1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM MELAMINE

10 859 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 38,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM MELAMINE I. Tổng quan về chất melamine: 1. Melamine là gì:  Melamine tên đầy đủ là 1,3,5triazine2,4,6triamine.  Là một bazơ hữu cơ dạng tinh thể trắng.  Có công thức hóa học C3H6N6 tạo thành từ 3 phân tử cyanamide (CN2H2).  Khối lượng phân tử: 126.12gmol.  Hòa tan yếu trong nước (ở 200C, 3.1gl).  Tan chảy ở 3500C.  Nếu tính tỷ lệ các nguyên tố cacbon (C), nitơ (N) và hydro (H) thì nitơ chiếm tới 66% theo khối lượng.  Công thức cấu tạo và công thức phân tử: Trong tự nhiên, Melamine là sản phẩm trao đổi chất hình thành trong cơ thể động vật có vú khi ăn vào cyromazine. Melamine được tổng hợp đầu tiên do nhà hoá học Đức Justus von Liebig (1834). Ngày nay, việc tổng hợp được công nghiệp hoá sử dụng urea ((NH2)2CO), theo phản ứng: Sản phẩm hình thành là khí và dung dịch, khí được tái thu hồi để giảm thải tiết NH3 và dung dịch được tinh thể hoá để cho ra 70% Melamine, 23% oxytriazines (ammeline, ammelide và cyanuric acid), 0.7% polycondensates (melem, melam và melon). 2. Độc tính của Melamine: Melamine (màu xanh) dễ dàng kết hợp với acid cyanuric (màu đỏ) qua liên kết hydro tạo kiểu liên kết phân tử hình thành mái ngói, lắng đọng và gây sỏi thận. Melamine tự nó không được xem là một độc chất. Nhưng khi kết hợp với Acid cyanuric thì nó trở nên độc hại. Khi Melamine kết hợp với cyanamide sẽ cho ra Melamine cyanurate có khả gây sỏi thận thậm chí dẫn tới tử vong. Acid cyanuric là chất tổng hợp, dùng nhiều trong công nghiệp, có nhiều tên gọi khác nhau, có màu trắng, không mùi, là dẫn chất trong ngành nhuộm vải, thuốc tẩy, thuốc diệt cỏ. Acid cyanuric hiện được nghiên cứu đi đôi với Melamine, là thủ phạm kết hợp với Melamine làm thành một hỗn hợp có độc tính cao hơn, gây ra cơn sốt về ngộ độc sữa Melamine hiện nay. 3. Ảnh hưởng của Melamine đến sức khỏe:  Gây sỏi thận:  Ngộ độc Melamine cấp tính: 4. Vai trò của Melamine:  Melamine là chất có nitrogen chiếm 66% theo khối lượng, chính là cơ sở cho việc thêm Melamine vào sữa để tăng hàm lượng nitrogen nhằm thổi phồng là sữa giàu protein.  Vì hàm lượng nitơ cao nên Melamine được những nhà sản xuất gian dối đưa vào thực phẩm, đưa 1% Melamine vào trong thực phẩm thì làm tăng lên 4,13% protein thô.  Một điều cần lưu tâm là nhựa Melamine thường được sử dụng trong đóng gói thực phẩm của người và động vật cũng như làm nguyên liệu chế tạo các dụng cụ ăn uống như thìa, dĩa... nên Melamine có thể xâm nhập từ dụng cụ bao gói hay đồ dùng ăn uống vào thực phẩm với hàm lượng rất nhỏ (tính bằng phần triệu). 5. Ứng dụng. Melamine được dùng rộng rãi trong sản xuất đồ nhựa, đồ dùng gia đình, bảng trắng, phân bón Melamin khi phản ứng với formaldehit tạo thành keo melamin. Melamin cũng được sử dụng trong ngành công nghiệp phân bón. Khi trộn lẫn với một số nhựa, chúng tạo thành hỗn hợp có khả năng chống cháy do khi cháy chúng giải phóng ra một lượng khí nitơ. II. Tổng quan về sữa nhiễm Melamine và biện pháp: 1. Tổng quan về sữa nhiễm Melamine: Gần đây việc tìm thấy Melamine, một chất có hại cho sức khoẻ có trong sữa và các sản phẩm sữa như bánh, kẹo… đã gây nhiều lo lắng cho người dân và cả các nhà quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm, vì đây là loại thực phẩm rất phổ biến được nhiều người sử dụng, nhất là trẻ em. Kiểm soát hàm lượng Melamine trong sữa và các sản phẩm từ sữa hiện nay là việc cần thiết để bảo vệ sức khoẻ người dân. Việc thêm Melamin vào sữa tại Trung Quốc trong thời gian gần đây với mục đích tăng “đạm” đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng. Theo thông tấn xã Pháp (AFP) tại Beijing, cho đến nay gần 13.000 trẻ em đã nhập viện tại Trung Quốc sau khi uống sữa có chứa Melamine, trong đó 104 trẻ bệnh rất nặng và có ít nhất 4 trẻ bị tử vong. Melamine đã được phát hiện trong sữa hộp trẻ em, sau đó phát hiện trong cả sữa lỏng đóng hộp, yoghurt và kem tại Trung Quốc. Hàm lượng nhiễm Melamine trong khoảng từ 0.09 mgkg đến 2.560 mgkg. Gần đây, việc nhập khẩu một lượng sữa và nguyên liệu sữa từ Trung Quốc và các nước khác vào tiêu thụ tại thị trường Việt Nam gây nhiều bất an cho người dân và cả cho các cơ quan chức năng về an toàn vệ sinh thực phẩm. Melamine có tìm thấy trong các loại sữa và sản phẩm sữa đang tiêu thụ tại nước ta không? Đây là vấn đề thật sự cần được quan tâm. Vì thế việc kiểm tra, giám sát Melamine nhiễm trong sữa và sản phẩm sữa là điều cần thiết phải thực hiện nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. 