Nghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạcNghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạcNghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạcNghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạcNghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạcNghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạcNghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA CÔNG TRÌNH
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM
THIẾT BỊ KHẢO SÁT THỦY ĐẠC
Chủ nhiệm đề tài: ĐỖ HỒNG QUÂN
Thành viên tham gia: LÊ SỸ XINH
Hải Phòng, tháng 4/2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 5
3 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu, kết cấu của công trình nghiên cứu 6
5 Kết quả đạt được của đề tài 6
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 7
1.1 Giới thiệu chung về công tác khảo sát địa hình đáy biển 7
1.2 Phân loại bản đồ địa hình đáy biển 13
1.3 Bản đồ giao thông hàng hải 14
1.4 Quá trình phát triển kỹ thuật đo đạc khảo sát bản đồ địa hình đáy biển 15
Trong các phương pháp trên thì phương pháp khảo sát địa hình bằng máy đo sâu hồi âm đa chùm tia là phương pháp hiện đại phổ biến và ưu việt nhất, có năng suất cao nhất, cho kết quả hiển thị đầy đủ và chính xác nhất, là phương pháp tiêu chuẩn chung của các tổ chức khảo sát thủy đạc quốc tế 33
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM THIẾT BỊ KHẢO SÁT THỦY ĐẠC 34
2.1 Kiểm nghiệm máy định vị 34
2.1.1 Kiểm nghiệm tại điểm chuẩn được thực hiện như sau: 34
2.1.2 Kiểm nghiệm sau khi lắp máy lên tàu đo thực hiện như sau 36
2.2 Kiểm nghiệm máy la bàn 37
2.2.1 Kiểm nghiệm la bàn vệ tinh 37
2.2.2 Kiểm nghiệm la bàn đã lắp đặt trên tàu đo: 39
Trang 32.2.3 Kiểm nghiệm máy cảm biến sóng 39
2.2.4 Kiểm nghiệm máy đo tốc độ âm thanh 42
2.2.5 Kiểm nghiệm máy đo sâu hồi âm đơn tia khi có máy đo tốc độ âm thanh 44
2.2.6 Kiểm nghiệm máy đo sâu hồi âm đơn tia khi không có máy đo tốc độ âm thanh 47
2.2.7 Kiểm nghiệm máy đo sâu hồi âm đa tia 47
2.3 Kiểm nghiệm và hiệu chỉnh hệ thống đo sâu bằng máy đo hồi âm đơn tia 49
2.3.1 Hệ thống đo sâu bằng máy đo hồi âm đơn tia 49
2.3.2 Kiểm nghiệm độ lún đầu biến âm do chuyển động của tàu 50
2.3.3 Xác định độ trễ định vị 51
2.4 Kiểm nghiệm và hiệu chỉnh hệ thống đo sâu bằng máy đo hồi âm đa tia 52 2.4.1 Yêu cầu đối với việc kiểm nghiệm và hiệu chỉnh hệ thống đo sâu bằng máy đo hồi âm đa tia 52
2.4.2 Kiểm nghiệm độ lún đầu biến âm 52
2.4.3 Kiểm nghiệm toàn hệ thống 53
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Bản đồ biển là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện Công ước Luật biển 1982 Bản đồ biển được sử dụng nhằm mục đích: xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải; xác định ranh giới các vùng biển nội thủy, xác định lãnh hải, xác định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; xác định vị trí các đảo nhân tạo, các công trình trên biển, tuyến cáp hoặc dây dẫn ngầm, thể hiện các tuyến đường và cách
bố trí phân chia luồng giao thông trong lãnh hải; các khu vực an toàn, các khu bảo tồn biển; sử dụng cho các hoạt động biển (khai thác, bảo vệ tài nguyên, giao thông hàng hải; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ môi trường biển); và là cơ sở đàm phán phân định các đường ranh giới biển, giải quyết các tranh chấp biển Có thể nói không điều khoản nào của Công ước Luật biển 1982 không có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bản đồ biển
Các bản đồ biển (hải đồ) là một bộ phận quan trọng làm nền tảng cho việc xác lập đường biên giới trên đất liền và trên biển Chúng được sử dụng làm cơ sở đàm phán cho việc xây dựng chiến lượng đàm phán phân định; là một mô hình thu nhỏ tổng quan địa lý, địa hình trợ giúp cho nghiên cứu điều tra, chỉ dẫn sử dụng; là hồ sơ pháp
lý của đường biên giới biển tuân thủ theo đúng quy định của Công ước Luật biển 1982 Chính vì vậy, Công ước Luật biển 1982 quy định các quốc gia ven biển có nghĩa vụ thể hiện các đường cơ sở dùng để tính chiều dài lãnh hải được vạch ra theo đúng các Điều 7,9 và 10 hoặc các ranh giới hình thành từ các điều đó và các đường hoạch định ranh giới được vạch ra đúng theo các Điều 12, 15, 74, 76 và 83 Điều 84, Công ước Luật biển 1982 quy định: trên hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí của nó Nếu không, thì có thể thay thế bằng một bản kê các tọa độ địa lý các điểm, có ghi rõ hệ thống trắc địa đã được sử dụng Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các hải
