Tuy nhiên hiện nay các nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp chưa nhiều chỉ có một vài tác giả nghiên cứu khái niệm về bảo hiểm thất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRƯƠNG THỊ THU HIỀN
THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI- 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRƯƠNG THỊ THU HIỀN
THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Trần Văn Giao
2 PGS.TS Nguyễn Tiệp
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận án tiến sĩ với đề tài “Thể chế quản lý nhà nước về
bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi;
các tài liệu được trích dẫn trong luận án có nguồn gốc rõ ràng; những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên
Tác giả luận án
Trang 4MỤC LỤC
Trang DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 12
1.1 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp 12
1.2 Đánh giá về các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước và định hướng nghiên cứu 32
Chương 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 36
2.1 Một số khái niệm cơ bản 36
2.2 Nội dung cơ bản của thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp 44
2.3 Vai trò của thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp 50
2.4 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp 53
2.5 Quy định của luật pháp quốc tế về bảo hiểm thất nghiệp 55
2.6 Quy định về bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới và những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam 59
Chương 3 THỰC TRẠNG THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 75
3.1 Thực trạng bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 75
3.2 Phân tích thực trạng thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2009-2017 86
3.3 Đánh giá thực trạng thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 104
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 129
4.1 Dự báo xu hướng bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030 129
4.2 Quan điểm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 138
4.3 Giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030 139
PHẦN KẾT LUẬN 165
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
LĐ-TB&XH Lao động- Thương binh và Xã hội
Trang 6nước giai đoạn 2009-2017
3.4 Kết quả thu bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2009-2017
3.5 Chi trả các chế độ bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2017
3.6 Cân đối thu- chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010- 2017
3.7 Tình hình giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2017 3.8
Tỷ lệ người được nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong tổng số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và tổng số người thất nghiệp giai đoạn 2010- 2017
3.9 Kết quả bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2009-2017
3.10 Danh mục thủ tục hành chính về bảo hiểm thất nghiệp
3.11 Tỷ lệ đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở một số quốc gia
3.12 Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp ở một số quốc gia
3.13 Nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2017
3.14 Cơ cấu chi bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2017
3.15 Các địa phương có số điểm giải quyết bảo hiểm thất nghiệp nhiều nhất
nước
4.1
Lực lượng lao động, số người thất nghiệp, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2003-2017
4.2
Dự báo lực lượng lao động, số người thất nghiệp, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2018-2030
4.3 Dự kiến cân đối thu-chi bảo hiểm thất nghiệp trong 5 năm đối với 1 người lao động có tham gia học nghề (mức lương tối thiểu thời điểm 30/6/2018) 4.4
Dự kiến cân đối thu-chi bảo hiểm thất nghiệp trong 5 năm đối với 1 người lao động không tham gia học nghề (mức lương tối thiểu thời điểm 30/6/2018)
4.5 Mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho một người tham gia bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010- 2017
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ chi bảo hiểm thất nghiệp so với tổng thu bảo hiểm thất
nghiệp giai đoạn 2010-2017 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ lao động mất việc làm được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong
tổng số người thất nghiệp và người tham gia bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2017
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ lao động mất việc làm được tư vấn, giới thiệu việc làm trong
tổng số người thất nghiệp giai đoạn 2010-2017 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ lao động mất việc làm được hỗ trợ học nghề trong tổng số
người thất nghiệp và người tham gia bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2017
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong lực
lượng lao động Việt Nam giai đoạn 2009-2017 Biểu đồ 3.6 Cơ cấu chi bảo hiểm thất nghiệp năm 2017 (%)
Sơ đồ 3.1 Mô tả đối tượng người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm thất
Sơ đồ 4.1 Mô hình cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động- việc làm
Sơ đồ 4.2 Các bộ phận hợp thành tổng dân số, nguồn lao động, dân số trong
độ tuổi lao động, ngoài độ tuổi lao động, dân số hoạt động kinh tế, không hoạt động kinh tế
Trang 8hết sức to lớn của nó Đối với người lao động, người thất nghiệp: Bảo hiểm thất
nghiệp gián tiếp ngăn ngừa, hạn chế thất nghiệp cho người lao động; trực tiếp bù đắp một phần thu nhập cho người thất nghiệp; động viên người tham gia bảo hiểm thất nghiệp hăng hái, yên tâm làm việc (đối với người đang có việc làm) hoặc tạo động lực để họ nhanh chóng tìm kiếm việc làm (đối với người chưa có việc làm); duy trì, củng cố, phát triển niềm tin của người lao động, người thất nghiệp vào tính
nhân đạo, nhân văn sâu sắc của bộ máy lãnh đạo đất nước Đối với người sử dụng
lao động: Bảo hiểm thất nghiệp làm giảm gánh nặng tài chính cho người sử dụng
lao động trong những trường hợp bất khả kháng dẫn đến việc không đảm bảo được việc làm cho người lao động; không phải chỉ trả bất kỳ khoản trợ cấp nào dành cho người lao động khi họ thôi việc, nghỉ việc vì đã có quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả
Đối với quốc gia: Bảo hiểm thất nghiệp như một chất xúc tác giúp đảm bảo việc
làm bền vững cho người lao động, từ đó hạn chế thất nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần ổn định vĩ mô nền kinh tế, tạo nên sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Với vai trò to lớn đó, ngày nay, bảo hiểm thất nghiệp đã trở thành bộ phận quan trọng không thể thiếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội của các nước phát triển, đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp giúp hiện thực hóa các mục tiêu, ý tưởng của các nhà chính trị về bảo hiểm thất nghiệp thông qua hệ thống thể chế làm
cơ sở cho việc tổ chức triển khai bảo hiểm thất nghiệp theo đúng định hướng, chủ trương, đường lối của các nhà chính trị Trong các nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, thể chế có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định
Trang 9đối với các nội dung còn lại của quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp: tổ chức
bộ máy, nhân sự, nguồn lực vật chất, tài chính, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về BHTN Do đó, một thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp hoàn chỉnh sẽ giúp cho hoạt động quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
có hiệu lực, hiệu quả, từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi của chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên thực tế
Tuy nhiên hiện nay các nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp chưa nhiều (chỉ có một vài tác giả nghiên
cứu khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp, quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp,
thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp); một số nội dung liên quan khác
chưa được nghiên cứu như nội dung cơ bản của thể chế quản lý nhà nước về bảo
hiểm thất nghiệp, vai trò của thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
1.2 Về thực tiễn
Ở Việt Nam, để đảm bảo quyền được làm việc của công dân về việc làm theo Hiến pháp 2013, Nhà nước đã và đang thực hiện nghĩa vụ tạo việc làm đồng thời có các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục tình trạng thất nghiệp cho người lao động, trong đó có chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Từ ngày 01/01/2009, chính sách bảo hiểm thất nghiệp chính thức được áp dụng ở Việt Nam với mục đích hỗ trợ người lao động bị mất việc làm một phần thu nhập đồng thời hỗ trợ họ được học nghề, tìm việc làm để tái gia nhập thị trường lao động, ổn định cuộc sống Với nỗ lực này, Việt Nam trở thành nước thứ 79 trên thế giới và nước thứ 2 ở ASEAN thực hiện bảo hiểm thất nghiệp
Đến nay, sau hơn 10 năm thực hiện, Việt Nam đã đạt được những thành tựu
to lớn trong thực hiện bảo hiểm thất nghiệp nhưng thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể là: Tên gọi ”Bảo hiểm thất nghiệp” chưa phản ánh đúng nội dung của chính sách Bảo hiểm thất nghiệp; Quy định hiện hành chưa phát huy sự chủ động của các địa phương trong quản lý bảo hiểm thất nghiệp; chưa đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng người lao động, người sử dụng lao động về giới tính, độ tuổi, khu vực, quy mô; chưa đảm bảo tính hiện đại đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn
Trang 10hiện nay; Một số quy định còn chưa hợp lý và chưa đảm bảo tính minh bạch: về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, về các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, về chế độ thông tin quản lý, quan hệ phối hợp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan trong triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, về quỹ bảo hiểm thất nghiệp, về chế tài xử lý vi phạm và thủ tục hành chính về bảo hiểm thất nghiệp
Tất cả những bất cập này là một phần nguyên nhân của tình trạng người sử dụng lao động không tuân thủ nghĩa vụ thông báo định kỳ về tình hình biến động lao động, tập huấn hướng dẫn thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, chậm đóng, nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp; tình trạng người lao động trục lợi bảo hiểm thất nghiệp: không trung thực khi khai báo tình trạng việc làm, vừa hưởng bảo hiểm thất nghiệp vừa tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp, nâng cao mức đóng góp trước khi nghỉ việc để được hưởng mức trợ cấp thất nghiệp cao hơn, gần đến tuổi nghỉ hưu thì xin nghỉ việc để hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc vừa hưởng chế độ thai sản vừa hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động trong quá trình hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng vẫn tiếp tục đi làm việc mà không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoặc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ở địa phương khác