2. Các biện pháp khắc phục khi thực phẩm bị nhiễm melamine: Tại Việt Nam hiện nay, việc xử lý sữa bị nhiễm melamine thực hiện bằng phương pháp đốt, còn tại Trung Quốc, nơi phát sinh sữa nhiễm melamine đầu tiên, thì xử lý bằng cách đóng gạch với mức tiêu tốn 100 đô la Mỹtấn (đốt thì rẻ hơn 70% so với đóng gạch). Ngoài ra sữa nhiễm melamine có thể được xử lý thành phân bón hóa hữu cơ bằng giải pháp công nghệ sinh học. Quy trình thực hiện tương tự như sản xuất phân vi sinh, tuy nhiên điểm khác biệt duy nhất (khác với vi sinh thông thường) là phải bổ sung thêm một số chủng vi sinh chọn lọc – củng vi sinh có enzyme có khả năng phân hủy sữa trong vòng 30 ngày. 3. Một số biện pháp hạn chế sự nhiễm melamine vào cơ thể: Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Do đó, bà mẹ nên cho con bú hoàn toàn ít nhất trong 6 tháng đầu. Trong thời điểm nhạy cảm này, bà mẹ phải cố gắng tận dụng tối đa nguồn sữa mẹ. Trong trường hợp đi làm thì có thể vắt sữa để dành cho con. Dụng cụ chứa sữa có thể là bình nhựa hoặc ly thủy tinh đậy kín nắp. Các nhà sản xuất cần phải công bố rõ rang thành phần các chất dinh dưỡng, vitamin và các chất khác trên bao bì, nhãn mác. Khuyến khích các doanh nghiệp tự gửi mẫu đến các trung tâm kiểm nghiệm để kiểm tra sản phẩm của mình có an toàn hay không. Bạn hãy chọn những nhãn sữa có nhãn mác ghi đầy đủ các thông tin như tên sản phẩm, tác dụng, hạn sử dụng, nhà sản xuất hay nhà nhập khẩu có địa chỉ rõ ràng, thành phần của sữa, có chứng nhận công bố của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm và đã được Bộ Y tế công nhận là sữa không nhiễm melamine. Thường xuyên theo dõi báo đài để có kiến thức tiêu dung sang suốt khi lựa chọn một sản phẩm nào đó. III. Phương pháp kiểm nghiệm Melamine: 1. Xác định hàm lượng Melamine trong mẫu sữa bằng phương pháp sắc kí khí ghép khối phổ (GCMS): Sắc kí khí ghép khối phổ (GCMS_Gas Chromatography Mass Spectometry) là một trong những phương pháp sắc kí hiện đại nhất hiện nay với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích kết hợp. Thiết bị GCMS được cấu tạo thành 2 phần: phần sắc ký khí (GC) dùng để phân tích hỗn hợp các chất và tìm ra chất cần phân tích, phần khối phổ (MS) mô tả các hợp phần riêng lẽ bằng cách mô tả số khối. Bằng sự kết hợp kỹ thuật này, các nhà hóa học có thể đánh giá, phân tích định tính, định lượng và có cách giải quyết 1 số hóa chất. Ngày nay, người ta ứng dụng kỹ thuật GCMS rất nhiều và sử dụng rộng rãi trong các ngành như y học, môi trường, nông sản, kiểm nghiệm thực phẩm… 2. Nguyên tắc: Melamine trong mẫu được chiết bằng nước cất – aceonitril. Mẫu được làm sạch bằng cột chiết pha rắn SPE amino, sau đó tạo dẫn xuất bằng cột bằng N,OBIS (Trimethylsilyl) trifloracetamid (BSTFA) với 1% trimethylclosilan (TMCS) dẫn xuất của Melamine được xác định trên máy sắc kí khí ghép khối phổ. Giới hạn phát hiện của phương pháp là 50 ppb. 3. Thiết bị và dụng cụ:  Micropipet.  Lọ đựng mẫu cho máy GCMS.  Giấy lọc thô.  Phễu lọc.  Tube thủy tinh nút nhám 50, 100, 150 ml.  Bình định mức 20, 50, 100, 500 ml.  Cột chiết pha rắn SPE amino (StrataNH2 500mg3ml – phenomenex).  Máy sắc kí khí ghép khối phổ (GCMS) có chế độ tiêm mẫu chia không chia dòng (SplitSplitless Injector).  Cột sắc kí phân tích DB5MS, đường kính trong 0.25 mm, bề dày lớp phim 0.25µm.  Cân phân tích 4 số lẻ (chính xác đến 0.1mg).  Bếp cách thủy.  Bể siêu âm.  Máy lắc vortex.  Máy cô quay chân không. a. Hóa chất và thuốc thử:  Chuẩn Melamine (Mr.Ehrenstoefer GmbH).  Pyridine (Merck).  Dung dịch N,Obis (trimethylsilyl) trifluoacetamide (BSTFA) voiws 1% trimethylchlorosilane (TMCS) Alltech18089.  Acetoonitril tinh khiết HPLC (Merck).  Nước cất 2 lần.  2,6 diamino4chlropyrimidine (DACP)Sigma. b. Pha chế dung dịch:  Dung dịch chuẩn Melamine 600 ppm: Cân chính xác 30mg Melamine cho vào bình định mức 50 ml, thêm vào khoảng 20 ml pyridine. Hòa tan hòa toàn và định mức đến vạch bằng pyridine.  Dung dịch chuẩn Melamine 6 ppm: Hút 1ml dung dịch chuẩn Melamine 600 ppm cho vào bình định mức 100 ml, định mức đến vạch bằng pyridine.  Dung dịch chuẩn Melamine 600 ppb: Hút 1ml dung dịch chuẩn Melamine 6 ppm cho vào bình định mức 10ml, định mức đến vạch bằng pyridine.  Dung dịch nội chuẩn 2,6 diamino4chloropyrimidine(DACP) 600 ppm: cân chính xác 30 mg DACP cho vào bình định mức 50 ml, thêm vào khoảng 20 ml pyridine. Hòa tan hoàn toàn rồi định mức đến vạch bằng pyridine.  Dung dịch nội chuẩn 2,6 diamino4chloropyrimidine (DACP) 6 ppm: hút 1 ml dung dịch nội chuẩn DACP 600 ppm cho và bình định mức 100ml, định mức đén vạch bằng pyridine.  Dung dịch nội chuẩn 2,6 diamino4chloropyrimidine (DACP) 6 ppb: hút 1ml dung dịch nội chuẩn DACP 6 ppm cho vào bình định mức 10 ml, định mức đến vạch bằng pyridine. 4. Tiến hành phân tích: a) Chuẩn bị mẫu: Cân 5 mg mẫu cho vào cốc thủy tinh 50 ml. Hòa tan mẫu bằng 15 ml nước cất, đánh siêu âm cho đến khi mẫu đồng nhất. Cho tất cả dịch mẫu vào bình định mức 50 ml, định mức đến vạch bằng acetonitril. Sau đó lọc qua giấy lọc thô. Lấy dịch lọc qua cột SPE amino như sau: Hoạt hoá cột bằng 2 ml ethanol (để chảy từ từ không dùng áp suất). Cho 2 ml dung dịch lọc ở trên qua cột (để chảy từ từ không dùng áp suất). Sau khi mẫu đã qua cột dùng bơm chân không hút cột cho khô hẳn. Dịch chiết qua cột SPE được cho vào bình cô quay 50 ml. Cô quay tại 700C cho đến khi khô hoàn toàn. Sau đó cho vào bình cô quay 2 ml methanol, siêu âm 2 phút, chuyển lượng methanol này vào tube 15 ml có nắp vặn, đun khí nitơ thổi khô hoàn toàn dung dịch methanol có chứa Melamine. Sau đó thêm vào tube 100 µm pyridine đậy nắp kĩ tránh bay hơi. b) Tạo dẫn xuất cho chuẩn và mẫu: Lấy 100 µm dung dịch chuẩn Melamine 0.6 ppm cho vào tube thủy tinh có nắp vặn hoặc 100 µm dung dịch mẫu kiểm tra, thêm vào 100 µl dung dịch DACP 600 ppb và 400 µl dung dịch BSTFA với 1% TMCS. Đậy kín lọ, lắc đều, tạo dẫn xuất tại 700C45 phút . Lấy ra để nguội về nhiệt độ phòng. Cho vào lọ đựng mẫu phân tích trên máy GCMS. c) Phân