đồ hay các bản kê các tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản để lưu chiểu, và đối với các hải đồ và các bản kê các toạ độ vị trí của ranh giới ngoài của thềm lục địa, thì gửi đến Tổng thư ký của Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy đại dương một bản để lưu chiểu Như vậy quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ xây dựng và thường xuyên cập nhật các bản đồ biển của mình, công nhận là bản đồ quốc gia, công
Trang 52
bố theo đúng thủ tục và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc để lưu chiểu Đây là một nghĩa vụ quốc tế quan trọng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của quốc gia ven biển và các quốc gia khác, là cơ sở pháp lý giải thích các hoạt động của quốc gia ven biển và các quốc gia khác trong thực thi Công ước Luật biển 1982 và là cơ sở để quản lý biển, giải quyết các tranh chấp biển
Bản đồ biển là tài liệu không thể thiếu cho các hoạt động bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển, các lĩnh vực quản lý, khai thác tiềm năng tài nguyên biển và các hoạt động nghiên cứu khoa học khác về biển
Tất cả các loại bản đồ biển đều được xây dựng trên một nền chung, đó là địa hình đáy biển - mà địa hình đó được bao phủ bởi một lớp nước, vì vậy mà nền đó được gọi
là bản đồ nền độ sâu đáy biển Bản đồ nền độ sâu đáy biển càng được khảo sát và thể hiện một cách chính xác, chi tiết thì ý nghĩa phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, thể hiện các thông tin nghiên cứu khoa học khác càng có tính đắc dụng và hiệu quả
Thông thường các bản đồ biển với mức độ chi tiết và đầy đủ khác nhau phải thể hiện được các yếu tố: Đường bờ (trên bản đồ biển) được biểu thị bằng các đặc điểm đặc trưng (lồi lõm, khúc khuỷu, thẳng, cong, gồ ghề…); Thủy hệ trên phần ven biển, Địa hình trên phần ven biển; Vùng dân cư; Hệ thống đường xá; Lớp phủ thực vật và chất đất; Địa hình đáy biển; Chướng ngại vật hàng hải; Chất đáy; Trang thiết bị an toàn hàng hải; Vật định; Luồng, lạch, kênh, đường hành trình trên biển; Ranh giới; Các yếu tố khác và ghi chú
Theo quy định quốc tế, các bản đồ biển phải đáp ứng các yêu cầu:
- Nội dung của bản đồ biển phải đáp ứng mục đích chuyên môn của từng loại hải
đồ, phải phản ánh tính điển hình và chân thực của địa lý;
- Biểu thị tính chất đường bờ biển, với một phần hợp lý của lục địa;
- Ở mức độ hiện tại (tài liệu đo đạc khảo sát phải mới);
- Rõ ràng và dễ đọc;
- Thống nhất với các bản đồ hiện hành và các tài liệu hướng dẫn hàng hải;
- Đáp ứng yêu cầu của các quy phạm hướng dẫn
Trang 6sự đồng đều trong cùng một mảnh cũng như trong cùng một khối tỷ lệ và càng không đồng đều giữa các khối tỷ lệ khác nhau
Trên biển Đông, theo đánh giá của Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO) việc khảo sát đo đạc và lập bản đồ biển còn nhiều hạn chế Hiện nay nước ta mới thiết lập được một số bản đồ biển tỷ lệ 1/2.500.000 (toàn bộ biển Đông), tỷ lệ 1/1.000.000 (phần biển Việt Nam), tỷ lệ 1/500000, tỷ lệ 1/400000 (khu vực giữa và Nam biển Đông, ven bờ biển TQ và Việt Nam), tỷ lệ 1/300 000 (ven biển nước ta), tỷ lệ 1/250 000 khu vực biển Căm pu chia – Thái Lan, tỷ lệ 1/200 000, 1/100000 ven biển, khu vực Trường Sa
và các mảnh bản đồ biển tỷ lệ 1/25000 các đảo, cửa sông vụng vịnh và hải cảng
Về độ sâu thể hiện trên bản đồ biển thời gian này phần lớn (và chủ yếu) là độ sâu trên bản đồ biển nước ngoài Nguồn gốc số liệu đo đạc, tính toán mặt chuẩn đều không
có lý lịch Trong một mảnh bản đồ các độ sâu được trích từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau vì thế độ chính xác độ sâu thực tế cũng không đồng nhất
Tuy có những đặc điểm trên nhưng trong quá trình sử dụng mấy chục năm qua và qua đối chiếu so sánh với kết quả khảo sát của những năm gần đây thì độ sâu trên các bản đồ biển này không có các sai lệch lớn Các bản đồ biển sản xuất trong thời kỳ này
đã đáp ứng được cho công tác đi biển; làm tài liệu tham khảo và nền sử dụng cho nhiều ngành nghiên cứu về biển sử dụng Hệ thống bản đồ biển này hiện nay vẫn còn được sử dụng cho công tác dẫn tàu đi trên biển và cho các lực lượng hoạt động trên biển
Bản đồ biển xuất bản từ những năm 1992 trở lại đây hầu hết đã được áp dụng công nghệ biên tập mới có sử dụng máy tính điện tử để tính toán chuyển đổi hệ thống
Trang 74
toạ độ Các số liệu toạ độ mặt bằng độ sâu được biên tập trên cơ sở các số liệu đo đạc thực địa bằng hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu phân sai (DGPS) và máy đo sâu hồi âm đơn tia độ chính xác cao Hệ thống toạ độ mặt bằng được đo và quy chuẩn về đúng với
hệ thống toạ độ quốc gia (HN-72) và hệ quy chiếu Krasopsky Mặt chuẩn để tính và xác định độ sâu được tính toán cho từng khu vực thông qua số liệu quan trắc thuỷ triều cho từng khu vực Công nghệ biên tập cũ được thay thế bằng công nghệ số hoá và biên tập bằng những chương trình biên tập chuyên dụng (Micro Station và Caris) Hiện tại bản đồ biển được Hải quân nhân dân Việt Nam biên tập chủ yếu bằng chương trình Micro Station
