Haven Tác giả kết luận ở tầng lớp xã hội càng thấp, tỷ lệ các bệnh tâm căn càng thấp và tỷ lệ các bệnh loạn thần càng cao Nghiên cứu trên 50 người da trắng trưởng thành ở 2 nhóm chẩn đoán là tâm thần phân liệt và tâm căn Tác giả khẳng định rằng biến động xã hội rõ ràng có liên quan tới sự xuất hiện các rối loạn tâm thần ở tầng lớp 3 chứ không phải ở tầng lớp có các điều kiện kinh tế không thuận lợi

Năm 1964, Helgason T điều tra dịch tễ học trên 5395 người trên đảo Iceland 1543/5395 người được phân tích bị rối loạn tâm thần, xác xuất toàn bộ các rối loạn tâm thần trước tuổi 61 là 32,47% đối với nam và 34,34% đối với nữ

Năm 1976 Nielsen J Đan Mạch trong nhiều năm điều tra tại các cơ sở của bác sỹ đa khoa cũng như ở các cơ sở chuyên khoa, công bố tỷ lệ mắc bệnh tâm thần hàng năm 254/1000 ở nam và 303/1000 ở nữ

Trong vài thập kỷ cuối thế kỷ XIX khi tâm thần học đã có một vị trí trong y

Trang 15

loạn tâm thần ICD (của WHO) và DSM (của Hiệp hội tâm thần Mỹ); cũng như nhiều công cụ chẩn đoán bệnh tâm thần như PSE, DIS, CIDI Một số nghiên cứu điển hình từ đó đến nay như:

- Nghiên cứu (1973) của tổ chức WHO, nghiên cứu thí điểm về bệnh tâm thần (IPSS) xuyên văn hoá tại 9 trung tâm ở 9 Quốc gia khác nhau, với dân số 35.132.000 người, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu dịch tễ học Quốc tế [61]

- Điều tra quốc gia ở Úc năm 1999, sử dụng Bảng phỏng vấn chẩn đoán quốc

tế tổng hợp (Composite International Diagnostic Interview – CIDI) Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ người dân mắc các vấn đề SKTT phổ biến là 17,7% Trong tổng số những người mắc các vấn đề SKTT, có 4,6% không bao giờ liên lạc với các

cơ sở chăm sóc sức khỏe, 29,4% đã có gặp bác sĩ và 7,5% đã có gặp bác sĩ tâm thần trong năm qua [13, tr.33]

- Năm 1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với bộ câu hỏi CIDI, trên 60.559 người ở trên 14 quốc gia khác nhau để xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra; và bộ câu hỏi khảo sát việc sử dụng dịch vụ

y tế; hoạt động của ngành y tế [13, tr 33]

1.1.1.2 Dịch tễ học các vấn đề sức khỏe tâm thần ở Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong lĩnh vực SKTT Chương trình Mục tiêu Quốc gia về SKTT được bắt đầu từ năm 1999 (SAVY2) Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội giai đoạn 2006-

2010 trong đó có “Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng” đã được phê duyệt Năm 2006 Bộ Y tế đã ban hành “Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc

và nâng cao sức khỏe của vị thành niên và thanh niên Việt Nam, giai đoạn

2006-2010 và tầm nhìn 2020” Trong đó “Sang chấn về tinh thần và các vấn đề khác liên quan đến SKTT” được coi là một trong các nguy cơ chính đối với sức khỏe của vị thành niên và thanh niên Việt Nam Đồng thời SKTT được xếp là một trong 5 vấn

đề ưu tiên cần giải quyết của Kế hoạch trong giai đoan 2006-2010 Tuy nhiên, các can thiệp nâng cao SKTT, đặc biệt cho học sinh nói riêng và thanh thiếu niên nói chung còn rất hạn chế

Trang 16

Ở Việt Nam, từ năm 1964 đến nay đã có một số công trình điều tra cơ bản về bệnh tâm thần và thu được một số kết quả Song do phương pháp, công cụ và đặc biệt là tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần ở mỗi thời kỳ có khác nhau nên tỷ lệ một

số rối loạn tâm thần có thay đổi Năm 1981 Trần Văn Cường, Nguyễn Khánh Hợi điều tra tâm thần ở xã Hoà Bình Nguyễn Thị Mai và cộng sự điều tra về các bệnh tâm thần tại phường Lê Đại Hành, Hà Nội Nguyễn Văn Siêm và cộng sự điều tra Handicap tâm thần ở 4 xã phường Hà Nội Các công trình này cho tỷ lệ mắc bệnh tâm thần dao động 18-20% dân số [61]

Năm 1994 được sự giúp đỡ của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, ngành tâm thần Việt nam đã tiến hành điều tra tâm thần tại 3 điểm : Xã Tự Nhiên, xã Quất Động thuộc huyện Thường Tín, xã Tiên Kiên, huyện Lâm thao – Phú Thọ và xây dựng mô hình chăm sóc sức khẻo tâm thần dựa vào cộng đông Cho tỷ lệ một số rối loạn tâm thần như sau [61]:

Bệnh TTPL: 0,3% - 1% dân số

Rối loạn cảm xúc trầm cảm:2,0% - 3,0% dân số

Rối loạn tâm căn ( lo âu, ám ảnh, suy nhược thần kinh): 4.0% - 5,0%

Nhân cách bệnh: 0,5% - 1,0%

Nghiện ma tuý: 0,15% - 1,5%

Nghiện rượu; 0,21% - 3,0%

Rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên (độ tuổi 10 – 17) là0,3% - 3,7%

Loạn thần do chấn thương sọ não:0,15% - 0,2%

Chậm phát triển tâm thần :0,5% - 1,0%

Động kinh : 0,5% - 1,5%

Năm 1999 Chính phủ đưa vào Chương trình mục tiêu Quốc gia Dự án Bảo

vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng, đặt ra cho ngành tâm thần Việt Nam một thách thức mới, một trách nhiệm hết sức nặng nề [61]

Để có được số liệu các rối loạn tâm thần trong cả nước và xây dựng kế hoạch Bảo vệ sức khoẻ tâm thần cho nhân dân, ngành tâm thần chọn 10 bệnh tâm thần ưu tiên để tiến hành điều tra dịch tễ tại các vùng khác nhau Trên cơ sở những kết qủa thu được sẽ giúp cho ngành tâm thần đề ra được các biện pháp chăm sóc, giúp đỡ,

Trang 17

điều trị thích hợp, phòng bệnh cho các bệnh nhân có rối loạn tâm thần nặng tại cộng đồng Cụ thể như số liệu dưới đây:

Điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp tại cộng đồng từ năm

1.1.2 Nghiên cứu dịch tễ học về Sức khỏe tâm thần trẻ em

Do nghiên cứu của chúng tôi là một trong các nghiên cứu về các vấn đề SKTT của trẻ em, vì vậy nên chúng tôi tập trung trình bầy sâu hơn về các nghiên cứu về SKTT ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam

1.1.2.1 Các nghiên cứu về Sức khỏe tâm thần trẻ em trên thế giới

- Đo lường SKTT và tình trạng khỏe mạnh về tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên ở các nước Châu Âu ở 12 nước Châu Âu (KIDSCREEN), nghiên cứu sử dụng bảng hỏi SDQ [36] là nghiên cứu về cảm xúc và hành vi được kiểm tra trong mẫu đại diện quốc gia của 22 000 trẻ em và thanh thiếu niên tuổi từ 8 đến 18 tuổi

Tỷ lệ trẻ em và thanh thiếu niên có dấu hiệu của các vấn đề SKTT khác nhau giữa

Trang 18

các quốc gia và các nhóm nhân khẩu - xã hội và kinh tế xã hội Các yếu tố nguy cơ bao gồm bầu không khí gia đình, tình trạng kinh tế xã hội thấp, hỗ trợ xã hội và tình trạng SKTT của cha mẹ Khi một số yếu tố nguy cơ xảy ra đồng thời, sự phổ biến của các vấn đề SKTT tăng lên rõ rệt Trẻ em và thanh thiếu niên có các vấn đề SKTT thể hiện rõ ràng suy giảm chất lượng liên quan đến sức khỏe của cuộc sống

Sự khác biệt đa văn hóa trong các mô hình quan sát của các vấn đề SKTT đã được thảo luận Nhóm trẻ có nguy cơ cao là nhóm có sự pha trộn về văn hóa, thuộc tầng lớp xã hội nghèo nàn và cha mẹ có nhiều nỗi đau tinh thần [36]

- Nghiên cứu Các vấn đề về hành vi và cảm xúc ở Thanh thiếu niên của Jamaica và Mỹ, sử dụng các thang CBCL (cha mẹ trả lời), TRF (do giáo viên trả lời) và YRS (do trẻ tự trả lời) Nghiên cứu này được thiết kế để so sánh sự phổ biến của các vấn đề sức khỏe tâm của trẻ vị thành niên tuổi từ 12 đến 18 sống ở Jamaica

và Hoa Kỳ [21]

