1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ bảo hiểm thai sản ở việt nam

21 271 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 415,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm xã hội giúp người lao động bù đắp phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút trong quá trình lao động đảm bảo các quyền của người được hưởng khi gặp rủi ro trong cuộc sống đồng thời

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

1.1.1 Khỏi niệm Bảo hiểm xó hội 10 1.1.2 Bảo hiểm xó hội - một bộ phận cấu thành trong hệ thống An

sinh xó hội ở Việt Nam

11

1.2.1 Khỏi niệm và ý nghĩa chế độ Bảo hiểm thai sản 16 1.2.2 Cỏc nguyờn tắc của Bảo hiểm thai sản 19

1.3 Một số quy định của phỏp luật quốc tế về chế độ Bảo hiểm thai sản 21 1.3.1 Cỏc cụng ước quốc tế 21 1.3.2 Phỏp luật một số nước 25

1.4 Sơ lược lịch sử phỏp luật Việt Nam về chế độ bảo hiểm thai

sản

26

1.4.1 Giai đoạn 1945 - 1994 26 1.4.2 Giai đoạn 1994 - 2006 29 1.4.3 Giai đoạn 2006 đến nay 33

Chương 2: Các QUY ĐịNH PHáP LUậT hiện hành về chế độ

bảo hiểm thai sản

Trang 3

2.2.1.1 Thời gian nghỉ khám thai 37 2.2.1.2 Thời giai nghỉ bị khi bị sẩy thai, nạo hút thai 37 2.2.1.3 Thời gian nghỉ sinh con 38 2.2.1.4 Thời gian nghỉ khi nuôi con nuôi 40 2.2.2 Mức hưởng chế độ thai sản 40 2.2.3 Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng Bảo hiểm xã

hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản

42

2.2.4 Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản 43

2.3.1 Nguồn hình thành tài chính thực hiện Bảo hiểm thai sản 43 2.3.2 Quản lý và sử dụng tài chính Bảo hiểm thai sản 45

2.4.1 Tầm quan trọng và những yêu cầu cơ bản trong việc giải

quyết tranh chấp Bảo hiểm xã hội về thai sản

47

2.4.2 Những nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp Bảo

hiểm xã hội về thai sản

49

2.4.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp Bảo hiểm xã hội về chế độ thai

sản

51

Chương 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THAI

SẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ

ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN

56

3.1.1 Tình hình thực hiện chế độ thai sản 56 3.1.1.1 Số người lao động tham gia 56 3.1.1.2 Số người lao động được hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội về

thai sản

58

Trang 4

3.1.2 Một số tồn tại qua thực tiễn thực hiện chế độ Bảo hiểm xã

hội về thai sản

60

3.2.1.1 Nâng cao nhận thức cho mọi công dân về Bảo hiểm xã hội

trong đó có chế độ thai sản

66

3.2.1.2 Nâng cao tính đồng bộ và khả thi của hệ thống luật pháp 66 3.2.1.3 Đảm bảo sự ổn định và bền vững của nguồn tài chính 67 3.2.1.4 Hoàn thiện mô hình quản lý và nâng cao năng lực bộ máy

3.2.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả của họat động áp dụng pháp

luật đối với chế độ Bảo hiểm xã hội về thai sản

77

3.2.2.4 Nâng cao hiệu quả họat động của tổ chức công đoàn đối

với việc bảo vệ người lao động đặc biệt là lao động nữ

79

3.2.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền với việc thực hiện chế độ thai sản

80

3.2.2.6 Xử phạt nghiêm đối với các hành vi vi phạm chế độ Bảo

hiểm xã hội nói chung và Bảo hiểm xã hội về thai sản nói riêng

81

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp ếthiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột chính của an sinh xã hội được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bởi nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Bảo hiểm xã hội giúp người lao động bù đắp phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút trong quá trình lao động đảm bảo các quyền của người được hưởng khi gặp rủi ro trong cuộc sống đồng thời thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước luôn quan tâm đến chính sách về con người

Trong cuộc sống con người phải tuân theo quy luật phát triển và sự sinh tồn của tự nhiên nên khi rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hay do sự tác động của kinh tế thị trường thì người lao động cần có một khoản vật chất giúp đỡ người lao động giải quyết những khó khăn đó Vì thế, việc tham gia Bảo hiểm xã hội của người lao động là hết sức cần thiết trong đó có sự can thiệp điều chỉnh của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi gặp rủi ro và xác định trách nhiệm pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động khi người lao động gặp phải khó khăn thông qua đóng góp nghĩa vụ tài chính bắt buộc Các Mác khẳng định: “Vì nhiều rủi ro khác nhau, nên phải dành một số thặng dư nhất định cho quỹ bảo hiểm xã hội để bảo đảm cho sự mở rộng theo kiểu luỹ tiến hoá quá trình sản xuất ở mức cần thiết, phù hợp với sự phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số ” [1; tr 186]