Từ năm 2002, các bản đồ biển biên tập mới được thống nhất thành lập trong hệ toạ độ VN-2000, hệ quy chiếu WGS-84
Hệ thống bản đồ biển được lập trên cơ sở số liệu đo đạc mới này bao phủ toàn bộ vùng ven biển ở tỷ lệ 1/100 000; một số cảng, vụng vịnh, cửa sông, đảo ở tỷ lệ 1/25000, và toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa, DK1 ở tỷ lệ 1/200 000 Một số cụm bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa và bãi ngầm DK1 ở tỷ lệ 1/50 000 Các bản đồ được thành lập trên cơ sở số hoá các bản đồ giấy trước đây, việc chuyển đổi toạ độ được tính toán và triển đổi chính xác bởi công nghệ số và độ sâu được kiểm tra đối chiếu, bổ sung, chỉnh lý từ số liệu khảo sát mới nhất
Có thể đánh giá rằng các bản đồ biển được biên tập và xuất bản từ 1992 đến nay
có độ tin cậy cao, đã khắc phục được sự không đồng nhất về độ chính xác trong một mảnh, trong một khối tỷ lệ cũng như giữa các khối tỷ lệ Các bản đồ này tiếp tục được chỉnh lý hoàn thiện bằng các số liệu khảo sát mới nhất và cập nhật thường xuyên trong
hệ thống số
Hiện tại, bản đồ biển đang được chuyển hướng thành một dạng bản đồ mới - bản
đồ biển điện tử - Được biên tập bằng phần mềm CARIS theo chuẩn của Tổ chức Thuỷ đạc quốc tế (IHO)
Việc đo đạc thu nhận số liệu thực địa cũng đã được áp dụng nhiều tiến bộ từ công nghệ mới Trong lĩnh vực đo độ sâu đã thay thế hoàn toàn các thế hệ máy đo sâu đơn tia ghi số đọc và ghi băng giấy bằng hệ thống máy đo sâu đơn tia ghi độ sâu trên đĩa
từ và băng giấy có liên kết tích hợp hiệu chỉnh do ảnh hưởng của các yếu tố đến độ
Trang 8Để thực hiện được các nhu cầu kể trên, chúng ta phải theo kịp các công nghệ tiên tiến trên thế giới về đo đạc khảo sát biển, đặc biệt là công nghệ đo sâu bằng máy đo sâu đa chùm tia
Trường Đại học Hàng hải là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực và công nghệ lớn cho ngành hàng hải nước nhà Đứng trước nhu cầu phát triển kinh tế biển, xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước, Nhà trường nói chung và Khoa Công trình thủy nói riêng đã và đang đưa nhiều công nghệ mới vào công tác giảng dạy
và ứng dụng vào thực tế khoa học và sản xuất, trong đó có các máy khảo sát thủy đạc hiện đại, tuy nhiên quá trình nghiên cứu sử dụng lại trông chờ vào quá trình tự nghiên cứu của tập thể giáo viên và kỹ thuật viên của Khoa, kết hợp với quá trình đó, tôi làm
đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạc” nhằm mục đích nghiên cứu các phương án sử dụng, kết nối các thiết bị để khai thác vận hành tốt máy đo sâu và kiểm nghiệm độ chính xác vào công tác giảng dạy và lao động sản xuất
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Nghiên cứu và đề xuất một số phương pháp kiểm nghiệm thiết bị khảo sát thủy đạc trong quá trình sử dụng và áp dụng vào quy trình và hướng dẫn sử dụng cho các máy đo sâu hồi âm và các thiết bị đồng bộ đi kèm để cho giáo viên và sinh viên khoa Công trình thủy sử dụng
Trang 96
3 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Các máy móc thiết bị, quy trình và các công tác khảo sát địa hình bề mặt đáy sông, biển bằng máy đo sâu hồi âm và các máy định vị đo biển
4 Phương pháp nghiên cứu, kết cấu của công trình nghiên cứu
Sưu tầm tài liệu, biên dịch, nghiên cứu máy, nghiên cứu nguyên lý hoạt động, vận hành, kết nối, thực hành đo khảo sát ngoài thực địa, nghiên cứu các phương pháp kiểm nghiệm các thiết bị thủy đạc để loại trừ sai số và tăng độ chính xác khảo sát
5 Kết quả đạt được của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Làm chủ trang thiết bị hiện đại, lập quy trình chuẩn để
giảng dạy, phổ biến nhân rộng kỹ thuật mới cho giáo viên và sinh viên Khoa Công trình thủy
- Ý nghĩa thực tiễn: Đưa máy móc trang thiết bị mới hiện đại vào khai thác vận
hành, nâng cao hiệu quả năng suất lao động, ứng dụng vào nhiều mục đích thiết thực
Trang 107
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Giới thiệu chung về công tác khảo sát địa hình đáy biển
Bản đồ biển là các loại bản đồ thể hiện các thông tin về đối tượng dưới đáy biển, trong lòng nước, trên mặt biển và các yếu tố liên quan khác trên phần đất liền ven biển; được lập thành từng hệ thống hay riêng lẻ với tỷ lệ thích hợp (từ 1/10.000 trở xuống) phục vụ cho các hoạt động trên biển, đất liền ven biển và các hoạt động liên quan đến biển khác
Bản đồ biển là tài liệu không thể thiếu cho các hoạt động bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển, các lĩnh vực quản lý, khai thác tiềm năng tài nguyên biển và các hoạt động nghiên cứu khoa học khác về biển
