Tình trạng viêm khớp trong bệnh Gout là do sự lắng đọng các tinh thể Natri urat Monosodium urat - MSU trong dịch khớp hoặc ở các mô.. 80%- 90% bệnh nhân Gout nguyên phát có tình trạng gi
Trang 1BỆNH GOUT
Ths.Bs Hoàng Văn Dũng Khoa CXK – BV Bạch Mai
1 Đại cương
Gout là bệnh do rối loạn chuyển hoá các nhân purin, có đặc điểm chính là tăng acid uric (AU) máu Tình trạng viêm khớp trong bệnh Gout là do sự lắng đọng các tinh thể Natri urat (Monosodium urat - MSU) trong dịch khớp hoặc ở các mô
Gout được chia làm hai loại là Gout nguyên phát và Gout thứ phát:
É Gout nguyên phát do rối loạn chuyển hoá bẩm sinh hoặc giảm khả năng đào thải acid uric của thận mà không có tổn thương thực thể tại thận
É Gout thứ phát có liên quan đến các bệnh lý khác hoặc do thuốc
Trong cả hai loại, tình trạng tăng acid uric máu mạn tính có thể là hậu quả của tăng sản xuất acid uric hoặc giảm đào thải urat qua thận hoặc phối hợp cả hai cơ chế
2 Dịch tễ học
Bệnh Gout thường gặp ở nam giới tuổi trung niên, đỉnh khởi phát bệnh là 50 tuổi, nhưng tỷ lệ mắc bệnh tăng dần ở cả hai giới nam và nữ ở các nhóm tuổi cao hơn
Tỷ lệ hiện mắc Gout là 0,7%- 1,4% ở nam giới và 0,5%- 0,6% ở nữ giới Tỷ lệ này tăng lên 4,4%- 5,2% ở nam và 1,8%- 2,0% ở nữ trong độ tuổi trên 65 ở những bệnh nhân khởi phát bệnh Gout sau 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ là gần bằng nhau và nếu bệnh Gout khởi phát sau 80 tuổi thì tỷ lệ nữ lại cao hơn nam [6] Theo một nghiên cứu đánh giá mô hình bệnh tật tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai trong 10 năm (1991-2000) thì bệnh Gout chiếm tỷ lệ 8% (so với trước đây là 1,5%)
3 Bệnh nguyên và bệnh sinh
3.1 Tình trạng tăng acid uric máu
Acid uric máu cao có thể là hậu quả của tăng sản xuất acid uric hoặc giảm đào thải acid uric qua thận 80%- 90% bệnh nhân Gout nguyên phát có tình trạng giảm đào thải acid uric qua ống thận mặc dù chức năng thận bình thường, có thể do giảm quá trình lọc, tăng tái hấp thu hoặc giảm bài tiết, nhưng cơ chế nào là quan trọng nhất thì vẫn chưa rõ ràng
Trang 2Acid uric máu cao có thể thứ phát sau một số bệnh lý (suy thận, bệnh lý tuỷ tăng sinh, béo phì, nghiện rượu và do thuốc)
Khoảng 10%- 20% bệnh nhân Gout nguyên phát là do tăng tổng hợp purin dẫn đến tăng sản sinh acid uric Có 4 loại rối loạn di truyền trong tổng hợp purin là:
É Tăng hoạt động men PRPP synthetase,
É Thiếu men glucose-6- phosphate dehydrogenase,
É Thiếu men fructose-1- phosphate aldolase
É Thiếu men HGPRT
3.2 Nguyên nhân tăng aicd uric máu
Theo chu trình chuyển hóa acid uric, tăng acid uric máu có nhiều nguyên nhân Đầu tiên là tăng cung cấp qua chế độ ăn, uống (bia, rượu, nội tạng, thịt chó, thịt bò ), tăng quá trình tổng hợp (rối loạn về gen ), và giảm quá trình đào thải Hoặc phối hợp cả hai cơ chế vừa tăng tổng hợp vừa giảm đào thải acid uric qua nước tiểu