Bảo hiểm thai sản là một trong những chế độ của Bảo hiểm xã hội bắt buộc nằm song hành với các chế độ bảo hiểm ốm đau, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ bảo hiểm hưu trí…Bảo hiểm thai sản ngoài chức năng đảm bảo thu nhập cho người lao động khi công việc lao động tạm thời bị gián đoạn nó còn góp phần quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho người lao động, đảm bảo quyền được chăm sóc của trẻ em

Trang 6

Vì sự ưu việt của chế độ Bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với lao động nữ nói chung tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội nên việc nghiên cứu đề tài “chế độ Bảo hiểm thai sản ở Việt Nam” là rất cần thiết Hơn nữa, đề tài có ý nghĩa thiết thực giải quyết các vấn đề về bảo hiểm thu nhập và đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nuôi con nuôi, thực hiện các biện pháp tránh thai… Vấn đề này thường xuyên gặp phải ở các doanh nghiệp, các

cơ quan nhà nước nên thôi thúc tác giả say mê nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo các tạp chí khoa học pháp lý: Nhà nước pháp luật, thông tin khoa học pháp lý, tạp chí Bảo hiểm xã hội, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, các công trình nghiên cứu khoa học của người đi trước thông qua mạng, báo chí …Như bài viết của Thạc sĩ Đỗ Thị Dung - Giảng viên chính khoa pháp luật kinh tế trường Đại học Luật về: “Chế

độ Bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của lao động nữ”, tác giả Đào Duy Phương về :“ Chế độ Bảo hiểm xã hội về thai sản theo pháp luật hiện hành”, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chí: “Hoàn thiện thực thi pháp luật về lao động nữ trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước” …Qua đó, có thể thấy các tác giả đã đi sâu tập trung về các điều kiện hưởng chế độ thai sản, thời gian và mức hưởng chế độ thai sản, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện Đặc biệt Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Phụng với bài viết :“Nội luật hóa CEDAW về Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ khi dự thảo Luật Bảo hiểm

xã hội” đã so sánh đối chiếu giữa pháp luật quốc gia và các quy định về thai sản trong công ước CEDAW để đưa ra các kiến nghị nội luật hóa pháp luật quốc gia cho phù hợp với công ước quốc tế Tuy nhiên, các công trình của các tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu trong những phạm vi hẹp mang tính chất

Trang 7

nghiên cứu trao đổi, là các công trình khoa học nghiên cứu ngắn gọn trên các tạp chí có tính gợi mở Hơn nữa, những bài viết của các tác giả hầu như nghiên cứu khi chưa có Luật Bảo hiểm xã hội ra đời vì thế những người đi sau cần phát huy và tiếp thu phát triển đề tài sâu rộng hơn có giá trị thực tiễn Ngoài ra, tác giả đi khảo sát thực tiễn các doanh nghiệp các cơ quan nhà nước, cơ quan Bảo hiểm xã hội để lấy số liệu thực tế và tìm hiểu cách thức giải quyết các quyền lợi chế độ Bảo hiểm thai sản Trên cơ sở tìm hiểu các thành quả mà người đi trước đã đạt được tác giả tiếp tục nghiên cứu và kiến nghị đưa ra các giải pháp để góp phần hoàn thiện thực trạng chế độ Bảo hiểm thai sản như thời gian nghỉ chăm sóc con, chính sách hưởng Bảo hiểm thai sản khi cả cha mẹ tham gia bảo hiểm việc nghỉ dưỡng đối với người lao động

nữ mang thai bệnh lí, việc đóng góp sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội…

Một trong những vấn đề góp phần làm nên thành công của luận văn là việc nghiên cứu các tài liệu, vì thế nên việc tiếp cận và tìm hiểu các văn bản pháp lý quốc tế, các văn bản pháp luật trong nước liên quan đến chế độ Bảo hiểm thai sản là hết sức cần thiết Người viết tập trung nghiên cứu các điều ước quốc tế của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về đảm bảo quyền lao động

nữ liên quan đến vấn đề thai sản như Công ước số 3 năm 1919, Công ước số

103 năm 1952 (xét lại) Công ước 102 năm 1952… Luật bảo hiểm và các chính sách an sinh xã hội của các nước Nhật, Singapo, Đức, Pháp, Thái Lan…