Tất cả các loại bản đồ biển đều được xây dựng trên một nền chung, đó là địa hình đáy biển - mà địa hình đó được bao phủ bởi một lớp nước, vì vậy mà nền đó được gọi là bản đồ nền độ sâu đáy biển Bản đồ nền độ sâu đáy biển càng được khảo sát và thể hiện một cách chính xác, chi tiết thì ý nghĩa phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, thể hiện các thông tin nghiên cứu khoa học khác càng có tính đắc dụng và hiệu quả
Thông thường các bản đồ biển với mức độ chi tiết và đầy đủ khác nhau phải thể hiện được các yếu tố: Đường bờ (trên bản đồ biển) được biểu thị bằng các đặc điểm đặc trưng (lồi lõm, khúc khuỷu, thẳng, cong, gồ ghề…); Thủy hệ trên phần ven biển, Địa hình trên phần ven biển; Vùng dân cư; Hệ thống đường xá; Lớp phủ thực vật và chất đất; Địa hình đáy biển; Chướng ngại vật hàng hải; Chất đáy; Trang thiết bị an toàn hàng hải; Vật định; Luồng, lạch, kênh, đường hành trình trên biển; Ranh giới; Các yếu tố khác và ghi chú
Theo quy định quốc tế, các bản đồ biển phải đáp ứng các yêu cầu:
- Nội dung của bản đồ biển phải đáp ứng mục đích chuyên môn của từng loại hải đồ, phải phản ánh tính điển hình và chân thực của địa lý;
- Biểu thị tính chất đường bờ biển, với một phần hợp lý của lục địa;
- Ở mức độ hiện tại (tài liệu đo đạc khảo sát phải mới);
- Rõ ràng và dễ đọc;
- Thống nhất với các bản đồ hiện hành và các tài liệu hướng dẫn hàng hải;
- Đáp ứng yêu cầu của các quy phạm hướng dẫn
Ở Việt Nam, bản đồ biển xuất bản trong những năm 90 của thế kỷ 20 trở về trước được biên tập bằng công nghệ cũ và số liệu chủ yếu (hầu hết) là lấy theo tài liệu bản đồ của nước ngoài xuất bản từ trước 1975 Công nghệ cũ là công nghệ chuyển tải thông tin từ các tài liệu bản đồ nước ngoài được chụp lại, cắt dán, phân sai theo hệ thống lưới kinh vĩ tuyến (trên tỷ lệ bản đồ mới thành lập), vẽ bằng tay và chụp in Các bản đồ biển tài liệu đưa vào gồm nhiều loại, của nhiều quốc gia, hệ thống toạ độ, hệ quy chiếu không thống nhất cũng như sai khác với hệ toạ độ và hệ quy chiếu quốc gia (hệ HN-72) Trong quá trình biên tập, tuy đã được xử lý qua hiệu chỉnh toạ độ bằng
Trang 118
cách tính toán và đồ giải Độ chính xác đạt được vẫn còn rất hạn chế, không đạt được
sự đồng đều trong cùng một mảnh cũng như trong cùng một khối tỷ lệ và càng không đồng đều giữa các khối tỷ lệ khác nhau
Trên biển Đông, theo đánh giá của Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO) việc khảo sát đo đạc và lập bản đồ biển còn nhiều hạn chế Hiện nay nước ta mới thiết lập được một số bản đồ biển tỷ lệ 1/2.500.000 (toàn bộ biển Đông), tỷ lệ 1/1.000.000 (phần biển Việt Nam), tỷ lệ 1/500000, tỷ lệ 1/400000 (khu vực giữa và Nam biển Đông, ven bờ biển TQ và Việt Nam), tỷ lệ 1/300 000 (ven biển nước ta), tỷ lệ 1/250 000 khu vực biển Căm pu chia – Thái Lan, tỷ lệ 1/200 000, 1/100000 ven biển, khu vực Trường Sa
và các mảnh bản đồ biển tỷ lệ 1/25000 các đảo, cửa sông vụng vịnh và hải cảng
Về độ sâu thể hiện trên bản đồ biển thời gian này phần lớn (và chủ yếu) là độ sâu trên bản đồ biển nước ngoài Nguồn gốc số liệu đo đạc, tính toán mặt chuẩn đều không có lý lịch Trong một mảnh bản đồ các độ sâu được trích từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau vì thế độ chính xác độ sâu thực tế cũng không đồng nhất
Tuy có những đặc điểm trên nhưng trong quá trình sử dụng mấy chục năm qua
và qua đối chiếu so sánh với kết quả khảo sát của những năm gần đây thì độ sâu trên các bản đồ biển này không có các sai lệch lớn Các bản đồ biển sản xuất trong thời kỳ này đã đáp ứng được cho công tác đi biển; làm tài liệu tham khảo và nền sử dụng cho nhiều ngành nghiên cứu về biển sử dụng Hệ thống bản đồ biển này hiện nay vẫn còn được sử dụng cho công tác dẫn tàu đi trên biển và cho các lực lượng hoạt động trên biển
Bản đồ biển xuất bản từ những năm 1992 trở lại đây hầu hết đã được áp dụng công nghệ biên tập mới có sử dụng máy tính điện tử để tính toán chuyển đổi hệ thống toạ độ Các số liệu toạ độ mặt bằng độ sâu được biên tập trên cơ sở các số liệu đo đạc thực địa bằng hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu phân sai (DGPS) và máy đo sâu hồi âm đơn tia độ chính xác cao Hệ thống toạ độ mặt bằng được đo và quy chuẩn về đúng với
hệ thống toạ độ quốc gia (HN-72) và hệ quy chiếu Krasopsky Mặt chuẩn để tính và xác định độ sâu được tính toán cho từng khu vực thông qua số liệu quan trắc thuỷ triều cho từng khu vực Công nghệ biên tập cũ được thay thế bằng công nghệ số hoá và biên tập bằng những chương trình biên tập chuyên dụng (Micro Station và Caris) Hiện tại bản đồ biển được Hải quân nhân dân Việt Nam biên tập chủ yếu bằng chương trình Micro Station
Từ năm 2002, các bản đồ biển biên tập mới được thống nhất thành lập trong hệ toạ độ VN-2000, hệ quy chiếu WGS-84
