- Viêm dạ dày cấp tính chính là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày, thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm loét niêm mạc dạ d
Trang 1BỆNH DẠ DÀY – NGUYÊN NHÂN, BIỂU HIỆN, CÁCH CHỮA
Bệnh viêm dạ dày là gì?
Viêm dạ dày là một bệnh lý tương đối rõ ràng Nhưng thuật ngữ này thường
bị lạm dụng để giải thích một số triệu chứng của hệ thống tiêu hóa như ợ chua, khó tiêu Thực tế bệnh viêm dạ dày có thể không gây triệu chứng lâm sàng nào cả.
Theo các chuyên gia y học, viêm dạ dày là hậu quả của sự kích thích niêm mạc bởi các yếu tố ngoại sinh hoặc nội sinh như: nhiễm độc chất, nhiễm khuẩn, các rối loạn miễn dịch
Lớp niêm mạc là lớp trong cùng của dạ dày được cấu tạo bởi ba lớp: lớp tế bào biểu mô phủ, lớp đệm và lớp cơ niêm Tùy theo từng nghiên cứu trên thế giới, tỷ
lệ viêm dạ dày trong dân chúng là 15-11,5 trên 1.000 người dân
Bệnh được chia thành 2 nhóm là viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính Mỗi nhóm có những đặc điểm riêng
- Viêm dạ dày cấp tính chính là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày,
thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm loét niêm mạc dạ dày
- Viêm dạ dày mạn tính được xem như là tình trạng viêm của lớp niêm mạc của
dạ dày, hiện tượng này diễn ra từ từ và tồn tại trong thời gian dài
Trong thực tế khám và chữa bệnh hằng ngày, các thầy thuốc gặp chủ yếu là viêm
dạ dày mạn tính Tình trạng bệnh lý này tăng dần theo độ tuổi và chiếm tỷ lệ từ 40-70% trong bệnh lý dạ dày, tá tràng
Trang 2Nguyên nhân gây ra viêm dạ dày nói chung
Viêm dạ dày do nhiều nguyên nhân gây ra: do virus, vi khuẩn và độc tố của chúng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc
Ngoài ra, do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hoá chất có chì, thuỷ ngân có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày Đây là những yếu tố ngoại sinh bên ngoài tác động vào gây viêm dạ dày cấp tính
Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp, những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc
Nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính
Viêm dạ dày mạn tính có thể xảy ra do các nguyên nhân sau:
Trang 3- Ăn uống:
+ Nuốt nhiều, nhanh, nhai không kỹ, bữa ăn không đúng giờ giấc
+ Ăn nhiều thức ăn có nhiễm chất các hoá học dùng trong nông nghiệp và kỹ nghệ thực phẩm
+ Ăn nhiều gia vị ( chua, cay ), uống cà phê đặc, uống rýợu, hút thuốc lá lâu ngày
sẽ tác động có hại cho niên mạc dạ dày và gây bệnh
- Các yếu tố cơ học: hóa - lý ( phóng xạ, quang tuyến), một số thuốc nhuận tràng
dùng kéo dài, các thuốc bột kiềm gây trung hoà dịch vị quá mức sẽ dẫn tới phản ứng đột biến tăng tiết a xít HCL làm tổn thương niêm mạc dạ dày
- Các yếu tố nhiễm khuẩn: Gây viêm dạ dày mạn hoặc duy trì viêm dạ dày mạn (đặc biệt chú ý các nhiễm khuẩn ở tai mũi họng, răng, viêm phế quản mạn)
Trong bệnh Biermer thấy có vi khuẩn trong dạ dày(do nồng độ a xít dịch vị thấp nên vi khuẩn phát triển ) Vai trò của Helicobacter polyri trong viêm dạ dày mạn
và loét HTT đang được chú ý nhiều
Người ta thường thấy viêm dạ dày mạn xảy ra cùng với loét dạ dày, loét hành tá tràng, bênh đại tràng chức năng, táo bón, nhiễm khuẩn ruột, túi mật viêm, trào ngýợc dịch mật vào dạ dày, viêm miệng nối dạ dày - hỗng tràng, ung thư dạ dày
- Suy dinh dưỡng: thiếu Fe, thiếu B12, thiếu a xít folic, vitamin C, vitamin PP,
thiếu protein
- Rối loạn nội tiết: trong suy yếu tuyến yên, bệnh Hashimoto, thiểu năng cận
giáp, bệnh Addison, bệnh đái đường…
- Dị ứng: Một số bệnh ngoài da (mày đay, eczema, licben…) hoặc do ăn uống
- Yếu tố miễn dịch: mới đây phát hiện thấy có các kháng thể kháng tế bào thành,
kháng yếu tố nội sinh (chỉ thấy trong bệnh Biermer), song cơ chế bệnh lý chưa rõ
Trang 4- Các rối loạn tâm lý rối loạn thần kinh thực vật, có thể gây nên viêm dạ dày và rối loạn tiêu hoá.