tích trên máy sắc ký khí ghép khối phổ (GCMS): + Cột phân tích DB5MS. + Chế độ tiêm: không chia dòng (splitless). Mở xả khí sau một phút. Tốc độ chia 40 mlphút. + Nhiệt độ buồng tiêm : 2800C. + Thể tích tiêm: 1 µl. + Khí mang: He. + Tốc độ khí 1.5 mlphút. + Áp suất: 17.5 psi. + Chế độ chạy: đẳng dòng (constant flow). + Nhiệt độ ban đầu: 750C. + Thời gian giữ: 1 phút . + Bước tăng nhiệt: 150C phút . + Nhiệt độ cuối: 3200C. + Thời gian giữ 9 phút . + Nhiệt độ buồng chuyển 2000C. Điều kiện phối phổ: + Năng lượng electron: 70eV. + Chế độ chạy: toàn phổ từ 40 450 amu và lựa chọn ion (SIM) với 4 ion 171 ; 197; 327 ; 342. + Thời gian mở felament: sau 8 phút. + Nhiệt độ tứ cực: 1500C. + Nhiệt độ nguồn ion hóa: 2300C. + Giá trị bộ khuếch đại: 300500V. 5. Xác định và tính kết quả: Xác định sự hiện diện của Melamine trong mẫu, mẫu chỉ được coi là dương tính với Melamine: + Trong phổ phải có sự hiện diện của cả 4 ion : 171; 197; 327; 342. + Thời gian lưu của chất phân tích phải trùng với thời gian lưu của chất dẫn xuất Melamine. + Tỉ lệ giữa các ion : 171327; 197327; 324 327 của mẫu phân tích phải tương ứng với dẫn xuất Melamine. Tính hàm lượng Melamin trong mẫu : Hàm lượng Melamine trong mẫu được tính toán theo phương pháp nội chuẩn : Tiêu chuẩn Melamine của bộ y tế là < 0.5 ppm. Trong đó: Smẫu: là diện tích đo trên máy. Snc(chuẩn): diện tích nội chuẩn của chuẩn đo trên máy. Schuẩn: diện tích chuẩn 0.6 ppm đo trên máy. Snc(mẫu): diện tích nội chuẩn của mẫu đo trên máy. 0.6: nồng độ chuẩn Melamine (ppm). 0.1: thể tích pyridin hòa tan mẫu (ml). 2: thể tích mẫu qua cột chiết pha rắn (ml). 50: thể tích dung môi pha loãng mẫu (ml). 6. Đánh giá phương pháp phân tích: Ưu điểm:  Là phương pháp phân tích Melamine hiện đại nhất hiện nay.  Độ nhạy và độ đặc hiệu cao.  Giới hạn phát hiện của phương pháp là 50 ppb.  Dùng chất nội chuẩn để tăng tính chính xác cho phân tích. Nhược điểm:  Phương pháp này dùng chất nội chuẩn nên ảnh hưởng đến hiệu suất thu hồi.  Với điều kiện của Melamine thì không phân tích được sắc kí khối phổ trực tiếp nên phải tạo dẫn xuất để phân tích.  Giá thành phân tích mẫu khá đắt. Chú thích: Cột chiết pha rắn SPE 1. Nguyên tắc và điều kiện 1.1. Nguyên tắc chung Nguyên tắc • Chiết pha rắn cũng là quá trình phân bố của các chất giữa 2 pha, trong đó lúc đầu chất mẫu ở dạng lỏng (pha nước, hay hữu cơ), còn chất chiết ở dạng rắn, dạng hạt nhỏ và xốp đường kính 25 70 μm. Vì thế nên có tên là chiết pha rắn (Solid Phase Extraction ), hay chiết rắnlỏng. • Chất chiết được gọi là pha tĩnh, và được nhồi vào một cột chiết nhỏ, cột chiết kích thước: 6 x 1 cm, hay dung lượng chiết 100600 mg, hoặc dạng đĩa chiết có kích thước dầy 12 mm và đường kính 34 cm. Chất chiết là các hạt Silica trung tính, các hạt ôxit nhôm, hay các Silicagen trung tính đã bị alkyl hoá nhóm OH bằng nhóm mạch carbon thẳng C2, C4, C8, C18,.. , hay nhân phenyl. Nó được chế tạo trong điều kiện giống như pha tĩnh của sắc ký HPLC, và các hạt này có độ xốp lớn, với diện tích bề mặt xốp thường từ 50 300 m2gam. • Khi xử lý mẫu, dung dịch chất mẫu được dội lên cột chiết. Lúc này pha tĩnh sẽ tương tác với các chất và giữ một nhóm chất phân tích lại trên cột (trên pha tĩnh), còn các nhóm chất khác sẽ đi ra khỏi cột cùng với dung môi hoà tan mẫu. Như thế là chúng ta thu được nhóm chất cần phân tích ở trên pha tĩnh (chất chiết rắn). • Sau đó dùng một dung môi thích hợp hoà tan tốt các chất phân tích để rửa giải chúng ra khỏi pha tĩnh (cột chiết), và chúng ta thu được dung dịch có chất phân tích để xác định chúng theo một cách đã chọn. Các loại chất chiết pha rắn Theo đặc điểm và bản chất của sự chiết, các chất chiết pha rắn được chế tạo và phân chia theo các loại chất: • Loại hấp phụ pha thường. Đó là các Silica trung tính và ôxit nhôm, • Hấp phụ pha ngược. Đó là các Silica thường được alkyl hoá nhómOH, • Loại chất trao đổi iôn (để tách Cation và Anion), • Chất rây hay sàng lọc phân tử theo độ lớn, kích thước của phân tử chất, • Loại chất hấp phụ khí (purge and trap Extraction), để hấp thụ chất khí. Các kiểu và cơ chế chiết pha rắn Chính vì có nhiều loại chất chiết pha rắn, cho nên kỹ thuật chiết pha rắn cũng có nhiều cơ chế và quá trình động học khác nhau, theo bản chất của mỗi loại chất chiết (pha chiết). Nói chung, các chất chiết pha rắn này cũng tương tự như các pha tĩnh trong sắc lý lỏng hiệu năng cao (HPLC). Nó có thể là dạng cột chiết (1x6 cm có thể tích 46 mL) hay dạng đĩa chiết (dầy 12 mm và đường kính 34 cm). Do đó chiết pha rắn cũng có 3 loại cơ chế chính là: 1. Hấp phụ pha thường (loại NP), và Hấp phụ pha ngược (loại RP), 2. Trao đổi ion và cặp ion đối với các chất dạng ion (loại IEx), 3. Rây phân tử theo độ lớn của chất phân tích (Gel). 