Đây cũng là nguyên nhân mà mặc dù bảo hiểm thất nghiệp đã tạo ra hiệu ứng
xã hội rất tốt, góp phần ngăn ngừa, khắc phục, hạn chế hậu quả của thất nghiệp nhưng trên thực tế, tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong lực lượng lao động Việt Nam hiện nay chỉ chiếm khoảng 21,82% (giai đoạn 2009-2017 dao động từ 12,15% đến 21,82%) với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 1,07%, làm cho độ bao phủ bảo hiểm thất nghiệp hiện rất thấp
Ngoài ra, trong bối cảnh hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của con người, trong đó có vấn
đề lao động, việc làm, thất nghiệp; mang đến những cơ hội và thách thức đối với quản trị nhà nước nói chung, quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực nói riêng, trong
đó có quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp Vì vậy, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp cũng sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết, giúp tận dụng những tác động tích cực, vượt qua những tác động tiêu cực, từ
đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn hiện nay (khi mà tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên, ở
Trang 11lao động có trình độ cao ngày càng tăng) và trong tương lai (khi nhu cầu về lao động phổ thông ngày càng giảm đi do tốc độ của tự động hóa, rô bốt hóa, )
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài "Thể chế
quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận án
Tiến sĩ là cần thiết, phù hợp với chuyên ngành đào tạo, có ý nghĩa nhất định về mặt
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
- Xây dựng cơ sở khoa học thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp:
một số khái niệm cơ bản (bảo hiểm thất nghiệp, quản lý nhà nước về bảo hiểm thất
nghiệp, thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp), nội dung cơ bản của thể
chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, vai trò của thể chế quản lý nhà nước
về bảo hiểm thất nghiệp, các nhân tố chủ yếu tác động đến thể chế quản lý nhà nước
về bảo hiểm thất nghiệp, quy định của luật pháp quốc tế về bảo hiểm thất nghiệp
- Nghiên cứu thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước
có nhiều thành công trong quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, có đặc điểm tương đồng với Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phân tích thực trạng thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, đưa ra đánh giá chung về tác động của chính sách bảo hiểm thất nghiệp đến tỷ lệ thất nghiệp, về hiệu quả của chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam thời gian qua
- Phân tích, đánh giá, đưa ra nhận định về những thành công và bất cập về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2009-2017
- Phân tích bối cảnh Việt Nam hiện nay, tấm nhìn đến năm 2030 và dự báo những tác động đến thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp; phân tích quan điểm phát triển bảo hiểm thất nghiệp của Đảng và Nhà nước Việt Nam; dự báo
Trang 12lực lượng lao động, số người thất nghiệp, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp,
số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030; từ đó, dự báo
xu hướng phát triển thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp đến năm
2030
- Đưa ra quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Về lý luận: Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
- Về thực tiễn: Đối tượng nghiên cứu của luận án là thể chế bảo hiểm thất nghiệp của một số nước, thực tiễn về bảo hiểm thất nghiệp và thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
Luận án không nghiên cứu tất cả các nội dung của thể chế quản lý nhà nước về
bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay mà chỉ tập trung vào 7 nội dung cơ bản,
gồm các quy định về: hình thức tham gia, đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp; các chế độ bảo hiểm thất nghiệp; tổ chức bộ máy, nhân sự quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các
cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan trong triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp; quỹ BHTN; xử lý vi phạm, thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp và thủ tục
hành chính về bảo hiểm thất nghiệp (được trình bày ở mục 2.2, chương 2)
Bên cạnh đó, luận án không nghiên cứu tất cả các nội dung của thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở 6 quốc gia để rút ra bài học kinh nghiệm vận
dụng vào hoàn thiện thể chế QLNN về BHTN ở Việt Nam mà chỉ tập trung vào 8 nội dung cơ bản trong quy định của mỗi nước, gồm: đối tượng tham gia, hình thức
tham gia, các bên đóng góp vào quỹ BHTN, mức đóng BHTN, mức hưởng TCTN, thời gian hưởng TCTN, điều kiện hưởng BHTN, tổ chức bộ máy quản lý BHTN
(được trình bày ở mục 2.7.1, chương 2)
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu:
Trang 13Thời gian nghiên cứu thể chế QLNN về BHTN ở Việt Nam được giới hạn từ ngày chính sách bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có hiệu lực thực thi ở Việt Nam (ngày 01/01/2009) đến nay, tầm nhìn đến năm 2030- thời điểm cả nước thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 55 năm ngày thống nhất đất nước và 45 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước
Các nghiên cứu liên quan về thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam, được giới hạn
từ năm 2003 đến nay (trước và sau khi có chính sách bảo hiểm thất nghiệp) để có cơ
sở đánh giá tác động của chính sách này đến thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam Các nghiên cứu liên quan về quy định bảo hiểm thất nghiệp của 6 quốc gia trên thế giới được giới hạn từ năm ban hành quy định mới nhất về BHTN hiện đang còn hiệu lực thực thi đến nay
- Giới hạn về không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu thể chế quản lý
nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Bên cạnh đó, để có cơ sở hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, luận án mở rộng không quan nghiên cứu đến các quy định
về BHTN của Tổ chức Lao động Quốc tế và các nước: Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hoa
Kỳ, Canada, Trung Quốc và Thái Lan
4 Giả thuyết khoa học và các câu hỏi nghiên cứu của luận án
4.1 Giả thuyết khoa học
Luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu sau đây: Hơn 10 năm qua, mặc dù có những thành công nhưng thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định Nếu có một hệ thống giải pháp đồng
bộ giúp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp thì chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu mà nhà nước đặt ra, từ đó, sẽ mang lại hiệu quả, phát huy vai trò đảm bảo một phần đời sống cho người thất nghiệp, tạo cơ hội cho người lao động nhanh chóng tái hòa nhập thị trường lao động, góp phần ổn định vĩ mô nền kinh tế, trở thành chính sách có vị trí ngày càng quan trọng trong hệ thống chính sách thị trường lao động và an sinh xã hội của Việt Nam
4.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết các câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
- Thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp là gì?
Trang 14- Việt Nam có thể học được những gì từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới để hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp?
- Tại sao nhiều đối tượng người thất nghiệp, người lao động có rủi ro việc làm cao ở Việt Nam chưa được tiếp cận với chính sách bảo hiểm thất nghiệp?
- Tại sao người lao động mất việc làm chỉ quan tâm đến chế độ trợ cấp thất nghiệp, mà không quan tâm đến chế độ khác của chính sách bảo hiểm thất nghiệp?
- Tại sao chế độ đào tạo nghề cho người lao động mất việc làm ít thu hút sự tham gia của người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong đợi?
- Tại sao vẫn còn tình trạng người lao động “lách luật” để hưởng bảo hiểm thất nghiệp, tình trạng nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp như báo chí phản ánh thời gian qua?
- Cần phải hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam theo quan điểm nào?
- Để hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, cần phải có những giải pháp gì?
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: Luận án sử dụng phương pháp này để tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài, từ
đó so sánh, chọn lọc những công trình có gắn bó mật thiết với đề tài để đưa vào luận
án (chương 1) Tác giả cũng sử dụng phương pháp này để hệ thống lại các nghiên cứu đã có liên quan đến cơ sở lý luận về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, từ đó, có sự kế thừa, phát triển hơn so với các nghiên cứu đã có (chương 2)
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Lựa chọn, phân tích một số quy định về bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới: Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hoa Kỳ, Canada (4 quốc gia có nhiều thành công trong thực hiện bảo hiểm thất nghiệp) và Trung Quốc, Thái Lan (2 quốc gia đã thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, có điều kiện tương đồng với Việt Nam) Luận án sử dụng phương pháp này để làm sâu sắc thêm kinh nghiệm ở các nước trên thế giới về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp (chương 2)
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Luận án xem thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp là một hệ thống lớn, trong đó có các hệ thống con, đó là các yếu tố cấu thành nên thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp Để hoàn thiện hệ thống lớn, việc hoàn thiện từng hệ thống con là hết sức cần thiết Luận án
sử dụng phương pháp này trong phân tích, đánh giá thực trạng thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở chương 3 và đưa ra những giải pháp hoàn thiện ở chương 4
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn 02 chuyên gia (đại diện lãnh đạo Phòng Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâm Dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh
