Nhờ vào lợithế tận dụng nguồn nhân công giá rẻ cùng với sự ưu tiên hỗ trợ ngành công nghiệp mũinhọn của Nhà nước, sản lượng của ngành dệt may đóng góp một phần lớn cho GDP,đặc biệt kim n
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp là kết quả của
sự cố gắng, nỗ lực của bản thân trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu trên giảng đường Đại học Từ tấm lòng mình, em xin chân thành cảm ơn các quý
cô giáo, thầy giáo trường Đại học Kinh tế- Đại học Huế đã tận tình dạy bảo em trong suốt những năm qua Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các
cô chú, các anh chị đang công tác tại
điều kiện tốt nhất và nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ
em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do năng lực của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, thời gian thực hiện đề tài còn hạn hẹp nên khóa luận này khó tránh khỏi những sai
góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2Huế, tháng 5 năm
2015 Sinh viên thực hiện
Lê Phương Thảo
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lí luận 4
1.1.1 Khái niệm chung về hoạt động đầu tư 4
1.1.2 Phân loại đầu tư 5
1.1.3 Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư đối với doanh nghiệp 6
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư 7
1.1.5 Các vấn đề cơ bản về xuất khẩu 9
1.1.6 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam 16
1.2.2 Thực trạng đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay 18
1.2.3 Cơ hội và thách thức đối với đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam 22
1.2.4 Kết quả xuất khẩu của dệt may Việt Nam trong những năm qua 24
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRƯỚC YÊU CẦU TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG XUẤT KHẤU SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HUẾ 28
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần dệt may Huế 28
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 28
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 42.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức hành chính và nhân sự 30
2.1.3 Tình hình lao động 35
2.2 Hoạt động đầu tư và xuất khẩu sản phẩm của công ty dệt may Huế 37
2.2.1 Quy mô và cơ cấu vốn của công ty 37
2.2.2 Phân tích nguồn vốn đầu tư của công ty 43
2.2.3 Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty 46
2.3 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty 50
2.3.1 Kết quả sản xuất kinh doanh 50
2.3.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh 52
2.3.3 Hiệu quả hoạt động đầu tư 54
2.3.4 Phân tích SWOT để lựa chọn chiến lược tăng cường khả năng xuất khẩu sản phẩm của công ty 57
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ NHẰM TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HUẾ GIAI ĐOẠN 2015-2018 60
3.1 Phương hướng phát triển của công ty những năm tới 60
3.2 Phương hướng đầu tư của Công ty Cổ phần Dệt may Huế trong giai đoạn 2015-2018 61
3.2.1 Đầu tư chiều sâu nâng cao chất lượng sản phẩm 62
3.2.2 Đầu tư mở rộng sản xuất để tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng 63
3.2.3 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2015-2018 64
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư và tăng cường hoạt động xuất khẩu sản phẩm của Công ty Cổ phần Dệt may huế 66
3.3.1 Giải pháp thu hút vốn đầu tư 66
3.3.2 Giải pháp sử dụng vốn đầu tư 69
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Kiến nghị 75
2.1 Đối với Tổng công ty dệt may và hiệp hội dệt may 75
2.2 Đối với nhà nước 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BH : Bán hàngCCDV : Cung cấp dịch vụ
DT : Doanh thuHĐKD : Hợp đồng kinh doanhKNXK : Kim ngạch xuất khẩuKPT : Khoản phải thu
LN : Lợi nhuậnNHTM : Ngân hàng thương mạiNPT : Nợ phải trả
NSLĐ : Năng suất lao độngSXKD : Sản xuất kinh doanh
TD : Tín dụng
TS : Tài sảnTSCĐ : Tài sản cố địnhTSLĐ : Tài sản lưu độngTSNH : Tài sản ngắn hạnTSTC : Tài sản tài chínhVCĐ : Vốn cố địnhVCSH : Vốn chủ sở hữuVLĐ : Vốn lưu động
XK : Xuất khẩu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1: Tỉ trọng tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần dệt may Huế theo thịtrường XK 48Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty Cổ phần Dệt May Huế 33
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiền lương trong ngành dệt may của một số quốc gia 17Bảng 1.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2009-2014 24Bảng 2.1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2012,2013 và 2014 36Bảng 2.2: Tình hình biến động của vốn lưu động và đầu tư ngắn hạn của công ty
qua 3 năm (2012-2014) 38Bảng 2.3: Tình hình các khoản phải thu của Công ty cổ phần Dệt may Huế
giai đoạn 2012-2014 39Bảng 2.4: Tình hình biến động của vốn cố định và đầu tư dài hạn của công ty
qua 3 năm (2012-2014) 40Bảng 2.5: Tình hình đầu tư máy móc thiết bị công ty CP Dệt may Huế giai đoạn 2012-2014 41Bảng 2.6: Tình hình nguồn vốn đầu tư của công ty qua 3 năm 2012-2014 43Bảng 2.7: Cơ cấu NPT của Công ty Cổ phần Dệt may Huế giai đoạn 2012-2014 44Bảng 2.8:Cơ cấu vốn CSH của Công ty Cổ phần Dệt may Huế giai đoạn 2012-2014 45Bảng 2.9: Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần dệt may Huế theo thị trường 46Bảng 2.10 Kết quả xuất khẩu sản phẩm của công ty theo thị trường xuất khẩu 47Bảng 2.11 : Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Công ty Cổ phần Dệt may Huế trong giaiđoạn 2012-2014 .49Bảng 2.12: Tình hình kết quả SXKD của công ty từ 2012-2014 51Bảng 2.13 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
giai đoạn 2012-2014 53Bảng 2.14 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của công ty qua 3 năm 2012-2014 55Bảng 3.1: Kế hoạch một số chỉ tiêu đến năm 2015 60Bảng 3.2: Cơ cấu vốn đầu tư giai đoạn 2015-2018 64ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Khóa luận được thực hiện nhằm mục tiêu tổng hợp, phân tích thực trạng hoạtđộng đầu tư ngắn hạn, dài hạn của công ty và đánh giá kết quả xuất khẩu của công tytrong giai đoạn 2012-2014, từ đó đề ra định hướng và các biện pháp nhằm nâng caohiệu quả đầu tư và tăng cường khả năng xuất khẩu sản phẩm của Công ty Cổ phần DệtMay Huế trong thời gian tới
Dữ liệu phục vụ đề tài là số liệu sơ cấp được thu thập từ phòng kế toán tài chínhthuộc Công ty Cổ phần Dệt May Huế cùng các tài liệu liên quan, qua quá trình tổnghợp, phân tích xử lí thành số liệu thứ cấp phục vụ cho khóa luận
Qua quá trình nghiên cứu em nhận thấy hoạt động đầu tư tại Công ty Cổ phầnDệt May Huế giai đoạn 2012-2014 là khá hiệu quả Dự án có thể sẽ mang lại lợi nhuậncho công ty trong tương lai Tuy nhiên bên cạnh đó, còn một số hạn chế nhất định mànếu khắc phục được sẽ giúp kết quả xuất khẩu của công ty càng thuận lợi hơn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế là xu thế tất yếu và đòi hỏi khách quan củaquá trình phát triển nền kinh tế Xu thế này đang dần bao trùm toàn bộ mọi lĩnh vựckinh tế - xã hội, ngành dệt may cũng không nằm ngoại lệ Trong nền kinh tế thịtrường, Việt Nam đã và đang có những bước phát triển mới, với các chính sách kinh tế
mở và chiến lược tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Phát triển kinh tế thị trường, hộinhập quốc tế đã, đang và sẽ mang lại cho doanh nghiệp những cơ hội, bên cạnh đócũng không ít khó khăn và thách thức cho các doanh nghiệp trong việc cạnh tranh thịtrường trong nước, cũng như nước ngoài Vì vậy, khi vai trò bảo hộ của nhà nướckhông còn lớn như trước, các doanh nghiệp trong nước phải tự điều hành quản lí cáchoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả, tối ưu nhằm mục đích cuốicùng vẫn là tối đa hóa lợi nhuận
Ngành công nghiệp dệt may có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nềnkinh tế quốc dân nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có điềukiện mở rộng thương mại quốc tế và mang lại nguồn thu lớn cho đất nước Nhờ vào lợithế tận dụng nguồn nhân công giá rẻ cùng với sự ưu tiên hỗ trợ ngành công nghiệp mũinhọn của Nhà nước, sản lượng của ngành dệt may đóng góp một phần lớn cho GDP,đặc biệt kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm Vì vậy việc chú trọng đầu tưphát triển ngành dệt may là một trong những chủ trương đúng đắn của bản thân doanhnghiệp và nhà nước nhằm đưa ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp mũi nhọnkhi tham gia hội nhập với nền kinh tế thế giới
Công ty cổ phần dệt may huế được xem là một trong những doanh nghiệp cóquy mô hoạt động lớn trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, doanh nghiệp đã phần nào cóchỗ đứng trong thị phần nội địa, hơn nữa là các thị trường xuất khẩu ở Mỹ và các nướcChâu Âu đầy tiềm năng Để có được những tín hiệu lạc quan trên là do công ty đã biếttận dụng cơ hội đang có, từ đó vạch ra cho mình một chiến lược đầu tư để xâm nhập
và phát triển vào các thị trường nước ngoài trong cả hiện tại và tương lai Tuy nhiên,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10việc tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu thị trường để có chiến lược đầu tư đúng đắn là mộtbài toán khó đặt ra đối với những nhà quản lý công ty.
