Tuy nhiên, ở mỗi DN có những đặc điểm, thực trạng phân cấp quản lý khác nhau, do vậy mỗi học viên có phương pháp nghiên cứu, đánh giá, phân tích khác nhau và thậm chí có thể có những các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ THANH DUNG
TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM
Chuyên ngành : KẾ TOÁN
Mã số : 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGÔ HÀ TẤN
Đà Nẵng - Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Dung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 8
1.1 KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 8
1.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm 8
1.1.2 Mục đích của kế toán trách nhiệm 8
1.1.3 Kế toán trách nhiệm – một nội dung cơ bản của kế toán quản trị 9
1.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 10
1.2.1 Phân cấp quản lý 10
1.2.2 Các trung tâm trách nhiệm 12
1.3 TỔ CHỨC BÁO CÁO KẾ TOÁN Ở CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 16
1.3.1 Báo cáo dự toán 16
1.3.2 Tổ chức báo cáo thực hiện 23
1.4 ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 27
1.4.1 Đánh giá thành quả của trung tâm chi phí 27
1.4.2 Đánh giá thành quả trung tâm doanh thu 28
1.4.3 Đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận 29
1.4.4 Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư 29
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN PHỤC VỤ QUẢN TRỊ NỘI BỘ - BIỂU HIỆN CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM 34
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2 Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty 35
2.1.3 Hệ thống tổ chức quản lý ở Công ty 35
2.1.4 Phân cấp quản lý ở công ty 37
2.1.5 Tổ chức công tác kế toán tại công ty 41
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN PHỤC VỤ QUẢN TRỊ NỘI BỘ - BIỂU HIỆN CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM Ở CÔNG TY
CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM 43
2.2.1 Công tác lập dự toán tại Công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam 43
2.2.2 Công tác lập báo cáo kế toán phục vụ quản trị nội bộ ở Công ty 57 2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC KẾ TOÁN PHỤC VỤ QUẢN TRỊ NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM 66
2.3.1 Ưu điểm 66
2.3.2 Nhược điểm 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VẬN DỤNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM 71
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC VÂN DỤNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM 71
3.2 GIẢI PHÁP TỔ CHỨC VẬN DỤNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM 72
Trang 53.2.1 Tổ chức các trung tâm trách nhiệm tại công ty 72
3.2.2 Hoàn thiện công tác xây dựng dự toán phục vụ đánh giá trách nhiệm các trung tâm 75
3.2.3 Hoàn thiện báo cáo thực hiện của các trung tâm trách nhiệm ở Công ty 87
3.2.4 Hoàn thiện công cụ phân tích đánh giá trách nhiệm ở các trung tâm của Công ty 96
3.2.5 Các giải pháp về mặt tổ chức và hỗ trợ khác 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 107
KẾT LUẬN CHUNG 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Định
52
Trang 82.12 Dự toán chi phí QLDN năm 2012 – toàn Công ty 56
Trang 93.2 Bảng phân tích chi phí dựa trên dự toán tĩnh; quý I –
hoạt; quý I – năm 2012 – CN Bình Định (SP: HP 024)
81
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, kế toán quản trị đã ra đời từ rất sớm và trở thành một môn khoa học được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động quản lý ở các DN Ở Việt Nam, kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng là một lĩnh vực vẫn còn khá mới mẻ Xu hướng phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng đặt ra cho kế toán trách nhiệm những vai trò và vị trí quan trọng trong quản lý ở các DN Các DN muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của DN Trong đó, việc nghiên cứu và tổ chức vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong hoạt động quản lý của các DN là một yêu cầu cấp thiết khách quan, nhất là các DN quy mô lớn, cơ cấu tổ chức và hoạt động gắn với trách nhiệm của nhiều đơn vị, cá nhân
Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam là một DN sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy hải sản với nhiều loại sản phẩm, qui mô lớn và cơ cấu gồm nhiều đơn vị trực thuộc bố trí ở các địa bàn khác nhau Tuy nhiên, hiện nay kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm ở công ty chưa được quan tâm, thể hiện như cơ cấu tổ chức quản lý của công ty còn nhiều mặt chưa hợp lý Công
ty có thực hiện phân cấp quản lý nhưng chưa hình thành các trung tâm trách nhiệm cụ thể, riêng biệt Hệ thống báo cáo còn sơ sài, không mang tính thường xuyên Nhân viên kế toán ở công ty chủ yếu thực hiện kế toán theo truyền thống là kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết Chỉ khi nào có yêu cầu mới thu thập xử lý, phân tích số liệu phục vụ cho mục đích quản trị, do vậy thông tin cung cấp cho công tác quản trị thường không kịp thời Điều này làm cho việc đánh giá thành quả của từng đơn vị đối với mục tiêu chung của Công ty là thiếu tính chính xác Chính những hạn chế này dẫn đến khả năng tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở các đơn vị cấp dưới rất thấp, còn ỷ lại Chính vì vậy, việc tổ chức
Trang 12kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam thành công sẽ giúp Công ty có được một hệ thống cung cấp các thông tin tin cậy, giúp cho việc đánh giá và kiểm soát chặt chẽ các đơn vị, bộ phận trong Công ty
Tác giả nhận thấy việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty
cổ phần GreenFeed Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của công ty Do vậy, tác giả mạnh dạn chọn và thực hiện đề
tài “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần GreenFeed Việt
Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm, hướng đến vận dụng trong điều kiện các DN Việt Nam
- Đánh giá thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam thông qua việc mô tả các đặc điểm, quy trình và nội dung mà hệ thống kế toán đang được vận hành tại Công ty, từ đó, nêu lên những ưu điểm
và vạch ra nhược điểm của hệ thống kế toán cần được giải quyết
- Sau cùng, tổ chức vận dụng kế toán trách nhiệm tại Công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
nhiệm và việc vận dụng kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần GreenFeed
Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác kế toán liên quan đến đánh giá trách nhiệm ở tất cả các đơn vị, bộ phận tham gia vào hoạt động SXKD của Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu để rút ra những nhận xét về đối tượng nghiên cứu Phương pháp thu thập
Trang 13dữ liệu cơ bản là phương pháp thu thập thông tin bằng các nguồn tài liệu sẵn
có, chủ yếu là nguồn thông tin từ công ty và các giáo trình về kế toán quản trị, các tạp chí chuyên ngành, các công trình khoa học đã công bố có nội dung liên quan,…Trên cơ sở nguồn tài liệu, thông tin đã thu thập được, tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích, so sánh và thống kê để rút ra những mặt tồn tại trong tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm của Công ty, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm trong DN Chương 2: Thực trạng kế toán phục vụ quản trị nội bộ - biểu hiện của kế toán trách nhiệm ở Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam
Chương 3: Tổ chức vận dụng kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Những năm gần đây, các nhà quản lý DN ngày càng quan tâm nhiều hơn đến kế toán quản trị để nâng cao chất lượng quản lý, tăng cường khả năng thích ứng và cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu hóa, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn Hay cụ thể hơn là: ra những quyết định đúng đắn, kịp thời cả về mặt chiến lược và chiến thuật trong hoạt động SXKD của DN
Trên thế giới, kế toán quản trị đã tồn tại rất lâu trong hệ thống kế toán DN; tuy nhiên, nó chỉ mới được phát triển một cách có hệ thống về lý luận và thực tiễn ở những thập niên gần đây, đặc biệt là ở các DN có quy mô lớn, có trình độ nhất định về khoa học kỹ thuật cũng như trình độ quản lý và điều kiện xử lý thông tin
Ở Việt Nam, kế toán quản trị cũng đã xuất hiện, phát triển gắn liền với chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các DN; tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ
Trang 14mới được đề cập một cách có hệ thống vào đầu những năm 1990 và trở thành yêu cầu cấp bách trong việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 khi yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường Việt Nam và mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới Về mặt luật pháp, thuật ngữ “kế toán quản trị” chỉ được ghi nhận chính thức trong luật kế toán Việt Nam ban hành ngày 17/05/2003 và được hướng dẫn áp dụng trong DN qua Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của
vị trí của kế toán quản trị trong các DN ngày càng được nâng cao Do nhận thấy tầm quan trọng của việc tổ chức hệ thống kế toán phục vụ đánh giá trách nhiệm, các nhà kinh tế đã đưa ra lý thuyết về mô hình kế toán trách nhiệm
Áp dụng thành công mô hình kế toán trách nhiệm, DN sẽ có được một hệ thống cung cấp các thông tin tin cậy và sự kiểm soát chặt chẽ
Kế toán trách nhiệm là một công cụ để đánh giá và kiểm soát hữu hiệu thông qua việc xác định các trung tâm trách nhiệm Đây là phương pháp kế toán thu thập, ghi nhận, đo lường, báo cáo kết quả của từng bộ phận để đánh
Trang 15giá thành quả của từng bộ phận nhằm kiểm soát hoạt động của các bộ phận trong quá trình thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Vì vậy, việc nghiên cứu và tổ chức vận dụng kế toán trách nhiệm là một yêu cầu cấp thiết đối với sự sống còn của một DN, đặc biệt là các DN có quy
mô lớn, phạm vi hoạt động rộng
Để tổ chức và vận dụng thành công mô hình kế toán trách nhiệm trong DN; nhiều học viên cao học đã đầu tư nghiên cứu về đề tài kế toán trách nhiệm Tuy nhiên, ở mỗi DN có những đặc điểm, thực trạng phân cấp quản lý khác nhau, do vậy mỗi học viên có phương pháp nghiên cứu, đánh giá, phân tích khác nhau và thậm chí có thể có những cách nhìn nhận vấn đề khác biệt, dẫn đến kết quả của công trình nghiên cứu đạt được ở mức độ khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu đề tài kế toán trách nhiệm là phải có mô hình phân cấp quản lý tài chính hợp lý, tổ chức các trung tâm trách nhiệm và tổ chức đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm trong tổ chức
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài:“Tổ chức kế toán trách nhiệm
tại Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam”, tác giả đã tham khảo một số Luận
văn cao học nghiên cứu về đề tài kế toán trách nhiệm trong DN như sau:
+ Luận văn của thạc sĩ Đặng Anh Tuấn (2009), đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại tổng công ty xây dựng Thăng Long” luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, làm
cơ sở để đánh giá thực trạng công tác kế toán trách nhiệm cũng như nghiên cứu đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại công ty Trong đó,
đề tài đã đề xuất những giải pháp chính như xây dựng các trung tâm trách nhiệm; hoàn thiện các công cụ cung cấp thông tin cho công tác dự toán và giao khoán; hoàn thiện các báo cáo đánh giá thành quả quản lý; vận dụng công cụ kế toán trách nhiệm đánh giá công tác giao thầu và giao khoán
Trang 16+ Luận văn của thạc sĩ Lê Thị Thu Hiền (2009), đề tài “Tổ chức công tác
kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Đà Nẵng” đề tài
đã khái quát những nét cơ bản về kế toán trách nhiệm từ những khái niệm, bản chất và nội dung cơ bản của kế toán trách nhiệm trong DN, cho đến mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với sự phân cấp quản lý tài chính Trên cơ
sở đó, đề tài đã tiến hành xây dựng các trung tâm trách nhiệm; xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho từng trung tâm trách nhiệm hợp lý với sự phân cấp quản lý; tổ chức và xây dựng các báo cáo thành quả và đưa ra một
số chỉ tiêu đánh giá thành quả của các bộ phận Mục đích là hướng các bộ phận vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, bên cạnh đó nó sẽ giúp cho nhà quản trị có cơ sở để đưa ra chính sách khen thưởng kịp thời, động viên, khích lệ các bộ phận
+ Luận văn của thạc sĩ Phạm Thị Cân (2011), đề tài “Tổ chức công tác
kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần thiết kế viễn thông tin học Đà Nẵng” luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, làm cơ sở để đánh giá thực trạng công tác kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần thiết kế viễn thông tin học Đà Nẵng Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty như giải pháp: hoàn thiện tổ chức phân cấp quản lý và xây dựng các trung tâm trách nhiệm theo mô hình mới của công ty; xác định bộ máy kế toán cho mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Thiết kế Viễn thông Tin học Đà Nẵng; Hoàn thiện công tác đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm; Hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm
Dựa trên cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm, tham khảo những công
trình nghiên cứu có liên quan, luận văn “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại
Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam” đã khái quát những vấn đề lý luận cơ
bản về kế toán trách nhiệm, từ bản chất, mối quan hệ giữa phân cấp quản lý
Trang 17và kế toán trách nhiệm, đến việc tổ chức các trung tâm trách nhiệm và đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm Trên cơ sở đó, đề tài đã đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và công tác kế toán phục vụ quản trị nội
bộ tại Công ty nói riêng, đồng thời đưa ra các giải pháp tổ chức công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty, như tổ chức các trung tâm trách nhiệm, hoàn thiện công tác xây dựng dự toán, tổ chức hệ thống báo cáo và các chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm
Nhìn chung, qua quá trình nghiên cứu công tác kế toán tại Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam, tác giả nhận thấy, việc tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Tổ chức thành công
hệ thống kế toán trách nhiệm sẽ giúp Công ty có được một hệ thống cung cấp các thông tin tin cậy, giúp cho việc đánh giá và kiểm soát chặt chẽ các đơn vị,
bộ phận trong Công ty, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty
Trang 18CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm
Hầu hết các tổ chức thường được cấu tạo gồm các đơn vị, bộ phận trực thuộc Làm thế nào để đánh giá hiệu quả công việc của các cá nhân, đơn vị,
bộ phận trong tổ chức? Để hỗ trợ cho quản lý, đo lường và kiểm soát kết quả
bộ phận kế toán quản trị, vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm (Resonsibility Accounting) để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, dựa trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng bộ phận dựa trên trách nhiệm được giao cho bộ phận Vậy kế toán trách nhiệm là gì?
Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong một DN Đó là công cụ
đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu, chi phí mà bộ phận đó có quyền kiểm soát và có trách nhiệm tương ứng
Như vậy, hệ thống kế toán trách nhiệm được xây dựng dựa trên cơ cấu tổ chức các bộ phận trong DN có liên quan đến việc sử dụng chi phí, thực hiện doanh thu và lợi nhuận, đầu tư Kế toán trách nhiệm nhằm mục đích thông tin
về hiệu quả hoạt động của các bộ phận đó
1.1.2 Mục đích của kế toán trách nhiệm
Mục đích của kế toán trách nhiệm là đo lường, qua đó đánh giá trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn DN Để đạt được các mục tiêu chung của toàn DN, mỗi bộ phận trong tổ chức phải nổ lực thực hiện các mục tiêu riêng lẻ do ban
Trang 19quản lý cấp cao vạch ra cho từng bộ phận Việc đánh giá này dựa trên hai tiêu chí đó là hiệu quả và hiệu năng
Hiệu quả là việc so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra cho trung tâm trách nhiệm đó Nói cách khác, đó chính là mức độ mà trung tâm trách nhiệm hoàn thành mục tiêu của mình
Hiệu năng là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm hay có thể nói đó chính là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được so với nguồn tài nguyên thực tế mà trung tâm trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả
Như vậy việc xác định được hiệu quả và hiệu năng của các trung tâm trách nhiệm và trên cơ sở đó xác định được các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt động của từng trung tâm sẽ tạo điều kiện cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của giám đốc các trung tâm, đồng thời khích lệ họ điều hành hoạt động trung tâm của mình phù hợp với mục tiêu cơ bản của toàn đơn vị
1.1.2.Kế toán trách nhiệm – một nội dung cơ bản của kế toán quản trị
Kế toán trách nhiệm là một nội dung quan trọng trong kế toán quản trị,
hệ thống kế toán trách nhiệm sẽ thiết lập mạng lưới thông tin trong công ty từ
đó tập hợp thông tin về các hoạt động bộ phận từ cấp thấp đến cấp cao Các dữ liệu tài chính của hoạt động ngày càng được nhận dạng, phân loại lại và tổ chức báo cáo theo phạm vi trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, về cơ bản cũng
có đầy đủ nội dung của kế toán quản trị, thể hiện trách nhiệm của nhà quản lý
ở các bộ phận đối với mục tiêu cuối cùng của DN Trách nhiệm đó thể hiện qua sơ đồ 1.1
Trang 20
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa chức năng quản trị và quá trình kế toán
1.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM
Kế toán trách nhiệm là công việc không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm Các trung tâm này được hình thành trên cơ sở phân cấp quản lý trong DN
1.2.1 Phân cấp quản lý
Tổ chức phân cấp quản lý là việc người quản lý giao quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của DN Và cấp dưới đó chỉ ra quyết định trong phạm vi quyền hạn được giao Tuỳ theo từng DN nhà quản trị DN cần phải xác định đúng đắn mức độ phức tạp của tổ chức để từ đó thực hiện phân quyền cho phù hợp Nếu quyền lực được phân tán quá rộng xuống cấp dưới thì nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong kiểm tra giám sát hoạt động của các bộ phận để đảm bảo tính thống nhất Ngược lại, nếu nhà quản trị tập trung quyền lực, trực tiếp quản lý điều hành từ những công việc mang tính tác nghiệp đến những công việc mang tính chiến lược thì sẽ dẫn đến tình trạng công việc quá tải và nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc hoạch định các chiến lược Do vậy, nhà quản trị phải xây dựng một hệ thống các mục tiêu sao cho mỗi bộ phận đều đảm bảo thực hiện được, phải có sự tương quan giữa
Hình thành các chỉ tiêu kinh tế Lập bảng dự toán
Thu thập kết quả thực hiện Lập các báo cáo thực hiện
Trang 21quyền hạn và trách nhiệm Ngoài ra, các DN còn có thể kết hợp giữa mô hình tập trung quyền lực và mô hình phân quyền Trong đó, một số quyết định chỉ những nhà quản trị cấp cao thực hiện, một số khác được uỷ quyền quyết định xuống cấp thấp hơn Sự pha trộn này khắc phục được nhược điểm của hai quan điểm quản trị
Việc phân quyền chứa đựng nhiều nội dung thuộc nhiều lĩnh vực Trong một tổ chức kinh doanh, lĩnh vực cơ bản quan trọng có liên quan trực tiếp đến nội dung tổ chức kế toán trách nhiệm là sự phân quyền về quản lý tài chính từ cấp trên xuống cấp dưới hay nói cách khác là sự phân cấp quản lý tài chính Như vậy, phân cấp quản lý tài chính là sự phân tán quyền cho cấp dưới, dẫn đến sự phân định rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm trong quản lý tài chính cho cấp dưới dựa trên cơ sở cấu trúc phân quyền mà nhà quản trị đã lựa chọn Khi tiến hành phân cấp quản lý, nếu DN chia ra quá nhiều cấp có thể sẽ dẫn đến bộ máy tổ chức cồng kềnh, hoặc nếu tập trung quá nhiều quyền quyết định vào một nơi thì sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động Vì thế, nhà quản lý cần phải cân nhắc giữa ưu điểm và nhược điểm khi thực hiện việc phân cấp đó Qua phân cấp quản lý giúp cho nhà quản lý ở các cấp có sự độc lập tương đối trong điều hành công việc của mình, phát triển kỹ năng, nâng cao kiến thức chuyên môn, tăng khả năng ứng xử các tình huống để điều hành tốt hoạt động của đơn vị, bộ phận