1.2. Các điều kiện của chiết pha rắn Quá trình chiết ở đây thực chất cũng là sự phân bố của chất phân tích giữa 2 pha, pha rắn (chất chiết) và pha lỏng (dung dịch chứa chất phân tích) không trộn lẫn vào nhau trong những điều kiện nhất định, như pH, dung môi, nhiệt độ, tốc độ chảy của mẫu qua cột chiết. Trong đó hệ số phân bố nhiệt động Kb của chất phân tích giữa hai pha (rắn và lỏng chứa mẫu) cũng là một yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiết. Nó cũng tương tự như trong hệ sắc ký cột lỏngrắn (của các hệ HPLC). Vì thế muốn thực hiện chiết pha rắn tốt phải có các điều kiện sau đây: • Pha rắn hay chất chiết (dạng cột chiết hay đĩa chiết) phải có tính chất hấp thụ hay trao đổi chọn lọc với một chất, hay một nhóm chất phân tích nhất định, tức là tính chọn lọc của pha tĩnh chiết. • Các chất chiết và dung môi rửa giải phải có độ sạch cao theo yêu cầu của cấp hàm lượng phân tích. • Hệ số phân bố nhiệt động Kfb của cân bằng chiết phải lớn, để có được hiệu suất chiết cao. • Quá trình chiết phải xẩy ra nhanh và nhanh đạt cân bằng, nhưng không có tương tác phản ứng hoá học làm mất hay hỏng pha rắn và chất phân tích. • Quá trình chiết phải có tính thuận nghịch, để còn có thể rửa giải được tốt chất phân tích ra khỏi pha chiết bằng một pha động phù hợp. • Không làm nhiễm bẩn thêm chất phân tích trong quá trình chiết bởi bất kỳ từ nguồn nào. • Sự chiết phải được thực hiện trong điều kiện nhất định phù hợp, phải lặp lại được tốt và tất nhiên là càng đơn giản dễ thực hiện thì càng tốt. Máy cô quay chân không là hệ thống bao gồm bình thắt cổ quay bay hơi, giúp tăng diện tích của bể ổn nhiệt ở điều kiện hút chân không, để nung nóng hay bay hơi giúp thu hồi sản phẩm tách chiết. Quá trình bay hơi được sử dụng rộng trong việc kết tinh hóa, cô đặc sản phẩm, làm khô bột, tách dung môi, tách chiết,… Trong thí nghiệm và công nghiệp thường sử dụng các máy cô quay chân không có dung tích khoảng vài chục lít. Đặc tính kỹ thuật của máy cô quay chân không: – Máy cất quay chân không theo kiểu sinh hàn thẳng đứng với diện tích bề mặt làm lạnh của sinh hàn là 1200cm2 – Thao tác đơn giản và an toàn nhớ các núm điều chỉnh nhiệt độ và tốc độ đặt phía trước máy. – Hệ thống nâng hạ tự động kèm theo chức năng “dừng an toànsafe stop”. – Để thực hiện quá trình làm khô có thể di chuyển bình cất sang trái hoặc phải mà không phải dừng quá trình cất quay. – Có điểm điều chỉnh cuối cùng khoảng cách từ bình cất tới bể gia nhiệt nên tránh được việc vỡ bình cất. – Tốc độ cất quay được hiển thị số còn tốc độ theo kiểu scale. – Bể gia nhiệt của máy cô quay chân không được thiết kế phù hợp với bình cất 1 lít, có thể gia nhiệt bằng nước hoặc dầu với tốc độ gia nhiệt nhanh. Cung cấp hoàn chỉnh kèm theo bộ sinh hàn dạng thằng đứng, bình hứng và bình cất Ứng dụng: • Máy cô quay chân không, thiết bị tạo môi trường phản ứng chân không, cô đặc dung dịch, tách chiết dung môi, sấy khô vật liệu nhạy với nhiệt độ (thường là thuốc bột). Máy cô quay chân không được sử dụng phổ biến trong công nghệ thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, nghiên cứu khoa học và thực nghiệm. Pyridin là một chất lỏng không màu, dễ cháy, kiềm yếu hòa tan trong nước với một, mùi cá khó chịu. Pyridin được sử dụng như là một tiền thân của hóa chất nông nghiệp và dược phẩm và cũng là một dung môi quan trọng và tinh khiết. Pyridin được thêm ethanol để làm cho nó phù hợp cho uống (xem rượu làm biến tính). Nó được sử dụng trong tổng hợp trong ống nghiệm của DNA7, trong việc tổng hợp sulfapyridine (một loại thuốc chống lại bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và virus), thuốc Thuốc chống dị ứng tripelennamine và mepyramine, cũng như thuốc chống nước, khuẩn, và thuốc diệt cỏ. Một số hợp chất hóa học, mặc dù không được tổng hợp từ pyridine, có cấu trúc vòng của nó. Chúng bao gồm vitamin B và niacin pyridoxal, các thuốc chống lao isoniazid, nicotine và các sản phẩm thực vật có chứa nitơ khác8. Trong lịch sử, pyridin được sản xuất từ nhựa than đá và là một sản phẩm phụ của quá trình khí hóa than. Tuy nhiên, nhu cầu tăng lên đối với pyridin dẫn đến sự phát triển của các phương pháp kinh tế hơn tổng hợp từ acetaldehyde và ammonia, và hơn 20.000 tấn mỗi năm được sản xuất trên toàn thế giới. Phân tử Pyridin ở trạng thái liên hợp kín, các orbital p của các nguyên tử N và C xen phủ bên với nhau. Từ đó, tính bazơ của Pyridin khá nhỏ (lớn hơn anilin nhưng không đáng kể). Một π electron trong nguyên tử Nitơ hợp với 5 π electron khác của năm nguyên tử carbon tạo thành một vòng thơm. Do Nitơ không sử dụng cặp electron không liên kết để tạo thành vòng thơm theo quy tắc (4n+2), như pyrrole, nên vẫn thể hiển tính bazơ. Tính bazơ của Pirydin yếu hơn các amin khác ví dụ như Piperidine, được giải thích bởi sự lai hóa sp2 của nguyên tử Nitơ trong Pirydin, orbital sp2 có nhiều tính chất của orbital s hơn sp3, trạng thái lai hóa mà nguyên tử Nitơ của các amin khác tồn tại Pyridin thường được biết đến trong hỗn hợp Pyridin Cloro Cromic (PCC) gồm Pyridin, HCl, CrO3, là hợp chất có tính oxy hóa trung bình, chỉ oxy hóa alcol thành aldehyd và không oxy hóa được ceton. Cũng giống như nhiều hợp chất dị vòng chứa nitơ khác, pyridin có mùi khó chịu (tương tự như mùi cá ươn). Ngoài tính base yếu do dị tố quyết định, do phân tử ở trạng thái liên hợp kín, pyridin thể hiện hóa tính gần giống với hydrocacbon thơm (phản ứng thế, phản ứng cộng hợp). Trimethylsilylation là sự silyl hóa tức là thay thế H của nhóm OH hay NH của một hợp chất bằng nhóm trimethylsilyl Si(CH3)3 nhằm làm giảm độ phân cực của hợp chất này, qua đó làm tăng độ bền nhiệt (điểm quan trọng nhất), (có thể) làm giảm nhiệt độ bay hơi của hợp chất tạo thành (so với hợp chất chưa silyl hóa). Sự silyl hóa như thế này thường sử dụng nhiều trong sắc ký khí để phân tích các hợp chất có chứa nhóm phân cực.