Do vậy trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Dệt may Huế, em đã chọn
đề tài “NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NHẰM TĂNG CƯỜNG KHẢ
NĂNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HUẾ”.
Đây là một đề tài mới, có tính thực tiễn và ứng dụng cao cho công ty, góp phầncải thiện và nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong tương lai
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng hoạtđộng đầu tư của doanh nghiệp, từ đó đề ra định hướng và các biện pháp nhằm nângcao hiệu quả đầu tư để tăng cường khả năng xuất khẩu sản phẩm của công ty cổ phầndệt may Huế
Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động đầu
tư của doanh nghiệp
Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư của công ty giai đoạn 2012-2014
Đánh giá thực trạng xuất khẩu mà công ty đạt được giai đoạn 2012-2014
Đề xuất kiến nghị, giải pháp đầu tư nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu sảnphẩm của công ty giai đoạn 2015-2018
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp: nghiên cứu tổng quan tài liệu, thu thập sốliệu thứ cấp, thống kê, mô tả, so sánh, nghiên cứu từ tài liệu học tập và Internet
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đầu tư và xuất khẩu sản phẩm của công ty
Trang 11 Về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động đầu tư nhằm tăng cường khảnăng xuất khẩu sản phẩm tại Công ty Cổ phần Dệt may Huế Địa chỉ: Xã Thủy Dương,huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Về thời gian: Đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư, tình hình xuất khẩu của công tygiai đoạn 2012-2014, định hướng và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2015-2018
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 12PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm chung về hoạt động đầu tư
Đầu tư là một hoạt động tài chính quan trọng của doanh nghiệp, quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai Có thể hiểu đầu tư
là sự bỏ vốn có tính chất dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết
để thực hiện những mục tiêu kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp
Vốn đầu tư bỏ vào kinh doanh có thể là tiền, tư liệu sản xuất, mặt bằng, tàinguyên, nhà xưởng, sức lao động, công nghệ, bí quyết, bằng phát minh, nhãn hiệu, uytín hoặc các giấy tờ có giá trị khác…
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp được thể hiện tập trung qua việc thực hiệncác dự án đầu tư Dự án đầu tư hay còn gọi là luận chứng kinh tế kĩ thuật, là văn kiệnphản ánh trung thực kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề: thị trường, kinh tế,
kĩ thuật…có ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành khai thác và tính sinh lợi của cáccông cuộc đầu tư
Như vậy hoạt động đầu tư có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động dài hạn, vốn đầu tư được đưa vào quá trình sản xuấtkinh doanh trong một khoảng thời gian dài, thời gian thu hồi vốn dài
Thứ hai, để thực hiện được hoạt động đầu tư, đòi hỏi doanh nghiệp phải cólượng vốn lớn Lượng vốn này được dùng để tài trợ cho các tài sản cần thiết cho hoạtđộng của dự án
Thứ ba, là hoạt động thường gặp nhiều rủi ro do thời gian dài mà những yếu tốbất ổn trong tương lai khó dự đoán trước được
Thứ tư, hoạt động đầu tư thường tạo ra bước phát triển căn bản cho doanh nghiệp.Thứ năm, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bao giờ cũng nhằm đạt đượcnhững mục tiêu nhất định như: mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh, thâm nhập vàchiếm lĩnh thị trường mới, hạ giá thành sản phẩm, tối đa hóa lợi nhuận…Và tất cả
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13những mục tiêu trên đầu nhằm đạt tới mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp là tối
đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, góp phần không ngừng tăng trưởng và phát triển
Tóm lại: Đầu tư là chỉ việc huy động nguồn lực nhằm biến các lợi ích dự kiếnthành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai
1.1.2 Phân loại đầu tư
Có rất nhiều loại hình thức đầu tư khác nhau Để giúp doanh nghiệp có thể lựachọn chính xác dự án đầu tư mà mình đang cần cũng như giúp cho các cấp có thể quản
lí được các dự án đầu tư một cách khoa học, chính xác, người ta phân chia các dự ánđầu tư thành các loại khác nhau
1.1.2.1 Căn cứ vào cơ cấu vốn, đầu tư gồm ba bộ phận
Đầu tư tài sản cố định (TSCĐ)
Đây là loại đầu tư nhằm tạo ra hoặc nâng cao mức độ hiện đại TSCĐ của doanhnghiệp thông qua việc xây dựng mới nhà xưởng, các công trình hạ tầng và đầu tư chothiết bị máy móc, công nghệ, bằng phát minh, mua bản quyền, bí quyết công nghệ.Thông thường vốn đầu tư cho loại tài sản này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốnđầu tư của doanh nghiệp
Đầu tư tài sản lưu động (TSLĐ)
Đây là khoản đầu tư nhằm đảm bảo sự hoạt động liên tục, nhịp nhàng củaquá trình kinh doanh, đó là tiền mặt, tư liệu sản xuất, nguyên nhiên vật liệu…Khi
có sự tăng trưởng của doanh nghiệp ở một mức độ nào đó đòi hỏi phải có sự bổsung TSLĐ
Đầu tư tài sản tài chính(TSTC)
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể lựa chọnđầu tư vào các TSTC như cổ phiếu, trái phiếu Loại tài sản này có thể mang lại các lợiích tài chính trong tương lai
Việc phân loại đầu tư theo cơ cấu vốn giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạchđầu tư phản ánh kết cấu vốn đầu tư hợp lí
1.1.2.2 Căn cứ theo mục tiêu, đầu tư gồm năm bộ phận
Đầu tư hình thành doanh nghiệp: Là hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư để xâydựng một đơn vị kinh doanh mới có tư cách pháp nhân riêng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14 Đầu tư tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp: Là toàn bộ các khoản đầu tưđổi mới thiết bị công nghệ, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất nhằm tăng khả năng sảnxuất sản phẩm của doanh nghiệp.
Đầu tư đổi mới sản phẩm: Là đầu tư nhằm tạo ra những sản phẩm mới hoặccải tiến, hoàn thiện các loại sản phẩm cũ
Đầu tư thay đổi thiết bị: Là đầu tư nhằm thay thế các trang thiết bị cũ Đây làtrường hợp đầu tư phổ biến
Đầu tư có tính chất chiến lược: Là loại đầu tư nhằm tạo ra sự chuyển biếntrong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: mở rộng xuất khẩu sản phẩm, đầu tưnâng cao chất lượng sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ…
1.1.3 Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, quyết định đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiếnlược quan trọng đối với doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu kinh doanh lâudài Việc đạt hay không đạt được những mục tiêu trên sẽ ảnh hưởng đến tương lai củadoanh nghiệp Bởi vì quyết định này tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh trongmột thời gian dài và ảnh hưởng có tính chất quyết định đến quy mô và trình độ trang bị
kĩ thuật, công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu chi phí tương lai của doanh nghiệp
Thứ hai, quyết định đầu tư là một quyết định tài chính dài hạn, có tác động đếntình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động đầu
tư đòi hỏi một lượng vốn rất lớn Để đảm bảo sự ổn định về tài chính, lượng vốn nàyphải được sử dụng một cách có hiệu quả Hiệu quả vốn đầu tư phụ thuộc vào việc dựtoán đúng đắn vốn đầu tư Những sai lầm trong việc dự toán vốn đầu tư sẽ có ảnhhưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Việc đầu tư vốn quá mức hoặc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn đến lãngphí vốn, ảnh hưởng đến hoạt động khác trong doanh nghiệp Nhưng ngược lại, việc dựtoán vốn quá ít rất có thể dẫn đến tình trạng thiếu vốn, hạn chế khả năng sản xuất đápứng thị trường hoặc không kịp thời đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, kết quả làdoanh nghiệp mất thị trường hoặc thất bại trong cạnh tranh Một quyết định khôngđúng đắn buộc doanh nghiệp phải thay đổi sẽ dẫn tới những thiệt hại về mặt tài chính
do tài sản không bán được để chuyển hướng hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15là thua lỗ, không trả được nợ và phá sản Bên cạnh đó, với nguồn lực hạn hẹp củadoanh nghiệp, quyết định đầu tư này có thể làm cản trở việc thực hiện các hoạt độngđầu tư có hiệu quả khác Do vậy, buộc doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tưphải cân nhắc và lựa chọn một cách chính xác để lựa chọn được dự án có hiệu quả ,đáp ứng được mục tiêu đề ra.