Hệ thống bản đồ biển được lập trên cơ sở số liệu đo đạc mới này bao phủ toàn
bộ vùng ven biển ở tỷ lệ 1/100 000; một số cảng, vụng vịnh, cửa sông, đảo ở tỷ lệ 1/25000, và toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa, DK1 ở tỷ lệ 1/200 000 Một số cụm bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa và bãi ngầm DK1 ở tỷ lệ 1/50 000 Các bản đồ được thành lập trên cơ sở số hoá các bản đồ giấy trước đây, việc chuyển đổi toạ độ được tính toán và triển đổi chính xác bởi công nghệ số và độ sâu được kiểm tra đối chiếu, bổ sung, chỉnh lý từ số liệu khảo sát mới nhất
Có thể đánh giá rằng các bản đồ biển được biên tập và xuất bản từ 1992 đến nay
có độ tin cậy cao, đã khắc phục được sự không đồng nhất về độ chính xác trong một mảnh, trong một khối tỷ lệ cũng như giữa các khối tỷ lệ Các bản đồ này tiếp tục được
Trang 12Việc đo đạc thu nhận số liệu thực địa cũng đã được áp dụng nhiều tiến bộ từ công nghệ mới Trong lĩnh vực đo độ sâu đã thay thế hoàn toàn các thế hệ máy đo sâu đơn tia ghi số đọc và ghi băng giấy bằng hệ thống máy đo sâu đơn tia ghi độ sâu trên đĩa từ và băng giấy có liên kết tích hợp hiệu chỉnh do ảnh hưởng của các yếu tố đến
độ sâu đo và toạ độ điểm đo sâu Công nghệ đó cho phép loại bỏ được sai sót nhầm lẫn khi ghép toạ độ - độ sâu, đẩy nhanh được tốc độ xử lý, tính toán và nâng cao rất nhiều
độ chính xác Hiện nay đã đang sử dụng hệ thống đo sâu hồi âm đa chùm tia để khảo sát thu nhận độ sâu, bảo đảm việc thu nhận nhanh, đều khắp, phủ kín đáy biển cao hơn Trong lĩnh vực xác định toạ độ, việc ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh được phát triển nhanh và cho độ chính xác ngày càng cao Các thiết bị định vị luôn được cải tiến nâng cao tốc độ xử lý và độ chính xác… Công nghệ xử lý toạ độ theo thời gian thực (Real Time) với khoảng cách xa và từ vệ tinh là chủ yếu Việc ứng dụng các công nghệ xử lý tiên tiến và sử dụng các thiết bị đo đạc mới cho phép nâng cao được năng suất tốc độ và độ chính xác của công tác đo đạc bản đồ biển, làm cho bản đồ càng có tính thời sự và chất lượng
Bản đồ biển là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện Công ước Luật biển 1982 Bản đồ biển được sử dụng nhằm mục đích: xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải; xác định ranh giới các vùng biển nội thủy, xác định lãnh hải, xác định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; xác định vị trí các đảo nhân tạo, các công trình trên biển, tuyến cáp hoặc dây dẫn ngầm, thể hiện các tuyến đường
và cách bố trí phân chia luồng giao thông trong lãnh hải; các khu vực an toàn, các khu bảo tồn biển; sử dụng cho các hoạt động biển (khai thác, bảo vệ tài nguyên, giao thông hàng hải; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ môi trường biển); và là cơ sở đàm phán phân định các đường ranh giới biển, giải quyết các tranh chấp biển Có thể nói không điều khoản nào của Công ước Luật biển 1982 không có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bản đồ biển
Các bản đồ biển (hải đồ) là một bộ phận quan trọng làm nền tảng cho việc xác lập đường biên giới trên đất liền và trên biển Chúng được sử dụng làm cơ sở đàm phán cho việc xây dựng chiến lượng đàm phán phân định; là một mô hình thu nhỏ tổng quan địa lý, địa hình trợ giúp cho nghiên cứu điều tra, chỉ dẫn sử dụng; là hồ sơ pháp
lý của đường biên giới biển tuân thủ theo đúng quy định của Công ước Luật biển 1982 Chính vì vậy, Công ước Luật biển 1982 quy định các quốc gia ven biển có nghĩa vụ thể hiện các đường cơ sở dùng để tính chiều dài lãnh hải được vạch ra theo đúng các Điều 7,9 và 10 hoặc các ranh giới hình thành từ các điều đó và các đường hoạch định ranh giới được vạch ra đúng theo các Điều 12, 15, 74, 76 và 83 Điều 84, Công ước Luật biển 1982 quy định: trên hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí của nó Nếu không, thì có thể thay thế bằng một bản kê các tọa độ địa lý các điểm, có ghi rõ hệ thống trắc địa đã được sử dụng Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các hải
đồ hay các bản kê các tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản để lưu chiểu, và đối với các hải đồ và các bản kê các toạ độ vị trí của ranh giới ngoài của thềm lục địa, thì gửi đến Tổng thư ký của Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy đại
Trang 13Để thực hiện được các nhu cầu kể trên, chúng ta phải theo kịp các công nghệ tiên tiến trên thế giới về đo đạc khảo sát biển, đặc biệt là công nghệ đo sâu bằng máy
đo sâu đa chùm tia
Bản đồ địa hình đáy biển là sản phẩm của việc mô tả địa hình đáy biển bằng ngôn ngữ bản đồ, nó được dùng làm nền để thể hiện các thông tin địa lý về biển Bản