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM MELAMINE

I. Tổng quan về chất melamine:

1. Melamine là gì:

 Có công thức hóa học C3H6N6 tạo thành từ 3 phân tử cyanamide (CN2H2)

 Hòa tan yếu trong nước (ở 200C, 3.1g/l)

66% theo khối lượng

Trong tự nhiên, Melamine là sản phẩm trao đổi chất hình thành trong cơ thể động vật

có vú khi ăn vào cyromazine

6 (NH ) CO → C H N + 6 NH + 3 CO

Melamine được tổng hợp đầu tiên do nhà hoá học Đức Justus von Liebig (1834) Ngày nay, việc tổng hợp được công nghiệp hoá

Sản phẩm hình thành là khí và dung dịch, khí được tái thu hồi để giảm thải tiết NH3 và dung dịch được tinh thể hoá để cho ra 70% Melamine, 23% oxytriazines (ammeline, ammelide và cyanuric acid), 0.7% polycondensates (melem, melam và melon)

2. Độc tính của Melamine:

Melamine (màu xanh) dễ dàng kết hợp với acid cyanuric (màu đỏ) qua liên kết hydro tạo kiểu liên kết phân tử hình thành mái ngói, lắng đọng và gây sỏi thận

Melamine tự nó không được xem là một độc chất Nhưng khi kết hợp với Acid cyanuric thì nó trở nên độc hại Khi Melamine kết hợp với cyanamide sẽ cho ra Melamine cyanurate có khả gây sỏi thận thậm chí dẫn tới tử vong

Acid cyanuric là chất tổng hợp, dùng nhiều trong công nghiệp, có nhiều tên gọi khác nhau, có màu trắng, không mùi, là dẫn chất trong ngành nhuộm vải, thuốc tẩy, thuốc diệt cỏ Acid cyanuric hiện được nghiên cứu đi đôi với Melamine, là thủ phạm kết hợp với Melamine làm thành một hỗn hợp có độc tính cao hơn, gây ra cơn sốt về ngộ độc sữa Melamine hiện nay

3. Ảnh hưởng của Melamine đến sức khỏe:

Trang 2

 Gây sỏi thận:

4. Vai trò của Melamine:

việc thêm Melamine vào sữa để tăng hàm lượng nitrogen nhằm thổi phồng là sữa giàu protein

đưa vào thực phẩm, đưa 1% Melamine vào trong thực phẩm thì làm tăng lên 4,13% protein thô

thực phẩm của người và động vật cũng như làm nguyên liệu chế tạo các dụng cụ ăn uống như thìa, dĩa nên Melamine có thể xâm nhập từ dụng cụ bao gói hay đồ dùng ăn uống vào thực phẩm với hàm lượng rất nhỏ (tính bằng phần triệu)

5. Ứng dụng.

Melamine được dùng rộng rãi trong sản xuất đồ nhựa, đồ dùng gia đình, bảng

trắng, phân bón

Melamin khi phản ứng với formaldehit tạo thành keo melamin Melamin cũng được

sử dụng trong ngành công nghiệp phân bón Khi trộn lẫn với một số nhựa, chúng tạo thành hỗn hợp có khả năng chống cháy do khi cháy chúng giải phóng ra một lượng khí nitơ

II. Tổng quan về sữa nhiễm Melamine và biện pháp:

1. Tổng quan về sữa nhiễm Melamine:

Gần đây việc tìm thấy Melamine, một chất có hại cho sức khoẻ có trong sữa

và các sản phẩm sữa như bánh, kẹo… đã gây nhiều lo lắng cho người dân và cả các nhà quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm, vì đây là loại thực phẩm rất phổ biến được nhiều người sử dụng, nhất là trẻ em Kiểm soát hàm lượng Melamine trong sữa và các sản phẩm từ sữa hiện nay là việc cần thiết để bảo vệ sức khoẻ người dân

Việc thêm Melamin vào sữa tại Trung Quốc trong thời gian gần đây với mục đích tăng

“đạm” đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng Theo thông tấn

xã Pháp (AFP) tại Beijing, cho đến nay gần 13.000 trẻ em đã nhập viện tại Trung Quốc sau khi uống sữa có chứa Melamine, trong đó 104 trẻ bệnh rất nặng và có ít nhất 4 trẻ

bị tử vong Melamine đã được phát hiện trong sữa hộp trẻ em, sau đó phát hiện trong

cả sữa lỏng đóng hộp, yoghurt và kem tại Trung Quốc Hàm lượng nhiễm Melamine trong khoảng từ 0.09 mg/kg đến 2.560 mg/kg

Gần đây, việc nhập khẩu một lượng sữa và nguyên liệu sữa từ Trung Quốc và các nước khác vào tiêu thụ tại thị trường Việt Nam gây nhiều bất an cho người dân và cả cho các cơ quan chức năng về an toàn vệ sinh thực phẩm Melamine có tìm thấy trong