Nghiên cứu cho kết quả không có sự khác biệt có ý nghĩa trong tổng điểm của bất kỳ thang nào về các vấn đề SKTT ở thanh thiếu niên Jamaica và Mỹ Tuy nhiên, các vấn đề xã hội trong nhóm thanh thiếu niên Jamaica cao hơn đáng kể trong báo cáo của thầy cô giáo và cha mẹ Thanh thiếu niên Jamaica có xếp hạng cao hơn ở các vấn đề Trầm cảm thu mình và rối loạn dạng cơ thể Có thể thanh thiếu niên Jamaica phát triển vấn đề của họ từ những vấn đề thực tiễn trong đất nước của họ [21]

- Điều tra sức khỏe tâm trẻ em (5-15 tuổi) ở nước Anh, 2004 Cuộc khảo sát thực hiện bởi Văn phòng Thống kê Quốc gia [32]

Điều tra cho thấy 9,6% hoặc gần 850.000 trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 5-16 tuổi có một rối loạn tâm thần 7,7% hoặc gần 340.000 trẻ em tuổi từ 5-

10 tuổi có một rối loạn tâm thần 11,5% tương đương khoảng 510.000 trẻ trong độ tuổi từ 11-16 tuổi có một rối loạn tâm thần Trong đó, Rối loạn lo âu có 3.3% hay khoảng 290.000 trẻ em và thanh thiếu niên có rối loạn lo âu; rối loạn Trầm cảm có 0,9% hoặc gần 80.000 trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm nghiêm trọng, trong

đó 1.4% hay khoảng 62.000 tuổi 11-16 tuổi bị trầm cảm nghiêm trọng Về rối loạn hành vi, có 5,8% hoặc chỉ hơn 510.000 trẻ em và thanh thiếu niên có rối loạn hành

Trang 19

- Nghiên cứu về SKTT trẻ em và vị thành niên ở Iceland, Turun Yliopiston năm 2002 [26] Nghiên cứu sử dụng Bảng kiểm hành vi trẻ em của Achenbach, trong đó thang CBCL do cha mẹ trả lời và YSR do trẻ tự trả lời, nhằm nghiên cứu các vấn đề cảm xúc và hành vi vấn ở trẻ em và vị thành niên từ 2-18 tuổi Có 109 cha mẹ có con ở độ tuổi 2-3 tham gia trả lời CBCL và 943 cha mẹ của trẻ em 4-16 tuổi Thang tự báo cáo YSR có 545 trẻ em và vị thành niên tham gia trả lời

Kết quả cho thấy trong số tổng trẻ có vấn đề sức khỏe tâm thần, tỷ lệ trẻ có rối loạn hành vi chiếm 36%, trầm cảm 22,6% và rối loạn sau sang chấn 9,3%

- Nghiên cứu SKTT trẻ em nước Úc, M.G Sawyer [27]

Nghiên cứu được tiến hành để xác định sự phổ biến của ba rối loạn tâm thần (Trầm Cảm, Rối loạn hành vi và Tăng động giảm chú ý), sự phổ biến của các vấn

đề SKTT, chất lượng sức khỏe liên quan đến cuộc sống của những người có vấn đề,

và mô hình dịch vụ sử dụng của những người có và không có vấn đề SKTT, trẻ em

và thanh thiếu niên từ 4-17 tuổi tại Úc Để xác định tỷ lệ hành vi sức khỏe nguy cơ trong thanh thiếu niên với các vấn đề SKTT

Nghiên cứu sử dụng thang Diagnostic Interview Schedule for Children Version IV, nguồn thông tin được cung cấp từ cha mẹ và trẻ Cha mẹ hoàn thành bảng kiểm Hành vi về các vấn đề SKTT họ nhận thấy ở con và bảng câu hỏi đánh giá chất lượng sức khỏe liên quan đến cuộc sống và sử dụng dịch vụ Bảng hỏi về Hành vi nguy cơ do trẻ tự trả lời Kết quả nghiên cứu cho thấy 14% trẻ em và thanh thiếu niên có các vấn đề về SKTT Nhiều người trong số những người có vấn đề SKTT cũng có vấn đề trong các lĩnh vực khác của cuộc sống của họ và gia tăng nguy cơ đối với hành vi tự tử Chỉ có 25% những người có vấn đề SKTT đã tham

dự một dịch vụ chuyên nghiệp trong sáu tháng trước cuộc điều tra

Qua các nghiên cứu kể trên, có thể thấy rằng, các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề SKTT trẻ em thường cho thấy một tỷ lệ đáng kể trẻ em trên thế giới có các vấn đề về sức khỏe tâm thần Tỷ lệ trẻ em trên thế giới có vấn đề về SKTT giao động từ 10-20%

1.1.2.2 Các nghiên cứu sức khỏe tâm thần ở trẻ em Việt Nam

Một số nghiên cứu mới nhất về SKTT Việt Nam từ những năm 2000 trở lại đây ở đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên

Trang 20

- Viện SKTT ban ngày Mai Hương, Khảo sát thuộc dự án Chăm sóc SKTT học sinh trường học tại Hà Nội, 2009) Đây là một dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y

tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với trường Đại học Melbourne (Australia) được thực hiện từ 21.960 thanh thiếu niên Hà Nội cho thấy: gần 20% số học sinh trong độ tuổi vị thành niên gặp trục trặc về SKTT trong đó 3,7% có rối loạn hành vi [45]

- Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú, 2009 Nghiên cứu sử dụng công cụ YSR thực hiện khảo sát trên 1727 học sinh, lứa tuổi từ 11- 15, ở 2 trường THCS ở

Hà Nội cho thấy tỉ lệ trẻ mắc các vấn đề về SKTT là 10,94%

- Khảo sát Thực trạng Sức khỏe tinh thần trẻ em TP.HCM, Lê Thị Ngọc Dung và cộng sự, 2009, tp.HCM Nghiên cứu trên 200 trẻ em TP.HCM, là học sinh cấp THPT, lứa tuổi từ 15 -19 tuổi Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ em có vấn đề về SKTT ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% [4]

- Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền Bắc có các vấn đề SKTT của Nguyễn Cao Minh Nghiên cứu lấy mẫu ở các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Hòa Bình, cho thấy tỉ lệ các trẻ gặp phải các vấn đề SKTT là không nhỏ 18% trẻ gặp phải các vấn đề về tâm thần Đối với từng vấn đề SKTT cụ thể trong tám hội chứng, tỉ lệ trẻ mắc các vấn đề này dao động trong khoảng từ 6,6% (vấn đề Thu mình trầm cảm) đến 2,7% (vấn đề Chú ý) Hành vi hung tính là một vấn đề đang được xã hội rất quan tâm xếp thứ 4 với 5,4% [13]

Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như: Nghiên cứu của TS Ngô Thanh Hồi Khảo sát SKTT của học sinh trung học cơ sở Hà Nội, đề tài khoa học, 1/9/2010 [9]; Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của học sinh ở một số trường

THCS,của TS Lê Thị Kim Dung và các cộng sự, đề tài nghiên cứu của Bộ giáo dục

và Đào tạo, 2007

Như vậy, đa phần các kết quả nghiên cứu dịch tễ SKTT ở trẻ em ở Việt nam cho thấy tỉ lệ trẻ có các vấn đề về SKTT nói chung nằm trong khoảng tỉ lệ ở các nước đang phát triển theo nghiên cứu của WHO, từ 13% đến 20%

1.1.3 Nghiên cứu dịch tễ học về sức khỏe tâm thần người dân tộc thiểu số

1.1.3.1 Nghiên cứu sức khỏe tâm thần người dân tộc thiểu số ở Anh

Trang 21

Trong bài xã luận [31]: Các vấn đề SKTT ở trẻ em và thanh thiếu niên dân tộc thiểu số, của nhóm tác giả Nisha Dogra, Swaran P Singh, Nadzeya Svirydzenka, and Panos Vostanis , nói lên sự cần thiết các nghiên cứu chất lượng hơn về tỷ lệ các vấn đề SKTT trẻ em ở các nhóm dân tộc thiểu số, khả năng sử dụng dịch vụ của các nhóm này và các rào cản dịch vụ chăm sóc SKTT [31]

Theo nhóm tác giả, các thuật ngữ dân tộc, chủng tộc và di cư thường không được xác định chính xác, cũng như nhu cầu chăm sóc SKTT và những sự khác nhau giữa những người nhập cư từ các thế hệ khác nhau Ngoài ra, nó còn có một sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố: dân tộc thiểu số, tầng lớp xã hội, kinh tế… Vấn

đề thu thập dữ liệu về trẻ em dân tộc thiểu số cần bắt đầu tốt hơn để cuối cùng đi đến những chăm sóc SKTT tốt hơn cho nhóm trẻ này