Nguyên nhân tăng acid uric máu và Gout
Sản sinh acid uric
quá nhiều
Tăng acid uric máu nguyên phát: tự phát, thiếu một phần hoặc hoàn toàn men HGPRT; men PRPP synthetase tăng hoạt động Tăng acid uric máu thứ phát: chế độ ăn nhiều purin; bệnh lý tuỷ tăng sinh; tan máu; bệnh vẩy nến; bệnh lý dự trữ glycogen týp 1, 3, 5,7
Giảm đào thải acid
uric
Tăng acid uric máu nguyên phát: tự phát Tăng acid uric máu thứ phát: suy thận; toan chuyển hoá; mất nước; thuốc (lợi tiểu, cyclosporin, pyrazinamid, ethambutol, salicylat liều thấp); tăng huyết áp; bệnh thận nhiễm độc chì Tăng sinh và giảm
đào thải acid uric
Nghiện rượu Thiếu men Glucose- 6- phosphatase Thiếu men Fructose- 1- phosphat- aldolase
3.3 Quá trình lắng đọng acid uric và hình thành viêm do tinh thể
Ở nồng độ dưới 7,0mg/dl (416mcmol/l) và pH bằng 7,4, acid uric gần như hoà tan hoàn dưới dạng ion (+) urat Khi nồng độ acid uric trong máu lớn hơn 7,0 mg/dl, vượt quá nồng độ hoà tan tối đa, urat kết tủa thành các vi tinh thể monosodium urat (MSU)
Trang 3Các điều kiện thuận lợi cho sự lắng đọng và kết tủa tinh thể bao gồm nhiệt độ thấp (ở các khớp ngoại vi), giảm pH dịch ngoài tế bào, và giảm khả năng gắn urat của protein máu Ngoài ra còn có các yếu tố khác như chấn thương và nồng độ urat tại chỗ tăng nhanh do sự huy động của nước từ mô ở ngoại vi (khi nâng cao chân bị phù)
Khả năng gây viêm của tinh thể liên quan đến khả năng gắn vào các immunoglobulin
và protein, đặc biệt là bổ thể và lipoprotein Phức hợp này gắn vào cơ quan thụ cảm ở
bề mặt đại thực bào và dưỡng bào, dẫn đến hoạt hoá và giải phóng các cytokin, yếu tố hoá học và các hoạt chất trung gian khác Các đại thực bào sẽ thực bào tinh thể urat và phá huỷ lysosome giải phóng arachidonate, collagenase, các gốc oxy hoá gây nên tình trạng viêm khớp
4 Giai đoạn bệnh
Tiến triển lâm sàng Gout kinh điển diễn biến tự nhiên qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn I: tăng acid uric máu không triệu chứng (Asymtomatic hyperuricemia) + Giai đoạn II: cơn Gout cấp (acute gouty arthritis) và giữa các đợt cấp (intercritical gout)
+ Giai đoạn III: Gout mạn tính tái diễn và hạt tô phi (chronic recurrent and tophaceuos gout)
Tăng acid uric máu không triệu chứng được định nghĩa là tình trạng tăng acid máu trên
7 mg/dl (416 mcmol/l) mà không có triệu chứng lâm sàng của cơn Gout cấp Có hai loại là nguyên phát và thứ phát Tăng acid uric máu không triệu chứng nguyên phát thường khởi phát ở nam giới tuổi dậy thì và nữ giới tuổi mãn kinh Tình trạng tăng acid uric này kéo dài nhiều năm (trung bình 20 năm) trước khi khởi phát cơn Gout cấp Tại Mỹ, tỉ lệ mắc bệnh Gout hàng năm là 4,5%; 0,5%; 0,1% tương ứng ở những người
có mức acid uric máu là: > 535 mcmol/l; 416 – 529 mcmol/l; < 416 mcmol/l [2]