Trang 3

các loại sữa và sản phẩm sữa đang tiêu thụ tại nước ta không? Đây là vấn đề thật sự cần được quan tâm Vì thế việc kiểm tra, giám sát Melamine nhiễm trong sữa và sản phẩm sữa là điều cần thiết phải thực hiện nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng

2. Các biện pháp khắc phục khi thực phẩm bị nhiễm melamine:

Tại Việt Nam hiện nay, việc xử lý sữa bị nhiễm melamine thực hiện bằng phương pháp đốt, còn tại Trung Quốc, nơi phát sinh sữa nhiễm melamine đầu tiên, thì xử lý bằng cách đóng gạch với mức tiêu tốn 100 đô la Mỹ/tấn (đốt thì rẻ hơn 70% so với đóng gạch)

Ngoài ra sữa nhiễm melamine có thể được xử lý thành phân bón hóa hữu cơ bằng giải pháp công nghệ sinh học Quy trình thực hiện tương tự như sản xuất phân vi sinh, tuy nhiên điểm khác biệt duy nhất (khác với vi sinh thông thường) là phải bổ sung thêm một số chủng vi sinh chọn lọc – củng vi sinh có enzyme có khả năng phân hủy sữa trong vòng 30 ngày

3. Một số biện pháp hạn chế sự nhiễm melamine vào cơ thể:

con bú hoàn toàn ít nhất trong 6 tháng đầu Trong thời điểm nhạy cảm này, bà

mẹ phải cố gắng tận dụng tối đa nguồn sữa mẹ Trong trường hợp đi làm thì

có thể vắt sữa để dành cho con Dụng cụ chứa sữa có thể là bình nhựa hoặc

ly thủy tinh đậy kín nắp

vitamin và các chất khác trên bao bì, nhãn mác

để kiểm tra sản phẩm của mình có an toàn hay không

sản phẩm, tác dụng, hạn sử dụng, nhà sản xuất hay nhà nhập khẩu có địa chỉ

rõ ràng, thành phần của sữa, có chứng nhận công bố của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm và đã được Bộ Y tế công nhận là sữa không nhiễm

melamine

chọn một sản phẩm nào đó

III. Phương pháp kiểm nghiệm Melamine:

1. Xác định hàm lượng Melamine trong mẫu sữa bằng phương pháp sắc kí khí ghép khối phổ (GC-MS):

Sắc kí khí ghép khối phổ (GC-MS_Gas Chromatography Mass Spectometry)

là một trong những phương pháp sắc kí hiện đại nhất hiện nay với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích kết hợp Thiết bị

GC-MS được cấu tạo thành 2 phần: phần sắc ký khí (GC) dùng để phân tích hỗn hợp các chất và tìm ra chất cần phân tích, phần khối phổ (MS) mô tả các hợp phần riêng

lẽ bằng cách mô tả số khối

Bằng sự kết hợp kỹ thuật này, các nhà hóa học có thể đánh giá, phân tích định tính, định lượng và có cách giải quyết 1 số hóa chất Ngày nay, người ta ứng

Trang 4

dụng kỹ thuật GC-MS rất nhiều và sử dụng rộng rãi trong các ngành như y học, môi trường, nông sản, kiểm nghiệm thực phẩm…

2. Nguyên tắc:

Melamine trong mẫu được chiết bằng nước cất – aceonitril Mẫu được làm sạch bằng cột chiết pha rắn SPE amino, sau đó tạo dẫn xuất bằng cột bằng N,O-BIS (Trimethylsilyl) trifloracetamid (BSTFA) với 1% trimethylclosilan (TMCS) dẫn xuất của Melamine được xác định trên máy sắc kí khí ghép khối phổ

Giới hạn phát hiện của phương pháp là 50 ppb

3. Thiết bị và dụng cụ:

chia dòng (Split/Splitless Injector)

0.25µm

a. Hóa chất và thuốc thử:

 Dung dịch N,O-bis (trimethylsilyl) trifluoacetamide (BSTFA) voiws 1% trimethylchlorosilane (TMCS) Alltech-18089

b. Pha chế dung dịch:

Trang 5

 Dung dịch chuẩn Melamine 600 ppm: Cân chính xác 30mg Melamine cho vào bình định mức 50 ml, thêm vào khoảng 20 ml pyridine Hòa tan hòa toàn và định mức đến vạch bằng pyridine

ppm cho vào bình định mức 100 ml, định mức đến vạch bằng pyridine

ppm cho vào bình định mức 10ml, định mức đến vạch bằng pyridine

chính xác 30 mg DACP cho vào bình định mức 50 ml, thêm vào khoảng 20

ml pyridine Hòa tan hoàn toàn rồi định mức đến vạch bằng pyridine

ml dung dịch nội chuẩn DACP 600 ppm cho và bình định mức 100ml, định mức đén vạch bằng pyridine

dung dịch nội chuẩn DACP 6 ppm cho vào bình định mức 10 ml, định mức đến vạch bằng pyridine

4. Tiến hành phân tích:

a) Chuẩn bị mẫu:

Cân 5 mg mẫu cho vào cốc thủy tinh 50 ml Hòa tan mẫu bằng 15 ml nước cất, đánh siêu âm cho đến khi mẫu đồng nhất Cho tất cả dịch mẫu vào bình định mức 50 ml, định mức đến vạch bằng acetonitril Sau đó lọc qua giấy lọc thô Lấy dịch lọc qua cột SPE amino như sau:

Hoạt hoá cột bằng 2 ml ethanol (để chảy từ từ không dùng áp suất) Cho 2 ml dung dịch lọc ở trên qua cột (để chảy từ từ không dùng áp suất) Sau khi mẫu đã qua cột dùng bơm chân không hút cột cho khô hẳn

cho đến khi khô hoàn toàn Sau đó cho vào bình cô quay 2 ml methanol, siêu âm 2 phút, chuyển lượng methanol này vào tube 15 ml có nắp vặn, đun khí nitơ thổi khô hoàn toàn dung dịch methanol có chứa Melamine Sau đó thêm vào tube 100 µm pyridine đậy nắp kĩ tránh bay hơi

b) Tạo dẫn xuất cho chuẩn và mẫu:

Lấy 100 µm dung dịch chuẩn Melamine 0.6 ppm cho vào tube thủy tinh có nắp vặn hoặc 100 µm dung dịch mẫu kiểm tra, thêm vào 100 µl dung dịch DACP 600 ppb và 400 µl dung dịch BSTFA với 1% TMCS Đậy kín lọ, lắc đều, tạo dẫn xuất tại

trên máy GC-MS

c) Phân tích trên máy sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS):

+ Cột phân tích DB-5MS

+ Chế độ tiêm: không chia dòng (splitless) Mở xả khí sau một phút Tốc độ chia 40 ml/phút

+ Nhiệt độ buồng tiêm : 2800C

Trang 6

+ Thể tích tiêm: 1 µl.