Nhà quản trị ở các cấp đều có quyền ra quyết định ở các mức độ khác nhau và chịu trách nhiệm về công việc của mình nên thúc đẩy họ phát huy khả năng quản lý Điều này không những thúc đẩy kết quả của cả tổ chức mà còn đem lại cơ hội thăng tiến cho các nhà quản trị bộ phận
Chính sự phân cấp quản lý mà các bộ phận có thể tiếp cận được các thông tin và phản hồi thông tin cho nhà quản lý cấp trên được đầy đủ và kịp thời
Trang 22Việc xác định kết quả và hiệu quả công việc cho mỗi người và mỗi bộ phận sẽ khuyến khích được sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệnm được nâng cao Đồng thời tạo ra được môi trường thi đua lành mạnh trong toàn tổ chức Phân cấp quản lý sẽ phục vụ cho việc ra quyết định có tính chính xác cao hơn Phân cấp quản lý gắn liền với việc xác định quyền hạn và trách nhiệm ở từng cấp một cách rõ ràng nên có cơ sở khi đánh giá kết quả hoạt động của từng đơn vị, bộ phận, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục các sai phạm Bên cạnh những ưu điểm, phân cấp quản lý cũng tồn tại những khó khăn như:
+ Việc phân cấp quản lý càng nhiều thì càng khó có thể kiểm soát được Thậm chí nếu kiểm soát không tốt, phân cấp quản lý có thể dẫn đến tuân thủ sai lệch các mục tiêu chung của toàn DN Do các giám đốc trung tâm trách nhiệm chỉ tập trung vào lợi ích của đơn vị, không xem xét quyết định đó
có ảnh hưởng đến DN như thế nào, làm lệch mục tiêu chung của DN
+ Việc phân cấp quản lý dẫn đến sự tách bạch về quyền lợi và trách nhiệm giữa các bộ phận có thể dẫn đến sự cạnh tranh thành tích giữa các bộ phận, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của toàn DN
1.2.2 Các trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức, nơi mà nhà quản trị bộ phận chịu trách nhiệm về việc hoàn thành trách nhiệm của bộ phận mình Tuỳ thuộc vào tính phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phân cấp quản lý mà DN thiết lập các trung tâm trách nhiệm cho phù hợp
Các trung tâm trách nhiệm tạo thành một hệ thống cấp bậc: Ở cấp thấp là các trung tâm trách nhiệm cho từng phân xưởng sản xuất, từng đội thi công,…Nhà quản lý ở mỗi cấp này là trưởng bộ phận, trưởng xưởng, quản đốc hay đội trưởng Ở cấp cao hơn là các bộ phận hoặc các thành phần gồm nhiều đơn vị nhỏ như các trung tâm trách nhiệm theo khu vực, theo chức năng kinh
Trang 23doanh…và cấp cao nhất là cả công ty Nhà quản trị cấp cao nhất chính là giám đốc công ty
Hệ thống kế toán trách nhiệm trong mối quan hệ với cơ cấu tổ chức quản lý thể hiện thông qua sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa hệ thống kế toán trách nhiệm với
cơ cấu tổ chức quản lý
Căn cứ vào sự khác biệt giữa đầu vào và đầu ra đã được lượng hoá của các trung tâm trách nhiệm cũng như mức độ trách nhiệm của người quản trị trung tâm mà ta có thể xây dựng các trung tâm trách nhiệm thành 4 loại như
Hệ thống Kế toán
trách nhiệm
Cơ cấu tổ chức quản lý
Chỉ tiêu đánh giá
Trung tâm
RI ROI
Trung tâm
doanh thu
Chi nhánh, bộ phận bán hàng
Chênh lệch DT, Tỷ
lệ DT thực tế so với DT dự toán
Trung tâm
chi phí
Các đơn vị, bộ phận sản xuất
Chênh lệch chi phí, Tỷ lệ chi phí thực tế so dự toán
Trang 24sau: Trung tâm đầu tư; Trung tâm lợi nhuận; Trung tâm doanh thu; Trung tâm chi phí
a Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ có quyền ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận đó
Trung tâm chi phí thường trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh mà không có quyền hạn đối với các doanh thu, lợi nhuận và đầu tư vốn Tuỳ theo tính chất của chi phí và kết quả làm ra mà người ta chia trung tâm chi phí thành trung tâm chi phí định mức và trung tâm chi phí tuỳ ý
Trung tâm chi phí định mức (Standard Cost Center): là trung tâm có chi phí đầu vào được xác định tương ứng với đầu ra là các sản phẩm, dịch vụ Thông thường chi phí định mức được xác định để tính mức hiệu quả công
việc, ngoài ra còn đánh giá kết quả thực hiện với dự toán
Trung tâm chi phí tuỳ ý (Discrectionary Expense Center): là trung tâm có chi phí không xác định được mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra hay là không thể tính được đầu ra rõ ràng được Chẳng hạn như trung tâm chi phí là các phòng ban quản lý, bộ phận nghiên cứu và phát triển, hoạt động tiếp thị và khuyến mãi, kho bãi DN thường kiểm soát các bộ phận này bằng cách giám sát nguồn lực cung cấp như: Con người, thiết bị, chi phí công cụ dụng cụ Tóm lại, mục tiêu của trung tâm chi phí là quản lý tiết kiệm chi phí, thông qua việc đánh giá tình hình chi phí thực tế của bộ phận so với kế hoạch giúp cho nhà quản trị xác định và kiểm tra chi phí nhằm giúp việc sử dụng chi phí đạt hiệu quả cao
b Trung tâm doanh thu
Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó
Trang 25Đối với các DN thuộc loại hình sản xuất sản phẩm và kinh doanh hàng hoá thì trung tâm doanh thu là các bộ phận, đơn vị thực hiện chức năng bán sản phẩm, hàng hoá của DN
c Trung tâm lợi nhuận
Trung tâm lợi nhuận là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận đạt được trong bộ phận đó
Trung tâm lợi nhuận có thể quyết định về hoạt động SXKD như: sản xuất sản phẩm, dịch vụ nào, tổ chức thực hiện ra sao, chất lượng như thế nào