Quan điểm dân tộc, chủng tộc và văn hóa là một biến phức tạp, rất khó khăn

để xác định và đo lường một cách chính xác được chấp nhận một cách rộng rãi Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn trong xác định biến này, nó vẫn cần được thành lập trong các nghiên cứu để đo mức độ ảnh hưởng đến SKTT như các biến về kinh tế,

xã hội

Do đó, để thật sự hiểu rõ các vấn đề SKTT ở trẻ em, thì điều kiện tiên quyết

là cần biết sự ảnh hưởng của dân tộc đến đối tượng này Các Sáng kiến chính sách

để ngăn chặn và điều trị các vấn đề SKTT ở nước Anh thường bao gồm các cuộc thảo luận về các vấn đề dân tộc, cho thấy tầm quan trọng của nó được công nhận Tuy nhiên, vấn đề SKTT trẻ em vẫn có nhiều sai sót, chẳng hạn như ”mượn” những phát hiện từ các tài liệu liên quan đến người lớn, kết hợp các nhóm dân tộc khác nhau, và điều trị tất cả những người da đen và dân tộc thiểu số như một cộng đồng dân tộc đồng nhất

Có nhiều vấn đề hơn nữa trong việc điều trị tất cả các nhóm dân tộc như một thực thể duy nhất, như nhiều yếu tố nguyên nhân, chẳng hạn như thực hành nuôi dưỡng trẻ em và thái độ, cấu trúc gia đình, vai trò và hỗ trợ, mong đợi của trẻ em trong cộng đồng… đã chịu ảnh hưởng của văn hóa và sự khác nhau giữa các nhóm dân tộc thiểu số

Ở Anh, các chính sách quốc gia và chính sách về trẻ em là những văn bản chính sách quan trọng để thiết lập các tiêu chuẩn để nâng cao chất lượng chăm sóc

Trang 22

SKTT cho trẻ em, thanh niên và gia đình Cả hai chính sách ngầm hy vọng vấn đề dân tộc được đưa vào xem xét trong kế chăm sóc SKTT trẻ em, tuy nhiên thực tế điều này chưa được thực thi đồng bộ

Những nghiên cứu về người dân tộc thiểu số ở Anh và các nước khác bị hạn chế và phần lớn vẫn không thuyết phục Những phát hiện này thường mâu thuẫn và khó có thể khái quát hóa từ những thang nghiên cứu nhỏ Những nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các vấn đề giữa các người nhập cư trong giai đoạn đầu của sự thích nghi văn hóa của họ Những nghiên cứu các mẫu lâm sàng giới thiệu một xu hướng khác nhau, như một số yếu tố trung gian (như tính sẵn có của dịch

vụ, và kiến thức của dịch vụ) có thể xác định truy cập dịch vụ và sử dụng Nước Anh không đơn độc trong cuộc “đấu tranh” về vấn đề này

Sức khỏe của nhóm người nhập cư thường được đề cập như là một sự tương đồng cho các dân tộc thiểu số Trong khi không phải tất cả những người tự nhận mình thuộc về một dân tộc thiểu số là người nhập cư, và không phải tất cả người di

cư xác định với dân tộc ban đầu của họ Trong thực tế nó có thể khó phân biệt được những tác động của di cư và dân tộc trên SKTT, như so sánh giữa người di cư và người dân trong đất nước của họ có nguồn gốc không phải là dễ dàng để có được

So sánh giữa các nhóm di cư và không di cư của dân tộc này cũng có thể gây hiểu lầm, như quá trình chuyển đổi chính nó là một biến gây nhiễu ảnh hưởng đến SKTT Mức độ khác nhau của sức khỏe bệnh tâm thần ở nhóm người di cư và không di cư có thể được giải thích bởi những khó khăn hoặc kinh nghiệm của di cư kinh tế xã hội, giáo dục chứ không phải là dân tộc thiểu số Tỷ lệ mắc bệnh có thể khác nhau ở thế hệ đầu tiên (di cư), thứ hai (cha mẹ di cư) và thế hệ thứ ba (ông bà

di cư) của dân tộc như dân đồng hóa và tích hợp với các nền văn hóa khác nhau

Cuộc khảo sát năm 2004 [32] về SKTT của trẻ em và thanh thiếu niên ở Anh cung cấp một nguồn bằng chứng cho tỉ lệ của các vấn đề SKTT và sử dụng dịch vụ trong dưới 16 dân số Số lượng các nhóm dân tộc thiểu số đại diện trong tổng số ít hơn 10% của toàn bộ mẫu, đó là tỷ lệ chính xác về dân số nói chung Nhưng các thang đo được sử dụng cho các nhóm dân tộc thiểu số, dữ liệu của họ thiếu độ hiệu lực và độ tin cậy

Trang 23

Kết quả khảo sát SKTT trẻ cho thấy sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ của các loại rối loạn tâm thần giữa các dân tộc

Thật không may, các nghiên cứu rộng lớn hơn ở châu Âu không đưa ra bằng chứng đáng tin cậy hơn Một nghiên cứu ở Đức phát hiện ra rằng di cư có tác động vừa phải trên các rối loạn bên ngoài nhưng không có ảnh hưởng về rối loạn cảm xúc Các tác giả cho rằng đây có thể là do không có sự khác biệt hay bởi vì có một

sự sai lệch liên quan đến văn hóa của đối tượng nghiên cứu, hay liệu các tác giả đánh đồng dân tộc với nền văn hóa [32]

Nghiên cứu dịch tễ học tương lai nên chọn mẫu phân tầng của các dân tộc để xác định các đặc điểm độc đáo của các nhóm cụ thể và tương tác phức tạp của họ với văn hóa, các yếu tố xã hội khác (bao gồm cả tầng lớp xã hội và bất lợi kinh tế xã hội) và SKTT trẻ em Vì sự thay đổi trong các đặc điểm nhân khẩu học và các yếu

tố nguy cơ có thể có sự khác biệt về tỷ lệ phổ biến của các vấn đề SKTT giữa các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau [32]

1.1.3.2 Nghiên cứu sức khỏe tâm thần người dân tộc thiểu số ở Mỹ

Bắt nguồn từ các cuộc điều tra trên diện rộng nhằm ước tỉnh được tỷ lệ rối loạn tâm thần trong các quần thể thiểu số bắt đầu một cách thực sự trong những năm 1950 với số liệu báo cáo từ nghiên cứu Manhattan Midtown (Srole và cộng sự 1962) ở thành phố New York và Stirling County (Leighton và cộng sự 1963) ở Canada [39], vấn đề sức khỏe tâm thần ở người dân tộc thiểu số Mỹ được chú ý nghiên cứu

Những nghiên cứu này đã sử dụng những bảng liệt kê triệu chứng được thiết

kế để đo lường mức độ nghiêm trọng và thời gian của các triệu chứng Những thang

đo ngắn này được thiết kế để đánh giá một nhóm các triệu chứng thường thấy trong các quần thể bệnh nhân, và tính hiệu lực đã được chứng minh bằng cách so sánh lâm sàng đối với các nhóm đối chứng

Phổ biến nhất là những thang đánh giá được thiết kế để đánh giá các dạng trầm cảm, căng thẳng tâm lý, và những mức độ rối loạn chức năng Link và Dohrenwend (1980) cho rằng những thang đánh giá ngắn này đã bao trùm một loạt những triệu chứng về các dạng nỗi đau về tinh thần thường được thấy ở Mỹ và

Trang 24

những triệu chứng đó thường liên đới với tình trạng kinh tế xã hội thấp, căng thẳng

và những vấn đề sức khỏe thể chất

Khi sử dụng thang đánh giá để ước lượng tỷ lệ trong cộng đồng mắc các vấn SKTT, các nhà nghiên cứu cũng đã sử dụng một nhóm bệnh nhân thực chứng để so sánh Sau đó họ đã thiết lập được một điểm cắt điển hình “ranh giới lâm sàng" Những chuẩn “ranh giới lâm sàng” được mong đợi giúp nhận dạng những trường hợp có mức độ triệu chứng giống như những bệnh nhân được trị liệu

Vài trong số những thang đánh giá đó đã được phát triển để đo lường cho các quần thể bệnh nhân dân tộc thiểu số riêng biệt Tuy vậy, nó vẫn chưa giúp làm rõ ràng về những biểu hiện triệu chức khác nhau của bệnh nhân trên các nền văn hóa hoặc ngôn ngữ khác nhau, và ngược lại, các nền văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến kết quả điểm của thang đo (Manson và cộng sự 1985) [39] Do đó, khó có thể chấp nhận việc xem “ranh giới lâm sàng” đó như một tiêu chuẩn hợp lệ cho các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau

Rogier và cộng sự (1989) lưu ý liên quan đến việc đo lường bệnh tâm thần trong tộc người Tây Ban Nha: "Mặc dù có nhiều lo ngại về kiểm tra và chẩn đoán sai lệch trong những cuộc phỏng vấn lâm sàng, nghiên cứu về phương pháp đánh giá bệnh tâm thần trong tộc người Tây Ban Nha là rất ít, không hệ thống, và rất nhiều sự nhầm lẫn trong quá trình thử nghiệm" [39]