đồ địa hình đáy biển là cơ sở cho việc thành lập các bản đồ chuyên đề biển
Bản đồ địa hình đáy biển có thể được coi là sự kéo dài của bản đồ địa hình phần đất liền về phía biển, vì vậy chúng tạo thành một hệ thống nhất về hệ tọa độ, hệ độ cao, hệ qui chiếu Bản đồ địa hình đáy biển có nội dung và cách biểu thị tương tự các bản đồ phần đất liền phục vụ các mục đích nghiên cứu khoa học, các hoạt động kinh tế
xã hội ở vùng biển Bản đồ địa hình đáy biển là cơ sở để thiết kế xây dựng các công trình thủy, phát triển ngư trường, qui hoạch tuyến vận tải biển, nghiên cứu môi trường, thăm dò và khai thác dầu khí, v.v…
Trang 1411
Trang 1512
Trang 1613
Hình 1.1: Một số dạng bản đồ địa hình đáy biển hiện đại
1.2 Phân loại bản đồ địa hình đáy biển
Dựa vào tỷ lệ thì bản đồ địa hình đáy biển được phân loại làm ba nhóm lớn sau:
+ Các loại bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ lớn :
-Bao gồm các loại bản đồ tỷ lệ như 1/1000, 1/2000 và 1/5000 Tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể mà ta chọn tỷ lệ đo vẽ cho phù hợp Ví dụ: Để thiết kế cảng biển thường dùng bản đồ tỷ lệ 1/1000 và 1/2000; để khảo sát và thiết kế giàn khoan dùng bản đồ tỷ lệ 1/2000; để khảo sát khu vực đánh bắt hải sản hay thăm dò khống sản dùng bản đồ tỷ lệ 1/5000
+ Các loại bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ trung bình:
- Bao gồm các loại bản đồ tỷ lệ từ 1/10.000 ¸ 1/200.000 Đây là hệ thống bản đồ
tỷ lệ cơ bản vì nó phục vụ cho nhiều ngành, nhiều đối tượng, nhiều mục đích khác nhau
- Bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/10.000: Bao trùm những vùng quan trọng ven
bờ, nơi có các hoạt động kinh tế mạnh như Cẩm Phả, Hải Phòng, Cửa Lò, Sông Gianh,
Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, và các cửa sông lớn Các bản đồ này có khoảng sâu đều đường bình độ là 1m
- Bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/25.000: Được thành lập dọc theo bờ biển Việt Nam và một số đảo như Long Vĩ, Phú Quốc, Các bản đồ này có khoảng sâu đều đường bình độ là 2 m
- Bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/100.000: Bao trùm thềm lục địa Việt Nam, khoảng sâu đều đường bình độ là 10 m
- Bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/200.000: Bao trùm vùng đặc quyền kinh tế biển với độ sâu tới 200 m, khoảng sâu đều đường bình độ là 20m
+ Các loại bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ nhỏ :
Trang 1714
- Bao gồm các loại bản đồ tỷ lệ 1/500.000 và nhỏ hơn Dựa vào yêu cầu mức độ khái quát địa hình đối với vùng biển mà ta có thể xác định tỷ lệ thành lập là 1/500.000, 1/1.000.000, 1/2.000.000 hay 1/3.000.000 Các bản đồ này sẽ được thành lập bằng cách biên vẽ từ bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn
1.3 Bản đồ giao thông hàng hải
- Mục đích: Để đảm bảo an tòan cho tàu thuyền đi lại trên sông, biển và tránh bị mắc cạn hoặc vướng vào đá ngầm…người ta tiến hành đo đạc, thu thập các thông tin một cách cụ thể, chi tiết và chính xác để phục vụ cho các nhà hàng hải
- Đối tượng phục vụ chủ yếu là các nhà hàng hải nhưng bản đồ giao thông thủy cũng là những tài liệu quý phục vụ cho nghiên cứu sa bồi, xói lở và xác định lãnh hải hay nghiên cứu phục vụ nạo vét thi công hay để phục vụ xây dựng các công trình
Nội dung : Nội dung quan trọng nhất của bản đồ giao thông thủy là ghi rõ độ sâu dọc theo sông, trên biển từ đó cung cấp những thông tin về lộ trình, nơi neo đậu, vùng an tồn, vật, chướng ngại, khu đá ngầm…, các chi tiết khác nhau như địa danh, địa giới, vùng lãnh hải, hải đăng, hải liệu, tính chất địa chất bề mặt đáy
- Bản đồ giao thông thủy thường được thành lập với nhiều tỷ lệ khác nhau từ 1/20000 đến 1/1000 Ở những vùng thường xuyên có tàu bè qua lại và có độ sâu nông người ta thành lập bản đồ tỷ lệ lớn, còn ở những vùng tàu bè ít qua lại thường lập bản
đồ bản đồ tỷ lệ nhỏ Bản đồ tỷ lệ càng lớn thì độ chính xác và mức độ mô tả chi tiết càng cao và tỉ mỉ hơn
Trang 1916
Hình 1.3: Các phương pháp đo sâu
1.4.1 Phương pháp đo sâu thủ công
Đây là phương pháp đo sâu rất đơn giản và xuất hiện từ rất lâu Thiết bị và cách
sử dụng rất đơn giản có thể phân làm hai loại sau
- Dây dọi (Lead line): Làm bằng dây không co giãn, trên đó khắc vạch chia đơn
vị đo chiều dài và một đầu có buộc vật nặng
- Sào đo sâu (Sounding pole): Là những sào gỗ hoặc nhôm trên đó có khắc vạch
chia đơn vị đo chiều dài, một đầu có tay cầm
Hình 1.4: Đo sâu bằng dây dọi
Trang 2017
Hình 1.5 Đo sâu bằng dây dọi
Trang 2118
Hình 1.6: Đo sâu bằng dây dọi
Trang 2219
Hình 1.7: Đo sâu bằng mia
Hình 1.8: Xác định độ sâu bằng phương pháp thủ công