Do lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí nên các nhà quản trị của trung tâm lợi nhuận có trách nhiệm cả về doanh thu và chi phí phát sinh ở bộ phân
đó Vì vậy, nhà quản trị được quyền quyết định về những vấn đề như: định giá, chi phí quảng cáo, sản lượng sản xuất, nguồn cung cấp, cơ cấu hàng bán…
d Trung tâm đầu tư:
Trung tâm đầu tư là trung tâm có quyền cao nhất, trung tâm này không chỉ có quyền và trách nhiệm đối với trung tâm lợi nhuận, doanh thu, chi phí
mà còn có quyền và trách nhiệm đối với vốn hoạt động và tài sản kinh doanh Trung tâm này thường thuộc về các chủ đầu tư hay đại diện của một nhóm người bỏ vốn vào DN Các trung tâm đầu tư phải nắm rõ mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được và tài sản được đầu tư Một đồng tài sản bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nhà quản lý của trung tâm đầu tư có trách nhiệm lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp
Qua trình bày trên ta thấy, các trung tâm trách nhiệm có đặc điểm
-Quyền quyết định được phân định rõ ràng cho mỗi trung tâm trách nhiệm -Việc đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm dựa trên các thông tin nội bộ do hệ thống kế toán quản trị cung cấp
Trang 261.3 TỔ CHỨC BÁO CÁO KẾ TOÁN Ở CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM
1.3.1 Báo cáo dự toán
Dự toán là tổng thể các dự tính được thể hiện qua một cơ cấu nhất định thông qua việc cụ thể hóa bằng con số của các kế hoạch, dự án Lập dự toán SXKD là việc lập dự kiến chi tiết những chỉ tiêu trong hệ thống SXKD của
DN trong từng kỳ Các DN muốn kinh doanh lâu dài, hoạt động ổn định và vững chắc cần phải có chiến lược kinh doanh tổng thể và dự toán cho từng kỳ sao cho các chỉ tiêu SXKD trong dự toán phải có sự liên kết phù hợp với nhau Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào khâu lập dự toán SXKD
Dự toán phải được lập dựa trên nguồn thông tin từ nhiều phía, sử dụng một cách đồng bộ như: thông tin kinh tế trong nước và thế giới, quan hệ cung cầu hàng hóa, quan hệ tài chính với các bên liên quan, sự đồng bộ trong điều hành các hoạt động của DN, chất lượng thông tin kế toán của niên độ kế toán
đã qua, cùng với khả năng phân tích, dự toán của người quản lý
Lập dự toán trong DN có ý nghĩa hết sức quan trọng:
- Thông qua dự toán, nhà quản trị dự tính được trong tương lai cần phải làm
gì và kết quả đạt được của những hoạt động đó, từ đó có những phương án cụ thể, hợp lý để điều hành quá trình hoạt động kinh doanh của DN Thông qua dự toán có thể cung cấp thông tin cho nhà quản trị DN đề ra các biện pháp quản lý chi phí hiệu quả, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh
- Trên cơ sở lập dự toán SXKD, tạo điều kiện cho nhà quản trị quản lý được chặt chẽ quá trình SXKD, lường được trước những khó khăn và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý các chỉ tiêu, đồng thời có sự điều chỉnh hợp lý các phương án đã lựa chọn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
- Dự toán làm cơ sở cho việc phân tích tình hình SXKD, xác định rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán, từ đó
Trang 27đảm bảo cho nhà quản trị biết được thực chất về quá trình sản xuất của DN để
từ đó có các điều chỉnh cho phù hợp
- Dự toán SXKD kết hợp toàn bộ hoạt động của DN dựa trên căn cứ từ hoạt động của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của DN
Có thể khái quát báo cáo dự toán theo các trung tâm trách nhiệm như sau
a Báo cáo dự toán của trung tâm chi phí
Dự toán sản xuất
Sau khi dự toán tiêu thụ đã được lập xong, các yêu cầu sản xuất cho kỳ dự toán có thể được xác định để phục vụ cho việc lập dự toán sản xuất Số lượng sản phẩm sản xuất ra phải đủ để thõa mãn nhu cầu của tiêu thụ và cho yêu cầu tồn kho cuối kỳ
BẢNG 1.1: DỰ TOÁN SẢN XUẤT SẢN PHẨM A- NĂM NBảng 1.1: Dự toán sản xuất
Sản phẩm A- Năm N
Quý Chỉ tiêu
Cả năm
1 Số lượng tiêu thụ dự kiến
2 Số lượng tồn kho cuối kỳ
Số lượng tồn kho cuối kỳ
Số lượng tồn kho đầu kỳ
- +
Số lượng tiêu thụ trong kỳ
Số lượng tồn kho cuối kỳ
+
Trang 28Dự toán sản xuất sau khi đã được lập xong, dự toán chi phí NVL trực tiếp sẽ được lập để tính ra lượng NVL và chi phí NVL trực tiếp cần thiết cho quá trình sản xuất Ngoài ra dự toán này còn chỉ ra lượng NVL cần mua để thỏa mãn cho nhu cầu sản xuất và tồn kho cuối kỳ Khối lượng và giá trị NVL cần mua được tính theo công thức sau:
BẢNG 1.2: DỰ TOÁN CHI PHÍ NVL TRỰC TIẾP NVL A - NĂM NBảng 1.2: Dự toán chi phí NVL trực tiếp
NVL A - năm N
Quý Chỉ tiêu
1 Số lượng sản phẩm cần sản xuất
2 Định mức lượng NVL (kg/sp)
3 Nhu cầu NVL cho sản xuất (kg)
4 Nhu cầu tồn kho NVL cuối kỳ (kg)
Khối lượng NVL tồn kho cuối kỳ
Khối lượng NVL tồn kho đầu kỳ
- +
=
Khối lượng NVL
cần cho sản xuất
Số lượng sản phẩm sản xuất
Mức tiêu hao NVL cho một sản phẩm
Đơn giá mua NVL
x
=
Trang 29Dự toán chi phí nhân công trực tiếp cũng được lập dựa trên dự toán sản xuất Nhà quản trị phải biết trước nhu cầu lao động trong cả năm để có dự toán điều chỉnh lực lượng lao động thích nghi với tình hình hoạt động kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến sản xuất
Nhu cầu về lao động trực tiếp được tính toán dựa trên tổng số lượng sản phẩm cần sản xuất ra trong kỳ và định mức thời gian lao động trực tiếp cần thiết cho một đơn vị sản phẩm