Qua những nghiên cứu, các nhóm tác giả nhận thấy những dân tộc thiểu số chủ yếu là những người có tình trạng kinh tế xã hội thấp, và họ phải trải qua những nỗi đau về tinh thần và những trạng thái trầm cảm như một hệ quà của tình trạng nghèo đói (Kolody và cộng sự 1986) Người ta cũng quan sát thấy rằng một số nhóm dân tộc dân tộc thiểu số có những vấn đề tâm lý dạng rối loạn cơ thể

Theo Kleinman (1986), rối lọan cơ thể xảy ra khi "cá nhân có một loạt các trải nghiệm cá nhân và những vấn đề xã hội nghiêm trọng” [39] Một khía cạnh khác của lọan cơ thể là sự khuếch đại của khác các cơn đau và cảm giác của cơ thể thông qua nhận thức, thay đổi tâm trạng Kết quả tiềm tàng có thể là một con số dưới mức của các vấn đề SKTT, đặc biệt là trầm cảm, trong nhóm dân tộc thiểu số

Mỹ

Trang 25

Cuối những năm 1970, một phương thức chẩn đoán thích hợp với nghiên cứu khảo sát thực địa, được thực hiện bởi những người phỏng vấn giáo dân, đã được phát triển để phản ánh hệ thống phân loại chẩn đoán và thống kê Manual-III của Hiệp hội Tâm thần Mỹ (Spitzer & Endicott 1978)

Ví dụ, bên cạnh Thang phỏng vấn chẩn đoán (DIS) (Robins và cộng sự năm 1981) là một cuộc phỏng vấn có cấu trúc làm giảm đến mức tối thiểu yếu tố gây nhiễu, hoặc những bình luận phỏng đoán từ người phỏng vấn, nó đòi hỏi sự hiện diện của một số lượng nhất định triệu chứng và loại trừ những đánh giá về nội dung trong bối cảnh của họ, thời gian và mức độ nghiêm trọng

Mặc dù thực tế là giá trị đa văn hóa là không rõ ràng đối với nhiều loại chẩn đoán, Thang DIS đã được sử dụng để tiến hành năm trong khảo sát thực địa khu vực lớn, được gọi là khu vực lưu vực dịch tễ học Chương trình ECA (Regier et AI, 1984), và biện pháp này hiện nay trở thành tiêu chuẩn trong lĩnh vực nghiên cứu cho dịch tễ học tâm thần

Tuy nhiên, những thang đánh giá ngắn đã trở nên thông dụng và thường được sử dụng trong y tế và nghiên cứu SKTT vì nó rất nhanh chóng và dễ dàng để quản lý và có lợi thế nhất định cho mục đích phân tích dữ liệu, và bởi vì nó thu thập được một phổ rộng các thông tin về các trạng thái tâm lý của người trả lời, những điều không thu thập được nếu dùng thang DIS

Tuy nhiên, nếu nguồn gốc của rối loạn tâm thần bắt nguồn từ nguyên nhân sinh học, nó sẽ làm giảm tầm quan trọng của các dấu hiệu liên quan đến yếu tố văn hóa và xã hội (Fàbrega 1991, Vega và Murphy 1990).vKết quả là một loạt các nghiên cứu dịch tễ học phản ánh một khuynh hướng coi nhẹ cho cả các nội dung văn hóa và bối cảnh xã hội của các vấn đề SKTT

Bất chấp sự bùng nổ chưa từng có trong kiến thức khoa học và khả năng phi thường của y học để chẩn đoán, điều trị và chữa bệnh bệnh, người da đen, gốc Tây Ban Nha, người Mỹ bản địa, và những người Á Châu/Thái Bình Dương không được hưởng lợi đầy đủ hoặc một cách công bằng từ những thành quả của khoa học hay từ các hệ thống chịu trách nhiệm dịch và sử dụng công nghệ khoa học sức khỏe Số liệu năm 2010 cho thấy, khoảng 33% dân số Hoa Kỳ là là người Châu Á/Thái Bình Dương, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản xứ, hoặc có nguồn gốc từ Tây Ban Nha

Trang 26

Sự nghèo đói, trình độ giáo dục thấp làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề SKTT ở nhóm dân tộc thiểu số này [39]

Ngoài ra, rào cản văn hóa và ngôn ngữ và sự nhận thức chưa đầy đủ của các bác sĩ cơ sở trong việc xác định các rối loạn tâm thần, đặc biệt là ở đồng bào dân tộc thiểu số, điều đó gây khó khăn cho việc tiếp cận hệ thống chăm sóc sức khỏe Mỹ của người dân tộc thiếu số Có một khoảng cách nghiêm trọng giữa nhu cầu về điều trị SKTT, lạm dụng chất và khả năng tiếp cận, cũng như tính sẵn sàng của dịch vụ đối với với người dân tộc thiểu số

Các thống kê cho thấy [39]:

- Bác sĩ chăm sóc chính ít có khả năng phát hiện các vấn đề SKTT ở những bệnh nhân người Mỹ gốc Phi và Tây Ban Nha trong hơn người da trắng

- Phụ nữ nghèo, phúc lợi, ít học, thất nghiệp và từ dân tộc thiểu số có nhiều khả năng bị trầm cảm

- Dân tộc thiểu số ít có khả năng được điều trị chứng trầm cảm (vào năm 1997) Trong số người lớn được điều trị, 16% là người da đen hoặc người Mỹ gốc Phi, 20% gốc Tây Ban Nha, và 24% da trắng

- Dân tộc thiểu số ít có khả năng được điều trị tâm thần phân liệt (năm 1997) Những người được điều trị, 26% là người da đen hoặc người Mỹ gốc Phi, 39% là người da trắng; con số được điều trị cho người Tây Ban Nha là không đáng kể

- Tỷ giá tự sát Mỹ (tỷ lệ phần nghìn) năm 1997 trên người dân tộc thiểu số: Mỹ

Da Đỏ hoặc Thổ Dân Alaska: 11.4; châu Á hay Thái Bình Dương: 7,0 đen hoặc người Mỹ gốc Phi: 6.3; da trắng: 12.3; Tây Ban Nha: 6.4

- Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng cố gắng tự tử (Tỷ lệ phần nghìn) cũng trong năm 1997: người Tây Ban Nha hoặc La tinh: 2.8; không phải người Tây Ban Nha da đen hoặc người Mỹ gốc Phi: 2,4; người da trắng (không có gốc Tây Ban Nha) 2.0

Theo thông tin của Hiệp hội Y tế Thế giới Mỹ, cho thấy những người dân tộc thiểu số cũng có các yếu tố nguy cơ dưới đây có tỷ lệ nghiện rượu, sử dụng ma túy cao hơn nhóm còn lại Theo báo cáo Đối mặt với bất bình đẳng chủng tộc và dân tộc trong Chăm sóc sức khỏe, của Viện Y Học năm 2003, đã chỉ ra rằng một loạt hệ thống chăm sóc sức khỏe đang có sự bất bình đẳng với người dân tộc thiểu số

Trang 27

Một lượng lớn các nghiên cứu đã được dành cho việc nghiên cứu hiệu quả trong trị liệu các rối loạn tâm thần Tuy nhiên, lại rất thiếu các nghiên cứu đối với các chủng tộc hoặc dân tộc thiểu số (Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ, năm 2001) Một phần của lý giải cho điều này là vì nhóm dân tộc thiểu số chỉ chiếm một tỷ lệ dân số nhỏ, và việc loại bỏ nhóm người này ra khỏi nghiên cứu giúp cũng bởi do chi phí cao, điều này sẽ tiết kiệm một phần chi phí nghiên cứu

Theo báo cáo SKTT “Báo cáo của Bác sĩ phẫu thuật” (1999), trầm cảm chủ yếu là nguyên nhân hàng đầu của tình trạng khuyết tật và tử vong sớm ở Hoa Kỳ Tiếp theo là rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, ám ảnh và rối loạn lo âu khác

Tổ chức Y tế thế giới (2011) ước tính rối loạn tâm thần nói chung chiếm hơn 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu do mọi nguyên nhân và có tương quan cao nhất với tỷ

lệ tỷ lệ thất nghiệp, các dạng khuyết tật Có hơn một triệu vụ tự tử xảy ra hàng năm trên toàn thế giới (Bộ Y tế Hoa Kỳ và Dịch vụ Nhân sinh năm 1999; Y tế Thế giới

Tổ chức, năm 2009) và các nghiên cứu cũng cho thấy tự tử chịu ảnh hưởng nhiều bởi tình trạng dân tộc thiểu số, đặc biệt là thanh thiếu niên Ví dụ, ý nghĩ tự tử ở thanh thiếu niên La tinh cao hơn và khả năng cố gắng tự tử ở nhóm thanh thiếu niên này cũng cao hơn (Flores et al, 2002; Gulbas và cộng sự, 2011; Pena và cộng sự; Zayas, 2011)

Người Mỹ Da Đỏ/Thổ Dân Alaska giới tính nam, lứa tuổi 15-24 có lệ tự tử cao nhất trong tất cả các nhóm và Phụ nữ Trung Quốc ở độ tuổi trên 65 cũng có mức báo cáo tỷ lệ tự tử trong nhóm tuổi của họ cao nhất (Trung tâm Kiểm soát và Phòng, 2007)