Các văn bản pháp luật Việt Nam bao gồm đạo luật quan trọng có giá trị cao nhất đảm bảo quyền con người đặc biệt quyền của phụ nữ như: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 Tìm hiểu hệ thống văn bản pháp luật trước khi có luật lao động ra đời như các Sắc lệnh 29, Sắc lệnh 77… của Hồ Chủ Tịch, các điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị Định 12/CP ngày 26/1/1995, Nghị định 45 CP ngày

Trang 8

15/7 /1995, Luật lao động 1994, câc văn bản hướng dẫn Luật lao động 1994, Nghị định số 01/2003 ngăy 09/1/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Điều lệ bảo hiểm xê hội ban hănh kỉm theo Nghị định số 12/CP ngăy 26/ 01/1995 được ban hănh, Luật bảo hiểm xê hội năm 2006, Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngăy 22 thâng 12 năm 2006 hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xê hội về bảo hiểm xê hội bắt buộc…

ììíứâìíứâảóảâạíọâýăướâậôọâýạíảểêộạííứậââôìíứọủườđướôạâíảểêộăộữụộí

ủêộđượăướđặệđởóóòấọđờốêộảểêộúườđộùđắầậịấặịảúâìđộđảảâềủườđượưởặủộốđồờểệảấốđẹủăướôđđếíâềườộốườảđậâểăựồủựííơăâườợịảặấảăđộưốđảạđộổăựâđộủếịườìườđộầóộảậấúđỡườđộảếữóăđóìếệảểêộủườđộăếứầếđóóựệđềỉủăướđểđảảềợườđộặủăâđịâệâýủườửụđộăườđộườđộặảóăôđóóĩụăíắộââẳđịìềủâíảăộốặưấđịỹảểêộđểảđảựởộểỹếââìảấởứầếùợớựâểủầăììăđốảểảăộữếđộủảểêộắộằăớâếđộảểốđếđộảểạđộăệềệếđộảểưíảểảăứăđảảậườđộôệđộạờịâđạóòóầọệăóứẻườđộđảảềđượăóủẻìựưệủếđộảểảóầọđặệđốớđộữóạđềệđểđộữựệốứăăẹừạđềệđểđộữựệốôâêộíệíứđềăếđộảểảởệăấầếơữđềẳýĩếựảếâấđềềảểậăđảảứẻđộữóíăườđộóôôựệâệââấđềăườíặảởâệ

âơăướíôúâảííứ3 Cơ sở khoa học vă thực tiễn của đề tăi

3.1 Cơ sở khoa học

Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sâch, phâp luật của Nhă nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoâ, hiện đại hoâ, hướng tới một xê hội công bằng dđn chủ văn minh, đảm bảo quyền con người, tất cả vì con người, do con người cho nín vấn đề đảm bảo chính sâch an sinh xê hội nhất lă chế độ Bảo hiểm thai sản lă một trong những mục tiíu lớn thể hiện tính ưu việt của chế độ xê hội chủ nghĩa Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 khẳng định: “Chính sâch xê hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động vă sinh hoạt, giâo dục văn hoâ, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dđn tộc… coi nhẹ chính sâch xê hội tức lă coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xđy dựng xê hội chủ nghĩa” [5; tr 26] Tại Đại hội Đảng lần thứ 9 năm 2001

Trang 9

nhấn mạnh một lần nữa :“ Khẩn trương mở rộng hệ thống Bảo hiểm xã hội và

an sinh xã hội…” [8; tr 47]

Cuộc giải phóng phụ nữ gắn liền với cuộc giải phóng dân tộc luôn là mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời hướng tới Từ khi bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều lần đề cập đến Bảo hiểm

xã hội Hồ Chí Minh tố cáo thực dân Pháp câu kết với bọn phản động người lao động Việt Nam một cổ hai tròng, không được hưởng bất kỳ một chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội nào Năm 1924 Hồ Chí Minh đã vạch ra sự thống trị của bọn thực dân phong kiến ở Việt Nam những nhà máy có hàng ngàn công nhân phải làm từ 12-13 tiếng, ngày lễ ngày nghỉ không được đếm xỉa đến nhưng: “ không có Bảo hiểm xã hội cho tuổi già, không có trợ cấp lúc thương tật, ốm đau” [2; tr 497]

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo hiểm xã hội là một chính sách cơ bản đối với người lao động: Nghĩa là không chỉ đặt ra đối với công nhân mà cả nông dân và những người lao động khác Tư tưởng này ở Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện ngay từ năm 1930 Trong bài báo cáo về Nghị quyết của Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương về phong trào nông dân đòi giảm sưu thuế, giảm giờ tăng công đặc biệt : “đòi bảo hiểm xã hội, ngày nghỉ được trả công” [3, tr 568] Vấn đề Bảo hiểm xã hội cho nông dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cách đây 3/4 thế kỷ đến nay vẫn có ý nghĩa thời sự[43; tr 14]