Sau khi cơn Gout cấp khởi phát và kết thúc, đợt cấp thứ hai cú thể xuất hiện sau vài tháng đến vài năm, giữa các đợt cấp hoàn toàn không có triệu chứng lâm sàng Lúc đầu, khoảng thời gian giữa các đợt cấp dài, nhưng sau đó các đợt cấp xuất hiện ngày càng nhiều, khởi phát ít cấp tính hơn, thời gian viêm kéo dài hơn và tổn thương nhiều khớp hơn Rất hiếm bệnh nhân không xuất hiện cơn Gout thứ hai Trong một nghiên cứu được tiến hành trước khi sử dụng thuốc làm giảm acid uric máu thấy 62% bệnh
Trang 4nhân khởi phát cơn Gout cấp thứ hai trong năm đầu, 78% bệnh nhân xuất hiện cơn Gout thứ hai trong vòng 2 năm và 93% có cơn Gout thứ hai trong vòng 10 năm [2]
Ở giai đoạn giữa các đợt cấp các khớp đã bị tổn thương hầu như không có triệu chứng lâm sàng nhưng các vi tinh thể urat vẫn tiếp tục lắng đọng Vì vậy có thể tìm thấy tinh thể urat trong dịch khớp và phát hiện các tổn thương xương trên phim chụp Xquang Cuối cùng, sau khoảng 5 đến 10 năm với các đợt Gout cấp, bệnh tiến triển thành Gout mạn có hạt tô phi Lúc này các biểu hiện lâm sàng, sinh hoá, Xquang là biểu hiện của
sự tích lũy urat ở các mô như: sụn khớp, bao khớp, dây chằng, phần mềm, thận, tim , tạo nên những bệnh cảnh viêm nhiều khớp, phá hủy và biến dạng khớp, tổn thượng thận (sỏi thận, viêm cầu thận, viêm thận kẽ, suy thận)
5 Triệu chứng lâm sàng
5.1 Cơn Gout cấp
5.1.1 Cơn Gout cấp điển hình
Vị trí và số lượng khớp viêm: thường gặp ở các khớp chi dưới, 80% khởi phát ở một khớp như: khớp bàn ngón chân cái, hoặc khớp gối, hoặc khớp bàn ngón chân khác, đôi khi khởi phát tại điểm bám gân bao gân (Achille), hoặc thậm chí là mô mềm như viêm
mô tế bào (tại mu chân, cổ chân, mắt cá chân)
Hoàn cảnh xuất hiện
É Cơn thường xuất hiện tự phát, khởi phát đột ngột vào ban đêm, sau một bữa ăn hoặc uống rượu, bia quá mức; sau chấn thương; sau can thiệp phẫu thuật; sau một đợt dùng thuốc: aspirin, lợi tiểu (thiazid, furosemmid), ethambutol, thuốc gây huỷ tế bào
É Có thể có một số triệu chứng xảy ra trước khi có cơn Gout cấp như: đau đầu, đau thượng vị, tiểu nhiều, tê bì ngón chân Đây là thời điểm tốt để điều trị phòng ngừa, không cho cơn Gout cấp khởi phát
Tính chất khớp viêm:
É Khớp đau dữ dội, bỏng rát, đau đến cực độ sau khoảng 12 đến 24 giờ Đau chủ yếu
về đêm, làm mất ngủ Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-39 độ C
É Khám khớp bị tổn thương sưng, nóng, đỏ, đau Nếu là khớp lớn thường kèm tràn dịch, khớp nhỏ thì phù nề
Trang 5É Đáp ứng tốt với colchicine, các triệu chứng viêm thuyên giảm hoàn toàn sau 48
giờ dựng cochicin
É Với những cơn Gout cấp ở giai đoạn đầu thường khỏi nhanh sau vài ngày đến 1-2
tuần, thậm chí không điều trị gì
5.1.2 Cơn Gout không điển hình
Viêm khớp bán cấp tính, tính chất sưng đau không dữ dội, có thể tràn dịch khớp gối