và đại diện lãnh đạo Phòng Chế độ chính sách thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh) về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp Tác giả sử dụng phương pháp này để bổ sung, củng cố các lập luận của mình ở phần phân tích, đánh giá thực trạng (chương 3) và đưa ra giải pháp hoàn thiện (chương 4)
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Phương pháp khảo sát trực tuyến: tiến hành khảo sát ý kiến của 400 người lao động trên phạm vi cả nước về chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam (đặc điểm đối tượng tham gia khảo sát được mô tả ở mục 1, phụ lục 11) Cách lựa chọn mẫu và kích thước mẫu được nêu trong phụ lục 10 Theo đó, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên phi xác suất và kích thước mẫu được tính toán theo công thức Slovin- một phương pháp được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học: nN/(1N.2)(Trong đó: N: lực lượng lao động tại thời điểm khảo sát (53.984.200 người) và :sai số cho phép (5%)) Sử dụng phương pháp này để làm
cơ sở bổ sung, củng cố cho các nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp (chương 3) và đưa ra các giải pháp hoàn thiện (chương 4)
Trang 16- Phương pháp phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS: sử dụng phương pháp này để phân tích một số nội dung chuyên sâu (đa biến, liên kết chéo) từ số liệu thu thập được từ kết quả khảo sát trực tuyến đối với 400 người lao động để làm minh chứng cho các đánh giá cần gắn nội dung khảo sát với đối tượng khảo sát (chương 3) Dữ liệu phân tích được trình bày ở phụ lục 11
- Phương pháp dự báo số liệu (về lực lượng lao động, số người thất nghiệp, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, số người được giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp) bằng mô hình hồi quy theo thời gian hay còn gọi là mô hình dự báo dựa vào
xu thế (được trình bày tại phụ lục 12, 13, 14 và 15) Luận án sử dụng phương pháp
này để làm rõ cơ sở để đưa ra những dự báo về xu hướng bảo hiểm thất nghiệp đến năm 2030 (chương 4)
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Đóng góp mới về mặt lý luận
Về mặt lý luận, luận án kế thừa và phát triển cơ sở lý luận thể chế quản lý nhà
nước về bảo hiểm thất nghiệp, bổ sung về mặt học thuật các khái niệm về bảo hiểm
thất nghiệp, quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp; nội dung cơ bản của thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm
thất nghiệp; vai trò của thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
Trong đó, 7 nội dung cơ bản của thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
là cơ sở quan trọng nhất để tác giả tổ chức một cách xuyên suốt và lôgic việc mô tả, đánh giá thực trạng (ở chương 3) và đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam (ở chương 4)
6.2 Đóng góp mới về mặt thực tiễn
Về mặt thực tiễn, luận án có những đóng góp mới như sau:
Một là, qua nghiên cứu các quy định về bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới có nhiều thành công trong thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
và một số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam đã có bước đi trước trong thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, luận án góp phần làm sâu sắc thêm kinh nghiệm của các nước về bảo hiểm thất nghiệp và rút ra những giá trị có thể vận dụng để hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Hai là, qua mô tả, phân tích thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam trước và sau
Trang 17khi thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, phân tích thực trạng bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam từ khi triển khai đến nay, luận án đã có những nhận xét quan trọng về những đóng góp của chính sách bảo hiểm thất nghiệp, như là cách ghi nhận hiệu quả của chính sách này trong việc ngăn ngừa, khắc phục, hạn chế tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam
Ba là, qua phân tích và đánh giá một cách toàn diện thực trạng thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam từ khi triển khai đến nay, luận án đã đánh giá được những thành công và bất cập của thực trạng thể chế quản lý nhà nước
về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam thời gian qua
Bốn là, qua thực hiện công tác dự báo: bối cảnh Việt Nam và sự tác động đến thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, dự báo các chỉ tiêu lao động, thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, xu hướng phát triển thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp đến năm 2030, luận án đã cho thấy cái nhìn tương lai trong hơn 10 năm đến về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, có tính đến tác động
có thể có từ bối cảnh hiện tại, nhất là từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Năm là, qua việc xây dựng, đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, luận án giúp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong tương lai, góp phần đưa chính sách bảo hiểm thất nghiệp ngày càng đến được với người lao động thực sự có nhu cầu, nguyện vọng, giúp đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng của những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, từ đó, góp phần ổn định xã hội, phát triển đất nước Trong đó, một số đề xuất quan trọng như: Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến lao động khu vực phi chính thức và lao động khu vực nông, lâm, thủy sản; quy định thêm hình thức tham gia bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện; Bổ sung thêm chế độ hỗ trợ mới: “Cho vay ưu đãi từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp”; Tăng mức hỗ trợ đối với chế độ hỗ trợ học nghề; có hỗ trợ đột xuất trong các trường hợp người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp gặp rủi ro; Xây dựng và ban hành quy định về xây dựng, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động- việc làm; Đổi mới công tác tổ chức thông tin, thống kê về bảo hiểm thất nghiệp; không thu bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động đã hết tuổi lao động mà chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu; giảm mức thu đối với một số đối tượng người sử dụng lao động đồng thời tăng một số khoản chi cần thiết khác (tăng mức đầu tư ứng dụng công nghệ
Trang 18thông tin; tăng mức hỗ trợ học nghề, …); bổ sung chế tài xử lý vi phạm pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp một cách đầy đủ, nghiêm khắc không những đối với người lao động, người sử dụng lao động mà còn đối với bộ máy các cơ quan quản lý, thực thi bảo hiểm thất nghiệp và đội ngũ công chức, viên chức trong các cơ quan đó; Giao Trung tâm Dịch vụ việc làm chức năng tổ chức chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động;
7 Ý nghĩa của luận án
Luận án có những ý nghĩa sau đây:
Thứ nhất, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có
hệ thống về lý luận và thực tiễn thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam từ khi triển khai đến nay, góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp và làm sâu sắc, sinh động thêm thực tiễn thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Thứ hai, luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, nhà hoạch
định chính sách về bảo hiểm thất nghiệp
Thứ ba, luận án là tài liệu nghiên cứu, giảng dạy có giá trị trong lĩnh vực bảo
hiểm, an sinh xã hội, quản lý nhà nước về kinh tế- xã hội và là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về bảo hiểm thất nghiệp về sau
8 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm có 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở khoa học về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
Chương 3 Thực trạng thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
Các nghiên cứu liên quan đến thể chế QLNN về BHTN đã được nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu và công bố dưới nhiều hình thức khác nhau
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ngay khi ra đời, ILO đã phê chuẩn Công ước thất nghiệp C2 vào năm 1919 [125] Tiếp đến các năm sau, tổ chức này còn phê chuẩn các Công ước khác: Công ước phòng chống thất nghiệp C44, năm 1934 [126]; Công ước ASXH C102, năm
1952 [127]; Công ước xúc tiến, hỗ trợ và bảo vệ phòng chống thất nghiệp C168 năm 1991[128] Những công ước này định hướng cho các nước tham gia phê chuẩn Công ước hoạch định chính sách tìm kiếm biện pháp phòng chống thất nghiệp để bảo vệ NLĐ và gia đình họ Có một số nhà khoa học trên thế giới đã công bố những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến BHTN và TCTN
Trong cuốn sách “Business Cylces and Unemployment” (tạm dịch là “Chu kỳ
kinh doanh và thất nghiệp”) của Cơ quan nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ xuất
bản năm 1923 [140], tác giả chương “Unemployment Insurance”, Leo Wolman, đã
có nghiên cứu nội dung chính sách BHTN ở Anh và thảo luận về chế độ BHTN dự kiến áp dụng tại Hoa Kỳ Đây là một trong số rất ít những cuốn sách có nội dung nghiên cứu về BHTN sớm nhất trên thế giới Lúc này chính sách BHTN chỉ mới được hình thành và phát triển ở một số quốc gia Công trình này liên quan đến luận
án ở nội dung: quá trình hình thành và phát triển BHTN trên thế giới Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn về thể chế QLNN về BHTN ở các nước trên thế giới, từ đó, có thông tin đa chiều trong nghiên cứu thể chế QLNN về BHTN ở Việt Nam
Trong cuốn sách “Public Administration” (Hành chính công) xuất bản năm
1927 [117], tác giả P.Y Blundun đã đề cập đến vấn đề quản lý BHTN trong quản
lý hệ thống ASXH tại chương 5 “Administrative Aspects of Social Insurance:
Trang 20BHTN” Đây là một trong số rất ít các công trình nghiên cứu đầu tiên về quản lý
BHTN Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: khái niệm BHTN Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có cơ sở để nghiên cứu và hệ thống cơ sở lý luận về thể chế QLNN về BHTN (chương 2)
Tháng 3/2000, ngân hàng Phát triển liên Mỹ Inter-America Development
Bank đã thực hiện nghiên cứu về “Unemployment Insurance: Case studies and
lessons for Latin America and Caribbean” [139] (tạm dịch là: “Bảo hiểm thất nghiệp: Nghiên cứu tình huống và những bài học cho các nước Mỹ La tinh và Ca ri bê) với 83 trang Trong nghiên cứu các tác giả đã dành 12 trang để giới thiệu và mô