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
Trên thực tế có rất nhiều yếu tố tác động đến quyết định đầu tư dài hạn hay ngắnhạn của doanh nghiệp, tuy nhiên trong bài viết này, chúng ta chỉ tập trung đến những yếu
tố mang tính chất điển hình và tác động sâu đến hoạt động của doanh nghiệp
1.1.4.1 Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của các doanhnghiệp trong các thành phần kinh tế thông qua chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế.Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinhdoanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô Chính sách kinh tế củaĐảng và Nhà nước trong mỗi thời kỳ định hướng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vựckinh doanh Với chính sách đòn bẩy, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tưvào những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho nền kinh tế quốc dân Vì vậy để đi đếnquyết định đầu tư, doanh nghiệp phải nghiên cứu chính sách kinh tế của Đảng và Nhànước để đảm bảo thực hiện đúng pháp luật kinh doanh đồng thời tận dụng những chínhsách ưu đãi của Đảng và Nhà nước
1.1.4.2 Thị trường và các đối thủ cạnh tranh
Trong sản xuất hàng hóa, thị trường tiêu thụ sản phẩm là một căn cứ hết sứcquan trọng để doanh nghiệp quyết định đầu tư Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp làphải đầu tư sản xuất ra những sản phẩm mà người tiêu dùng cần, tức là phải căn cứvào nhu cầu sản phẩm của thị trường hiện tại và tương lai để xem xét vấn đề đầu tư.Trong đầu tư, khi xem xét thị trường thì không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh Yếu tốnày đòi hỏi doanh nghiệp trong đầu tư phải căn cứ vào tình hình hiện tại của doanhnghiệp, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường và dự đoán tìnhhình trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư thích hợp, tạo ra lợi thế riêng củadoanh nghiệp trên thị trường
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 161.1.4.3 Lãi suất tiền vay và chính sách thuế
Thông thường để tiến hành hoạt động đầu tư, ngoài vốn tự có thì doanh nghiệpphải đi vay Và lãi suất tiền vay chính là chi phí của khoản vay đó Do đó khi xác định
kế hoạch đầu tư, doanh nghiệp phải xem xét lãi suất tiền vay để đảm bảo với chi phí vốnvay đó, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp vẫn mang lại hiệu quả
Đồng thời chính sách Thuế của Nhà nước cũng rất quan trọng Thuế là mộtcông cụ để Nhà nước điều tiết và hướng dẫn các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh.Thông qua chính sách Thuế, Nhà nước có thể hạn chế hay khuyến khích việc phát triểnmột ngành, một lĩnh vực nào đó Do đó Thuế trong kinh doanh là yếu tố kích thích hayhạn chế sự đầu tư của doanh nghiệp
1.1.4.4 Tiến bộ khoa học kĩ thuật
Tiến bộ khoa học kĩ thuật có thể là cơ hội mà cũng có thể là nguy cơ đe dọa đốivới sự đầu tư của một doanh nghiệp Trong đầu tư, doanh nghiệp phải tính đến thànhtựu của khoa học, công nghệ để xác định đầu tư về trang thiết bị, đầu tư về quy trìnhcông nghệ sản xuất hoặc đầu tư kịp thời để đổi mới, hiện đại hóa trang thiết bị, nângcao chất lượng đổi mới sản phẩm Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật đòi hỏi doanhnghiệp phải dám chấp nhận sự mạo hiểm trong đầu tư để phát triển sản phẩm mới.Ngược lại, doanh nghiệp nếu không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học côngnghệ để đổi mới trang thiết bị, đổi mới sản phẩm sẽ có nguy cơ dẫn doanh nghiệp tớitình trạng làm ăn thua lỗ do sản phẩm không còn phù hợp với nhu cầu thị trường
1.1.4.5 Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài chính để đầu tư ở giới hạn nhất định, baogồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn có khả năng huy động Doanh nghiệp không thểthực hiện những dự án có vốn đầu tư quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của mình.Đây là yếu tố quan trọng chi phối đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp
1.1.4.6 Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và thế giới
Trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị trong nước và thế giới ổn định thìcác dự đoán về chi phí và lợi ích thu được trong tương lai sẽ chính xác hơn, trên cơ sở
đó sẽ thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong các quyết định đầu tư của mình.Ngược lại, nếu một quyết định đầu tư đặt trong một tương lai có nhiều yếu tố bấp bênh
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17sẽ làm cho các nhà đầu tư thiếu tin tưởng, nghi ngại về sự phát triển của doanh nghiệp,
do đó sẽ hạn chế đầu tư
Trên đây là một số yếu tố chi phối đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Tuynhiên mỗi loại hình doanh nghiệp lại chịu tác động khác nhau của các yếu tố khácnhau Vì vậy trước khi đi đến quyết định đầu tư, doanh nghiệp phải dự tính và sắp xếpcác yếu tố đó theo mức độ tác động để nhằm tận dụng những yếu tố có lợi, hạn chếnhững yếu tố bất lợi đồng thời dự đoán chính xác hiệu quả tài chính dự án đầu tư, đảmbảo dự án đầu tư thực hiện đúng luật và hiệu quả
1.1.5 Các vấn đề cơ bản về xuất khẩu
1.1.5.1 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc giakhác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận Tiền tệ
ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia
Mục đích của hoạt động này là thu được một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sởkhai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế Khi việctrao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia
ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau
1.1.5.2 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với nền kinh tế Việt Nam
Xuất khẩu là một trong những nhân tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và pháttriển kinh tế đều khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc giacần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ Nhưnghầu hết các quốc gia đang phát triển như Việt Nam đều thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ
Do vậy, để có vốn và công nghệ nước ta phải thông qua xuất khẩu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18 Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước.
Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì bước đi thích hợp nhất làphải công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậuchậm phát triển Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một lượng vốn lớn đểnhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩunước ta có thể sử dụng nguồn vốn huy động chính như sau:
Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ
Thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ thu ngoại tệ trong nước
Thu từ hoạt động xuất khẩu
Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận được,song việc huy động chúng không phải dễ dàng Sử dụng nguồn vốn này, các nước đivay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ phải trả sau này Bởi
vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn quan trọng nhất Nó tạo tiền đềcho nhập khẩu và quyết định đến qui mô tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu
Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển
Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta từ một nước nông nghiệpchuyển sang công nghiệp và dịch vụ Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩuđối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản chưa
đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bóhẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hộiphát triển
Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu Quan điểm nàytác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất khẩu Nó thể hiện:
Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển Điều này cóthể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác nhưbông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19 Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sảnxuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
mở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư
và thanh toán thực hiện ở nước thứ 5
Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia chothấy sự tác động ngược trở lại của chuyên môn hoá tới xuất khẩu Với đặc điểm quantrọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phương tiện thanh toán, xuất khẩu góp phần làmtăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia Đặc biệt với các nước đang phát triển như Việt Namđồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu đóng vaitrò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó gópphần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế
Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiệnđời sống của người dân
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua việcsản xuất hàng xuất khẩu Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêudùng đáp ứng yêu cầu ngay càng đa dạng và phong phú của nhân dân
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệkinh tế đối ngoại Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tácđộng qua lại, phụ thuộc lẫn nhau
Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các mối quan hệkinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triển như du lịchquốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… ngược lại sự phát triển của các ngànhnày lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khẩuphát triển
Có thể nói xuất khẩu nói riêng và hoạt động thương mại quốc tế nói chung sẽ dẫn tớinhững sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của nền kinh tế bằng hai cách:
Cho phép khối lượng hàng tiêu dùng nhiều hơn với số hàng hoá được sảnxuất ra
Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 201.1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu
Yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị là những nhân tố khuyến khích hoặc hạnchế quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh Chẳng hạn, chính sách của chính phủ
có thể làm tăng sự liên kết các thị trường và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng hoạt độngxuất khẩu bằng việc dở bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, thiết lập các mốiquan hệ trong cơ sở hạ tầng của thị trường Khi không ổn định về chính trị sẽ cản trở
sự phát triển kinh tế của đất nước và tạo ra tâm lí không tốt cho các nhà kinh doanh
Yếu tố kinh tế: Yếu tố kinh tế như tỉ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng…tácđộng đến hoạt động xuất khẩu ở tầm vĩ mô và vi mô Ở tầm vĩ mô, chúng tác động đếnđặc điểm và sự phân bổ các cơ hội kinh doanh quốc tế cũng như quy mô của thịtrường Ở tầm vi mô, các yếu tố kinh tế lại ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức và hiệu quảcủa doanh nghiệp Các yếu tố giá cả và sự phân bổ tài nguyên ở các thị trường khácnhau cũng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, phân bố nguyên vật liệu, vốn, lao động do
đó ảnh hưởng tới giá cả và chất lượng hàng hóa xuất khẩu
Yếu tố luật pháp: Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh cáchoạt động kinh doanh quốc tế ràng buộc các hoạt động của doanh nghiệp Các yếu tốluật pháp ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu trên những mặt như quy định về giaodịch hợp đồng; quy định về lao động, tiền lương, thời gian lao động, nghỉ ngơi, đìnhcông, bãi công; quy định về cạnh tranh, độc quyền, các loại thuế; quy định về tiêuchuẩn chất lượng, giao hàng, thực hiện hợp đồng…
Yếu tố cạnh tranh: Khi hoạt động trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệpthường hiếm khi có cơ hội dành được vị trí độc tôn trên thị trường mà thường bị chínhnhững doanh nghiệp sản xuất và cung cấp các loại sản phẩm tương tự cạnh tranh gaygắt Các doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp của quốc gia nước sở tại, quốc giachủ nhà hoặc một nước thứ ba cùng tham gia xuất khẩu mặt hàng đó
Yếu tố văn hóa: Yếu tố văn hóa hình thành nên những loại hình khác nhaucủa nhu cầu thị trường, tác động đến thị hiếu của người tiêu dùng Doanh nghiệp chỉ
có thể thành công trên thị trường quốc tế khi có sự hiểu biết nhất định về phong tục tậpquán, lối sống…mà điều này lại khác biệt ở mỗi quốc gia Vì vậy hiểu biết được môitrường văn hóa sẽ giúp cho doanh nghiệp thích ứng với thị trường để từ đó có chiếnlược đúng đắn trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu của mình
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 211.1.5.4 Quy trình thực hiện xuất khẩu sản phẩm
Một quy trình xuất khẩu hoàn chỉnh sẽ giúp doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếpđược thời gian, nhân lực trong hoạt động xuất khẩu đồng thời góp phần không nhỏtrong thành công của hoạt động này Quy trình bao gồm các bước sau:
Bước 1 – Gửi Email
Sau khi có được đề nghị đặt mua hàng của khách hàng, doanh nghiệp xuất khẩu
và đối tác nước ngoài trao đổi những thông tin cơ bản đầu tiên thông qua email Đây làbước tạo tiền đề cho giao dịch trong tương lai và tạo dựng hình ảnh ban đầu với đối tác
Bước 2 - Gửi hàng mẫu
Sau khi nhận được những thông tin cần thiết, phía đối tác sẽ yêu cầu doanhnghiệp gửi hàng mẫu cụ thể Hàng mẫu phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của kháchhàng về: chất lượng, quy cách, kích thước, kỹ thuật, màu sắc Đối với những mặt hàng
có tính quy chuẩn thì không cần bước này như: gạo, tinh bột sắn, sắt, thép
Bước 3 - Đàm phán
Sau khi đối tác chấp nhận hàng mẫu và hài lòng về tiêu chuẩn kỹ thuật của sảnphẩm, hai bên sẽ đàm phán về các điều khoản trong Hợp đồng như: giá thành, thờigian sản xuất, địa điểm giao hàng, phương thức thanh toán, vận chuyển
Bước 6 - Mở thanh toán quốc tế
Đối tác sẽ mở thủ tục thanh toán quốc tế theo như thoả thuận đã ký trong hợpđồng bằng hình thức L/C, D/P, ngân hàng sẽ báo có sau khi đối tác mở thanh toánquốc tế từ 3-7 ngày, doanh nghiệp cần kiểm tra các chứng từ có giá xem nội dung có
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22đúng như trong thoả thuận, cần thông báo với đối tác để chỉnh sửa ngay nếu các điềukiện thoanh toán không đúng theo thoả thuận.