BẢNG 1.3: DỰ TOÁN CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP
NĂM NBảng 1.3: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Năm N
Quý Chỉ tiêu
1 Số lượng sản phẩm cần sản xuất
2 Định mức thời gian lao động (giờ/sp)
3 Tổng nhu cầu về thời gian lao dộng
4 Định mức giá một giờ lao động trực tiếp
5 Tổng chi phí nhân công trực tiếp
1 Tổng thời gian lao động trực tiếp
2 Đơn giá phân bổ biến phí SXC
3 Biến phí sản xuất chung
Trang 304 Định phí sản xuất chung
5 Tổng chi phí sản xuất chung dự toán
Dự toán chi phí bán hàng và chi phí QLDN
Dự toán chi phí bán hàng và chi phí QLDN giúp nhà quản trị ước tính các khoản mục chi phí ngoài sản xuất phát sinh trong kỳ dự toán Dự toán có thể được lập từ nhiều dự toán nhỏ hơn hoặc các dự toán của từng cá nhân do những người có trách nhiệm trong khâu bán hàng và quản lý lập ra
BẢNG 1.5: DỰ TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG VÀ QUẢN LÝ DN NĂM NBảng 1.5: Dự toán chi phí bán hàng và quản lý DN
Năm N
Quý Chỉ tiêu
Cả năm
1 Số lượng tiêu thụ dự kiến
2 Đơn giá phân bổ biến phí bán hàng và QLDN
b Báo cáo dự toán của trung tâm doanh thu
Dự toán tiêu thụ sản phẩm được lập trên cơ sở dự toán sản phẩm tiêu thụ Nhiều yếu tố thường được xem xét khi dự báo sản phẩm tiêu thụ
- Số lượng sản phẩm tiêu thụ của các kỳ trước và xu hướng biến động của nó
Trang 31- Các đơn đặt hàng chưa thực hiện
- Chính sách giá trong tương lai, chiến lược tiếp thị để mở rộng thị trường, hoạt động nghiên cứu và phát triển
- Sự cạnh tranh: dự đoán hành động của đối thủ cạnh tranh, dự đoán nhu cầu của thị trường về những sản phẩm thay thế
- Xu hướng chung của nền kinh tế, sự thay đổi về tổng sản phẩm xã hội, công việc là ăn, giá cả và thu nhập trên đầu người
- Tình hình kinh tế của ngành mà DN đang hoạt động
- Những yếu tố khác: những sự kiện chính trị, sự thay đổi về môi trường pháp lý, sự thay đổi về khoa học công nghệ
Người lập dự toán sẽ dự đoán số lượng sản phẩm tiêu thụ trong mối liên
hệ của tất cả các yếu tố trên DN sau khi dự toán về số lượng sản phẩm tiêu thụ, sẽ ước tính ra doanh thu theo công thức:
BẢNG 1.6: DỰ TOÁN TIÊU THỤ SẢN PHẨM SẢN PHẨM A - NĂM NBảng 1.6: Dự toán tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm A - Năm N
Quý Chỉ tiêu
1 Số lượng sản phẩm tiêu thụ
2 Đơn giá bán
3 Tổng doanh thu
c Báo cáo dự toán của trung tâm lợi nhuận
Báo cáo dự toán của trung tâm lợi nhuận được lập từ các dự toán bộ phận có liên quan Dự toán này cho thấy lợi nhuận dự kiến sẽ đạt được trong
Doanh thu
dự kiến
Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến
Đơn giá bán
dự kiến
x
=
Trang 32kỳ dự toán Nó là cơ sở để đánh giá tình hình hoạt động của DN có hiệu quả hay không trong kỳ tới
BẢNG 1.7: DỰ TOÁN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NĂM N
Quý Chỉ tiêu
Nguồn số liệu lấy từ
Cả năm
8.Chi phí quản lý (Định phí chung bộ phận) 1.5
9.Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
10.Chi phí lãi vay
11.Lợi nhuận trước thuế
d Báo cáo dự toán của trung tâm đầu tư
Báo cáo dự toán này được thực hiện một cách thường xuyên, dựa trên cáo báo cáo dự toán chi phí và doanh thu của bộ phận cũng như toàn đơn vị, cung cấp thông tin một cách kịp thời cho các nhà quản trị cấp cao giúp họ có những điều chỉnh kịp thời nhằm làm tăng sinh lợi của DN Đây là một báo
Trang 33cáo rất quan trọng đối với các nhà quản trị cấp cao Trên cơ sở báo cáo này, các nhà quản trị cấp cao mới có thể đánh giá chính xác của đồng vốn bỏ ra, từ
đó đề ra những chiến lược kinh doanh và có những quyết định đầu tư đúng đắn để đảm bảo sự tồn tại và phát triển DN
BẢNG 1.8: DỰ TOÁN TRUNG TÂM ĐẦU TƯ
NĂM N
Quý Chỉ tiêu
Cả năm
1.3.2 Tổ chức báo cáo thực hiện
a Đặc điểm hệ thống báo cáo thực hiện
Tổ chức hệ thống báo cáo thực hiện (còn gọi là báo cáo kế toán trách nhiệm) là việc tổ chức hệ thống các báo cáo phản ánh kết quả về các chỉ tiêu tài chính chủ yếu theo thực tế đạt được ở từng trung tâm trách nhiệm trong một khoảng thời gian nhất định Qua đó, so sánh giữa kết quả thực tế với dự
Trang 34toán theo từng chỉ tiêu được phản ánh trong báo cáo phù hợp với từng trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm từ cấp quản lý thấp nhất phải lập báo cáo kết quả
đề trình lên cấp quản lý cao hơn trong tổ chức để cấp quản lý cao nắm được hoạt động của cấp dưới thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của mình trên cơ
sở đó kiểm soát hoạt động của cấp dưới
Các báo cáo kết quả về cơ bản thể hiện những mặt như: Kết quả thực hiện được so với kế hoạch về mặt quy mô; Kết quả thực hiện được so với kế hoạch về mặt hiệu suất Ngoài ra, trong mỗi báo cáo thực hiện còn phải giải thích các nguyên nhân gây nên thành quả nhằm làm sáng tỏ hơn những vấn đề cần quan tâm quản lý và khắc phục để hướng các trung tâm theo mục tiêu chung của DN
Nhìn chung hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm có những đặc điểm cơ bản sau:
- Đối với những báo cáo của các trung tâm trách nhiệm mà phân cấp quản lý thấp thì mức độ chi tiết nhiều hơn so với các báo cáo của các trung tâm trách nhiệm phân cấp quản lý cao hơn
- Số liệu báo cáo của nhà quản trị cấp cao không phải là số liệu tổng hợp