tả tổng quan chung về chính sách BHTN (mục đích, mục tiêu của chính sách, sự khác nhau giữa BHTN và các dạng hỗ trợ mất việc làm khác, xu hướng quốc tế về BHTN…), 46 trang để mô tả chính sách BHTN ở 6 nước: Argentina, Barbados, Brazil, Nhật, Ba Lan và Hoa Kỳ (về nguồn gốc của chính sách, tài chính, nội dung chính sách, quản lý chính sách và các điểm chính cần quan tâm), 6 trang để bàn về BHTN và tài chính cho hoạt động đào tạo và 19 trang để nhận xét và đưa ra khuyến nghị về chính sách đối với các nước Mỹ La tinh và Ca ri bê Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: BHTN ở Hoa Kỳ, xu hướng quốc tế về BHTN Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có cơ sở để lựa chọn các quốc gia cần nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, vận dụng phù hợp vào điều kiện của Việt Nam (chương 2)
Năm 2006, tác giả Konstantinos Tatsiramos có bài viết "Unemployment
insurance in Europe: Unemployment duration and subsequent employment stability" [143] (tạm dịch là: “Bảo hiểm thất nghiệp ở châu Âu: thời gian thất nghiệp và vấn đề ổn định việc làm tiếp theo) đăng trên Tạp chí Journal of the
European Economic Association (Tạp chí Hiệp hội Kinh tế châu Âu) Với 23 trang chưa kể tài liệu tham khảo và phụ lục, bài báo đưa ra các bằng chứng về tác dụng của BHTN đến tình trạng thất nghiệp (bằng chứng từ số liệu ở 8 quốc gia ở châu Âu
(gồm: Đan Mạch, Pháp, Đức, Ireland, Vương quốc Anh, Ý, Hy Lạp và Tây Ban
Nha) được Ủy ban European Community Household Panel cung cấp, từ đó, phân
tích và đưa ra các đề xuất về chính sách để ổn định việc làm cho NLĐ ở các nước châu Âu trong các giai đoạn tiếp theo Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ chế độ BHTN ở Đan Mạch Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có cơ
sở lựa chọn Đan Mạch để nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, áp dụng vào điều kiện
Trang 21của Việt Nam để phục vụ cho luận án (chương 2)
Tháng 2/2009, Nghiên cứu “Unemployment Insurance: Current Situation and
Potential Reforms” [152] (tạm dịch là: “Bảo hiểm thất nghiệp: tình hình hiện tại và những cải cách tiềm năng”) của tác giả Wayne Wroman đăng trên website
www.urban.org của Viện Đô thị Hoa Kỳ Bài báo đánh giá tình hình quỹ BHTN, quản lý BHTN tại Hoa Kỳ tính đến hết năm 2008, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm cải cách chính sách BHTN trong giai đoạn khủng hoảng và suy thoái kinh tế Theo đó, Chính phủ liên bang cần phải thực hiện nâng mức thuế đóng góp để cải thiện tài chính chương trình BHTN; cung cấp ưu đãi tài chính cho các bang để tăng
dự trữ quỹ BHTN, … Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ chế
độ BHTN ở Hoa Kỳ Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có cơ sở lựa chọn Hoa
Kỳ để nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, áp dụng vào điều kiện của Việt Nam để phục vụ cho luận án (chương 2)
Năm 2013, nhóm tác giả gồm John Carter, Michel Bédard và Céline Peyron
Bista thuộc dự án nghiên cứu của ILO về "Thúc đẩy và xây dựng bảo hiểm thất
nghiệp và dịch vụ việc làm trong khu vực ASEAN", được tài trợ bởi Chính phủ Nhật
Bản đã hoàn thành báo cáo “Comparative review of unemployment and employment
insurance experiences in Asia and worldwide” [132] (tạm dịch là Xem xét so sánh
tỷ lệ thất nghiệp và kinh nghiệm về bảo hiểm việc làm ở các nước châu Á và toàn thế giới) với 112 trang Báo cáo này trình bày tổng quan về BHTN (UI) và các
chương trình bảo hiểm việc làm (EI) tại chỗ ở 14 quốc gia như là một phương tiện cung cấp một phần thu nhập thay thế cho NLĐ tham gia bảo hiểm trong khi họ mất việc làm và đang tìm kiếm việc làm mới Các quốc gia được lựa chọn cho việc xem xét so sánh không chỉ dựa trên tiêu chí khác nhau về phạm vi địa lý sao cho đại diện cho toàn thế giới mà còn dựa trên tiêu chí khác nhau về trình độ phát triển kinh tế ở các gia đoạn khác nhau Tại Bắc Mỹ có Canada và Hoa Kỳ; ở Nam Mỹ có Argentina và Chile; ở châu Âu có Đan Mạch, Pháp và Đức; ở Trung Đông có Bahrain; ở Đông Nam Á có Thái Lan và Việt Nam và ở Đông Á có Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ và Hàn Quốc Mục đích của báo cáo là để làm nổi bật các tính năng chính và thông lệ áp dụng trong chính sách BHTN ở các quốc gia Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ BHTN ở một số quốc gia: Canada, Hoa Kỳ, Đan Mạch, Thái Lan, Trung Quốc Đây là thông tin hữu ích, đáng tin cậy
Trang 22giúp tác giả có thêm thông tin trong nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm các nước này,
áp dụng vào điều kiện của Việt Nam (chương 2)
Cũng trong năm 2013, nhóm nghiên cứu gồm 3 thành viên: Haroon Bhorat, Sumayya Goga và David Tseng- là các chuyên gia tư vấn chính sách của tổ chức
The Africa Growth Initiative- AIG (tạm dịch là tổ chức “Sáng kiến tăng trưởng
châu Phi”) thuộc Cơ quan Nghiên cứu Chính sách Phát triển (DPRU) tại Đại học Cape Town chuyên về nghiên cứu kinh tế xã hội, tập trung vào thị trường lao động, đói nghèo và bất bình đẳng tại Viện Brookings, Hoa Kỳ, đã tiến hành một nghiên
cứu về: “Unemployment insurance in South Africa: A descriptive overview of
claimants and claims” (tạm dịch là: “Bảo hiểm thất nghiệp ở Nam Phi: Một mô tả tổng quan về người yêu cầu bồi thường và các yêu cầu bồi thường”) [121] Nghiên
cứu này chủ yếu xem xét tác động của hệ thống BHTN trên TTLĐ ở Nam Phi thông qua phân tích mô tả hành vi của người yêu cầu bồi thường và các yêu cầu bồi thường trong hệ thống tài chính BHTN của Nam Phi (UIF) Nghiên cứu cũng mô tả các quy định trong thiết kế hệ thống UIF ở Nam Phi- là cơ sở quan trọng trong việc xác định quyền truy cập vào hệ thống trong thời gian hưởng lợi, cũng như xác định
số tiền trợ cấp thất nghiệp mà NLĐ được hưởng Theo quan điểm rằng Nam Phi có
tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trên thế giới, hệ thống UIF là nghiêm ngặt vì thời gian trợ cấp phụ thuộc vào lịch sử quá trình công tác trước đó của NLĐ mặc dù lợi ích thay thế thu nhập là tiến bộ hơn so với thu nhập trước đó của họ Dữ liệu hành chính được sử dụng trong nghiên cứu này được lấy từ UIF, theo quý, từ năm 2005 đến quý 3 năm 2011 Bài báo được tổ chức thành ba phần, trong đó, phần 1 cung cấp tổng quan về thể chế của hệ thống BHTN ở Nam Phi, nêu bật các khía cạnh chính của hệ thống này cũng như những thay đổi của hệ thống theo thời gian trước khi tiến hành mô tả tổng quan bốn nội dung của người yêu cầu bồi thường và tuyên bố UIF giữa năm 2005 và năm 2011 (ở phần 2) và đưa ra những kết luận (ở phần 3) Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: thủ tục thực hiện chi trả BHTN và các chế độ BHTN mà người hưởng lợi được hưởng Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có cái nhìn đa dạng hơn trong đề xuất các chế độ BHTN cho NLĐ (chương 4)
Năm 2014, bài báo “Labor Market Effects of Unemployment Insurance
Design” [144] (tạm dịch là: “Những ảnh hưởng của thị trường lao động đến thiết
Trang 23kế bảo hiểm thất nghiệp”) của hai tác giả Konstantinos Tatsiramos và Jan C van
Ours đăng trên tạp chí Journal of Economic Surveys (Tạp chí Khảo sát kinh tế) đưa
ra các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm về ảnh hưởng tích cực đối với người nhận BHTN và thảo luận về tác động của nó trong thiết kế chính sách BHTN Bài báo tập trung vào hai đặc điểm chính của một hệ thống BHTN là mức hưởng và thời gian hưởng tối đa, thảo luận về vai trò của các điều kiện hưởng BHTN Bài báo tóm tắt các tranh luận gần đây trong thiết kế chính sách BHTN và đưa ra quan điểm về một hệ thống BHTN mà trong đó cả mức hưởng và thời gian hưởng là khác nhau tùy theo chu kỳ kinh doanh, vai trò của việc giới hạn tỷ lệ thanh toán tùy theo kết quả hoạt động tìm kiếm việc làm và tùy theo tuổi tác Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: sự cần thiết và vai trò của chính sách BHTN trong hỗ trợ NLĐ Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có những thông tin hữu ích về cách thức đánh giá hiệu quả của chính sách BHTN ở Việt Nam (chương 3)
Cũng vào năm 2014, bài báo “Who Receives Unemployment Insurance?” (tạm dịch là: “Ai nhận bảo hiểm thất nghiệp?” của ba tác giả Marc Chan, Marios
Michaelides và Sisi Zhang đăng trên Tạp chí Research in Applied Economics (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế ứng dụng) [138] Bài báo sử dụng dữ liệu hành chính BHTN kết hợp với dữ liệu khảo sát Dân số năm 2003 của Hoa Kỳ để phân tích và đưa nhận xét về mức hưởng giữa các nhóm người lao động (phụ nữ, người không phải là người da trắng, thanh niên và người lao động không có bằng trung học, đại học, công nhân “cổ xanh”) so với mức hưởng trung bình khi họ mất việc Nhóm tác giả chỉ ra nguyên nhân và đưa ra đề xuất thay đổi các quy định về điều kiện hưởng BHTN để nâng cao mức độ chi trả đối với người lao động làm việc bán thời gian góp phần làm cho chính sách BHTN ở Hoa Kỳ phục vụ đa dạng hơn cho những người thất nghiệp mới và LLLĐ trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ BHTN ở Hoa Kỳ Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thông tin đáng tin cậy cho phần nghiên cứu về BHTN ở Hoa
Kỳ (chương 2)
Năm 2015, nghiên cứu “Unemployment Insurance: Programs and Benefits” [133] (tạm dịch là: “Bảo hiểm thất nghiệp: Các chương trình và lợi ích”) được tổ
chức Congressional Research Service chuẩn bị cho các thành viên Quốc hội và các
ủy ban của Quốc hội Hoa Kỳ do hai tác giả Julie M Whittaker và Katelin P Isaacs
Trang 24thực hiện, xuất bản ngày 9 tháng 12 năm 2015 đã mô tả chi tiết hai chương trình TCTN ở Hoa Kỳ là UC và EB Báo cáo mô tả, so sánh, đánh giá nội dung và lợi ích
từ hai chương trình này ở các tiểu bang, miêu tả cụ thể cách xác định thời gian hưởng, mức hưởng, xác định điều kiện được hưởng TCTN và cơ cấu tài chính của quỹ BHTN Theo báo cáo, chương trình UC cung cấp mức hỗ trợ thu nhập tối đa là
26 tuần ở hầu hết các tiểu bang Khi nền kinh tế tồn tại tình trạng thất nghiệp cao, chương trình EB có thể được thực hiện cung cấp mức hỗ trợ thêm đến 13 hoặc 20 tuần lợi ích, tùy thuộc vào điều kiện lao động, pháp luật và kinh tế của mỗi tiểu bang Chương trình EB được tài trợ 50% bởi chính phủ liên bang và 50% của các tiểu bang Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ BHTN ở Hoa Kỳ một cách toàn diện Cũng giống như công trình của ba tác giả Marc Chan, Marios Michaelides và Sisi Zhang , đây cũng là thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thông tin đáng tin cậy cho phần nghiên cứu về BHTN ở Hoa Kỳ (chương 2)
Cũng vào năm 2015, luận án tiến sĩ chuyên ngành Trung Quốc học với tên gọi
“Chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc (1986-2010)” [67] của tác giả Nguyễn