đơn thuần
Viêm nhiều khớp cấp: dấu hiệu gợi ý là khởi phát đột ngột, viêm 3-4 khớp, thường là ở chi dưới Thể này thường gặp trong giai đoạn tiến triển của bệnh và giai đoạn Gout
mạn
Biểu hiệu cạnh khớp cấp tính: viêm gân do Gout, nhất là viêm gân Achille, viêm túi
thanh mạc khuỷu tay
5.2 Gout mạn tính
5.2.1 Hạt tôphi
Trong giai đoạn Gout mạn, sau đợt viêm cấp, các khớp bị tổn thương không trở về
bình thường và có thể vẫn sưng Ngoài ra thường xuất hiện các hạt tô phi
Hạt tophi ở tay và vành tai
Hạt tôphi dưới da bắt đầu xuất hiện ở xung quanh khớp và bao hoạt dịch, đặc biệt là ở
mắt cá ngoài cổ chân, khớp bàn ngón chân, quanh khớp gối và khớp khuỷu, dọc theo
gân ở bàn tay và bàn chân, quanh các khớp đốt ngón gần và xa ở bàn tay Các hạt tôphi thường chắc và di dộng, da phủ phía trên có thể bình thường hoặc mỏng và đỏ Khi các
Trang 6hạt vỡ ra bề mặt, chất lắng đọng trông như phấn và có màu kem hoặc vàng nhạt Hạt tôphi có thể xuất hiện ở những nơi không liên quan đến khớp như vành tai, trong nội tạng như cơ tim, ngoại tâm mạc, van động mạch chủ, ngoài màng cứng cột sống Hạt tôphi thể hiện sự lắng đọng mạn tính các tinh thể urat vào tổ chức, gây phá hủy cấu trúc tổ chức (khớp) Tại Mỹ, thời gian trung bình xuất hiện hạt tôphi từ khi có cơn Gout đầu tiên là 12 năm, thời gian này sẽ phụ thuộc vào tình trạng tăng acid uric máu
và các yếu tố nguy cơ như: chế độ ăn uống không kiểm soát, sử dụng corticoid kéo dài làm thúc đẩy sự xuất hiện hạt tôphi sớm hơn, thậm chí sau 2 năm khởi phát bệnh [2]
5.2.2 Bệnh khớp mạn tính do muối urat
Do tích luỹ muối monosodium urat trong mô cạnh khớp, trong sụn và trong xương Viêm nhiều khớp thường không đối xứng, khớp sưng kèm biến dạng do huỷ hoại khớp
và do hạt tôphi, kèm theo cứng khớp
X quang có tổn thương là các khuyết và các hốc (vị trí hạt tô phi) rất gợi ý: dạng móc câu, hẹp khe khớp, gai xương thứ phát, đôi khi rất nhiều gai
Xquang trong bệnh Gout mạn tính có hạt tô phi
Siêu âm khớp: siêu âm có thể phát hiện được hình ảnh lắng đọng tinh thể urat tại sụn khớp ở những cơn Gout cấp đầu tiên hoặc ngay cả khi chưa có triệu chứng trên lâm sàng, biểu hiện bằng hình ảnh đường đôi Siêu âm có thể phát hiện sớm các biến đổi ở
Trang 7phần mềm, sụn khớp và xương do bệnh Gout gây ra như hạt tôphi, hình ảnh khuyết xương, lắng đọng tinh thể urat trên bề mặt sụn khớp, tràn dịch khớp Nhiều nghiên cứu
về siêu âm đã mô tả dấu hiệu đường đôi gặp tỷ lệ 31 - 92 % và khuyết xương là 65 - 82%
Chụp cộng hưởng từ hoặc cắt lớp vi tính cho phép phát hiện những tổn thương bào mòn xương, khuyết xương, Calci hóa Điểm đặc trưng của hạt tôphi trên cộng hưởng
từ là ổ tổn thương hỗn hợp tín hiệu, thường giảm tín hiệu cả trên chuỗi xung T1 và T2, tăng ngấm thuốc đối quang từ vùng vỏ