Báo cáo của bác sĩ phẫu thuật, Nhìn chung, SKTT: Văn hóa, chủng tộc và sắc tộc (2001), nhấn mạnh tầm quan trọng của lịch sử và văn hóa để hiểu SKTT, tình trạng bệnh tật, và sự bất bình đẳng trong các dịch vụ cho chủng tộc và dân tộc thiểu số Đặc biệt, sự hiểu biết những kinh nghiệm văn hóa và lịch sử khác nhau nhóm đặcnhư tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc, niềm tin sức khỏe và thái độ, và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ sẽ cho phép một sức khỏe hệ thống cung cấp chăm sóc để đáp ứng một cách thích hợp và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu riêng của bệnh nhân có văn hóa có thể khác với các nền văn hóa lớn trong mà họ đang sống (Bazargan, Bazargan-Hejazi, & Baker

Trang 28

Như vậy, ở trên thế giới tuy các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở người dân tộc thiểu số được quan tâm và nghiên cứu muốn hơn so với các vấn đề sức khỏe tâm thần ở dân tộc đa số, nhưng các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố về văn hóa, kinh tế, vùng miền, dân tộc có thể ảnh hưởng đến các vấn đề sức khỏe tâm thần và

cơ hội được chăm sóc về sức khỏe tâm thần của con người Cơ hội được chăm sóc

và tiếp cận các dịch vụ sức khỏe tâm thần ở người dân tộc thiểu số còn hạn chế

Riêng ở Việt Nam, khi tiến hành nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm kiếm các thông tin liên quan đến những nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của người dân tộc thiểu số, tuy nhiên, đến thời điểm này chúng tôi vẫn chưa phát hiện hoặc tiếp cận được một nghiên cứu chính thức nào liên quan đến sức khỏe tâm thần của người dân tộc thiểu số ở nước ta cả ở người lớn và trẻ em, đặc biệt các nghiên cứu sử dụng các thang đo đã được chuẩn hóa ở Việt Nam

1.2 Các khái niệm/thuật ngữ sử dụng trong đề tài

1.2.1 Khái niệm Sức khỏe tâm thần

Trước khi làm rõ khái niệm SKTT, chúng ta cũng tìm hiểu khái niệm Sức khỏe là gì Theo Tổ chứ Y tế thế giới: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật” Theo Who, định nghĩa này vẫn là hợp lý nhất, dù bị phê bình do việc khó xác định và đo lường sự thoải mái [17, tr.17] Như vậy sức khỏe gồm có 3 thành phần: sức khỏe cơ thể, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội, có quan hệ hữu

cơ với nhau

Cũng theo tổ chức y tế thế giới, không có định nghĩa chính thức cho SKTT Các nền văn hóa khác nhau, các đánh giá chủ quan và các giả thuyết khoa học khác nhau đều có ảnh hưởng tới định nghĩa về khái niệm "Sức khỏe tâm thần" [52]

Chưa nói về việc thống nhất khái niệm SKTT ở Việt Nam, chỉ riêng những tranh luận về cụm từ “sức khỏe tâm thần” hay “sức khỏe tinh thần” đã tốn không ít giấy mực Thuật ngữ bằng tiếng Anh được sử dụng phổ biến trên thế giới, là các từ như: mental health, mental disorders, và mental illness Như vậy, có thể nói, tương ứng với từ “mental” trong tiếng Anh, đã được ngành y tế sử dụng cụm từ “tâm thần” trong tiếng Việt

Trang 29

Tuy nhiên, đại đa số người dân, và ngay cả hệ thống công chức nhà nước trong và ngoài ngành y, trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, khi nghe nói đến “tâm thần”, người ta nghĩ ngay đến bệnh, trạng thái “tiêu cực”, không mấy ai nghĩ đến trạng thái “tích cực” Bằng chứng từ một cuộc điều tra cộng đồng do trung tâm RTCCD thực hiện năm 2007 trong khuôn khổ đánh giá dự án quốc gia về “Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng” triển khai tại Hà Nam và Hà Tây, phỏng vấn 146 nhân viên y tế và người dân, họ nghĩ đến gì khi nghe từ “tâm thần”, tuyệt đại đa số đều đưa ra sự liên tưởng đến người có những bất thường về cảm xúc, ngôn ngữ, hành vi…, tóm lại đều coi đó là “bệnh” [53]

Mặc dù còn nhiều tranh cãi như vậy giữa nhiều ngành nghề, hoặc trong ngay chính từng ngành nghề liên quan (như nghề Tâm lý, công tác xã hội ), nhưng cụm

từ Sức khỏe tâm thần trong các nghiên cứu Y học lại được sử dụng khá thống nhất Chính vì vậy, để thống nhất khái niệm với các nghiên cứu trong Y học và nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý hiện nay, chúng tôi sử dụng cụm từ “sức khỏe tâm thần” trong nghiên cứu này

Tuy có nhiều tranh luận khác nhau, nhưng chúng ta có thể hiểu SKTT là: Một trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cần phải có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hòa hợp giữa cá nhân, người xung quanh và môi trường xã hội để làm việc một cách năng suất và hiệu quả, và có khả năng đóng góp cho cộng đồng, chứ không chỉ là không có bệnh tật (WHO)

1.2.2 Hệ thống phân loại và chẩn đoán rối loạn tâm thần

Lịch sử của các hệ thống phân loại về các vấn đề SKTT bắt nguồn từ các nghiên cứu của Kraepelin vào cuối thế kỉ 19 Ông đã mô tả một loạt các hội chứng,

và nhận thấy rằng mỗi hội chứng lại bao gồm nhiều các triệu chứng khác Sự kết hợp các triệu chứng như vậy tạo nên sự khác biệt giữa hội chứng này với hội chứng khác Và đó là cơ sở để ra đời các hệ thống phân loại Có hai hệ thống phân loại bệnh tâm thần được sử dụng rộng rãi hiện nay Đó là Cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần của Hiệp hội tâm thần Mỹ (DSM) và Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức Y tế thế giới

Trang 30

1.2.2.1 Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê các rối loạn sức khỏe Tâm thần DSM –

Hiệp hội tâm thần Mỹ

Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê các rối loạn sức khỏe Tâm thần DSM (DSM viết tắt của cụm từ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders)

do Hiệp hội tâm thần Mỹ biên soạn Mục đích của DSM là cung cấp một mô tả tỉ mỉ

về các triệu chứng bệnh tâm thần để từ đó dẫn đến chẩn đoán cho từng bệnh [23] Mặc dù không đề cập vấn đề trị liệu nhưng DSM cung cấp một ngôn ngữ chung cho tất cả những nhà chuyên môn trên thế giới để từ đó những trao đổi, thảo luận, nghiên cứu… giúp công việc điều trị có thể diễn ra một cách dễ dàng, thuận lợi

Cho đến lần xuất bản DSM bản đầu tiên vào năm 1952, lịch sử các hệ thống chẩn đoán đối với các rối loạn sức khoẻ tâm thần ở Mỹ còn thiếu tính thống nhất Khi điều tra dân số của Mỹ được thực hiện vào năm 1840, nó bao gồm một phân loại đơn giản về bệnh lý tâm thần (“bệnh điên”: “Idiocy/Insanity”) nhằm mô tả những thành phần bị bệnh trong dân số Mỹ Đây là lần đầu tiên dữ kiện được thu thập một cách có hệ thống qua điều tra dân số vì mục đích này Trong điều tra dân

số năm 1880, 7 phân loại về bệnh lý tâm thần được gộp lại Không lâu sau đó, một

ủy ban nằm trong Hiệp hội tâm thần Mỹ (APA) bắt đầu hợp tác với văn phòng điều tra dân số nhằm thu thập thêm dữ kiện Tuy nhiên trọng tâm vẫn còn nằm chủ yếu ở tính thống kê hơn là lâm sàng [23]

Phân loại chẩn đoán chính thức về các rối loạn SKTT cho mục đích lâm sàng không phổ biến lắm trước thế kỷ 20 Vào thế kỷ 19, nhiều bệnh viện lớn và các trung tâm đào tạo đã phát triển các hệ thống của riêng chính họ nhằm để đặt tên và ghi lại bệnh án đối với các bệnh lý tâm thần Những hệ thống này được tạo ra một mình nhằm thoả mãn nhu cầu của chính môi trường nội viện đó Khi số lượng các

hệ thống gia tăng, giao tiếp giữa các chuyên gia SKTT và các cơ quan bị giới hạn bởi sự thiếu tiếng nói chung nhằm mô tả các rối loạn SKTT

Vào cuối những năm 1920, những cố gắng xuất hiện nhằm tạo ra một tên gọi tiêu chuẩn , mặc dù đã mất cả hàng chục năm để đạt được mục tiêu này Một số hệ thống phân loại chẩn đoán riêng lẻ được giữ lại rộng rãi như hệ thống của quân đội Hoa kỳ và các bệnh viện điều hành của cựu chiến binh Những hệ thống ít ỏi này

Trang 31

vẫn còn cạnh tranh với các hệ thống khác cho đến khi DSM đầu tiên thay thế chúng vào năm 1952