Ngay từ khi có Hiến pháp năm 1946 Nhà nước ta đã rất quan tâm đến quyền lợi của phụ nữ, rút ngắn khoảng cách phân biệt đối xử Lần đầu tiên trong lịch sử Nhà nước Việt Nam quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân được Hiến pháp ghi nhận : “Đàn bà ngang quyền với đàn ông” quy định này tạo tiền đề và cơ sở cho chuyển biến to lớn về vị trí vai trò của phụ

nữ trong pháp luật và thực tế xã hội Việt Nam sau này Hiến pháp năm 1959

Trang 10

kế thừa nguyên tắc tiến bộ của Hiến pháp 1946 tại Điều 24 quy định: “Cùng làm việc như nhau phụ nữ được hưởng lương như nam giới Nhà nước đảm bảo cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ được hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình…”

Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 kế thừa và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ ở mức độ cao hơn, tại Điều 63 Hiến pháp 1992 đã đề cập một cách toàn diện hơn sự bình đẳng nam nữ, nhấn mạnh chính sách thai sản của phụ nữ: “Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và là người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật”

Luật hoá các nhu cầu an sinh xã hội là một bước tiến quan trọng của hệ thống chính sách xã hội Dựa trên hai nguyên tắc của an sinh xã hội là san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội cho nên bảo hiểm xã hội nói chung

và Bảo hiểm thai sản nói riêng đảm bảo an toàn cho các thành viên trong xã hội (chủ yếu là người lao động có tham gia Bảo hiểm xã hội) cho phép họ sống có ý nghĩa trong các trường hợp thai sản: sinh sản, nuôi con sơ sinh thực hiện các biện pháp tránh thai khi họ tạm thời khó khăn không có thu nhập Hơn nữa, Việt Nam đang từng bước hội nhập khu vực và quốc tế trên tất cả các lĩnh vực trong đó có pháp luật Việt Nam đã chính thức phê chuẩn công ước CEDAW và trở thành thành viên thứ 35 của Công ước này Nước ta là một trong số các quốc gia có nhiều ưu tiên cho phụ nữ trong lĩnh vực thai sản, Đđặc biệt các công ước ILO như Công ước số 3 năm 1919, Công ước số 103 năm 1952… là tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo quyền của phụ nữ được đặc biệt quan tâm về chế độ thai sản

Trang 11

Như vậy, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Hiến pháp, các văn bản pháp luật, các điều ước quốc tế đa phương và song phương là cơ

sở pháp lý đáp ứng đòi hỏi thực tế của cuộc sống là cơ sở khoa học cho chế

độ Bảo hiểm thai sản ở nước ta

3.2 Cơ sở thực tế

Nền kinh tế thị trường sức lao động được coi là hàng hoá, sự thuê mướn nhân công phát triển, quan hệ lao động trở nên bất ổn cho người lao động làm công ăn lương như ốm đau, tai nạn, thai sản cho nên rất cần có sự san sẻ rủi ro và chính sách trợ giúp của nhà nước và người sử dụng lao động Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã khiến người lao động rơi vào cảnh bất lợi nên nhu cầu

an sinh xã hội càng cao như nhu cầu trợ giúp xã hội thường xuyên đối với đối tượng yếu thế có nguy cơ bị xã hội loại trừ như người già, con trẻ, người sinh con

…giúp họ thăng bằng thu nhập bị giảm sút hay bị mất Chế độ Bảo hiểm thai sản chủ yếu dành cho lao động nữ như khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, sinh con, nuôi con nuôi ….Ước tính ở nước ta mỗi năm có gần hai triệu người bước vào độ tuổi lao động, với những đặc thù về giới như thể lực, tâm sinh lí, cùng với chức năng làm mẹ và trách nhiệm chăm sóc gia đình đã gặp rất nhiều khó khăn.Vì thế, cần phải có chế độ Bảo hiểm thai sản khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động

4 ụMục đích và nhiệm vụ

Mục đích nghiên cứu đề tài là tìm hiểu làm sáng tỏ các quy định và hệ thống chế độ Bảo hiểm thai sản ở Việt Nam về phương diện pháp lí và thực tiễn thực hiện Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm thai sản và nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về Bảo hiểm thai sản trong thời gian tới Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho quá trình nghiên cứu là:

Ngày đăng: 16/11/2016, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w