- Yếu tố di truyền: thấy rõ hơn cả trong bệnh Biermer (Hấp thu B12 kém )
Nguyên nhân gây viêm dạ dày cấp tính
Nguyên nhân gây viêm dạ dày cấp có nhiều, song có thể xếp vào hai nhóm chính:
Yếu tố ngoại sinh thường gặp
- Vi khuẩn, virut và độc tố của chúng
- Thức ăn nóng quá, lạnh quá, khó tiêu, nhai không kỹ hoặc bị nhiễm khuẩn nhiễm độc do tụ cầu, coli, rượu, chè, cà phê, mù tạt
- Thuốc: aspirin, APC, natri salicylat, sulfamid, corntancyl, phenylbutazon,
reserpin, digitalis, KCl
- Các chất ăn mòn: muối, kim loại nặng (đồng, kẽm), thuỷ ngân, kiềm, acid
sulfuric, acid chlohydric, nitrat bạc
- U rê máu cao, tăng thyroxin, tăng đường máu
- Bỏng, nhiễm phóng xạ, các stress nặng, chấn thương sọ não, u não, sau phẫu
Trang 5thuật thần kinh, tim, shock, bệnh tim phổi cấp, xơ gan
- Dị ứng thức ăn: tôm, sò, ốc, hến
Triệu chứng của người bị viêm dạ dày
Người bị viêm dạ dày có thể không có biểu hiện lâm sàng dễ nhận biết
Những biểu hiện thường gặp: đau vùng thượng vị, đau âm ỉ, có trường hợp đau cồn cào, nóng rát không theo một quy luật thời gian nào cả, đau liên tục, kèm theo là triệu chứng đầy bụng, ậm ạch, khó tiêu.
Thậm chí trong trường hợp tổn thương nặng có thể bị buồn nôn, nôn khan Nếu vừa ăn xong bị nôn ngay, nôn ra hết được người bệnh lại cảm thấy rất dễ chịu
Những người bị ợ dịch chua là do tổn thương lâu ngày làm ứ đọng dịch và gây trào ngược dịch, trường hợp này thường đã ở giai đoạn viêm dạ dày mạn tính
Các triệu chứng khác
- Ợ hơi: có thể làm dịu cơn đau một chút hoặc không hết đau
- Nôn hoặc buồn nôn: dịch nôn ói có thể trong, xanh, vàng, có tia máu hoặc toàn máu tùy theo độ trầm trọng của viêm dạ dày
- Cảm giác đầy hơi, lình bình ở thượng vị
- Ơ những trường hợp nặng: có thể có chảy máu trong dạ dày Các triệu chứng thường là:
+ Tái xanh, toát mồ hôi, tim đập nhanh
+ Ngất xỉu, khó thở
+ Đau ngực hoặc đau nhiều vùng dạ dày
+ Ói nhiều máu
Trang 6+ Tiêu phân đen, dính, hôi
Triệu chứng biểu hiện viêm dạ dày cấp tính
Tổn thương trong viêm dạ dày cấp có thể khu trú hoặc lan toả, tuỳ theo mức
độ nặng nhẹ và nguyên nhân thường chia làm 4 dạng chính, với các biểu hiện lâm sàng khác nhau:
Viêm long dạ dày: Thường xảy ra sau khi ăn phải chất kích ứng, nhiễm khuẩn
hoặc nhiễm virut Tổn thương biểu hiện bằng tình trạng niêm mạc phù nề sung huyết và có nhiều đám viêm xâm nhiễm bởi bạch cầu đa nhân ở niêm mạc Biểu hiện lâm sàng là cảm giác đau căng tức hoặc nóng ran vùng thượng vị, kèm theo nôn, choáng váng
Viêm dạ dày thể xuất huyết: Thường biểu hiện dưới dạng các vết ăn mòn đơn