Doanh nghiệp cần xác nhận chứng từ có giá đối với những hợp đồng có giá trị lớnhoặc mở tại những ngân hàng chưa có uy tín Đối với những hợp đồng có điều khoảnthanh toán T/T, khách hàng sẽ giao tiền ngay khi ký hợp đồng hoặc chuyển khoản
Bước 7 - Sản xuất
Doanh nghiệp bắt đầu đi vào sản xuất khi xác nhận được thanh toán quốc tế,doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến chất lượng sản phẩm và thời gian giao hàng, ngoài
ra thường xuyên gửi ảnh và thông báo tiến độ sản xuất cho đối tác
Doanh nghiệp cần lập đội kiểm tra chất lượng sản phẩm và gửi quy trình kiểmhàng cho đối tác để tạo được niềm tin Sau khi công việc sản xuất hoàn tất, đối tác sẽchỉ định công ty kiểm hàng hoặc tự kiểm hàng Doanh nghiệp đóng gói theo yêu cầucủa khách hàng Tất cả phải được hoàn tất trước thời hạn hợp đồng và thời hạn thanhtoán quốc tế
Bước 8 - Vận tải nội địa
Hàng hoá được đóng vào container cung cấp đúng theo số lượng đã ký kết vớikhách hàng trong hợp đồng và được vận chuyển ra cảng
Trước khi hàng ra tới cảng xuất khẩu, hàng hoá phải có đầy đủ Bộ chứng từ như:chứng nhận xuất xứ hàng hoá, giấy chứng nhận về kiểm định hàng hoá (đối với các nướcASEAN), hun trùng (hàng mây tre lá, mùn cưa, gỗ ), kiểm dịch thực vật, hoá đơn Côngviệc này thường được các công ty vận tải trong nước làm giúp doanh nghiệp
Bước 9 - Vận tải Quốc tế
Nếu trong hợp đồng là doanh nghiệp bán C&F hoặc CIF, hàng hoá sẽ được kéođến cảng và đưa lên tàu trước ngày cuối cùng ghi trong chứng từ thanh toán quốc tế.Công tác vận tải đường biển sẽ được các công ty vận tải và các hãng tàu đảm nhiệm.Khi hàng cập cảng đến, các tàu sẽ tự động thông báo với khách hàng để làm thủ tụcnhập hàng
Bước 10: Gửi chứng từ thanh toán
Sau khi tàu chạy, doanh nghiệp đem toàn bộ hồ sơ chứng từ của lô hàng xuấtkhẩu đến ngân hàng mà doanh nghiệp đăng ký tài khoản để xin thanh toán quốc tế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23Công việc đó nếu doanh nghiệp không tự làm được thì doanh nghiệp có thể uỷ nhiệmcho các công ty vận tải trong nước làm giúp Toàn bộ các nội dung của bộ chứng từphải hoàn toàn chính xác so với chứng từ có giá của ngân hàng thì việc thanh toán sẽ
đỡ mất thời gian của doanh nghiệp
Bước 11: Nhận tiền
Từ 7-10 ngày sau khi ngân hàng duyệt bộ chứng từ của doanh nghiệp, tiền sẽđược chuyển về tài khoản của doanh nghiệp một cách đầy đủ (thường áp dụng với cáctrường hợp thanh toán L/C) Đối với trường hợp thanh toán T/T khách hàng sẽ chuyểntiền khi hàng lên tàu hoặc cập cảng đến, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện trong hợpđồng xuất khẩu
1.1.6 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá
Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Doanh thu / Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh bình quân một đơn vị vốn cố định sẽ tạo ra được baonhiêu đơn vị doanh thu trong quá trình hoạt động kinh doanh
Mức doanh lợi vốn cố định = Lợi nhuận / Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư vào hoạt động kinh doanh một đơn vị vốn cốđịnh thì thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động = Doanh thu / Vốn lưu động bình quânChỉ tiêu này phản ánh bình quân một đơn vị vốn lưu động sẽ tạo ra được baonhiêu đơn vị doanh thu trong quá trình hoạt động kinh doanh
Mức doanh lợi vốn lưu động = Lợi nhuận / Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị vốn lưu động đầu tư vào kinh doanh có thểmang lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các KPT = Doanh thu / Bình quân các KPT
Vòng quay các KPT phản ánh tốc độ biến đổi các KPT thành tiền mặt Hệ sốnày là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24Nhóm chỉ tiêu khác phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
- Doanh thu = giá bán × sản lượng
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sảnphẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp
- Chi phí là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặcnhững mục tiêu cụ thể
- Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đicác chi phí liên quan đến đầu tư đó
Nhóm chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp:
- Tỷ suất lợi nhuận / Doanh thu = Lợi nhuận / Doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu thu được sẽ có bao nhiêu đồnglợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận / Chi phí = Lợi nhuận / Chi phí
Chỉ tiêu này cho biết khi bỏ ra một đồng chi phí trong kỳ của doanh nghiệp sẽthu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận / Tổng tài sản = Lợi nhuận / Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị tài sản đầu tư vào hoạt động kinh doanh sẽđem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình hoạtđộng kinh doanh trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam
1.2.1.1 Là ngành thu hút nhiều lao động có trình độ thấp
Do tính chất đặc thù của mình, ngành công nghiệp dệt may đòi hỏi số lượng laođộng lớn, từ lao động thủ công giản đơn như thợ may ráp nối không cần phải đào tạocông phu đến lao động yêu cầu kĩ thuật cao như vẽ kiểu, giác sơ đồ, cắt…bằng máytính Trong đó lao động giản đơn chiếm khoảng 80%
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25Hiện nay lao động trong ngành dệt may chủ yếu tập trung ở các nước châu Á,chiếm tới 75% vì khu vực này có nguồn lao động dồi dào, giá gia công thấp, phù hợpvới việc phát triển ngành dệt may.