Xuất bản đầu tiên của DSM, được thực hiện bởi Hiệp hội tâm thần học Mỹ vào năm 1952, chủ yếu là phiên bản của ICD (International Classification of Diseases: Bảng phân loại bệnh quốc tế, được tổ chức y tế thế giới (WHO) xuất bản), ICD lúc đó là lần xuất bản thứ 6 DSM-I được chỉnh sửa vào năm 1968, cập nhật thành DSM-II Hai lần xuất bản này giống nhau và cũng hoàn toàn khác với các DSM chỉnh sửa sau đó Ngôn ngữ sử dụng trong DSM-I và DSM-II cho thấy sự nhấn mạnh nhiều đến phân tâm học, thực ra, tiếp cận phân tâm là tiếp cận chủ yếu trong tất cả các lĩnh vực công việc lâm sàng ở thời gian đó

Có thể thấy rằng, DSM là một hệ thống đa trục, và trạng thái tâm thần của mỗi cá nhân có thể được đánh giá theo 5 trục khác nhau:

Trục I: Có hoặc không có hầu hết các hội chứng lâm sàng, bao gồm chủ yếu các rối loạn tâm thần và rối loạn học tập Các rối loạn thường gặp bao gồm rối loạn cảm xúc, trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn lưỡng cực, ADHD, chứng

tự kỷ, chứng ám sợ, tâm thần phân liệt, rối loạn tình dục, rối loạn ăn…

Trục II: Có hoặc không có trạng thái bệnh lí kéo dài, bao gồm các rối loạn nhân cách và rối loạn phát triển tâm trí (mặc dù các rối loạn phát triển, như

Tự kỷ, đã được mã hoá trên trục II trong phiên bản trước đó, các rối loạn này đang có trên trục I) Các rối loạn thường gặp bao gồm các rối loạn nhân cách như paranoid, Schizoid, schizotypal, Rối loạn nhân cách chống đối xã hội, Rối loạn nhân cách narcissistic, Rối loạn nhân cách không thành thâ ̣t , Rối loạn nhân cách lảng tránh, Rối loạn nhân cách phụ thuộc, ám ảnh-cưỡng bức, chậm phát triển tâm trí

Trục III: Thông tin về trạng thái sức khoẻ cơ thể của cá nhân Các rối loạn thường gặp bao gồm các tổn thương não và các rối loạn sức khỏe thể chất … Trục IV: Các vấn đề tâm lý và các yếu tố môi trường

Trục V: Đánh giá tổng quát về hoạt động chức năng (từ 1 điểm cho kích động liên tục, hành vi tự sát hoặc bất lực cho đến 100 điểm đối với duy trì nhân cách hài hoà, không có các triệu chứng) hoặc Mô hình “Đánh giá tổng quát của trẻ em” cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi

Trang 32

Sau 19 năm tồn tại, vào ngày 18 tháng 5 năm 2003, DSM-5 đã chính chức được công bố, chính thức thay thế cho DSM IV Có tất cả 286 chẩn đoán bệnh tâm thần liệt kê trong DSM-5 Từ ấn bản đầu tiên DSM-I, ra đời năm 1952 đến nay, DSM đã được hiệu đính nhiều lần, và lần gần nhất, từ DSM-IV đến DSM-5 là qui mô nhất [55]

Chịu trách nhiệm tổng quát là Ban Hiệu đính DSM-5 (DSM-5 Task Force), do APA thành lập năm 2007, gồm 27 thành viên, ban này thiết lập 13 tổ chuyên môn, qui tụ tổng cộng 162 chuyên gia của nhiều nước và hơn 300 cố vấn Trong gần 6 năm làm việc, ban Hiệu đính DSM-5 đã tổ chức hàng trăm hội thảo Chỉ riêng trong giai đoạn từ 2005-2009 đã có hơn 200 báo cáo chuyên đề liên quan được ấn hành

Dự thảo DSM-5 đã được công bố trên trang mạng của ban Hiệu đính trong suốt năm

2010 để quần chúng góp ý kiến (đã có hơn 13.000 ý kiến đóng góp) [55] Ngoài

những thay đổi cụ thể trong nội dung từng trục, một số thay đổi chung của DSM-5 là:

Dùng chẩn đoán 7 con số (thay vì chẩn đoán 5 con số của các ấn bản trước) cho đồng bộ với cẩm nang ICD 10 của Hiệp hội Y khoa Mỹ

Thay cách viết tên Cẩm nang: Không dùng chữ La mã mà dùng chữ Ả rập: DSM-5 thay vì DSM-V Lý do: chữ số La mã không thuận lợi với việc truyền bá thông tin bằng công nghệ mới Trong tương lai, những ấn bản mới của DSM-5 sẽ là DSM-5.1, DSM=5.2, DSM-5.3…

Bỏ phương pháp chẩn đoán đa trục cũ (multiaxial, từ trục I đến trục V, trục I: bệnh tâm thần; trục II: bệnh cá tính và bệnh thiểu năng; trục III: bệnh y khoa; trục IV: căng thẳng về tâm lý xã hội; trục V: thang khả năng trí tuệ và hội nhập toàn diện, từ 0 đến 100) bằng phương pháp chẩn đoán không trục (nonaxial)

Như vậy, DSM-5 trở thành công cụ chuẩn đoán mới nhất hiện nay trong lĩnh vực SKTT Không thể phủ nhận được tính thông dụng trên toàn thế giới của Cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần và những hữu ích cẩm nang này mang lại cho công tác chẩn đoán các vấn đề về SKTT

1.2.2.2 Bảng phân loại bệnh quốc tế- Tổ Chức Y tế thế giới

Trang 33

Bảng phân loạn bệnh quốc tế (viết tắt là ICD 10), là bảng phân loại các rối loạn về hành vi và sức khoẻ tâm thần ở trẻ em và trẻ vị thành niên do Tổ chức y tế thế giới (WHO) biên soạn, năm 1996 [38]

ICD-10 đã được xác nhận tại Hội nghị Y tế thế giới lần thứ 43 vào tháng 5 năm 1990 và được các nước thành viên WHO đưa vào sử dụng từ năm 1994 Ấn bản đầu tiên, được gọi là Danh sách các nguyên nhân tử vong Quốc tế, đã được Viện thống kê quốc tế thông qua năm 1893 ICD là hệ thống phân loại bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế cho tất cả các dịch tễ học nói chung, mục đích quản lý sức khỏe

và sử dụng trong lâm sàng Phân loại bệnh về các rối loạn tâm thần và hành vi thuộc chương 5 của ICD-10 Nó gồm các mảng sau đây:

Rối loạn tâm thần thực thể bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng

Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần

Tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt và rối loạn hoang tưởng

Rối loạn cảm xúc

Loạn thần kinh, rối loạn liên quan đến stress và rối loạn dạng cơ thể

Hội chứng hành vi kết hợp với rối loạn sinh lý và yếu tố thể chất

Rối loạn nhân cách và hành vi ở người trưởng thành

Chậm phát triển tâm thần

Rối loạn phát triển tâm lý

Rối loạn về hành vi và cảm xúc với sự khởi bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ

em và thiếu niên

Rối loạn tâm thần không xác định

Như vậy, các hệ thống phân loại có rất nhiều ưu điểm Chúng không phải là sự liệt kê đơn giản các định nghĩa về những vấn đề SKTT Chúng cung cấp một nguồn

dữ liệu để chẩn đoán chính xác các bệnh, các rối loạn Chẩn đoán đóng vai trò rất quan trọng bởi lẽ chính chẩn đoán quy định loại trị liệu (cả thuốc và tâm lý) nào được dùng để điều trị Chẩn đoán sai đồng nghĩa với chỉ định sai, sẽ kép theo nhiều hậu quả đối với bệnh nhân Có thể nói rằng, DSM, ICD 10 là 2 cuốn kim chỉ nam cho công tác chẩn đoán bệnh Bên cạnh DSM, ICD 10 cũng là một công cụ giúp các nhà chuyên môn chẩn đoán các vấn đề SKTT thông dụng trên thế giới

Trang 34

Tuy nhiên, chúng ta cần phần biệt giữa người bị rối loạn tâm thần và người có vấn đề về sức khỏe tâm thần Theo tổ chức WHO, vấn đề sức khỏe tâm thần rất phổ biến với con người nói chung [57], cứ ba người thì có một người có vấn đề về sức khỏe tâm thần, và trong đời người ai cũng có một lần trải qua các vấn đề về sức khỏe tâm thần Trong khi, tối loạn tâm thần là thuật ngữ dùng để chỉ những suy

nghĩ, cảm xúc, hành vi lệch lạc ở mỗi cá nhân và những biểu hiện này ảnh hưởng

đến chức năng cuộc sống hiện tại của cá nhân đó [38] Như vậy, một người có thể

có vấn đề về sức khỏe tâm thần những chưa chắc đã bị rối loạn tâm thần nếu những biểu hiện đó không ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống hiện tại của cá nhân đó Ví dụ: Một học sinh bị lo âu mỗi khi đến kỳ thi, nhưng sự lo âu đó không cản trở em thực hiện các chức năng bình thườn trông cuộc sống, thì học sinh đó được coi là có vấn đề về sức khỏe tâm thần chứ không phải là có rối loạn tâm thần, trừ khi sự lo âu