- Đo sâu bằng mia: Phương pháp đo sâu thủ công được áp dụng trong những tình huống mà khu đo không thể thực hiện bằng phương pháp đo sâu hồi âm hoặc nếu dùng phương pháp đo sâu hồi âm thì sẽ cho kết quả xấu Phương pháp này đặc biệt thích hợp khi dưới mặt nước khảo sát là đá hay bê tông, trên mái dốc của các con đê, cập mạn tàu khảo sát (gần bờ) Vì trong những trường hợp kể trên phương pháp đo sâu hồi âm có thể cho kết quả không chính xác Phương pháp đo sâu thủ công được dùng kết hợp với phương pháp đo sâu hồi âm như là một cách thức kiểm nghiệm máy hay là một phương pháp hỗ trợ tích cực
Trang 2320
*Xác định vị trí khi đo sâu thủ công
+ Xác định vị trí bằng phương pháp giao hội thuận
Phương pháp xác định vị trí điểm áp dụng cho khu vực gần bờ mà trên đó đã có lưới khống chế dày đặc hoặc các điểm định hướng vị trí của tàu hay mục tiêu được xác định bằng 3 máy kinh vĩ đặt trên ba điểm đã biết tọa độ nằm trên đất liền Do tính biến động của môi trường biển nên công tác xác định cần phải thực hiện một cách đồng bộ nhờ cờ hiệu và bộ đàm Phương pháp chỉ tác dụng trong phạm vi cách bờ từ 20-25km với độ chính xác đạt từ 5-15m
Hình 1.9: Nguyên lý định vị theo phương pháp giao hội thuận
- Đặt 3 máy kinh vĩ tại các điểm I, II, III để tiến hành định vị các điểm ngoài thực địa:
- Máy tại điểm I ngắm hướng chuẩn I-II tia ngắm I2
- Máy tại điểm II ngắm hướng chuẩn II-I tia ngắm II2
- Máy tại điểm III ngắm hướng chuẩn III-I tia ngắm III2
Theo hiệu lệnh của người phất cờ đứng trên tàu người đứng máy tại các điểm I,
II, III đồng thời đọc các góc a, b, c Khi đó người phụ trách máy đo sâu trên tàu tiến hành đánh dấu lên băng đo sâu
+ Xác định vị trí bằng phương pháp giao hội nghịch
Để tiến hành ít nhất trên hai hướng, giữa các điểm định hướng hay điểm khoảng cách nằm trên bờ, thiết bị sử dụng là máy sekstan, thường được xác định đồng thời với hai người quan sát Phương pháp này chỉ thực hiện ở phạm vi cách bờ từ 20-25km và
độ chính xác đạt được từ 10-15m
Để tiến hành xác định điểm 2 (hình trên) đặt máy sextant tại điểm 2 tiến hành ngắm hướng và đọc các góc
Trang 2421
Hình 1.10: Nguyên lý định vị theo phương pháp giao hội nghịch
Thông thường mỗi đường trắc ngang xác định bằng 3 điểm: điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối Trong trường hợp đường đo quá dài số lượng điểm có thể nhiều hơn
Trong quá trình đo máy đo sâu liên tục hoạt động để xác định độ sâu đáy sông, biển
Trong phương pháp này, độ chính xác phụ thuộc vào các góc kẹp Giá trị này càng lớn thì mô hình càng chính xác Người ta cố gắng thiết kế sao cho các góc kẹp lớn hơn 300
+ Xác định vị trí bằng phương pháp tọa độ cực
Dùng máy toàn đạc điện tử đặt tại điểm tham chiếu trên bờ Điểm P được định
vị bằng góc nối và cự ly S đo được Như vậy tại mỗi thời điểm, khi người đứng tại điểm P ra hiệu thì máy ngắm đúng vào P và fix một tín hiệu, đồng thời người tại P cũng ghi nhận độ sâu lúc đó
Trong phương pháp này, độ chính xác điểm P phụ thuộc vào sai số góc đo góc
và sai số đo cạnh S
+ Quan trắc mực nước trong quá trình đo sâu
Quan trắc mực nước là xác định độ cao của mực nước kết hợp với kết quả đo sâu ta tính được độ sâu của đáy
Trang 25đo thu lại để tính toán xác định độ sâu mà sóng âm lan truyền
+ Độ sâu đáy sông (biển) được xác định như hình sau:
Hình 1.11: Đo sâu bằng máy đo sâu đơn chùm tia và quan trắc mực nước
Trên hình vẽ, độ cao của mực nước gần bờ được tính theo công thức :
hw = h0 - (b - a) – c
Trong đó:
hw: độ cao của mực nước so với mặt Geoid
h0: độ cao của trạm cơ sở (mốc khống chế)
a: số đọc trên mia tại vị trí điểm cơ sở
b: số đọc trên mia tại vị trí đọc mia nước
c: số đọc mực nước tai vị trí đặt mia nước
Nguyên tắc cơ bản của việc xác định độ cao đáy sông bằng đo mực nước là giả
sử độ cao mực nước tại điểm gần bờ và độ cao mực nước tại vị trí của thuyền phải bằng nhau Khi đó độ cao của đáy được tính theo công thức:
h = hw – d
+ Xác định vị trí khi đo sâu thủ công:
Sử dụng các phương pháp giao hội giống như trong đo sâu thủ công
Trang 2623
1.4.3 Kỹ thuật đo sâu đơn chùm tia kết hợp định vị bằng phương pháp GPS RTK:
Đây là phương pháp dung máy đo sâu đơn chùm tia kết hợp với máy thu tín hiệu
vệ tinh GPS 2 tần số đo động thời gian thực, độ chính xác cao ở mức độ mm - cm về mặt bằng để xác định vị trí các tuyến tàu đo
Hình 1.12: Nguyên lý kỹ thuật đo RTK
Sơ đồ trên mô tả nguyên tắc xác định độ sâu và định vị bằng kỹ thuật RTK,
h0: là độ cao của mốc so với mặt Geoid tham khảo
f: là chiều cao anten của trạm động so với mực nước tại vị trí của thuyền được
đo bằng thước với độ chính xác cm
d: là độ cao của đáy đo được bằng máy đo sâu hồi âm
h: là độ cao đáy sông được tính theo công thức
h = hw – d
hw: là đo cao tức thời của mực nước tại thuyền ở thời điểm đo, được xác định theo công thức