từ báo cáo của các nhà quản trị cấp thấp Ví dụ: Trong báo cáo của cấp xí nghiệp, phần tổng chi phí sẽ lớn hơn tổng chi phí của các xưởng thuộc xí nghiệp đó, bởi vì xí nghiệp phải chịu một khoản chi phí mà các xưởng không chịu, những khoản chi phí này dùng chung cho tất cả các xưởng do vậy mà nhà quản trị tại các xưởng không thể kiểm soát được Như vậy điểm đặc trưng của báo cáo trách nhiệm về chi phí là báo cáo trách nhiệm đã tách ra được chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
- Hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm là hệ thống báo cáo nội bộ Nội dung trong báo cáo kế toán trách nhiệm được thiết kế sao cho phù hợp với đặc
Trang 35điểm và yêu cầu của từng DN Báo cáo kế toán toán trách nhiệm chủ yếu phục vụ cho công tác quản trị DN
b Nội dung của tổ chức hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm
Theo định kỳ, thành quả quản lý của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp trên các báo cáo Các báo cáo đó sẽ phản ảnh kết quả hoạt động theo thực tế và dự toán, đồng thời cũng chỉ ra các chênh lệch trong quan hệ so sánh với dự toán
- Báo cáo kế toán trách nhiệm của trung tâm chi phí
Báo cáo kế toán trách nhiệm của trung tâm chi phí phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản sau:
+ Đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch sản xuất trong mối quan
hệ với kế hoạch tiêu thụ
+ Kiểm soát chi phí trong mối quan hệ với doanh thu ước tính
+ Đánh giá mức độ hoàn thành các chi phí định mức và chi phí dự toán + Xác định các nguyên nhân tác động đến tình hình thực hiện các định mức và dự toán chi phí
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí phải được thiết kế theo hình thức so sánh giữa mức độ thực hiện với dự toán, việc so sánh phải trong cùng một mức độ hoạt động Các báo cáo bộ phận ở cấp quản lý càng thấp thì mẫu báo cáo cần chi tiết Trong báo cáo chi phí phải được phân thành biến phí và định phí để việc kiểm soát và đánh giá trung tâm chi phí đảm bảo được chính xác
Báo cáo kế toán trách nhiệm của trung tâm doanh thu phải phản ảnh được tất cả doanh thu, chi phí phát sinh theo dự toán và theo thực tế; tỷ lệ chi phí trên doanh thu Hàng kỳ, các trung tâm doanh thu có nhiệm vụ báo cáo doanh thu phát sinh theo từng loại hình dịch vụ, từng sản phẩm Trên cơ sở
Trang 36báo cáo này nhà quản trị của trung tâm doanh thu có thể đánh giá tình hình thực hiện doanh thu của đơn vị mình, lãnh đạo công ty nắm bắt kịp thời tình hình thực hiện doanh thu của toàn DN Từ đó các nhà quản trị có thể đưa ra các chiến lược kinh doanh trong thời gian tới
- Báo cáo kế toán trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận
Để đảm bảo tính kiểm soát từ báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận Thông thường báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận được tổ chức thành dòng sản phẩm, dịch vụ và phân cấp theo hệ thống trung tâm trách nhiệm đã được đơn vị xây dựng Báo cáo kết quả SXKD theo hình thức số dư đảm phí tạo điều kiện cho nhà quản trị kiểm soát chi phí, doanh thu của các trung tâm lợi nhuận
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận được xây dựng gồm có giá trị dự toán và giá trị thực hiện Thông qua báo cáo dự toán đã được xây dựng ngay từ đầu năm, nhà quản trị có thể đánh giá được kết quả hoạt động của đơn
vị qua báo cáo thực hiện theo từng kỳ Từ đó giúp nhà quản trị xác định được nguyên nhân tồn tại hay những thành quả đạt được của bộ phận mình
- Báo cáo kế toán trách nhiệm của trung tâm đầu tư
Báo cáo kế toán trách nhiệm của trung tâm đầu tư trình bày thu nhập và hiệu quả đầu tư theo dự toán và thực hiện Trong báo cáo này thể hiện đầy đủ các chỉ tiêu: Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS); Vòng quay vốn đầu tư; Tỷ
lệ hoàn vốn (ROI); Lợi nhuận còn lại (RI)
Báo cáo này được thực hiện một cách thường xuyên, thường báo cáo theo quý thì mới có cơ sở để tìm ra xu hướng phát triển đối với các yếu tố chi phí và doanh thu của bộ phận cũng như toàn đơn vị, cung cấp thông tin một cách kịp thời cho các nhà quản trị cấp cao giúp họ có những điều chỉnh kịp thời nhằm làm tăng sinh lợi của doanh nghiệp Đây là một báo cáo rất quan trọng đối với các nhà quản trị cấp cao Trên cơ sở báo cáo này, các nhà quản
Trang 37trị cấp cao mới có thể đánh giá chính xác của đồng vốn bỏ ra, từ đó đề ra những chiến lược kinh doanh và có những quyết định đầu tư đúng đắn để đảm bảo sự tồn tại và phát triển DN
1.4 ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 1.4.1 Đánh giá thành quả của trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí được chia thành hai loại là trung tâm chi phí định mức
và trung tâm chi phí tuỳ ý (tự do) Nhà quản trị các trung tâm chi phí này đều
có trách nhiệm điều hành hoạt động tại trung tâm của mình sao cho đạt được kết quả đồng thời đảm bảo chi phí thực tế phát sinh không vượt quá chi phí định mức và chi phí dự toán
Trung tâm chi phí định mức: Đầu ra tuy không thể hiện bằng hình thái tiền tệ nhưng vẫn có thể xác định và lượng hóa được dựa trên cơ sở đã biết phí tổn đầu vào cần thiết để tạo ra đầu ra
Ví dụ, phân xưởng sản xuất có thể ước tính được chi phí tạo ra được một đơn