đó cản trở em thực hiện các chức năng của cuộc sống, khiến em không thể sống và học tập như bình thường thì được coi là có rối loạn tâm thần

1.2.3 Khái niệm dịch tễ học

Dịch tễ học bắt nguồn từ những quan sát từ thời Hypocrate hơn 2000 năm trước đây, ông cho rằng các yếu tố môi trường đã tác động lên sự xuất hiện bệnh Tuy nhiên, cũng phải đến tận thế kỷ 19 mới có những đo lường sự phân bố bệnh tật trong các nhóm quần thể người trên qui mô lớn Việc so sánh tỷ lệ mắc bệnh trong các nhóm quần thể người rất phổ biến vào cuối thể kỷ mười chín và đầu thế kỷ 20 Dịch tễ học hiện đại là một chuyên ngành tương đối mới và sử dụng các phương pháp định lượng để nghiên cứu bệnh trong quần thể người, với những thông tin cho

nỗ lực phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật [17, tr 18]

Dịch tễ học được Last định nghĩa là “việc nghiên cứu sự phân bố và các yếu

tố quyết định của các tình trạng hay sự kiện liên quan đến sức khoẻ trong các quần thể xác định và việc ứng dụng nghiên cứu này vào phòng ngừa và kiểm soát các vấn

đề sức khoẻ” Nhà dịch tễ học không chỉ quan tâm tới tử vong, bệnh tật mà còn cả với trạng thái sức khoẻ tốt và quan trọng nhất là các giải pháp tăng cường sức khoẻ

Từ “bệnh” bao hàm tất cả sự thay đổi không mong muốn của tình trạng sức khoẻ, bao gồm cả chấn thương và sức khoẻ tâm thần [17, tr 20]

Trang 35

Dịch tễ học cần đến những định nghĩa thực tế về sức khoẻ và bệnh tật, tập trung vào những khía cạnh sức khỏe dễ dàng đo lường được và có thể cải thiện Những định nghĩa về tình trạng sức khoẻ của các nhà dịch tễ học thường đơn giản, như “có bệnh” hay “không có bệnh” Việc xây dựng các tiêu chuẩn để xác lập sự hiện diện của một bệnh đòi hỏi phải có định nghĩa về tình trạng bình thường và bất bình thường Tuy nhiên thường khó xác định thế nào là bình thường và hiếm khi có

sự phân biệt rõ ràng giữa bình thường và bất bình thường, đặc biệt đối với những biến liên tục có dạng phân bố chuẩn liên quan đến một số loại bệnh [17, tr 34]

Tuy vậy, dịch tễ học giúp đo lường được các vấn đề sức khỏe và bệnh trạng [17] Từ đó giúp đề xuất được những biện pháp can thiệp hữu hiệu nhất để phòng ngừa, kiểm soát, hạn chế và thanh toán những tình trạng không có lợi cho sức khoẻ con người [62]

Khái niệm Dịch tễ học nói trên cũng cho thấy rằng những nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng là những nghiên cứu dịch tễ học, nhằm đo lường được tỷ lệ bất thường và tỷ lệ có nguy cơ về các vấn đề SKTT trên một quần thể nhất định Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cũng chính là nghiên cứu dịch tễ học sức khỏe tâm thần nhằm chỉ ra tỷ lệ bất thường và tỷ lệ có nguy cơ về các vấn đề SKTT ở học sinh THPTDTNT các tỉnh miền núi phía Bắc

1.2.4 Khái niệm Trẻ em và Vị thành niên

1.2.4.1 Khái niệm Trẻ em:

Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em (năm 1924), Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1968), Công ước 138 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc (năm 1976), Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1989)… đã khẳng định việc áp dụng độ tuổi trẻ em của mỗi quốc gia có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào nội luật của mỗi nước quy định độ tuổi thành niên sớm hơn Song, các tổ chức của Liên hợp quốc và quốc tế như UNICEF, UNFPA, ILO, UNESSCO… đều xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi Khái niệm “trẻ em” được quốc tế sử dụng thống nhất

và đề cập trong nhiều văn bản [58]

Riêng ở Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi của trẻ em chính thức được

đề cập trong một văn bản pháp quy sau khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành

Trang 36

Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11 năm 1979, trong đó quy định “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi” (Điều 1) Đến năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành đã nâng độ tuổi trẻ em lên đến dưới 16 tuổi (Điều 1) “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Độ tuổi này tiếp tục được khẳng định tại Điều 1 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm

2004 [53] Như vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ

em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi Mặc dù quy định độ tuổi thấp hơn so với Công ước quốc tế, nhưng quy định của Việt Nam vẫn được coi là phù hợp bởi quy định mở của Công ước

Mặc dù còn có nhiều cách gọi tên hay vận dụng khác nhau nhưng chúng ta

có thể thống nhất khái niệm trẻ em như sau: “Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người” Từ cách tiếp cận này, chúng ta có thể hiểu khái niệm về độ tuổi của trẻ

em là khoảng thời gian đã tồn tại từ khi ra đời cho đến năm 16 tuổi (theo pháp luật Việt Nam) hoặc năm 18 tuổi (theo pháp luật quốc tế)

1.2.4.2 Khái niệm Vị Thành niên:

Khái niệm vị thành niên ở các nước trên thế giới và Việt Nam còn có nhiều thông số khác nhau, chưa có sự thống nhất, do khái niệm này được đưa ra dựa vào từng xã hội hoặc quan điểm của từng tổ chức khác nhau

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên Từ tuổi 19 - 24 tuổi được coi là thanh niên [57]

Theo Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên-thanh niên của khối cộng đồng chung châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 – 24

Ở Việt Nam, Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam xác định vị thành niên - thanh niên là từ 10 - 24 tuổi Trong đó, vị thành niên là từ 10 - 19 tuổi, chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu từ 10 - 14 tuổi và giai đoạn sau từ 15 - 19 tuổi Trong khi theo quy định trong Pháp luật Việt Nam, vị thành niên là người có độ tuổi từ 10 –

18 tuổi

Trang 37

Tuy nhiên, dù theo quy định của tổ chức nào, hay các quy định quốc tế hoặc Việt Nam, độ tuổi học sinh (15-18 tuổi) trong nghiên cứu này của chúng tôi đều thuộc về lứa tuổi trẻ em hoặc vị thành niên

1.2.5 Các đặc điểm tâm-sinh lý của lứa tuổi vị thành niên

Do nghiên cứu tập trung vào lứa tuổi học sinh THPT, từ 15-18 tuổi, nên chúng tôi tập trung trình bầy về các đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi vị thành niên

1.2.5.1 Quan điểm của một số thuyết tâm lý về sự phát triển tâm-sinh lý của trẻ

Để đạt được mốt phát triển ở lứa tuổi vị thành niên, bất kỳ ai, thuộc bất kỳ dân tộc, vùng miền, hay tôn giáo nào cũng đều có thể trải qua một số thời kỳ phát triển nói chung Chính vì vậy, chúng ta sẽ cùng xem cách lý giải của một số học thuyết nói về các thời kỳ phát triển tâm lý lứa tuổi của trẻ em để hiểu rõ hơn vị trí

và tầm quan trọng của giai đoạn phát triển tâm lý tuổi vị thành niên, đặc biệt ở lứa tuổi 16 đến 18 tuổi

Các thuyết nói về sự phát triển tâm lý trẻ em đều cho rằng trẻ em đều đi theo các giai đoạn phát triển nhất định và sự phát triển về tính dục, nhận thức, đạo đức hay hành vi xã hội của trẻ ở giai đoạn sau đều phụ thuộc vào giai đoạn phát triển trước đó [6]

Theo thuyết Phân Tâm, Simund Freud (1856-1939) cũng chia thành 5 năm giai đoạn phát triển từ nhỏ cho đến 18 tuổi Tuy nhiên, lứa tuổi và ý nghĩa phân chia giai đoạn của nó hoàn toàn khác với thuyết phát triển xã hội Simund Freud coi 3 giai đoạn đầu đời là quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của cả cuộc đời, đó là Giai đoạn môi miệng (0-1,5 tuổi), Giai đoạn hậu môn (1-3 tuổi), giai đoạn dương vật (3-5 tuổi) và 2 giai đoạn tiếp theo là: Giai đoạn ẩn tàng (khoảng giữa 5 tuổi đến tuổi dậy thì), Giai đoạn sinh dục (khoảng 16-18 tuổi) Riêng giai đoạn sinh dục (16-18 tuổi) ông cho rằng trẻ xuất hiện những biểu hiện là người lớn với những xúc cảm tình dục mới, tình yêu lãng mạn và những hành vi vô thức và có

ý thức [6]