Mai Phương nghiên cứu về các lý thuyết của phương Tây và của Trung Quốc về thất nghiệp và BHTN, hệ thống hóa quá trình hình thành và phát triển của chế độ BHTN ở Trung Quốc, xâu chuỗi và phân tích những vấn đề của BHTN Trung Quốc trên ba phương diện: tác động của BHTN đối với đối tượng thụ hưởng và xã hội, vấn đề đầu tư và sử dụng quỹ BHTN và cơ chế quản lý, vận hành quỹ BHTN, từ đó
có những gợi mở về chính sách BHTN mang tính tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách BHTN ở Việt Nam Luận án tiếp cận BHTN trên phương diện xã hội học, kinh tế học và liên ngành Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ BHTN ở Trung Quốc Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thông tin đáng tin cậy cho phần nghiên cứu về BHTN ở Trung Quốc (chương 2)
Năm 2016, Trung tâm tăng trưởng công bằng của Washington thực hiện một
loạt bài viết về “Delivering equitable growth: strategies for the next
Administration” (tạm dịch là “Thực hiện tăng trưởng công bằng: các chiến lược cho chính quyền tiếp theo”) nhằm mục đích hướng dẫn cho hai nhóm chuyển tiếp
của tổng thống Hoa Kỳ về một loạt các vấn đề chính sách kinh tế cốt lõi cho tương lai của đất nước Liên quan đến BHTN trong loạt bài viết này, tác giả Till Von Wachter, một giáo sư kinh tế kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Dân số
Trang 25California thuộc Đại học California-Los Angeles đã có bài viết với tiêu đề:
“Unemployment insurance reform: a primer” (tạm dịch là “Cải cách bảo hiểm thất
nghiệp: một ngòi nổ”) [145] Với 10 trang, bài viết nêu lên sự cần thiết phải cải cách BHTN ở Hoa Kỳ với các bằng chứng cụ thể, đồng thời, phân tích, đưa ra các bất cập cần phải giải quyết trong thời gian đến Tác giả đã đưa ra hai nhóm giải pháp: Một là, về điều chỉnh hệ thống BHTN với 6 đề xuất: quy định thời gian hưởng BHTN tối thiểu là 26 tuần trong Luật liên bang, cần tổ chức các khoản phúc lợi khẩn cấp ở liên bang cho TCTN một cách bền vững, hệ thống thu thập số liệu đã lỗi thời cần được hiện đại hóa bằng cách áp dụng bốn chiến lược bổ sung (tăng cường thu thập dữ liệu của các tiểu bang; thiết lập một cơ quan thông tin dữ liệu quốc gia về dữ liệu BHTN tại Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ hoặc Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ; hỗ trợ những thay đổi này bằng cách cung cấp một phần mềm thông thường và cung cấp tài trợ vừa phải để nâng cấp phần cứng, thiết lập một giao thức để cho phép truy cập dữ liệu cho mục đích nghiên cứu và để cải thiện hệ thống BHTN, có cơ chế để đảm bảo sự tuân thủ của tiểu bang đối với yêu cầu của liên bang), mở rộng phạm vi BHTN cho phù hợp với cơ cấu lao động hiện đại, giải quyết các khoản tài trợ ngắn hạn trong các quỹ uỷ thác BHTN của các tiểu bang, hiện đại hóa quản lý BHTN, Hai là, đổi mới hệ thống BHTN với 2 đề xuất: Thiết lập một hệ thống chia sẻ công việc hoạt động để ngăn ngừa việc sa thải tốn kém và thử nghiệm việc áp dụng bảo hiểm tiền lương để trợ giúp NLĐ quay trở lại làm việc Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ BHTN ở Hoa Kỳ Cũng giống như các công trình về BHTN ở Hoa Kỳ khác, đây cũng là thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thông tin đáng tin cậy cho phần nghiên cứu về BHTN ở Hoa Kỳ (chương 2)
Năm 2017, nhóm tác giả gồm: Tomi Kyyrä, Hanna Pesola và Aarne Rissanen
đã thực hiện một báo cáo nghiên cứu thực nghiệm về: “Unemployment Insurance in
Finland: A Review of Recent Changes and Empirical Evidence on Behavioral Responses” (tạm dịch là: Bảo hiểm thất nghiệp ở Phần Lan: Đánh giá những thay đổi gần đây và các bằng chứng thực nghiệm về phản ứng hành vi”) [146] Báo cáo
này là một phần của dự án nghiên cứu do Viện Hàn lâm Phần Lan tài trợ (Grant 133930) Với 98 trang, báo cáo này gồm có hai mục đích chính: Một là cung cấp một cái nhìn tổng quan về hệ thống BHTN ở Phần Lan thông qua việc mô những
Trang 26thay đổi chính về tiêu chuẩn, mức sinh lợi và thời gian hưởng BHTN từ năm 2000 đến nay, đồng thời, đánh giá xem những thay đổi đó đã làm thay đổi mức độ hào phóng của chương trình BHTN theo thời gian như thế nào Hai là tóm tắt những gì liên quan về tác động về lợi ích của BHTN trong bối cảnh TTLĐ ở Phần Lan thông qua cái nhìn về lý thuyết kinh tế về BHTN và bằng chứng thực nghiệm về phản ứng hành vi thông qua các khảo sát và đưa ra một số kết quả mới về các ảnh hưởng của tiêu chuẩn, mức độ và thời gian hưởng lợi đến kết quả TTLĐ ở Phần Lan Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: các chế độ BHTN mà người hưởng lợi được hưởng Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có cái nhìn đa dạng hơn trong đề xuất sự hỗ trợ tốt hơn trong các chế độ BHTN cho NLĐ ở Việt Nam (chương 4)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Giáo trình, sách:
Năm 2009, Giáo trình Bảo hiểm thất nghiệp do PGS.TS Nguyễn Tiệp làm
chủ biên [92] đã được Nhà xuất bản Lao động- Xã hội ấn hành Với 284 trang, 5 chương, cuốn giáo trình đã làm rõ 5 vấn đề lớn: khái quát chung về BHTN và môn học BHTN, tài chính BHTN, tình hình thất nghiệp và các chính sách giải quyết cho NLĐ thất nghiệp ở Việt Nam, đo lường thất nghiệp và thống kê trong nghiên cứu BHTN, khung pháp luật và tổ chức quản lý BHTN ở Việt Nam
Liên quan đến thể chế QLNN về BHTN, giáo trình đã dành 34 trang (từ trang
50 đến trang 84) để giới thiệu về BHTN ở một số nước: Cộng hòa Liên bang Đức,
Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc; 22 trang (từ trang 218 đến
trang 241) để mô tả khung pháp luật BHTN ở Việt Nam với các quy định hiện hành
về BHTN trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và các quy định liên quan khác; 15
trang (từ trang 244 đến trang 258) để mô tả các quy định về quản lý BHTN ở Việt Nam (bao gồm QLNN về BHTN và quản lý sự nghiệp BHTN) và 5 trang (từ trang
258 đến trang 263) để trình bày định hướng triển khai quy định pháp luật về BHTN
Công trình này liên quan đến luận án ở các nội dung: BHTN ở Trung Quốc, khung pháp luật BHTN ở Việt Nam thời điểm mới triển khai BHTN (2009), các khái niệm: BHTN, QLNN về BHTN Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm cơ
sở trong nghiên cứu, tổng hợp cơ sở khoa học QLNN về BHTN ở chương 1
- Bài báo khoa học trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành:
Bài báo “Phác họa mô hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất
Trang 27nghiệp ở Việt Nam” [77], đăng trên tạp chí BHXH số 11 năm 2008 của tác giả Phạm
Đình Thành khái quát chung ba mô hình tổ chức thực hiện chính sách BHTN được
đề xuất để tham khảo: Mô hình thứ nhất: ngành lao động tổ chức thực hiện; Mô hình thứ hai: ngành BHXH tổ chức thực hiện; Mô hình thứ ba: liên kết giữa 2 ngành: lao động và BHXH hoặc thêm ngành Tài chính tổ chức thực hiện Qua phân tích các nội dung của chính sách BHTN hiện hành, cũng như căn cứ vào cơ cấu tổ chức, bộ máy thực hiện các chính sách xã hội hiện tại, tác giả cho rằng mô hình thứ hai - ngành BHXH tổ chức thực hiện là mô hình hợp lý và mang lại hiệu quả kinh tế
- xã hội hơn cả trong nhiều năm tới Từ đó, tác giả phác họa mô hình thực hiện BHTN theo mô hình thứ hai- ngành BHXH tổ chức thực hiện, trong đó ngành BHXH thực hiện việc chi trả trợ cấp, hỗ trợ thông tin tìm việc làm và chủ động liên kết với các cơ sở đào tạo nghề để đào tạo nghề cho NLĐ mất việc làm Để áp dụng
mô hình thứ hai này, tác giả cho rằng các cơ quan QLNN về BHTN ở Việt Nam cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động QLNN về BHTN trong thời gian đến Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ ưu điểm của từng mô hình tổ chức thực hiện BHTN ở Việt Nam, trong đó có mô hình thứ ba là mô hình mà Việt Nam đang áp dụng hiện nay Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm cơ sở trong nghiên cứu hoàn thiện thể chế QLNN về BHTN về tổ chức bộ máy QLNN về BHTN ở chương 4
Tạp chí Doanh nhân và Pháp luật số 41 năm 2010 có đăng bài “Thực hiện
chính sách bảo hiểm thất nghiệp: Cần sự chung tay của nhà nước và doanh nghiệp”
[82] của tác giả Nguyễn Đình Thơ Bài báo đề cập đến những vướng mắc mới nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách BHTN trên thực tế, nêu lên sự cần thiết phải có sự chung tay của nhà nước và doanh nghiệp, trong đó nhà nước cần tăng cường vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, hoàn thiện thủ tục và doanh nghiệp cần có ý thức tham gia BHTN, thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến NLĐ Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ hiệu lực của chính sách BHTN trên thực tế những năm 2009-2010 Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm cơ sở trong phân tích về tính hiệu lực của chính sách BHTN giai đoạn 2009-2017 ở chương 3
Trên Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội số 59/2010, tác giả Phạm
Đỗ Dũng có bài viết “Bảo hiểm thất nghiệp sau gần 2 năm thực hiện: thực trạng và
Trang 28giải pháp” [13] Bài báo phản ánh công tác triển khai chính sách BHTN trong hai
năm 2009 và 2010 Bài báo cũng nêu lên các tồn tại, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện như NLĐ chưa hiểu hết quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia BHTN; nhiều doanh nghiệp còn trốn đóng, nợ đọng BHXH, BHTN; một số quy định chưa hợp lý; nhu cầu học nghề của NLĐ chưa cao Tác giả đề xuất một số giải pháp thúc đẩy việc thực thi chính sách BHTN như: đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền cho NLĐ, NSDLĐ và cán bộ thực thi chính sách; sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn cho phù hợp với điều kiện thực tế Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ sự chưa phù hợp ở các văn bản hướng dẫn thực thi chính sách BHTN trong hai năm đầu triển khai BHTN và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các quy định này Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn về quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2009-2010, từ đó hoàn thiện hơn việc mô tả quá trình ban hành và điều chỉnh chính sách ở Trung ương giai đoạn 2009-2017 (chương 3)
Tạp chí Lao động- Xã hội số 406 (Từ 01-15/5/2011) có bài “Xung quanh vấn
đề thu, chi bảo hiểm thất nghiệp” [21] của tác giả Điều Bá Được Tác giả đã khẳng
định những thành công của chính sách BHTN qua 3 năm thực hiện 2009-2011 thông qua các kết quả về thu- chi BHTN, đồng thời cũng đề cập đến những vấn đề nảy sinh phải kịp thời tháo gỡ như: quy định về thời gian nộp sổ BHXH, quy định
về NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, quy định về mức phí tư vấn, GTVL, chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật Công trình này liên quan đến luận