Mức lương trong ngành dệt may ở châu Á nói chung là thấp nhưng của ViệtNam là thấp hơn cả
Bảng 1.1 Tiền lương trong ngành dệt may của một số quốc gia
1.2.1.2 Là ngành công nghiệp được bảo hộ cao
Trước khi hiệp định về hàng dệt may của WTO có hiệu lực, việc buôn bán quốc
tế về sản phẩm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế thương mại đặc biệt màtheo đó phần lớn các nước nhập khẩu thiết lập các hạn chế số lượng để hạn chế hàngdệt may nhập khẩu Đồng thời mức thuế đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so vớicác hàng hóa công nghiệp khác Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra nhữngđiều kiện đối với hàng dệt may nhập khẩu Tất cả những rào cản đó ảnh hưởng rấtnhiều đến đầu tư sản xuất hàng dệt may trên thế giới
Với hiệp định về hàng dệt may, Việt Nam vừa có nhiều cơ hội xuất khẩu hàngdệt may nhưng đồng thời cũng phải chịu những quy định chặt chẽ, những yêu cầu caohơn khi xuất khẩu
Các nhà đầu tư của ngành dệt may muốn thành công trong việc xuất khẩu hàngdệt may ra thị trường nước ngoài cần có hiểu biết rõ về những chính sách bảo hộ, ưuđãi của từng quốc gia và của thế giới với ngành dệt may Như vậy việc đầu tư sẽ thuđược hiệu quả cao, tránh được những lãng phí sai lầm không đáng có
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 261.2.1.3 Sản phẩm của ngành dệt may mang tính thời trang
Sản phẩm dệt may là sản phẩm tiêu dùng, phục vụ cho nhu cầu của tất cả mọingười Người tiêu dùng khác nhau về mặt văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, khácnhau về khu vực địa lí, khí hậu, giới tính, tuổi tác…sẽ có nhu cầu khác nhau về trangphục Do đó đòi hỏi sản phẩm dệt may phải hết sức đa dạng và phong phú
Do đời sống ngày càng được nâng cao nên nhu cầu mặc đẹp ngày càng đượcquan tâm, dẫn đến sản phẩm may mặc ngày càng mang tính thời trang cao Để có thểđáp ứng được nhu cầu của thị trường thì các công ty dệt may phải thường xuyên thayđổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu dể đáp ứng được tâm lí thích đổi mới, độcđáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng
1.2.1.4 Là ngành đòi hỏi đầu tư ban đầu không lớn lắm
Đối với một số ngành công nghiệp nặng, suất đầu tư tạo việc làm cho một laođộng là trên dưới 2000 USD Trong cùng ngành sản xuất hàng tiêu dùng, đầu tư chosản xuất 1 tấn giấy cũng mất khoảng 1500-2000 USD Trong khi đó với ngành côngnghiệp dệt, để tạo việc làm cho một lao động cần chi phí khoảng 1000 USD, riêngngành may, con số này thấp hơn vào khoảng 600-700 USD Để tạo ra một 1 sản phẩmtrong ngành may chỉ cần đầu tư khoảng 0,6-0,65 triệu USD
Như vậy để đầu tư các doanh nghiệp may quy mô vừa và nhỏ, với năng lựcdưới 1 triệu sản phẩm/ năm thì chỉ cần một số vốn đầu tư khoảng trên dưới 500.000USD Việc huy động số vốn đầu tư như vậy là không quá khó với các doanh nghiệptrong nước Hơn nữa, vốn đầu tư trong ngành may có thể quay vòng nhanh do chu kìsản xuất ngắn Nếu doanh nghiệp chỉ đơn thuần may gia công thì vốn đầu tư ban đầucòn thấp hơn
Với đặc điểm về nguồn vốn như trên, ngành dệt may hoàn toàn có thể được ưutiên phát triển trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa
1.2.2 Thực trạng đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay
Trang 27doanh nghiệp chỉ đạt 50% công suất, do đó sản phẩm làm ra không đáp ứng được yêucầu cho may xuất khẩu và cũng chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu tiêu thụ trong nước.
Nhận thức được vấn đề đó, trong những năm gần đây ngành dệt Việt Nam đã cốgắng đầu tư để đổi mới thiết bị công nghệ của lĩnh vưc này bao gồm:
Đầu tư thiết bị công nghệ vào những khâu còn yếu như khâu dệt và một sốthiết bị hoàn tất nhằm nâng cao chất lượng vải
Bổ sung nâng cấp, thay mới các máy đã qua sử dụng, tổng cộng 220.960 cọcsợi, với vốn đầu tư 45.964.407 USD Những máy móc được bổ sung, thay mới thường
sử dụng công nghệ của thập kỉ 90
Đầu tư một số dây chuyền công nghệ kéo sợi đồng bộ và hiện đại
Tuy nhiên do đặc thù của ngành dệt là thiết bị đắt, dây chuyền công nghệ dài,phức tạp nên đến nay tuy đã cố gắng đổi mới đầu tư thiết bị song vẫn chưa tạo đượcnhiều dây chuyền sản xuất hiện đại đồng bộ, chưa cung cấp được vải chất lượng cao,mẫu mã phong phú, giá hạ, đáp ứng được yêu cầu may xuất khẩu
Đầu tư vào ngành dệt của Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào các doanhnghiệp nhà nước và một số công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay đã có 81 dự án đầu tư nước ngoài vào ngành dệt, với tổng số thực hiện
là 568 triệu USD, chiếm 34,18% tổng số dự án đầu tư vào ngành dệt của Việt Nam.Đầu tư của khu vực nước ngoài vào khu vực sợi dệt nhuộm chỉ chiếm 1/3 so với toàn
bộ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may, nguyên nhân là do đầu tư vào lĩnhvực sợi dệt nhuộm đã được tập trung vào những năm 1990-1994 tại các nước đã pháttriển sớm hơn Việt Nam trong khu vực châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan… Tại cácquốc gia này, ngành dệt vẫn đang phát triển mạnh, trong khi đó đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam chủ yếu là để tận dụng nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, đây là lợithế phù hợp với ngành may
Nhận thức được thực trạng đó nên trong những năm gần đây tổng công ty dệtmay đã cố gắng nỗ lực và đề ra những chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanhnghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực này Vì vậy trong thời gian qua đã có một sốcông ty mạnh dạn đầu tư những dây chuyền đồng bộ hiện đại như:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28 Dây chuyền dệt vải Denim của công ty dệt may Hà Nội.
Dây chuyền kéo sợi HOWA của công ty dệt Thành Công
Dây chuyền kéo sợi HOWA TOYOTA của công ty dệt Nam Định
Dây chuyền kéo sợi Nhật của công ty dệt Việt Thắng
Máy dệt Picanol Bỉ của công ty dệt Nam Định…
Bên cạnh việc đầu tư xây dựng những dây chuyền mới, các công ty cũng tích cực
bổ sung nâng cấp thay mới những máy đã qua sử dụng để đáp ứng yêu cầu về chất lượng
Như vậy đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ tại một số công ty đang thực hiện khátốt và từng bước theo hướng tạo ra cho mình những sản phẩm chuyên môn hóa cao, bướcđầu đã đáp ứng được sự phát triển của thị trường tiêu thụ trong nước và hướng ra xuấtkhẩu Tuy nhiên trong việc đầu tư vào ngành dệt vẫn còn quá nhiều bất cập:
Tỷ lệ thiết bị công nghệ được đầu tư còn thấp so với nhu cầu, chỉ đạt khoảng 32%
Công nghệ ngành dệt đầu tư trong giai đoạn qua là nhập khẩu, dó đó các công tydệt Việt Nam phải phụ thuộc vào nước ngoài trong việc thay thế thiết bị khi có hỏng hóc
Vốn đầu tư có hạn nên phần lớn máy móc được đầu tư mới đạt trình độ trungbình hoặc trên trung bình
1.2.2.2 Thực trạng thiết bị công nghệ đầu tư ngành may
Ngành may là ngành đi đầu trong việc đầu tư, đổi mới thiết bị, công nghệ sảnxuất Trang thiết bị đầu tư cho ngành may được đầu tư đổi mới tăng nhanh cả về sốlượng và chất lượng, nhất là về tính năng công dụng Bên cạnh các thiết bị may, để đápứng yêu cầu chất lượng ngày càng cao của người tiêu dùng, việc đầu tư vào một sốmáy chuyên dùng cũng tăng nhanh đáng kể như: máy vắt chỉ, máy thùa đính, máy cạp
4 kim, bàn là treo, bàn là hơi…
Nếu như trong giai đoạn trước, ngành may mới chỉ chú trọng đầu tư vào nhữngkhâu trọng yếu quyết định chất lượng sản phẩm mà chưa chú trọng khâu hoàn tất,đóng gói sản phẩm, làm giảm rất nhiều giá trị của sản phẩm, dẫn đến giảm giá sảnphẩm thì trong giai đoạn hiện nay ngành đã rút ra bài học kinh nghiệm, mọi khâu đềuđược ngành đầu tư thiết bị, công nghệ phù hợp Đồng thời các thiết bị may của công tymay bắt đầu được đầu tư theo hướng tự động Tuy nhiên loại thiết bị này chủ yếu mới
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29được đầu tư tại các công ty lớn, số đông các công ty thuộc tổng công ty dệt may.Chủng loại các thiết bị được đầu tư đạt trình độ tự động cũng rất ít.