vị SP thông qua mức tiêu hao NVL, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí SXC
Vì thế, thành quả quản lý của trung tâm này được đánh giá thông qua mức độ hoàn thành kế hoạch đặt ra, trên cơ sở tính toán sai biệt chi phí, phân tích ảnh hưởng của các nhân tố gây ra sai biệt để xác định nguyên nhân tác động đến tình hình thực hiện định mức chi phí
Đối với trung tâm chi phí tùy ý (tự do): Đầu ra của các trung tâm này không thể lượng hoá được, đồng thời mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào ở trung tâm này là không chặt chẽ, không thể so sánh được
Nhìn chung, nội dung đánh giá trung tâm chi phí này là
* Chênh lệch chi phí = Chi phí thực tế - Chi phí dự toán
Trang 38Riêng đối với trung tâm chi phí định mức, còn phải phân tích các nhân tố
biến động, gồm:
* Biến động về lượng = (Lượng thực tế - Lượng định mức) X Giá định mức
* Biến động về giá = (Giá thực tế - giá định mức) X Lượng thực tế Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản trị biết được nguyên
nhân của các biến động trên, từ đó có các biện pháp đúng đắn, kịp thời để
chấn chỉnh hoặc phát huy các biến động theo chiều hướng có lợi cho DN
1.4.2 Đánh giá thành quả trung tâm doanh thu
Được đánh giá thông qua tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên dữ
liệu đó phân tích chênh lệch doanh thu do ảnh hưởng bởi các nhân tố liên
quan như số lượng sảm phẩm tiêu thụ và kết cấu sản phẩm tiêu thụ, đơn giá
Như vậy, đối với trung tâm doanh thu chịu trách nhiệm về mức tiêu thụ
của mình, phương pháp đánh giá trung tâm này cũng sử dụng phương pháp
phân tích tình hình thực hiện doanh thu giữa thực tế và dự toán, giữa kỳ này
và kỳ trước (hiệu quả) Ngoài ra còn có thể so sánh các chi phí đầu vào tại
trung tâm để đánh giá hiệu năng hoạt động của trung tâm liên quan đến việc
bán hàng và tiêu thụ sản phẩm
Chỉ tiêu đánh giá kết quả ở trung tâm doanh thu gồm:
- Sản lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
- Doanh thu bán hàng thực hiện trong kỳ
- Doanh thu bán hàng trong kỳ so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra, …
Đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu được thể hiện qua tình hình
thực hiện những chỉ tiêu cơ bản sau:
* Chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán
Trang 391.4.3 Đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận
Được đánh giá thông qua tình hình thực hiện dự toán lợi nhuận, so sánh lợi nhuận đạt được so với lợi nhuận ước tính theo dự toán Qua đó, phân tích chênh lệch lợi nhuận do ảnh hưởng bởi các nhân tố có liên quan:
Chỉ tiêu đánh giá kết quả ở trung tâm lợi nhuận
- Lợi nhuận đạt được trong kỳ
- Lợi nhuận tính trên đơn vị sản phẩm
- Lợi nhuận hoạt động ở từng trung tâm, …
Căn cứ vào những chỉ tiêu trên, thành quả của trung tâm lợi nhuận được thể hiện tập trung qua 2 chỉ tiêu cơ bản sau:
* Chênh lệch lợi nhuận = Lợi nhuận thực tế - Lợi nhuận dự toán
*
Do có thể lượng hóa được bằng tiền cả đầu ra và đầu vào, nên hiệu quả hoạt động của trung tâm lợi nhuận có thể đo lường bằng các chỉ tiêu: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; tỷ suất doanh thu trên chi phí; hay các chỉ tiêu bằng
số tuyệt đối: số dư đảm phí bộ phận; số dư bộ phận; lợi nhuận trước thuế… Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ở trung tâm lợi nhuận:
+ Tỷ lệ phần trăm hoàn thành kế hoạch lợi nhuận
+ Mức độ gia tăng lợi nhuận
+ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
1.4.4 Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư
Mục tiêu cuối cùng của DN là tối đa hoá lợi nhuận và sử dụng vốn đầu
tư có hiệu quả Kế toán trách nhiệm sử dụng các chỉ tiêu như ROI, RI
- Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư (ROI)
Lợi nhuận dự toán
Trang 40Trong công thức tính ROI có hai thành phần là lợi nhuận và vốn đầu tư Muốn tính được ROI chúng ta phải xác định được lợi nhuận và vốn của một trung tâm đầu tư
Chỉ tiêu lợi nhuận: được sử dụng trong công thức tính ROI là lợi nhuận
trước trả lãi vay và thuế thu nhập DN Việc xác định lợi nhuận như vậy là để phù hợp với doanh thu và vốn kinh doanh đã tạo ra nó
Chỉ tiêu vốn đầu tư: Vốn đầu tư có thể được hiểu là tổng giá trị tài sản
trên bảng cân đối kế toán, bao gồm vốn bằng tiền, các khoản phải thu, giá trị hàng tồn kho, nhà xưởng, máy móc thiết bị và các khoản vốn khác được sử dụng trong hoạt động của một trung tâm đầu tư ROI là một chỉ tiêu được tính cho một thời đoạn (tháng, năm) do vậy vốn đầu tư được sử dụng trong công thức tính ROI là số bình quân giữa vốn đầu kỳ và vốn cuối kỳ thể hiện trên bảng cân đối kế toán
Công thức xác định ROI còn được viết theo cách khác
Theo công thức này, ROI phụ thuộc vào hai yếu tố quan trọng: tỷ suất
lợi nhuận trên doanh thu và số vòng quay của tài sản
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: cho biết khi một đồng doanh thu
thực hiện sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ số này cao hay thấp phụ thuộc vào việc kiểm soát doanh thu và chi phí của các nhà quản trị ở trung tâm đầu từ
- Số vòng quay của tài sản: cho biết một đồng tài sản đầu tư vào trung
tâm đầu tư đã thực hiện được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ số này cho thấy
X
=
Số vòng quay của vốn đầu tư