+ Khí mang: He

+ Tốc độ khí 1.5 ml/phút

+ Áp suất: 17.5 psi

+ Chế độ chạy: đẳng dòng (constant flow)

+ Nhiệt độ ban đầu: 750C

+ Thời gian giữ: 1 phút

+ Bước tăng nhiệt: 150C/ phút

+ Nhiệt độ cuối: 3200C

+ Thời gian giữ 9 phút

Điều kiện phối phổ:

+ Năng lượng electron: 70eV

+ Chế độ chạy: toàn phổ từ 40- 450 amu và lựa chọn ion (SIM) với 4 ion 171 ; 197; 327 ; 342

+ Thời gian mở felament: sau 8 phút

+ Nhiệt độ tứ cực: 1500C

+ Giá trị bộ khuếch đại: 300-500V

5. Xác định và tính kết quả:

Xác định sự hiện diện của Melamine trong mẫu, mẫu chỉ được coi là dương tính với Melamine:

+ Trong phổ phải có sự hiện diện của cả 4 ion : 171; 197; 327; 342

+ Thời gian lưu của chất phân tích phải trùng với thời gian lưu của chất dẫn xuất Melamine

+ Tỉ lệ giữa các ion : 171/327; 197/327; 324/ 327 của mẫu phân tích phải tương ứng với dẫn xuất Melamine

Tính hàm lượng Melamin trong mẫu :

Hàm lượng Melamine trong mẫu được tính toán theo phương pháp nội chuẩn :

Tiêu chuẩn Melamine của bộ y tế là < 0.5 ppm

Trong đó:

Smẫu: là diện tích đo trên máy

Snc(chuẩn): diện tích nội chuẩn của chuẩn đo trên máy

Schuẩn: diện tích chuẩn 0.6 ppm đo trên máy

Trang 7

Snc(mẫu): diện tích nội chuẩn của mẫu đo trên máy.

0.6: nồng độ chuẩn Melamine (ppm)

0.1: thể tích pyridin hòa tan mẫu (ml)

2: thể tích mẫu qua cột chiết pha rắn (ml)

50: thể tích dung môi pha loãng mẫu (ml)

6. Đánh giá phương pháp phân tích:

Ưu điểm:

Nhược điểm:

tiếp nên phải tạo dẫn xuất để phân tích

Chú thích:

Cột chiết pha rắn SPE

1 Nguyên tắc và điều kiện

1.1 Nguyên tắc chung

Nguyên tắc

• Chiết pha rắn cũng là quá trình phân bố của các chất giữa 2 pha, trong đó lúc đầu chất mẫu ở dạng lỏng (pha nước, hay hữu cơ), còn chất chiết ở dạng rắn, dạng hạt nhỏ và xốp đường kính 25 - 70 μm Vì thế nên có tên là chiết pha rắn (Solid Phase

• Chất chiết được gọi là pha tĩnh, và được nhồi vào một cột chiết nhỏ, cột chiết kích thước: 6 x 1 cm, hay dung lượng chiết 100-600 mg, hoặc dạng đĩa chiết có kích thước dầy 1-2 mm và đường kính 3-4 cm Chất chiết là các hạt Silica trung tính, các hạt ôxit nhôm, hay các Silicagen trung tính đã bị alkyl hoá nhóm -OH bằng nhóm mạch carbon thẳng -C2, -C4, -C8, -C18, , hay nhân phenyl Nó được chế tạo trong điều kiện giống như pha tĩnh của sắc ký HPLC, và các hạt này có độ xốp lớn, với diện tích bề mặt xốp thường từ 50 - 300 m2/gam

• Khi xử lý mẫu, dung dịch chất mẫu được dội lên cột chiết Lúc này pha tĩnh sẽ tương tác với các chất và giữ một nhóm chất phân tích lại trên cột (trên pha tĩnh), còn các nhóm chất khác sẽ đi ra khỏi cột cùng với dung môi hoà tan mẫu Như thế

là chúng ta thu được nhóm chất cần phân tích ở trên pha tĩnh (chất chiết rắn)

• Sau đó dùng một dung môi thích hợp hoà tan tốt các chất phân tích để rửa giải chúng ra khỏi pha tĩnh (cột chiết), và chúng ta thu được dung dịch có chất phân tích

để xác định chúng theo một cách đã chọn

Trang 8

Các loại chất chiết pha rắn

Theo đặc điểm và bản chất của sự chiết, các chất chiết pha rắn được chế tạo và phân chia theo các loại chất:

• Loại hấp phụ pha thường Đó là các Silica trung tính và ôxit nhôm,

• Hấp phụ pha ngược Đó là các Silica thường được alkyl hoá nhóm-OH,

• Loại chất trao đổi iôn (để tách Cation và Anion),

• Chất rây hay sàng lọc phân tử theo độ lớn, kích thước của phân tử chất,

• Loại chất hấp phụ khí (purge and trap Extraction), để hấp thụ chất khí

Các kiểu và cơ chế chiết pha rắn

Chính vì có nhiều loại chất chiết pha rắn, cho nên kỹ thuật chiết pha rắn cũng có nhiều cơ chế và quá trình động học khác nhau, theo bản chất của mỗi loại chất chiết (pha chiết) Nói chung, các chất chiết pha rắn này cũng tương tự như các pha tĩnh trong sắc lý lỏng hiệu năng cao (HPLC) Nó có thể là dạng cột chiết (1x6 cm có thể tích 4-6 mL) hay dạng đĩa chiết (dầy 1-2 mm và đường kính 3-4 cm) Do đó chiết pha rắn cũng có 3 loại cơ chế chính là:

1 Hấp phụ pha thường (loại NP), và Hấp phụ pha ngược (loại RP),

2 Trao đổi ion và cặp ion đối với các chất dạng ion (loại IEx),

3 Rây phân tử theo độ lớn của chất phân tích (Gel)

1.2 Các điều kiện của chiết pha rắn

Quá trình chiết ở đây thực chất cũng là sự phân bố của chất phân tích giữa 2 pha, pha rắn (chất chiết) và pha lỏng (dung dịch chứa chất phân tích) không trộn lẫn vào nhau trong những điều kiện nhất định, như pH, dung môi, nhiệt độ, tốc độ chảy của mẫu qua cột chiết Trong đó hệ số phân bố nhiệt động Kb của chất phân tích giữa hai pha (rắn và lỏng chứa mẫu) cũng là một yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiết

Nó cũng tương tự như trong hệ sắc ký cột lỏng-rắn (của các hệ HPLC)

Vì thế muốn thực hiện chiết pha rắn tốt phải có các điều kiện sau đây:

• Pha rắn hay chất chiết (dạng cột chiết hay đĩa chiết) phải có tính chất hấp thụ hay trao đổi chọn lọc với một chất, hay một nhóm chất phân tích nhất định, tức là tính chọn lọc của pha tĩnh chiết

• Các chất chiết và dung môi rửa giải phải có độ sạch cao theo yêu cầu của cấp hàm lượng phân tích

• Hệ số phân bố nhiệt động Kfb của cân bằng chiết phải lớn, để có được hiệu suất chiết cao

• Quá trình chiết phải xẩy ra nhanh và nhanh đạt cân bằng, nhưng không có tương tác phản ứng hoá học làm mất hay hỏng pha rắn và chất phân tích

• Quá trình chiết phải có tính thuận nghịch, để còn có thể rửa giải được tốt chất phân tích ra khỏi pha chiết bằng một pha động phù hợp

• Không làm nhiễm bẩn thêm chất phân tích trong quá trình chiết bởi bất kỳ từ nguồn nào

• Sự chiết phải được thực hiện trong điều kiện nhất định phù hợp, phải lặp lại được tốt và tất nhiên là càng đơn giản dễ thực hiện thì càng tốt

Máy cô quay chân không là hệ thống bao gồm bình thắt cổ quay bay hơi, giúp tăng diện tích của bể ổn nhiệt ở điều kiện hút chân không, để nung nóng hay bay hơi giúp

Trang 9

thu hồi sản phẩm tách chiết Quá trình bay hơi được sử dụng rộng trong việc kết tinh hóa, cô đặc sản phẩm, làm khô bột, tách dung môi, tách chiết,… Trong thí nghiệm

và công nghiệp thường sử dụng các máy cô quay chân không có dung tích khoảng vài chục lít

Đặc tính kỹ thuật của máy cô quay chân không:

– Máy cất quay chân không theo kiểu sinh hàn thẳng đứng với diện tích bề mặt làm lạnh của sinh hàn là 1200cm2

– Thao tác đơn giản và an toàn nhớ các núm điều chỉnh nhiệt độ và tốc độ đặt phía trước máy

– Hệ thống nâng hạ tự động kèm theo chức năng “dừng an toàn-safe stop”

– Để thực hiện quá trình làm khô có thể di chuyển bình cất sang trái hoặc phải mà không phải dừng quá trình cất quay

– Có điểm điều chỉnh cuối cùng khoảng cách từ bình cất tới bể gia nhiệt nên tránh được việc vỡ bình cất

– Tốc độ cất quay được hiển thị số còn tốc độ theo kiểu scale

– Bể gia nhiệt của máy cô quay chân không được thiết kế phù hợp với bình cất 1

lít, có thể gia nhiệt bằng nước hoặc dầu với tốc độ gia nhiệt nhanh

Cung cấp hoàn chỉnh kèm theo bộ sinh hàn dạng thằng đứng, bình hứng và bình cất

Ứng dụng:

đặc dung dịch, tách chiết dung môi, sấy khô vật liệu nhạy với nhiệt độ

(thường là thuốc bột) Máy cô quay chân không được sử dụng phổ biến trong công nghệ thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, nghiên cứu khoa học và thực nghiệm

Pyridin là một chất lỏng không màu, dễ cháy, kiềm yếu hòa tan trong nước với một, mùi cá khó chịu

Pyridin được sử dụng như là một tiền thân của hóa chất nông nghiệp và dược phẩm

và cũng là một dung môi quan trọng và tinh khiết Pyridin được thêm ethanol để làm cho nó phù hợp cho uống (xem rượu làm biến tính) Nó được sử dụng trong tổng hợp trong ống nghiệm của DNA[7] , trong việc tổng hợp sulfapyridine (một loại thuốc chống lại bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và virus), thuốc Thuốc chống dị ứng

tripelennamine và mepyramine, cũng như thuốc chống nước, khuẩn, và thuốc diệt

cỏ Một số hợp chất hóa học, mặc dù không được tổng hợp từ pyridine, có cấu trúc vòng của nó Chúng bao gồm vitamin B và niacin pyridoxal, các thuốc chống lao isoniazid, nicotine và các sản phẩm thực vật có chứa nitơ khác[8] Trong lịch sử,

hóa than Tuy nhiên, nhu cầu tăng lên đối với pyridin dẫn đến sự phát triển của các

mỗi năm được sản xuất trên toàn thế giới

Phân tử Pyridin ở trạng thái liên hợp kín, các orbital p của các nguyên tử N và C xen

không đáng kể)

Một π electron trong nguyên tử Nitơ hợp với 5 π electron khác của năm nguyên tử carbon tạo thành một vòng thơm Do Nitơ không sử dụng cặp electron không liên kết

để tạo thành vòng thơm theo quy tắc (4n+2), như pyrrole, nên vẫn thể hiển tính bazơ

Trang 10

Tính bazơ của Pirydin yếu hơn các amin khác ví dụ như Piperidine, được giải thích bởi sự lai hóa sp2 của nguyên tử Nitơ trong Pirydin, orbital sp2 có nhiều tính chất của orbital s hơn sp3, trạng thái lai hóa mà nguyên tử Nitơ của các amin khác tồn tại

Pyridin, HCl, CrO3, là hợp chất có tính oxy hóa trung bình, chỉ oxy hóa alcol thành aldehyd và không oxy hóa được ceton

Cũng giống như nhiều hợp chất dị vòng chứa nitơ khác, pyridin có mùi khó chịu (tương tự như mùi cá ươn)

Ngoài tính base yếu do dị tố quyết định, do phân tử ở trạng thái liên hợp kín, pyridin thể hiện hóa tính gần giống với hydrocacbon thơm (phản ứng thế, phản ứng cộng hợp)

Trimethylsilylation là sự silyl hóa tức là thay thế H của nhóm -OH hay -NH của một hợp chất bằng nhóm trimethylsilyl -Si(CH3)3 nhằm làm giảm độ phân cực của hợp chất này, qua đó làm tăng độ bền nhiệt (điểm quan trọng nhất), (có thể) làm giảm nhiệt độ bay hơi của hợp chất tạo thành (so với hợp chất chưa silyl hóa) Sự silyl hóa như thế này thường sử dụng nhiều trong sắc ký khí để phân tích các hợp chất

có chứa nhóm phân cực

Ngày đăng: 16/11/2016, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w