án ở nội dung: làm rõ sự chưa phù hợp trong các quy định triển khai chính sách BHTN trong giai đoạn 2009-2011 về thu-chi BHTN và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các quy định này Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn
về quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2009-2011,
từ đó có cơ sở để đánh giá chính sách BHTN ở Việt Nam luôn không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn (chương 3)
Bài viết “Một số giải pháp góp phần hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp”
của tác giả Bùi Ngọc Thanh [75] đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 427 (từ 16-31/03/2012) nêu lên những kết quả bước đầu của ba năm triển khai chính sách trên thực tế; những vướng mắc cần được khắc phục, hoàn thiện như tình trạng hiểu không đúng mục đích của chính sách, trục lợi quỹ, nguy cơ khó cân bằng quỹ Tác
Trang 29giả chỉ ra nguyên nhân của những vướng mắc là do các quy định còn thiếu chặt chẽ
và NLĐ lợi dụng những sơ hở này Tác giả đưa ra các giải pháp khắc phục gồm: quy định rõ ràng, cụ thể trường hợp nào đích thực là thất nghiệp và phải có cơ chế kiểm soát được người thất nghiệp đang hưởng BHTN Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ sự chưa phù hợp ở các văn bản hướng dẫn thực thi chính sách BHTN trong giai đoạn 2009-2011 Cũng giống như bài báo của tác giả Điều
Bá Được, công trình này cũng giúp tác giả có thêm thực tiễn về quá trình sửa đổi,
bổ sung chính sách BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2009-2011, từ đó hoàn thiện hơn việc mô tả quá trình ban hành và điều chỉnh chính sách ở Trung ương giai đoạn 2009-2017 (chương 3)
Bài báo: “Bảo hiểm thất nghiệp: Những vướng mắc cần tháo gỡ” [27] của tác
giả Nguyễn Thu Hạnh trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 24 (2013) nêu lên thực trạng sau 5 năm triển khai chính sách BHTN: nợ đọng BHTN cao trong khi việc chi trả còn chậm trễ Tác giả đưa ra nhận định về những hạn chế, vướng mắc cần tháo
gỡ, đó là: khó khăn trong cân đối thu- chi, số lượng người học nghề vẫn ở mức thấp, tình trạng doạnh nghiệp lách luật, trốn đóng BHTN còn diễn ra, một số quy định chưa phù hợp với thực tế, bộ máy tổ chức chưa được tổ chức theo hệ thống ngành dọc Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp như: điều chỉnh chính sách kịp thời, nâng mức hỗ trợ học nghề, có chế tài xử lý nghiêm việc trốn đóng, nợ BHTN, đẩy mạnh công tác nghiệp vụ trong quản lý, tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiệp vụ BHTN Công trình này liên quan đến luận
án ở nội dung: làm rõ những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện chính sách BHTN giai đoạn 2009-2013, từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện chính sách Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn về quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2009-2011, từ đó, có những đánh giá (chương 3), đề xuất sửa đổi, bổ sung thể chế QLNN về BHTN (chương 4) được toàn diện hơn
Tạp chí Thanh tra tài chính số 6 (2013) có đăng bài “Bảo hiểm thất nghiệp-
Một chính sách cần được tiếp tục hoàn chỉnh” [81] của tác giả Nguyễn Ngọc Thịnh
Trong bài viết, tác giả hệ thống những quy định pháp lý hiện hành về BHTN, một
số nội dung cơ bản của chính sách BHTN Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên những điểm bất cập trong thực hiện chính sách BHTN như: bất cập về đối tượng được
Trang 30hưởng TCTN, bất cập trong thực hiện chính sách hỗ trợ học nghề, tìm việc làm Tác giả cho rằng những sửa đổi quy định về chính sách BHTN thời gian qua chủ yếu là
về trình tự, thủ tục, trong thời gian đến cần phải quy định chặt chẽ: các trường hợp không phải thất nghiệp thực sự sẽ không được hưởng chính sách, người đang hưởng TCTN khi đã tìm được việc làm mới thì không được hưởng TCTN cho thời gian còn lại Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ sự chưa phù hợp của chế độ TCTN Mặc dù không đồng tình với quan điểm rằng những người thất nghiệp do nguyên nhân từ chính họ thì sẽ không được hưởng TCTN, nhưng đây là nghiên cứu hữu ích để tác giả có những quan sát đa chiều về trợ cấp thất nghiệp, từ
đó, có những đề xuất sửa đổi, bổ sung các chế độ BHTN (chương 4)
Năm 2013, bài viết “Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp góp phần đảm bảo an
sinh xã hội ở Việt Nam” [79] của tác giả Nguyễn Trọng Thản đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu Tài chính kế toán số 12 (125) khẳng định vai trò to lớn của chính sách BHTN là góp phần đảm bảo ASXH Tác giả khẳng định những thành tựu mà chính sách BHTN đã đạt được đồng thời nhận định chính sách này vẫn còn nhiều kẻ hở, tạo điều kiện cho các đối tượng lạm dụng quỹ (điều kiện hưởng, mức hưởng chưa hợp lý, đối tượng tham gia còn hạn chế, cơ quan BHXH không có thẩm quyền xử lý
vi phạm, chưa có chế tài để cưỡng chế các đơn vị vi phạm quy định về BHTN, quy định về hoạt động đầu tư quỹ chưa hợp lý,… Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp: tính toán lại mức hưởng và thời gian hưởng, tổ chức dạy nghề tập trung, quy định rõ chi phí tư vấn việc làm cho các Trung tâm DVVL, giao cho cơ quan BHXH chức năng thanh tra chuyên ngành về BHTN, có hệ thống nghiên cứu thị trường và thông tin TTLĐ chuẩn xác hơn, nhạy cảm hơn, thu thập đầy đủ, nghiên cứu lại hiệu quả của việc đào tạo nghề, thay đổi quy định lãi suất cho vay trong hoạt động đầu tư, nguồn kinh phí sử dụng để chi trả chi phí quản lý, phân công lại trách nhiệm giữa hai ngành BHXH và ngành LĐ-TB&XH Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ sự chưa phù hợp ở các văn bản hướng dẫn thực thi chính sách BHTN giai đoạn 2009-2013 và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các quy định này Đây
là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn về quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2009-2013 để hoàn thiện các phân tích thực trạng (chương 3)
Bài viết “Mô hình tổ chức, hoạt động của Trung tâm Dịch vụ việc làm gắn với
Trang 31tiếp nhận, giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp” [53] của tác giả Quang Lễ đăng
trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 479 (từ 16-31/5/2014) Tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong quy định cách thức tổ chức thực hiện của mô hình tổ chức Trung tâm DVVL hiện tại: Chưa xây dựng từng loại mô hình đáp ứng với nhu cầu của từng địa phương để bố trí, sử dụng cán bộ thực hiện từng khâu trong quy trình; công tác tư vấn, GTVL và hỗ trợ học nghề đối với người thất nghiệp chưa đạt hiệu quả như mong muốn; sự phối hợp giữa các phòng/bộ phận thực hiện chức năng tư vấn, GTVL và dạy nghề có hiệu quả chưa cao Theo tác giả, cần phải ban hành quy định sửa đổi, bổ sung nhằm đưa ra mô hình thống nhất, áp dụng phù hợp với điều kiện của địa phương, mô hình này phải đẩy mạnh công tác tư vấn việc làm, tư vấn học nghề đối với NLĐ thất nghiệp, nâng cao trách nhiệm của từng cán bộ thực hiện nhiệm vụ tư vấn, GTVL, dạy nghề, đẩy mạnh công tác hỗ trợ học nghề Theo đó, tác giả đề xuất nên quy định mô hình mới đối với Trung tâm DVVL theo hướng gắn với việc tiếp nhận, giải quyết chế độ BHTN Cụ thể là, thành lập bộ phận tiếp đón NLĐ tại các trung tâm với mục đích đón tiếp, tư vấn và phân loại nhu cầu của NLĐ Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ công tác tư vấn, GTVL tại Trung tâm DVVL cấp tỉnh Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn về hoạt động của các Trung tâm DVVL, từ đó, có đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định nâng cao năng lực đào tạo nghề ở địa phương để giải quyết tốt hơn chế độ hỗ trợ đào tạo nghề cho NLĐ hưởng BHTN (chương 4)
Tạp chí Lao động- Xã hội số 481 (từ 16-30/6/2014) có đăng bài “Mở rộng đối
tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Nhu cầu tất yếu” [52] của tác giả Quang Lê
Bài báo khẳng định, việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN theo Luật Việc làm năm 2013 là tất yếu và đúng đắn Và để thực hiện được, trong thời gian đến cần có các giải pháp như: sớm ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Việc làm về BHTN, trong đó hướng dẫn cụ thể về việc tham gia và đóng BHTN, chính sách hỗ trợ học nghề, tư vấn, GTVL đối với người thất nghiệp; tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật liên quan đến lao động, tiền lương và BHTN; đẩy mạnh công tác quản lý lao động, sớm áp dụng công nghệ thông tin để quản lý lao động nói chung
và quản lý BHTN nói riêng; thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật lao động, Luật Việc làm, các luật liên quan khác để thực hiện BHTN theo đúng quy định; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và thực hiện BHTN; tăng cường công
Trang 32tác hợp tác quốc tế để thu thập kinh nghiệm, phương pháp quản lý các đối tượng này Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ đối tượng tham gia BHTN theo quy định hiện hành theo Luật Việc làm 2013, từ đó, đề xuất những giải pháp để hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện BHTN Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả củng cố thêm cơ sở để đưa ra các biện pháp hoàn thiện thể chế QLNN
về BHTN (chương 4) Tuy nhiên, các giải pháp cũng chỉ dừng lại ở sự gợi ý chung chung, không cụ thể
Tháng 6/2016, trên Tạp chí Nghiên cứu khu vực và quốc tế thuộc Viện Nghiên
cứu Quốc tế, Đại học Quốc gia Seoul, Hàn Quốc, số 23 đã có bài báo "The Fish"
and "the Fishing Rod:" Unemployment Insurance in Vietnam (tạm dịch là “Con cá”
và “Cần câu”: Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam) của hai tác giả Tae Gyun Park
and Đỗ Diệu Khuê Bài báo sử dụng dữ liệu trực tiếp từ Việt Nam, tiến hành phân tích chính sách BHTN dựa trên các chỉ tiêu quan trọng như độ bao phủ, điều kiện hưởng và lợi ích nhận được khi tham gia BHTN đồng thời phân tích những thách thức của chính sách BHTN dưới sự thay đổi của nền kinh tế Bài báo trình bày sự so sánh giữa quy định về BHTN năm 2009 và năm 2015 để cho thấy những cải cách về BHTN ở Việt Nam và những điều chỉnh này làm cải thiện điều kiện BHTN hiện tại như thế nào Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: nêu lên được những hiệu quả mà chính sách BHTN mang lại cho NLĐ Việt Nam, những nội dung BHTN hiện hành Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm cái nhìn đa chiều của các tác giả khác nhau về hiệu quả của BHTN (chương 3)
- Tham luận hội thảo, hội nghị:
Năm 2003, tại Hội thảo khoa học “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo
An sinh xã hội” do Bộ Tài chính tổ chức, TS Đặng Anh Duệ đã có bài báo: “Để
xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” [10] Bài báo nêu
lên sự cần thiết phải có chế độ BHTN trong hệ thống các chế độ BHXH ở Việt Nam
và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện chế độ này Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ sự cần thiết của chế độ BHTN ở Việt Nam Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn trước khi chính sách BHTN được triển khai ở Việt Nam, từ đó, giúp hoàn thiện đánh giá về thực trạng BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2010-2017 (chương 3)
Tại Hội nghị tổng kết ba năm thực hiện BHTN ngày 23/5/2012, Bộ
Trang 33LĐ-TB&XH đã có báo cáo tổng kết tình hình triển khai thực hiện BHTN từ năm 2009 đến năm 2012 Báo cáo đã có đánh giá cụ thể về những mặt được, chưa được và các kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách trong thời gian đến: thời gian hưởng, mức hưởng, điều kiện hưởng, các chế độ BHTN Những giải pháp mà báo cáo này nêu ra
đã được Nhà nước cụ thể hóa trong Luật Việc làm 2013 Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ thực tiễn triển khai BHTN giai đoạn 2009-2012, những đánh giá về chính sách BHTN theo cách tiếp cận của các cơ quan QLNN về BHTN Đây là thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn về quá trình sửa đổi,
bổ sung chính sách BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2009-2012 để hoàn thiện các phân tích thực trạng thể chế QLNN về BHTN (chương 3)
Tại Hội thảo “Quy trình tiếp nhận, giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối
với người lao động” do Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB&XH tổ chức ngày 09/1/2014 tại
Cần Thơ, 6 tham luận của các Trung tâm DVVL: TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang đã được đưa ra trình bày và thảo luận Trong đó, báo cáo của Trung tâm DVVL Cần Thơ nổi bật với mô hình “Một điểm đến” tạo sự gần gũi, cảm giác an tâm cho NLĐ, đảm bảo đúng trình tự thực hiện và đúng quy định hiện hành của pháp luật Báo cáo của Trung tâm DVVL Bình Dương nêu rõ cần có sự phối hợp chặt chẽ, sâu sát của các cấp lãnh đạo và sự phối hợp linh hoạt giữa các phòng chuyên môn thuộc Trung tâm Báo cáo của Trung tâm DVVL Đồng Nai nêu lên sự cần thiết phải xây dựng quy trình tổ chức tiếp nhận, giải quyết chế độ BHTN theo hướng khép kín để NLĐ và doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu thông tin chính sách BHTN đồng thời giúp NLĐ thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn khi đến giải quyết chế độ, kịp thời hơn khi được tư vấn, GTVL, hỗ trợ học nghề Báo cáo của Trung tâm DVVL Tiền Giang nhấn mạnh việc Trung tâm đã thực hiện mô hình chuyên môn hóa các công đoạn trong quá trình giải quyết chế độ BHTN bằng cách thành lập 5 bộ phận chuyên môn thuộc phòng BHTN, nhờ vậy, dễ dàng kiểm soát sai sót ở từng khâu, có sự phối hợp nhịp nhàng ở từng bộ phận, việc tiếp nhận xử lý hồ sơ luôn chính xác, kịp thời và trả kết quả đúng hạn Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ quy trình, thủ tục giải quyết chế độ BHTN ở các Trung tâm DVVL cấp tỉnh Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả
có thêm thực tiễn giải quyết chế độ BHTN ở các địa phương, từ đó, có những đề xuất về quy trình, thủ tục, sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong giải quyết
Trang 34chế độ BHTN (chương 4)
- Đề tài nghiên cứu khoa học các cấp:
Năm 2000, tác giả Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh tế Bảo hiểm - Trường Đaị học Kinh tế Quốc dân thực hiện đề tài khoa học cấp bộ với tên
gọi “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường”
(mã số B2000-38-62) Nội dung của đề tài này [17] mới chỉ dừng lại ở mức độ định tính là chủ yếu, như là: sự cần thiết khách quan phải triển khai BHTN, phân tích thực trạng thất nghiệp và nêu lên một số quan điểm chung khi tổ chức triển khai BHTN ở nước ta Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam trước khi chính sách BHTN được triển khai Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có sự so sánh, đánh giá hiệu quả BHTN ở Việt Nam sau khi thực hiện BHTN (chương 3)
Năm 2004, tác giả Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại BHXH Việt Nam đã
thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học với tên gọi: “Nghiên cứu những nội dung cơ
bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại- vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam” [1] Với 4 chương, đề tài đã làm rõ vấn đề lao động, việc làm,
thất nghiệp; những quy định về TCTN trong các Công ước quốc tế; quá trình hình thành TCTN; kinh nghiệm thực hiện TCTN ở các nước trên thế giới đồng thời đưa
ra định hướng thực hiện BHTN ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, một số các quy định về tổ chức thực hiện, quản lý BHTN được nghiên cứu, cụ thể là việc đưa ra một số mô hình thực hiện BHTN nhưng vấn đề quy định cách thức tổ chức thực hiện như thế nào thì chưa được làm rõ, đồng thời chưa phân biệt rõ BHTN và TCTN Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ một số quy định của ILO và của một số nước trên thế giới về trợ cấp thất nghiệp Tuy có sự chưa phân biệt rõ giữa TCTN và BHTN, các đề xuất chưa cụ thể, nhưng là thông tin hữu ích giúp tác giả có cái nhìn đa chiều, từ đó, có những đề xuất sửa đổi, bổ sung thể chế QLNN về BHTN ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Năm 2008, đề tài nghiên cứu khoa học “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt
Nam” [18] do tác giả Nguyễn Văn Định, Trường Đại học Kinh tế quốc dân và các
cộng sự thực hiện đã làm rõ những vấn đề lý luận về thất nghiệp, TCTN và BHTN; đánh giá thực trạng thất nghiệp, nhu cầu và khả năng tham gia BHTN; làm rõ quan điểm về tổ chức BHTN, đưa ra những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện quy định để
Trang 35tổ chức BHTN ở nước ta Theo đó, mô hình mà nhóm tác giả lựa chọn là mô hình
mà cơ quan BHXH Việt Nam đứng ra tổ chức BHTN, còn Bộ LĐ-TB&XH chỉ là
cơ quan QLNN về BHTN Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: những vấn đề lý luận về thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam trước khi có chính sách BHTN Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có hệ thống cơ sở lý luận về thất nghiệp (chương 2) và đánh giá thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam trước và sau khi có BHTN (chương 3)
Năm 2013, đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính
sách BHTN nhằm tăng cường tính bền vững” [100] do Cục Việc làm, Bộ
LĐ-TB&XH chủ trì, tác giả Lê Quang Trung làm chủ nhiệm đã nêu lên một số vấn đề liên quan đến QLNN về BHTN với 5 nội dung cơ bản: Hướng dẫn, tuyên truyền chính sách BHTN của nhà nước; Đăng ký tình trạng thất nghiệp cho những người đang bị thất nghiệp; Tính toán chế độ BHTN theo quy định của pháp luật; Chi tiền TCTN cho người thất nghiệp đủ điều kiện hưởng BHTN và Kiểm tra, giám sát việc thực hiện BHTN, phát hiện các vấn đề phát sinh và xử lý kịp thời Trong đó, có những đề cập liên quan đến quy trình thực hiện BHTN và bộ máy tổ chức, đồng thời đưa ra hướng đề xuất rằng: đóng góp BHTN phải được mở rộng từng bước để tránh tăng đột ngột các chi phí, gây khó khăn đối với NSDLĐ, ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề duy trì việc làm cho NLĐ ở các đơn vị sử dụng lao động Bên cạnh đó,
đề tài nhấn mạnh vai trò của Trung tâm DVVL- cầu nối giữa NLĐ và NSDLĐ- nơi cung cấp cho NLĐ thông tin để lựa chọn nghề, trình độ đào tạo nghề, nơi học nghề, lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; về kỹ năng tìm việc làm;
tự tạo việc làm- nơi tư vấn cho NSDLĐ về tuyển dụng lao động; quản trị và phát triển nguồn nhân lực; sử dụng lao động và phát triển việc làm; tư vấn chính sách, pháp luật lao động Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: làm rõ quy trình thực hiện BHTN và bộ máy tổ chức thực hiện chính sách BHTN Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm thực tiễn về quá trình thực hiện BHTN, đồng thời, khẳng định sự đúng đắn của thể chế QLNN về BHTN khi chuyển bộ máy tiếp nhận, giải quyết chế độ BHTN từ Phòng LĐ-TB&XH cấp huyện sang Trung tâm DVVL cấp tỉnh (chương 3)
- Luận án, luận văn:
Năm 2005, luận án tiến sĩ Luật học “Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền
Trang 36kinh tế thị trường ở Việt Nam” [85] được thực hiện bởi tác giả Lê Thị Hoài Thu
Với 193 trang, 3 chương, luận án đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thất nghiệp, người thất nghiệp, chế độ BHTN cũng như ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với chế độ BHTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; phân tích, đánh giá tình hình thất nghiệp, các chế độ hỗ trợ NLĐ mất việc làm qua các thời kỳ phát triển của nền kinh tế cũng như luận giải về sự cần thiết khách quan của việc xây dựng chế độ BHTN ở Việt Nam; từ đó, đề nghị một số kiến nghị bước đầu về việc xây dựng và thực hiện chế độ BHTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: phạm
vi, đối tượng áp dụng, điều kiện, thời gian hưởng, mức hưởng, nguồn hình thành và
sử dụng quỹ, quản lý và tổ chức thực hiện chế độ BHTN, các biện pháp giúp người thất nghiệp trở lại với thị trường lao động Việt Nam Đây là công trình khoa học nghiên cứu về BHTN dưới góc độ luật học, là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam khi nghiên cứu xây dựng chính sách BHTN
ở Việt Nam, áp dụng từ ngày 01/01/2009 Xuyên suốt luận án, tác giả tiếp cận BHTN là một nhánh của chế độ BHXH, từ đó, các gợi ý về chính sách và tổ chức quản lý BHTN cũng tập trung theo cách tiếp cận này Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: những phân tích về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, mức hưởng BHTN, các hỗ trợ khác để NLĐ quay trở lại TTLĐ Đây là các thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm sự tiếp cận đa chiều từ đó có những đề xuất về đối tượng của BHTN và sự hỗ trợ NLĐ thông qua các chế độ BHTN (chương 4)
Năm 2013, Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh của tác giả Phùng Thị Cẩm
Châu về “Hoàn thiện quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở tỉnh
Thái Nguyên” [5] với mục đích đánh giá việc thực hiện BHTN tại tỉnh Thái Nguyên
trong năm 2012 và đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường việc thực hiện chính sách này ở Thái Nguyên trong những năm tới Để giải quyết vấn đề nghiên cứu được