5.2.3 Các tổn thương thận trong bệnh Gout
Sỏi uric
É Khoảng 10-20% bệnh nhân Gout có sỏi thận, và sỏi uric chiếm 5-10% trong tổng
số sỏi đường tiết niệu
É Thường biểu hiện bằng cơn đau quặn thận, hoặc chỉ đái máu
É Sỏi thường không cản quang, chỉ thấy được trên chụp hình thận có cản quang và siêu âm, thường cú ở cả hai bên
É Có 3 yếu tố làm tăng thúc đẩy hình thành sỏi uric như: tăng bài tiết acid uric niệu, giảm thể tích nước tiểu và giảm pH nước tiểu
Bệnh cầu thận do urat (chronic urate nephropathy)
É Bệnh có thể độc lập, không kết hợp với sỏi thận
É Biểu hiện là viêm cầu thận và/hoặc viêm thận kẽ
É Triệu chứng: protein niệu không thường xuyên và vừa phải; đái máu, bạch cầu niệu vi thể
Toan máu có tăng chlor máu biểu hiện khá sớm; thường kết hợp tăng huyết áp
Suy thận: trước kia suy thận tiến triển rất hay gặp ở Gout; có 25% bệnh nhân Gout tử vong do bệnh thận nhưng ngày nay tỷ lệ này đã giảm đi nhiều
6 Cận lâm sàng
6.1 Xét nghiệm acid uric máu
Acid uric máu tăng khi: nam trên 70 mg/l (420 mcmol/l), nữ trên 60 mg/l (360
mcmol/l)
Trang 8Tất cả bệnh nhân Gout đều có tăng acid uric vào một vài thời điểm nào đó trong quá trình bệnh, hoặc tăng liên tục Tuy nhiên, rất nhiều người có tăng acid uric mà không
có biểu hiện Gout Trong cơn Gout cấp có đến 12-43% bệnh nhân có mức acid uric máu bình thường hoặc thấp [2]
Nếu acid uric máu bình thường cũng không loại trừ chẩn đoán và ngược lại nếu acid uric cao không có triệu chứng lâm sàng cũng không chẩn đoán Gout, cần làm lại trong nhiều ngày liên tiếp
6.2 Định lượng acid uric niệu 24 giờ
Với mục đích hướng dẫn điều trị: nhằm xác định tăng tình trạng bài tiết urat (trên 600 mg/24h) hay giảm thải tương đối (dưới 600 mg/24h): Nếu ở tình trạng tăng bài tiết acid uric niệu, không được dùng nhóm thuốc hạ acid uric có cơ chế tăng đào thải (probenecid), hoặc thuốc tiờu acid uric (uricozyme)
6.3 Xét nghiệm dịch khớp (xét nghiệm tế bào và soi tìm tinh thể urat)
Dịch khớp viêm, rất giàu tế bào (trên 50.000 bạch cầu/ 1 mm3), chủ yếu là bạch cầu đa nhân (không thoái hoá)
Nếu thấy được tinh thể urat cho phép xác định chẩn đoán cơn Gout
6.4 Các xét nghiệm thông thường khác
Tốc độ lắng máu tăng cao
Bạch cầu tăng, trong đó bạch cầu đa nhân trung tính tăng
Xét nghiệm đường máu, chức năng gan, chức năng thận, lipid máu Gout là một rối loạn chuyển hóa, do đó bệnh nhân mắc bệnh Gout thường kèm theo các rối loạn
chuyển hóa khác như: đái tháo đường, rối loạn lipid máu
6.5 Xquang khớp
Giai đoạn Gout cấp, hình ảnh xquang khớp nói chung bình thường
Giai đoạn Gout mạn tính có hạt tôphi: tổn thương là những ổ khuyết xương và các hốc (vị trí hạt tô phi) rất gợi ý: dạng móc câu, hẹp khe khớp, gai xương, đôi khi rất nhiều gai, gây phá hủy và biến dạng cấu trúc khớp
6.6 Siêu âm