Dịch chuyển đầu tư theo hướng tăng cường các sản phẩm cao cấp, hiệu quả cao
là xu thế của các công ty may hiện nay Hầu hết các công ty may đều đang tích cựcchuẩn bị đầu tư cho sản phẩm chiến lược để tham gia vào thị trường Mỹ, thị trườngASEAN, đồng thời củng cố vị trí của mình tại các thị trường quen thuộc như EU,Đông Âu…
Bên cạnh khu vực đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài vào ngành may cũngchiếm tỉ trọng lớn với 144 dự án, tổng vốn thực hiện là 178.356.892 USD Trong đóhình thức 100% vốn nước ngoài chiếm tỉ lệ cao nhất tới 81,95%, hình thức liên doanhkhông được các nhà đầu tư quan tâm mặc dù họ tận dụng được lợi thế mặt bằng nhàxưởng, nhân công sẵn có, nhưng họ thiếu đi sự chủ động trong kinh doanh
Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của ngành dệtmay nhưng chưa góp phần củng cố vị trí hàng may xuất khẩu của Việt Nam trên thịtrường thế giới, vì những sản phẩm xuất khẩu này vẫn mang nhãn mác của các hãngnước ngoài
Công nghiệp may đang tích cực tiến hành đầu tư tạo nên thế mạnh cho mình đểcủng cố vị trí trên thị trường Thiết bị công nghệ đồng bộ tiên tiến giúp quyết định mộtphần lớn trong thành công của ngành
Tóm lại: Qua phân tích thực trạng đầu tư ngành dệt may Việt Nam trong thờigian qua ta có thể rút ra một số kết luận sau:
Cơ cấu đầu tư giữa ngành dệt và ngành may chưa hợp lí Ngành may do vốnđầu tư không lớn nên thường đầu tư vào các thiết bị công nghệ đạt trình độ tiên tiến.Trong khi đa phần các trang thiết bị của ngành dệt chỉ đạt mức trung bình Kết quả làsản phẩm ngành dệt không đáp ứng được yêu cầu chất lượng cho ngành may, dẫn đếnngành may chủ yếu may gia công cho nước ngoài Vì vậy trong tương lai nhu cầu đầu
tư vào ngành dệt vẫn rất lớn
Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may tuy chiếm tỉ trọng lớn nhưng hầu hết làhình thức 100% vốn nước ngoài, đồng thời lại mang nhãn mác của các công ty mẹ ởnước ngoài, nên đầu tư nước ngoài thực sự chưa góp phần nâng cao vị thế của ngành
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30dệt may ở thị trường quốc tế mà mới chỉ tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm vàtrở thành thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định cho Việt Nam.
Việc phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ nước ngoài là một bất lợi của ngànhdệt may Việt Nam trong quá trình hội nhâp
Như vậy đầu tư thiết bị công nghệ là rất cần thiết, quan trọng để phát triểnngành dệt may Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt Tuy nhiên khi đầu tư phải xem xét saocho việc đầu tư phải phù hợp quy hoạch phát triển ngành, tận dụng được lợi thế củaViệt Nam đồng thời bắt kịp trình độ, công nghệ của thế giới Khi đó đầu tư sẽ có hiệuquả cao, ngành dệt may Việt nam sẽ có được những bước phát triển
1.2.3 Cơ hội và thách thức đối với đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam
1.2.3.1 Cơ hội
Với lợi thế sử dụng nhiều lao động thủ công, khả năng đóng góp lớn vào xuấtkhẩu với giá trị gia tăng cao, ngành dệt may ở nước ta ngày càng giữ vai trò quantrọng Trong những năm gần đây ngành dệt may Việt Nam đã có tốc độ phát triển đáng
kể, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu đã tăng nhanh vươn lên giữ vị trí thứ hai trongtổng kim ngạch xuất khẩu của Việt nam sau dầu thô Trong 5 năm qua hàng may mặcxuất khẩu tăng bình quân hàng năm 20-25%, chiếm khoảng 13-14% tổng giá trị xuấtkhẩu của cả nước, tạo việc làm cho gần 1,6 triệu lao động Đây là một lợi thế để ngànhdệt may có cơ hội phát triển
Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt nam đã cung cấp được nhữngsản phẩm có chất lượng cao, đa dạng, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và đã cómặt ở thị trường hơn 30 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có các bạn hàng như: Nhậtbản, Australia, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, EU đã và đang tiêu thụ ngày càngnhiều hàng may mặc Việt Nam Điều này chứng tỏ hàng dệt may Việt Nam có uy tíntrên thị trường thế giới và có thể cạnh tranh ở các thị trường khác nhau Nhu cầu củathị trường đối với sản phẩm dệt may vẫn còn rất lớn Đặc biệt ngành may phát triểnnhanh đang là thị trường vải và phụ liệu rất lớn cho ngành dệt Việt nam
Việc hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kì có hiệu lực đã mở
ra một cơ hội lớn về thị trường cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam Ngoài ra,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31hiệp định ATC (WTO) và hiệp định EFTA (ASEAN) các nước thuộc WTO vàASEAN sẽ thực hiện bãi bỏ hạn ngạch và giảm thuế đối với hàng dệt may nhập khẩu.
Chính phủ cũng đã đề ra một số cơ chế, chính sách để hỗ trợ đầu tư phát triểnngành dệt may Việt Nam:
Dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho việc phát triển hạ tầng nguyên liệu,giải pháp môi trường, hạ tầng kĩ thuật cho khu công nghiệp và công tác đào tạo,nghiên cứu ứng dụng
Bố trí cân đối ngân sách đảm bảo vốn tín dụng nhà nước (50% lãi suất bằng
½ lãi suất ưu đãi hiện hành, 50% còn lại theo lãi lãi suất ưu đãi bình thường)
Đảm bảo ưu đãi về thuế theo luật khuyến khích đầu tư trong nước
Ủng hộ đề xuất đối với vải, phụ tùng may sản xuất trong nước nếu bán cho đơn vịgia công hàng xuất khẩu được hưởng thuế suất VAT như đối với hàng xuất khẩu
Dành mức hỗ trợ tối đa cho xúc tiến thương mại theo quy định tại thông tư 61 BTC
Đối với doanh nghiệp nhà nước: tạo quyền tự chủ tài chính tối đa, gắn vớitrách nhiệm bảo toàn vốn (chuyển sang hình thức đầu tư vốn cho doanh nghiệp), tạo
cơ chế để doanh nghiệp tự tạo vốn tự đầu tư phát triển gắn kết quả kinh doanh với nhucầu đầu tư phát triển và lợi ích vật chất (để lại thu sử dụng vốn cho doanh nghiệp) đảmbảo đủ vốn cho doanh nghiệp Nhà nước theo quy định hiện hành
Như vậy cơ hội đầu tư của ngành dệt may ở giai đoạn hiện nay là hết sức to lớn Tuynhiên bên cạnh đó hoạt động đầu tư của ngành cũng phải đối mặt với một số thách thức
1.2.3.2 Thách thức
Tuy chính phủ đã có những chính sách để hỗ trợ vốn cho ngành dệt may nhưngtrong điều kiện nguồn vốn tín dụng Nhà nước còn phải đầu tư vào nhiều lĩnh vực, vìvậy việc tranh thủ được nguồn vốn này cũng không nhiều
Hoạt động tăng tốc đầu tư của chúng ta tiến hành trong điều kiện trình độ củacác nước trong khu vực đã vượt ta một khoảng cách rất xa, nếu chúng ta không cóđược chiến lược đầu tư một cách đúng đắn thì hoạt động đầu tư không những khôngđem lại hiệu quả mà còn gây lãng phí vốn
Hầu hết máy móc thiết bị, công nghệ sử dụng cho chiến lược đầu tư đều phảimua của nước ngoài, do đó chi phí cao hơn Đồng thời trong điều kiện trình độ cán bộ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32kĩ thuật của Việt Nam còn chưa cao nên rất dễ bị mua phải thiết bị công nghệ đã qua
sử dụng, được tân trang lại, hoặc những thiết bị công nghệ khi hỏng hóc thay thế phảiphụ thuộc hoàn toàn vào nhà sản xuất
Năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam nhìn chung bằng 2/3 so vớimức bình quân của các nước ASEAN, lao động có kĩ năng cao chiếm tỉ lệ ít, trình độlao động không đồng đều, phương pháp quản lí chưa khoa học, lao động có trình độ kĩthuật ít
Chi phí sử dụng vốn vay cao: lãi suất ngân hàng còn cao, thủ tục khó khăn, khótiếp cận với các khoản vay trung và dài hạn
Từ những cơ hội và thách thức đó, với sự quan tâm của Đảng và chính phủ, hivọng trong tương lại ngành dệt may Việt Nam có thể phát triển để cạnh tranh ngangbằng với các nước trong khu vực và trên thế giới
1.2.4 Kết quả xuất khẩu của dệt may Việt Nam trong những năm qua
Giai đoạn 2009-2014 là một giai đoạn hết sức quan trọng trong sự nghiệp pháttriển của ngành dệt may Việt nam Giai đoạn này đánh dấu một bước tiến đáng kể củangành dệt may, vươn lên đứng vị trí dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2009-2014
Trị giá kim ngạch xuất khẩu khác
Tỉ trọng (%)
2012 và chỉ nhường vị trí đứng đầu này cho mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện
từ năm 2013
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33Số liệu thống kê hải quan nhiều năm qua cho thấy, chu kì xuất khẩu của hàngdệt may thường bắt đầu tăng trưởng vào quý 2 và đạt mức cao nhất vào quý 3 Cũngtheo đó, Hoa kì luôn là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam.Xuất khẩu nhóm hàng này sang Hoa Kì luôn chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may của cả nước và khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nướcsang thị trường này Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kì là 5.9 tỉ USD.