đề cập ở trên, tác giả tiến hành phỏng vấn 348 NLĐ đã thụ hưởng BHTN tại tỉnh Thái Nguyên trong số 2.665 NLĐ đã được lựa chọn để trả lời cho bảng câu hỏi Sau khi có được thông tin khảo sát từ NLĐ, tác giả đánh giá, phân tích để giải quyết 4
mục tiêu nghiên cứu: (1) Mô tả các đặc điểm của những người trả lời phỏng vấn;
xác định nhận thức của những người trả lời phỏng vấn về việc thực hiện BHTN về các vấn đề: đối tượng của BHTN, điều kiện hưởng BHTN, quỹ BHTN, các chế độ của BHTN và quy trình hưởng BHTN; so sánh nhận thức về việc thực hiện BHTN
Trang 37giữa các nhóm người trả lời phỏng vấn khi phân chia họ thành các nhóm theo tiêu chí: Loại hình đơn vị mà NLĐ đã làm việc trước khi thất nghiệp và (4) đề xuất một
số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách BHTN tại tỉnh Thái Nguyên trong các năm tiếp theo đồng thời tập trung trả lời 4 câu hỏi: (1) Hồ sơ của người trả lời phỏng vấn ra sao về: tuổi, giới tính, loại đơn vị mà NLĐ đã làm việc trước khi thất nghiệp, loại hợp đồng lao động/ hợp đồng làm việc đã ký kết trước khi thất nghiệp, tình trạng công việc hiện tại, thời gian tham gia BHTN, tình trạng hưởng BHTN; (2) Nhận thức của những người trả lời về việc thực hiện BHTN đối với các vấn đề: đối tượng của BHTN, điều kiện hưởng BHTN, quỹ BHTN, các chế độ của BHTN và quy trình hưởng BHTN; (3) Có sự khác biệt đáng kể không trong nhận thức về việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp giữa các nhóm người trả lời khi phân nhóm họ theo tiêu chí: Loại hình đơn vị mà người lao động đã làmviệc trước khi thất nghiệp và (4) Những khuyến nghị nào được đề xuất nhằm tăng cường việc thực hiện chính sách BHTN tại tỉnh Thái Nguyên trong các năm tiếp theo
Trong các khuyến nghị của mình, tác giả có đề cập đến việc cần mở rộng đối tượng hưởng BHTN và thực hiện chính sách BHTN tự nguyện Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách BHTN tự nguyện như thế nào, cho đối tượng nào, cách thức thực hiện ra sao thì chưa được đề cập đến Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: những khuyến nghị của tác giả về mở rộng đối tượng của BHTN và chính sách BHTN tự nguyện Tuy chưa rõ ràng về ý tưởng nhưng cũng giúp ích cho tác giả trong việc củng cố quan điểm cần mở rộng đối tượng BHTN hiện nay và có thêm hình thức BHTN tự nguyện bên cạnh hình thức bắt buộc như hiện nay (chương 4)
Năm 2016, Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Trường về “Quản
lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay” [101] Với 151 trang, 4
chương, luận án đã hệ thống hoá và làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN
về BHTN, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về BHTN, đáp ứng yêu cầu đổi mới QLNN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Mục đích nghiên cứu của luận án này là nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho các cơ quan hoạch định, thực thi luật pháp, chính sách về BHTN để phục
vụ cho việc điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện QLNN về BHTN ở Việt Nam [101, tr 3] với ý nghĩa về mặt lý luận là góp phần làm sáng tỏ khung lý thuyết của QLNN về BHTN trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, nhất là về nội
Trang 38dung, phương thức, công cụ và biện pháp tăng cường QLNN về BHTN [101, tr 3]
và ý nghĩa về mặt thực tiễn là góp phần nâng cao nhận thức, thúc đẩy sự tham gia của NLĐ, tăng cường và hoàn thiện QLNN về BHTN nhằm bảm đảm an sinh xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh ở Việt Nam [101, tr 3] Luận
án đã tập trung giải quyết 4 mục tiêu cụ thể sau: làm rõ cơ sở lý luận của QLNN về BHTN trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; tổng hợp, phân tích kinh nghiệm QLNN về BHTN của một số quốc gia và rút
ra bài học cho Việt Nam; đánh giá khách quan thực trạng QLNN về BHTN giai đoạn 2009-2014, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của QLNN về BHTN và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện QLNN về BHTN đến năm 2020, tầm nhìn 2025 [101, tr 13-14] Luận án đã nêu ra 6 nội dung QLNN
về BHTN gồm: hoạch định chiến lược, chính sách BHTN; xây dựng hệ thống pháp
luật về BHTN; tổ chức thực hiện chính sách BHTN; kiểm tra, giám sát hoạt động BHTN; xây dựng tổ chức hệ thống BHTN và tổ chức công tác tuyên truyền Tuy
nhiên, xuyên suốt toàn luận án, các nội dung liên quan đến thể chế QLNN về BHTN- một nội dung quan trọng của QLNN về BHTN trên phương diện nghiên cứu của khoa học Quản lý công- lại chưa được tổ chức nghiên cứu một cách toàn
diện và chuyên sâu, cụ thể là: Ở chương 2, về cơ sở lý luận của QLNN về BHTN,
trong tổng số 58 trang, tác giả chỉ dành 4 trang để phân tích về mặt lý luận về
hoạch định chiến lược, chính sách BHTN và xây dựng hệ thống pháp luật về BHTN
(trang 43-47) Ở chương 3, về thực trạng QLNN về BHTN ở Việt Nam, trong tổng
số 48 trang, tác giả chỉ dành 4 trang đề cập đến thực trạng hoạch định chính sách
BHTN ở Việt Nam giai đoạn 2009- 2014 (trang 98-102), từ đó đưa ra 7 dòng nhận
định về thành tựu của công tác hoạch định chính sách pháp luật BHTN: Công tác
hoạch định chính sách pháp luật BHTN ngày càng hoàn thiện (dòng 7-13, trang
115) và đưa ra 20 dòng nhận định về hạn chế của công tác hoạch định chính sách
pháp luật BHTN: một số chính sách ban hành còn chậm, chưa đáp ứng được yêu
cầu thực tế (dòng 8-29, trang 118) Ở chương 4, về phương hướng và giải pháp
hoàn thiện QLNN về BHTN ở nước ta, trong tổng số 26 trang, tác giả chỉ dành gần
3 trang đề cập đến các giải pháp hoàn thiện chính sách BHTN (từ trang 130 đến
trang 132), tuy nhiên, các giải pháp này được đề cập chung chung, không cụ thể
Công trình này liên quan đến luận án ở nội dung: khái niệm QLNN về BHTN, thực
Trang 39trạng BHTN ở Việt Nam và một số vấn đề bất cập về thể chế QLNN về BHTN Mặc dù không có chung nhận định với tác giả ở các đánh giá và đề xuất về thể chế nhưng công trình đã cung cấp cho tác giả các thông tin hữu ích để nghiên cứu, hệ thống cơ sở lý luận về thể chế QLNN về BHTN (chương 2), đánh giá thể chế QLNN về BHTN (chương 3) và đề xuất giải pháp hoàn thiện (chương 4)
1.2 Đánh giá về các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước và định hướng nghiên cứu
1.2.1 Những giá trị có thể tiếp thu
Qua nghiên cứu hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến thể chế QLNN về BHTN ở Việt Nam và các nước trên thế giới, tác giả nhận thấy rằng xây dựng thể chế QLNN về BHTN phù hợp là vấn đề rất được quan tâm ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là ở các nước phát triển và các nghiên cứu
về thể chế QLNN về BHTN được thực hiện từ rất sớm, vào những năm đầu của thế
kỷ XX, khi chính sách BHTN mới được một số rất ít các nước thực hiện
Một số các công trình nghiên cứu đã nêu bật sự cần thiết phải thực hiện chế độ BHTN ở các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nêu bật vai trò, tầm quan trọng của chính sách BHTN, đặc biệt là khi xảy ra khủng hoảng, suy thoái kinh tế Một số nghiên cứu đã phân tích nội dung chính sách BHTN ở các nước, ở khu vực, ở các vùng lãnh thổ hay ở một địa phương cụ thể của một quốc gia, thu thập, đánh giá kết quả thực thi chính sách ở các nước, các địa phương trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó, đưa ra những khuyến nghị về chính sách đối với một số quốc gia, vùng lãnh thổ Trong đó, các công trình ngoài nước chủ yếu tập trung phản ánh BHTN trên giác độ kinh tế- xã hội, quan tâm nhiều đến nội dung cải thiện các chế độ của BHTN, vấn đề thiết kế chính sách BHTN sao cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển; các công trình trong nước nghiên cứu về các nội dung chính sách BHTN mà Việt Nam nên có (đối với các nghiên cứu trước năm 2008, khi chính sách BHTN chưa được thực thi ở Việt Nam) và về những bất cập của chính sách so với thực tế triển khai trên phạm vi cả nước hoặc một địa phương cụ thể (đối với các nghiên cứu từ năm 2009 đến nay, khi chính sách BHTN được thực thi ở Việt Nam)
Nhìn chung, những vấn đề được nêu trong các công trình hoàn toàn xuất phát
từ thực tế khách quan và mang tính khoa học Phần lớn các giải pháp được đề xuất
Trang 40trong các công trình này đã được Chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam nghiên cứu áp dụng, tiếp thu, điều chỉnh trong quá trình xây dựng, hoạch định, điều chỉnh chính sách BHTN Các công trình nêu trên là cơ sở quan trọng cho việc tổ chức
nghiên cứu đề tài “Thể chế quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam”
Trong các nghiên cứu kể trên, tác giả hoàn toàn đồng ý với đề xuất phải hiện đại hóa quản lý BHTN của tác giả Till Von Wachter (2016) với Chính phủ Hoa Kỳ Tác giả cũng hoàn toàn đồng ý với tác giả Lê Thị Hoài Thu (2005) rằng khi mới ban hành chính sách BHTN, phạm vi áp dụng BHTN nên giới hạn ở một số đối tượng nhưng về lâu dài sẽ mở rộng phạm vi áp dụng khi điều kiện cho phép Tác giả cũng đồng ý với những phát hiện của tác giả Phùng Thị Cẩm Châu (2013) khi nghiên cứu thực tế triển khai BHTN tại tỉnh Thái Nguyên và cho rằng đối tượng tham gia BHTN hiện nay còn hạn chế và khuyến nghị nên mở rộng đối tượng tham gia bằng hình thức BHTN tự nguyện bên cạnh hình thức BHTN bắt buộc Các luận điểm này
sẽ được tác giả phát triển và tổ chức nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu hơn sao cho phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam
1.2.2 Những vấn đề liên quan đến luận án chưa được đề cập
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án kể trên chưa đề cập đến những nội dung sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu tiếp cận thể chế QLNN về BHTN ở nhiều giác độ khác nhau: về quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh, luật học, xã hội học … Chưa có công trình nào tiếp cận thể chế QLNN về BHTN dưới góc độ khoa học Quản lý công
Thứ hai, các công trình chỉ nêu lên một khía cạnh nhỏ của pháp luật BHTN, quá trình thực thi chính sách BHTN mà những quy định này đang gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai tại một thời điểm, giai đoạn cụ thể nào đó, ở một địa phương, một nước, một nhóm nước cụ thể nào đó Chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện về lý luận và thực tiễn thể chế QLNN về BHTN ở Việt Nam
Thứ ba, các công trình đều có những đánh giá, giải pháp logic và khoa học, tuy nhiên, còn chung chung và chưa cụ thể Trong số đó, một số tác giả đã đề cập đến sự cần thiết phải mở rộng đối tượng của chính sách nhưng chưa nêu cụ thể mở rộng cho đối tượng nào, mở rộng như thế nào và cách tổ chức thực hiện ra sao Một