Theo thuyết Nhận thức, Jean Piaget (1896-1980), sự phát triển của trẻ em được chia thành 5 giai đoạn: Giai đoạn giác động (từ 0-2 tuổi); Giai đoạn tiền thao tác (từ 2-7 tuổi); Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi) và giai đoạn cuối cùng là: Giai đoạn thao tác chính thức, từ 11,12 tuổi cho đến khi trưởng thành - đây là lứa

Trang 38

tuổi có khả năng suy nghĩ trừu tượng và khái quát hóa các ý tưởng và có khả năng đưa ra kết luận từ những giả thuyết hơn là dựa vào hoàn cảnh thực tế Jean Piaget cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ em được tiến triển qua các giai đoạn và khác nhau về thể chất Một điều quan trọng về sự phát triển lệch lạc trong hành vi của trẻ được ông lý giải là do trẻ phải trải qua một giai đoạn nào đó không được trợ giúp để đạt đến mức độ phát triển bình thường về nhận thức [6]

Theo thuyết Phát triển xã hội, Erik Erikson (1902-1994) cho rằng những khía cạnh xã hội ảnh hưởng đến các giai đoạn phát triển lứa tuổi Chính vì vậy sẽ nảy sinh những mâu thuẫn giữa nhu cầu cá nhân và đáp ứng xã hội Ngược lại môi trường xã hội cũng có thể là nguyên nhân gây ra những chấn thương tâm lý đối với trẻ Học thuyết này chia sự phát triển tâm lý xã hội thành 5 giai đoạn “khủng hoảng”: (1) Từ 0 -12 tháng; (2) 12 tháng – 3 tuổi; (3) 3- 6 tuổi; (4) 6- 12 tuổi; (5) 12-18 tuổi Giai đoạn thứ 5 (12-18 tuổi) được Erikson miêu tả như là một giai đoạn xung đột giữa bản sắc và sự lẫn lộn vai trò, hay còn gọi là khủng hoảng tuổi dậy thì Cùng với sự phát triển hoàn thiện về sinh lý, kinh nghiệm sống và vai trò xã hội, trẻ nhận thức được bản sắc giá trị của bản thân Bản sắc liên quan đến sự thống hợp các kinh nghiệm trước đây với các tiềm năng Nếu trẻ không tìm ra hoặc khó có thể tìm

ra bản sắc cá nhân, sẽ dẫn đến sự lẫn lộn vai trò mà trẻ phải “đóng” trên bình diện cảm xúc, xã hội, nghề nghiệp trong giai đoạn đó và trong suốt cuộc đời [6]

Ngài ra, còn một số học thuyết khác có đề cập đến sự phát triển tâm lý của trẻ, nhưng 3 học thuyết kể trên có thể nói là những học thuyết có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến những lý giải các vấn đề tâm lý của trẻ em theo lứa tuổi Như vậy, thuyết nhận thức cho rằng sự phát triển nhận thức qua các giai đoạn có tầm quan trọng trong hình thành những giá trị cốt lõi của một cá nhân khi trưởng thành Thuyết phân tâm lại nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của tính dục đến quá trình hình thành và phát triển của cá nhân, và coi một cá nhân gặp trục trặc về tính dục ở một giai đoạn nào đó thì sẽ bị “cắm chốt” ở giai đoạn đó và sẽ trở thành các rối nhiễu tâm lý sau này Thuyết phát triển xã hội thì lại nhìn từ một góc độ khác cho rằng môi trường xã hội mà cá nhân ở trong đó ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành

và phát triển sự riêng biệt của mỗi cá nhân

Trang 39

Tuy có những cách nhìn nhận khác nhau, nhưng các học thuyết nói trên đều góp phần vào lý giải các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ em và những vấn đề cốt lõi ảnh hưởng/gây ra những vấn đề rối nhiễu tâm lý sau này

1.2.5.2 Phát triển tâm- sinh lý của tuổi vị thành niên

Ở lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt giai đoạn dậy thì, cơ thể phát triển, thay đổi đột ngột và nhanh chóng về cấu tạo cơ thể, chức năng sinh lý, nó tạo nên sự mất cân bằng tạm thời cả về thể chất lẫn tâm lý của lứa tuổi này Chính vì vậy, khi nói đến tuổi vị thành niên, chúng ta thường nghe đến những cụm từ: “khủng hoảng tuổi dậy thì”, “tuổi bất trị”, “thời kỳ khủng hoảng”, … nó cho thấy lứa tuổi này là một giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân

Những biểu hiện bề ngoài cơ thể dễ nhận thấy như các em bắt đầu mọc lông

ở bộ phận sinh dục, nách, chân Với em gái, bắt đầu có hiện tượng kinh nguyệt, ngực phát triển và có thể đạt được ở mức như người trưởng thành ở tuổi 13 hoặc 14 (SAVY 2003) Với em nam, đó là sự bắt đầu của sự xuất tinh đêm đều đặn (chúng

ta còn hay gọi là “giấc mơ ướt”), cùng với đó là sự phát triển của dương vật, giọng nói thay đổi (hay còn gọi là “vỡ giọng”) Trong khoảng thời gian này, chiều cao của các em cũng có sự biến đổi rõ nét, trung bình mỗi năm các em cao thêm 4-5 cm/năm đối với các em nữ và 5-6 cm/năm đối với các em nam Các em thường đạt được chiều cao tối đa ở tuổi 16-17 tuổi đối với nữ và 17-18 đối với nam [11]

Sự thay đổi và phát triển của các hoóc môn sinh dục ở tuổi vị thành niên có thể kích hoạt hành vi do có sự tác động lên hệ thần kinh Các nhà nghiên cứu (Buchanan, Eccles và Becker, 1972) chỉ ra có sự phụ thuộc không rõ nét giữa mức

độ hoóc môn với các đặc điểm về hành vi ở tuổi vị thành niên, như sự cau có, trầm cảm, lo lắng, mất tập trung, tức giận, kích động, hoảng hốt, hung hăng… Dù tác động này mang tính nhất thời, không kéo dài Tuy nhiên, sự thay đổi hoóc môn này kết hợp với những điều kiện thuận lợi như hoàn cảnh gia đình nghèo khó, sự khuyết thiếu của cha mẹ, thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, thiếu tình yêu thương… sẽ dễ dàng dẫn đến những rối loạn cảm xúc và hành vi lệch lạc ở trẻ vị thành niên [6]

Bên cạnh đó, sự phát triển giữa hệ xương và hệ cơ, giữa bàn tay và các đốt ngón tay không đồng đều nên dẫn đến tình trạng lóng ngóng, vụng về ở tuổi vị thành niên Sự phát triển tim mạch không cân đối, thể tích tim tăng nhanh nhưng

Trang 40

đường kính của các mạch máu phát triển chậm gây rối loạn tạm thời tuần hoàn máu, khiến các em ở lứa tuổi này có cảm giác mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, dễ xúc động, dễ bực tức… Tuổi dậy thì khiến vị thành niên cảm thấy mình đã trở thành người lớn một cách khách quan và sự thay đổi về mặt sinh lý này góp phần tạo nên nguồn gốc làm nảy sinh ở các em cảm giác về “tính người lớn” của mình Điều này làm các em có những rung cảm mới, nhất là những rung cảm giới tính, các em thường giữ kẽ, xấu hổ, thẹn thùng và những rung cảm này thường thất thường [11]

Với lứa tuổi này, ý thức về sự tự trọng, về nhu cầu độc lập xuất hiện do trẻ cảm thấy mình đã lớn, do cảm thấy được đối xử “ngang hàng” như “người lớn”, do

sự sự phát triển nhận thức và có một nguồn tri thức lớn hơn trước, trẻ có thể tự lý giải nhiều vấn đề với các góc cạnh khác nhau và ý thức về bản sắc cá nhân rõ nét Tất cả điều này dẫn trẻ đến nhiều ước mơ, thậm chí có ảo tưởng về bản thân, tự tôn

về bản thân Các em muốn được đối xử như người lớn trong khi các bậc cha mẹ chưa thay đổi thói quen ứng xử với con cái ở lứa tuổi này một cách thích hợp do cha

mẹ nhìn thấy thực tế các vẫn lệ thuộc vào kinh tế gia đình, có cách ứng xử trẻ con, chưa chịu trách nhiệm được về hành động của mình [11]

Như vậy với vị thành niên, một mặt có sự ứng xử trẻ con, mặt khác lại có nhu cầu được tự quyết lớn và có xu hướng phủ đình gây nên những mâu thuẫn nội tâm, những rối loạn cảm xúc (vui buồn thất thường, dễ lo hãi, những ứng xử bồng bột, cực đoan, khó tự ngự chế, tự ái và không hài lòng về bản thân dẫn đến cảm nhận về sự thất bại [6]

1.2.6 Dân tộc thiểu số

1.2.6.1 Khái niệm Dân tộc thiểu số

Theo Lô Quốc Toản, trong bài viết Quan niệm về “Dân tộc thiểu số” và “Cán

bộ dân tộc thiểu số” hiện nay, đăng trong tập chí Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam [59],

“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Tác giả cho biết các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân

số ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với

“dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w