EU và Nhật Bản cũng là hai thị trường lớn nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam với
tỉ trọng lần lượt là 18% và 11% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cảnước Tuy nhiên trong 3 thị trường dẫn đầu này, Hoa Kì vẫn là thị trường mà xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam có tốc độ tăng trường cao nhất là 19%
Năm 2011, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, ảnh hưởng khủng hoảng kinh tếtoàn cầu, lạm phát tăng cao, sức mua và tiêu dùng giảm mạnh, thêm vào đó giá cảnguyên, phụ liệu ngành dệt may liên tục tăng…nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫngiành được kết quả khả quan Tổng kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may năm 2011 đạt13,5 tỉ USD, tăng 38% so với năm 2010 Đây là mức tăng trưởng ngoại mục mà ngànhdệt may đạt được kể từ khi trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) Đáng chú ý, ngành dệt may đã xuất siêu 6,5 tỉ USD, đóng góp cùng cả nướcgiảm nhập siêu Bên cạnh kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường chủ lực như Hoa
Kỳ, EU và Nhật Bản tăng trưởng ổn định, một số thị trường nhập khẩu dệt may mớinhư Hàn Quốc, Đài Loan, Canada cũng góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường HànQuốc tăng gấp 2 lần so với năm 2010, một số thị trường Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lancũng tăng mạnh, đưa tỉ trọng từ chỗ chỉ chiếm chưa đến 10% tổng kim ngạch xuấtkhẩu lên gần 20%
Đến năm 2012, hàng dệt may Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều thách thức
do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới chưa hồi phục, nợ công ở một số nướcchâu Âu vẫn đang tiếp diễn Bên cạnh đó xu hướng giảm giá đơn hàng do giá nguyênvật liệu giảm, khiến cho tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sangcác thị trường chính là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản có thể giảm khoảng 10-15% so vớinăm 2011
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34Cùng với đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nước sản xuất hàngdệt may trên thế giới Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam cònphải đối mặt với một số yếu tố tiềm ẩn như: Lạm phát cao hơn mức lạm phát bìnhquân của thế giới; nguồn vốn khả dụng vẫn tiếp tục khó khăn, các doanh nghiệp thiếuvốn để sản xuất và vốn để đầu tư mở rộng sản xuất
Với thị trường xuất khẩu chính vẫn là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, chiếm 80% tỷtrọng kim ngạch xuất khẩu; ngành dệt may Việt Nam tập trung chú trọng giảm dần sựphụ thuộc vào các đơn hàng gia công, nâng cao tỷ lệ FOB, ODM; củng cố gia tăng thịphần tại các thị trường Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản Tăng cường khai thác các thị trườngmới như: Nga, Canada, Hàn Quốc… Đặc biệt, thâm nhập mạnh vào thị trường TrungQuốc, trước mắt là thị trường phía Nam Trung Quốc Trung Quốc là thị trường đôngdân nhất thế giới và có rất nhiều phân khúc thị trường sản phẩm Do vậy, lựa chọnphân khúc hợp lý (từ trung bình đến khá) cũng là tiềm năng để phát triển thương hiệudệt may Việt Nam tại thị trường này
Năm 2013, xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 20,4 tỉ USD, tăng thêm 18% sovới năm 2012 Đây là năm đầu tiên xuất khẩu Việt Nam vượt ngưỡng 20 tỉ USD, trong
đó các thị trường chính đều tăng mạnh: xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ gần 8,6 tỉUSD, tăng 14,2%, thị trường châu Âu tăng 8,8% và Nhật Bản tăng 20,5% Riêng thịtrường Hàn Quốc tăng 43,5% Và đây cũng là năm đầu tiên ngành dệt may Việt Namchủ động trong việc cung cấp nguyên phụ liệu gần 50%
Với tăng trưởng xuất khẩu dệt may liên tục trong những năm gần đây thì thịphần xuất khẩu dệt may Việt Nam cũng đã tăng lên Hiện nay, dệt may Việt Namchiếm khoảng 4% thị phần cung ứng hàng dệt may cho toàn cầu Tại thị trường Hoa
Kỳ, nơi Trung Quốc vốn giữ thị phần xuất khẩu số 1 tại đây với hơn 50% thị phầntrước đây, nay đã giảm mạnh chỉ còn 37% Dệt may Việt Nam hiện đã tăng thị phầntại Hoa Kỳ, hiện giữ vị trí thứ 2 với khoảng 9%
Ông Lê Tiến Trường, Phó Chủ tịch Vitas, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dệtmay Việt Nam (Vinatex) khẳng định: Một trong những giải pháp cơ bản tạo nên kếtquả của ngành dệt may năm 2013 là đã xác định đúng tính chất tín hiệu của thị trường.Theo lý giải của vị lãnh đạo này, dự báo tốt thị trường đóng vai trò quan trọng trong
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35việc tổ chức sản xuất và chuẩn bị “đón lõng” thị trường Bởi 2 năm trước (2011-2012),thị trường dệt may toàn thế giới tương đối trầm lắng nhưng bước sang năm 2013 được
dự báo thị trường dệt may toàn cầu tăng trưởng khoảng 3,5% “Bắt sóng” những tínhiệu về hợp tác quốc tế, tín hiệu về dịch chuyển dòng chảy của chuỗi cung ứng toàncầu về phía Việt Nam, ngành dệt may đã chuẩn bị tổ chức sản xuất phù hợp để tậndụng cơ hội Xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam không chỉ tăng về tổng thể màcòn tăng mạnh tại các thị trường trọng điểm Cụ thể, đối với thị trường Hoa Kỳ, năm
2013 xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng gần 13% trong khi nhậpkhẩu của Hoa Kỳ chỉ tăng gần 3%, Nhật Bản nhập khẩu gần như không tăng thì chúng
ta xuất khẩu tăng khoảng 13% và Hàn Quốc duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩugần 30%
Có thể nói, dệt may là một trong những điểm sáng trong bức tranh xuất khẩucủa Việt Nam năm 2014 Sự tăng trưởng mạnh mẽ về giá trị xuất khẩu đã đẩy mạnhcán cân thương mại của ngành về hướng xuất siêu Với giá trị xuất khẩu bình quân đạt1,955 tỷ USD/tháng, ngành dệt may đã vượt kế hoạch xuất khẩu gần 0,8 tỷ USD, tăngtrưởng 15-16% so với mục tiêu 12% đã đề ra Riêng Tập đoàn Dệt may Việt Namcũng đã tính toán xuất khẩu đạt 3,4 tỷ USD giá trị hàng hóa
Bên cạnh các thị trường truyền thống như: EU, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, NhậtBản…, một số thị trường mới nổi cũng đóng góp rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu củangành Đầu tiên là thị trường Trung Quốc, năm 2014 Việt Nam xuất khẩu sang thịtrường này khoảng 2,2 tỷ USD Tiếp đến là thị trường Canada với kim ngạch ước đạt
800 triệu USD Năm 2015, Canada có thể góp mặt vào nhóm thị trường nhập khẩuvượt 1 tỷ USD của ngành Thị trường Nga cũng được đánh giá là thị trường mới nổirất quan trọng với ngành dệt may Việt Nam Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu sang thịtrường này ước đạt 300 triệu USD
Cũng theo ông Lê Tiến Trường, so với năm 2013, giá đơn hàng dệt may xuấtkhẩu của năm 2014 thấp hơn bởi giá tất cả nguyên liệu chính đều giảm, trong khi kimngạch lại tăng chứng tỏ sản lượng của ngành tăng ở mức khá
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRƯỚC YÊU CẦU TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG XUẤT KHẤU SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HUẾ
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần dệt may Huế
Tên công ty bằng Tiếng Việt : Công ty cổ phần dệt may Huế Huegatex
Tên công ty bằng Tiếng Anh : Hue Textile Garment Joint-Stock CompanyTên công ty viết tắt : Huegatex
Địa chỉ : Xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm 1979 hiệp định được ký kết giữa hai nước Việt Nam – Hungary quyết định
sẽ xây dựng một nhà máy sợi tại Việt Nam Đến ngày 16/01/1988, Bộ Công Nghiệp raquyết định thành lập Nhà máy Sợi Huế và ngày 26/03/1988, nhà máy được khánhthành và chính thức đi vào hoạt động
Sau 6 năm hoạt động, đến tháng 02/1994 Nhà máy Sợi Huế trở thành Công tyDệt May Huế (tên giao dịch: Hue garment company, viết tắt là Hutexco) thuộc Tổngcông ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) theo quyết định 140/CNN của Bộ Công Nghiệp,
do Nhà máy Sợi tiếp nhận thêm Nhà máy Dệt Huế