Siêu âm thận: khảo sát nhu mô và đài bể thận để đánh giá viêm thận, suy thận, sỏi đường tiết niệu
Trang 9Siêu âm khớp: khảo sát tình trạng viêm màng hoạt dịch khớp, tràn dịch khớp, hình ảnh đường đôi ở khớp bàn ngón 1 bàn chân, khớp cổ chân, hạt tôphi, đánh giá sự phá hủy xương khớp và định hướng chọc hút dịch khớp làm xét nghiệm
7 Chẩn đoán
7.1 Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán chắc chắn Gout khi tìm thấy tinh thể monosodium urat trong dịch khớp
hoặc trong hạt tôphi Tinh thể urat cú hình kim, lưỡng chiết quang, nằm trong tế bào
trong giai đoạn cấp nhưng có thể nhỏ hơn và tù hơn và nằm ngoài tế bào trong giai
đoạn giữa các đợt cấp (xem dưới kính hiển vi phân cực – polarized microscopy)
Tinh thể monodium urate lưỡng chiết quang trong dịch khớp, quan sát dưới KHV phân cực:
É (a): tự do
É (b): trong bạch cầu đa nhân
Tiêu chuẩn chẩn đoán của Bennett và Wood 1968
a) Hoặc tìm thấy tinh thể AU trong dịch khớp hay trong các hạt tô phi
b) Hoặc tối thiểu có trên 2 trong các tiêu chuẩn sau đây:
É Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của một khớp với tính chất khởi phát đột ngột, sưng đau dữ dội, và khỏi hoàn toàn trong vòng hai tuần
É Tiền sử hoặc hiện tại có 1 đợt sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như trên
É Có hạt tô phi
É Đáp ứng tốt với colchicin (giảm viêm, giảm đau trong vòng 48h) trong tiền sử hoặc hiện tại Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc 2 yếu tố của tiêu chuẩn b
Trang 10Tiêu chuẩn này có độ nhạy 70%, độ đặc hiệu 82,7%)
Theo tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp Mỹ - ACR 1977
Có tinh thể urat đặc trưng trong dịch khớp và / hoặc
Hạt tôphi được chứng minh có chứa tinh thể urat bằng phương pháp hóa học hoặc kính hiển vi phân cực, và / hoặc:
Có 6/12 biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm và xquang sau:
É Viêm khớp tiến triển tối đa trong vòng 1 ngày
É Có hơn 1 đợt viêm khớp cấp
É Viêm một khớp
É Đỏ vùng khớp
É Sưng, đau khớp bàn ngón chân I
É Viêm khớp bàn ngón chân I ở một bên
É Viêm khớp cổ chân một bên
É Hạt tô phi nhìn thấy được
É Tăng acid uric máu
É Sưng đau khớp không đối xứng
É Nang dưới vỏ xương, không khuyết xương
É Cấy vi khuẩn dịch khớp âm tính
Tiêu chuẩn này có độ nhạy 70%, độ đặc hiệu 78,8%))
7.2 Chẩn đoán phân biệt
Viêm khớp nhiễm khuẩn: tổn thương một khớp, bệnh nhân có thể sốt, đôi khi kèm rét run, thường có đường vào và có tình trạng nhiễm trùng, không có cơn Gout cấp Dịch khớp có thể có bạch cầu đa nhân trung tính thoái hoá Soi cấy dịch khớp nhằm phát hiện một viêm khớp nhiễm khuẩn có thể kết hợp với Gout
Viêm khớp phản ứng: có tiền sử nhiễm khuẩn cơ quan khác trước đó (tiết niệu, sinh dục), không có cơn Gout cấp
Viêm khớp dạng thấp: thường ở nữ giới, khớp sưng đau không nóng đỏ và không có cơn Gout cấp