hw = h0 + a - dh – f
Trang 2724
Như vậy kỹ thuật RTK cung cấp cho ta cả vị trí mặt bằng và độ cao chính xác của anten ở thời điểm đo Điều này giúp tránh được những khuyết điểm của quá trình xác định độ sâu bằng đo mực nước
+ Kỹ thuật định vị DGPS RTK (Real Time Kinematic) trong đo sâu
Kỹ thuật đo RTK được thiết kế như ý tưởng ban đầu là nhằm đạt độ chính xác cao nhất và đặc biệt ứng dụng trong lĩnh vực đo sâu hồi âm dùng kỹ thuật DGPS, trị
đo pha sóng tải
Hình 1.13: Kỹ thuật định vị DGPS + Độ chính xác khi dùng kỹ thuật định vị DGPS thông thường
Tổng quát, trong kỹ thuật đo này, người dùng cần cài đặt máy thu GPS trên 1 trạm đã biết tọa độ và độ cao (trạm base), và máy thu còn lại được lắp đặt tại trạm di chuyển Rover và cả 2 máy thu này cần phải nhận cùng một tín hiệu GPS tại cùng một
Số nguyên đa trị N (ambiguty interger) được giải bằng cách dùng dữ liệu được gửi từ trạm Base (trạm cơ sở - đã biết tọa độ, độ cao) tới trạm Rover (trạm di động), và việc giải tham số đa trị này được thực hiện ngay trong khi trạm Rover di chuyển
Trang 2825
Hình 1.14: Kỹ thuật định vị DGPS RTK + Độ chính xác khi dùng kỹ thuật định vị DGPS RTK
Trị đo pha sóng tải DGPS RTK có khả năng cung cấp độ chính xác dưới dm (~cm) cho trạm Rover trên tàu khảo sát ở cả hai thành phần mặt bằng và độ cao Kỹ thuật này có thể cung cấp cao độ của tàu khảo sát ngay thời gian thực
Hình 1.15: Kỹ thuật định vị DGPS RTK đơn giản
- Trạm tham khảo trên bờ
Trạm tham khảo trên bờ cần phải được định vị trên một mốc đã biết tọa độ và cao độ Tuy nhiên, máy thu tại trạm tham khảo phải có khả năng thu nhận tín hiệu ở cả trị đo pha và trị đo giả cự ly của vệ tinh GPS Trạm tham khảo sẽ tập hợp trị đo pha, trên cả 2 tần số L1/L2 dùng kỹ thuật tương quan chéo Bộ xử lý tại trạm tham khảo sẽ tính toán khoảng cách giả và số hiệu chỉnh pha sóng tải, và định dạng dữ liệu theo chuẩn phù hợp với việc truyền tải dữ liệu Thông thường, các số hiệu chỉnh sẽ được định dạng theo chuẩn RTCM SC-104 v.2.1 để truyền đến trạm Rover ở trên tàu
Trang 2926
- Thiết bị truyền thông
Hệ thống định vị RTK cần phải có thiết bị truyền tín hiệu với tốc độ nhỏ nhất là
4800 Sở dĩ phải cần có tốc độ cao như vậy để khử nhiều hệ thống phát tín hiệu tần số thấp, và giới hạn tầm phủ của các hệ thống phát tín hiệu tần số cao Thông thường, hệ thống truyền thông UHF và VHF sẽ được dùng cho việc truyền tín hiệu trong kỹ thuật RTK
- Thiết bị người dùng
Một máy vi tính để thu nhận và xử lý dữ liệu đo sâu Hai thiết bị có cài sẵn phần mềm tích hợp để điều khiển máy thu GPS ở trạm base và trạm rover (thông thường ở hệ thống RTK của Topcon dùng thiết bị FC-2000, FC-200, hay FC-1000,…
để điều khiển)
Thực tế, có 3 điều quan trọng cần lưu ý trong kỹ thuật đo này :
+ Cả 2 trạm base và rover phải quan trắc cùng số vệ tinh chung
+ Trạm base phải gửi số hiệu chỉnh về vị trí và trị đo vệ tinh của nó tới trạm rover
+ Trạm rover kết hợp các thông số được gửi từ trạm base với trị đo của chính
nó để tính ra tọa độ và cao độ của trạm Rover
Ngoài ra, do đặc tính độc đáo là cho kết quả tọa độ & độ cao ngay thời gian thực mà không cần phải qua một quá trình hậu xử lý nên nó còn được ứng dụng trong
đo địa hình trên bờ
Hình 1.15: Kỹ thuật xác định cao độ trên tàu khảo sát
- Kỹ thuật xác định độ cao trên tàu khảo sát
Kỹ thuật RTK cho phép di chuyển máy thu ở trạm Rover trên tàu sau khi trị nhập nhằng (Integer Ambiguity - N) giữa vệ tinh và máy thu được giải thành công Tuy nhiên, với các hệ thống GPS hiện đại ngày nay (đặc biệt là máy thu 2 tần số), việc giải đa trị thường xảy ra rất nhanh (khoảng vài giây), nên thông thường sau khi cài đặt các thiết bị, và phát tín hiệu thì hầu như lập tức ta có được nghiệm fixed ở trạm Rover
Vì vậy, cao độ an ten luôn luôn có được ngay thời gian thực Khi đó, ảnh hưởng khi
Trang 30• hB: Độ cao anten của trạm động (Rover) so với mặt Ellipsoid tham khảo
• f: là chiều cao anten của trạm động so với mặt đáy đầu sensor máy hồi âm tại
vị trí của thuyền, được đo bằng thước với độ chính xác cm
• D: là độ sâu của đáy, đo được bằng máy đo sâu hồi âm
• HA: là độ cao của mốc so với mặt ellipsoid tham khảo (giả sử không sai số)
1.16: Nguyên lý xác định độ sâu trong kỹ thuật đo sâu hậu xử lý
• HB: là độ cao của đáy sông, được tính theo công thức: HB = HC – D
Giả thiết trên chỉ đúng ở vùng nước yên tĩnh không có tác động của sóng, gió, dòng chảy….Trong thực tế nhiều nguyên nhân có thể gây ra sự chênh lệch mực nước giữa trạm đo gần bờ và vị trí đo sâu như: ảnh hưởng của đoạn sông cong, đoạn sông co hẹp hay mở rộng, tác động của gió sóng thủy triều…
Những ảnh hưởng này làm cho độ cao mực nước tại thuyền và tại bờ có khi chênh nhau đến m