Cuối năm 1996, Công ty đầu tư xây dựng thêm Nhà máy Dệt kim và ngày26/03/1997 chính thức đi vào sản xuất Đến cuối năm 1998, để công tác quản lý, tổ chứcsản xuất trong công ty được tốt hơn, Nhà máy Dệt kim được tách ra làm 2 nhà máy là Nhàmáy Dệt nhuộm và Nhà máy May Lúc này Công ty Dệt May Huế có 4 nhà máy thànhviên là Nhà máy Sợi, Nhà máy Dệt nhuộm, Nhà máy May và xí nghiệp cơ điện phụ trợ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37Năm 2001, theo chiến dịch tăng tốc của Tập đoàn dệt may Việt Nam, công ty
đã đầu tư thêm 8.000 cọc sợi cho nhà máy Sợi và đầu tư xây dựng mới Nhà máy Sợi50.000 cọc sợi tại khu công nghiệp Phú Bài với thiết bị hiện đại nhập khẩu từ Đức,Thụy Sĩ Nhà máy Sợi Phú Bài được khánh thành và chính thức đi vào hoạt động từtháng 10/2002
Mặt hàng may mặc của Công ty sau một thời gian đã nhận được sự tín nhiệmcủa khách hàng tiêu dùng trong nước và Quốc tế Đến tháng 5/2003, công ty đầu tưxây dựng thêm Nhà máy May II theo ký kết hợp tác sản xuất kinh doanh mặt hàng áoJacket với Công ty Quinmax Đài Loan Lúc này, Công ty Dệt May Huế có 5 thànhviên với doanh thu hàng năm đạt trên 300 tỷ đồng, bao gồm: Nhà máy sợi, Nhà máyDệt nhuộm, Nhà máy May I, Nhà máy May II và Xí nghiệp cơ điện phụ trợ Đến29/3/2005 Công ty đã ký hợp đồng cho Công ty Quinmax thuê Nhà máy May II
Căn cứ quyết định số 169/2004/QĐ-BCN ngày 09/12/2004 và quyết định số2722/2005/QĐ-BCN ngày 25/08/2005 của Bộ Công nghiệp về việc phê duyệt phương
án cổ phần hóa chuyển Công ty Dệt may Huế thành Công ty Cổ phần Dệt may Huế,Công ty Dệt may Huế chính thức trở thành Công ty Cổ phần Dệt May Huế từ17/11/2005, theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần lần đầu số
3103000140 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế cấp
Đối với Công ty Cổ phần Dệt May Huế, chất lượng sản phẩm luôn là vấn đề sốngcòn của doanh nghiệp, là uy tín, danh dự, trách nhiệm và niềm tự hào của mỗi cán bộcông nhân viên Năm 2001 Công ty đã được tổ chức AFAQ cấp chứng chỉ ISO 9001-
2000 và hiện nay Công ty đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo phiên bản mớiISO 9001-2008 Công ty còn được chứng nhận về trách nhiệm tuân thủ các tiêu chuẩn xãhội đối với người lao động (SA-8000), chứng nhận bảo đảm tuân thủ sản xuất hàng maymặc toàn cầu WRAP, chứng nhận an ninh C-TPAT và các chứng nhận đánh giá kiểmxưởng của nhiều khách hàng lớn trong ngành may mặc trên Thế giới
Sản phẩm của Công ty đa dạng, phong phú, được khách hàng ưa chuộng vàđánh giá cao với các mặt hàng chủ lực như áo Polo-shirt, T-shirt, sản phẩm dệt kimcác loại, áo Jacket… nhiều năm liền nhận được bình chọn là hàng Việt Nam chấtlượng cao
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38Qua đầu tư phát triển, đến thời điểm cuối năm 2010 năng lực sản xuất mặt hàngsợi của Công ty đạt 10.158 tấn sợi/năm, chất lượng sợi cũng bảo đảm tiêu chuẩn quốc
tế, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới nhưThổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc, cùng các nước thuộc khối ASEAN Việc mở rộngquy mô sản xuất, đầu tư mới công nghệ theo hướng hiện đại cũng mang lại hiệu quảcao cho lĩnh vực may mặc Đến nay, Công ty đã có 2 nhà máy thành viên chuyên sảnxuất hàng may mặc với sản lượng quy chuẩn đạt hơn 4,9 triệu sản phẩm/năm Sảnphẩm may mặc của công ty hiện nay đang được xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ,Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Tây Ban Nha, Anh, Đài Loan, Singapore…và tiêu thụ ởthị trường trong nước Với sự phát triển mạnh mẽ như vậy, doanh thu (chưa có VAT)của Công ty năm 2010 đạt trên 787 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 26 triệuUSD, góp phần giải quyết việc làm cho hơn 3,200 lao động
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức hành chính và nhân sự
2.1.2.1 Chức năng
Sản xuất, kinh doanh các mặt hàng và sản phẩm dệt may
Nhuộm và hoàn tất vải sợi
Kinh doanh thiết bị, nguyên liệu thuộc ngành dệt may và các mặt hàng tiêudùng, thủ công mỹ nghệ, nông lâm hải sản
Kinh doanh thiết bị tạo mẫu thời trang, phương tiện vận tải và các thiết bịđiện, điện tử
Hoạt động chính của công ty là chuyên sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu cácsản phẩm sợi, vải dệt kim, hàng may mặc; nguyên phụ liệu, thiết bị ngành dệt may
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Cung cấp cho khách hàng và người tiêu dùng những sản phẩm vải sợi, hàngdệt may đáng tin cậy, hợp thời trang cùng với những sản phẩm dịch vụ phong phú vàchất lượng
Tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động
Cải tiến máy móc cũng như các thao tác trong sản xuất nhằm đạt được năngsuất cao nhất và đưa ra những sản phẩm có chất lượng phù hợp với thị trường và ngườitiêu dùng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39 Mở rộng mối quan hệ ngoại thương, ngoại giao hữu nghị với các nước bạntrên thế giới.
Tổ chức các lớp bồi dưỡng cho bộ phận quản lý, cũng như công nhân sảnxuất, nhằm nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân
Khai thác tìm ra những thị trường xuất khẩu mới, đẩy mạnh hoạt động xuấtkhẩu sang thị trường các nước Âu - Mỹ
Góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia
Bên cạnh những nhiệm vụ nhằm phát triển, công ty còn đưa ra những nhiệm vụmang tính chất nghĩa vụ và chấp hành các quy định của Nhà nước như sau:
Thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động theo qui định của Bộ luật Laođộng, bảo đảm cho người lao động tham gia quản lý công ty
Thực hiện các qui định của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên và môi trườngquốc phòng và an ninh quốc gia
Thực hiện chế độ hạch toán phụ thuộc, báo cáo thống kê, báo cáo định kỳ theoqui định của công ty và Nhà nước, chịu trách nhiệm về tính chính xác của báo cáo
Thực hiện đúng chế độ và các qui định quản lý tài chính, các quỹ, hạch toán,kiểm toán và các chế độ khác theo qui định của công ty và của Nhà nước, chịu tráchnhiệm về tính xác thực của các hoạt động tài chính của công ty
Thực hiện, tuân thủ các nghĩa vụ về thuế và các khoản nộp ngân sách theoqui định của pháp luật
Trên đây, chúng ta có thể thấy các nhiệm vụ của công ty được đưa ra cụ thể, rõràng và đều hướng tới mục tiêu chất lượng cho sản phẩm của công ty, đồng thời nhấnmạnh việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Nhà nước
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức hành chính và nhân sự
Bất kỳ tổ chức nào cũng có một bộ máy hành chính nhân sự riêng Các bộ máy
tổ chức hành chính nhân sự ở các tổ chức không hoàn toàn giống nhau, nó phụ thuộcvào quy mô tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức, điều kiện cơ sở vật chất …nhưng suy chocùng thì cũng vì một mục đích là nhằm đạt được mục tiêu đề ra Vì thế tổ chức cần có
kế hoạch phân bổ nguồn lực hợp lý để hoàn thành mục tiêu đề ra Do đó sự phân bổ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 40nguồn lực phù hợp chính là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công haythất bại của một công ty.
Công ty Cổ phần Dệt May Huế được tổ chức và hoạt động theo Luật doanhnghiệp, các luật khác có liên quan và Điều lệ tổ chức hoạt động được Đại hội cổ đôngnhất trí thông qua tháng 10 năm 2005
Mô hình cơ cấu tổ chức mà Công ty áp dụng là mô hình hỗn hợp trực tuyến chức năng Với mô hình này công ty đã phát huy được những lợi thế mà nó mang lại
-Cơ cấu tổ chức của công ty hiện tại gồm: các phòng ban, các đơn vị thành viên
Các phòng ban bao gồm: Phòng Nhân sự, Phòng Tài chính kế toán, Phòng Kếhoạch Xuất nhập khẩu, Phòng Kỹ thuật Đầu Tư, Phòng Kinh doanh, Phòng Quản lýchất lượng, Ban bảo vệ, Trạm Y tế và Ban đời sống
Các đơn vị thành viên bao gồm: Nhà máy Sợi, Nhà máy Dệt Nhuộm, Nhà máyMay và Xí nghiệp Cơ điện
Từ hình 2.1 sau đây và tình hình thực tế về tổ chức, ta thấy Công ty đã có sựphân chia rõ ràng các bộ phận với các chức năng nhiệm vụ cụ thể
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