độc hoặc kèm theo xuất huyết Niêm mạc có những chấm xuất huyết đôi khi có những mảng, đám xuất huyết dưới niêm mạc và các vết xước, chảy máu, chính là
do sự vỡ mạch máu lớp tiết chính
Xuất hiện do các yếu tố có nguồn gốc ngoại sinh như rượu, thuốc kháng viêm non streroid Biểu hiện lâm sàng chủ yếu thường gặp là xuất huyết Khi chảy máu nhiều và nặng có thể gây choáng và shock Thường được chẩn đoán bằng nội soi cấp cứu
Viêm dạ dày thể ăn mòn: Thường do các chất kích ứng tác động liên tiếp lên bề
mặt niêm mạc dạ dày, gây ra sự biến đổi trầm trọng cùng với sự phù nề đơn điệu của niêm mạc dạ dày và sau đó là tình trạng hoại tử tại chỗ của niêm mạc dạ dày
Trang 7Sau một thời gian, các fibrin hàn gắn lại tạo thành các mô sẹo.
Mức độ tổn thương phụ thuộc bản chất và nồng độ chất gây tổn thương; ngoài ra còn phụ thuộc sự hoà loãng các chất ăn mòn do các chất bên trong dạ dày, và sự trung hoà chất kiềm do acid dạ dày
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau thượng vị ngay tức thì sau khi dạ dày tiếp xúc với chất kích ứng; sau đó là nôn, đôi khi nôn ra máu; trong các trường hợp nặng
có thể có shock
Viêm dạ dày thể nhiễm khuẩn: Với sự có mặt của các vi sinh vật gây nhiễm
khuẩn Trong trường hợp dạ dày bị viêm tấy, dịch rỉ viêm làm mưng mủ các vách niêm mạc cùng với thành dạ dày, có thể gây hậu quả thủng và gây viêm phúc mạc Người ta gọi đó là dạ dày phù thũng Thể bệnh này giảm rất nhiều từ khi có kháng sinh, nhưng hiện nay đang có xu hướng gia tăng trở lại
Triệu chứng biểu hiện viêm dạ dày mạn tính
Không có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của viêm dạ dày mạn Bệnh nhân có những rối loạn chức năng (tương tự như rối loạn tiêu hoá xảy ra sớm, sau khi
ăn, nhất là sau bữa ăn trưa).
Biểu hiện lâm sàng
Không có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của viêm dạ dày mạn Bệnh nhân có những rối loạn chức năng (tương tự như rối loạn tiêu hoá xảy ra sớm, sau khi ăn, nhất là sau bữa ăn trưa)
- Cảm giác nặng bụng, chướng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ cảm giác đắng
miệng vào buổi sáng, buồn nôn, nôn, chán ăn, táo lỏng thất thường
Trang 8- Nóng rát vùng thượng vị: xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau ăn
uống một số thứ như : bia, rượu, vang trắng, gia vị cay, chua hoặc ngọt
Sau ăn mỡ xuất hiện nóng rát có thể là do trào ngược dịch mật vào dạ dày Có một
số trường hợp nóng rát xuất hiện muộn sau bữa ăn
- Đau vùng thượng vị : Không đau dữ dội, thường chỉ là cảm giác khó chịu, âm ỉ
thường xuyên tăng lên sau ăn
- Khám thực thể: thể trạng bình thường hoặc gầy đi một chút ít Da khô tróc vẩy,
có vết ấn của răng trên rìa lưỡi, lở loét, chảy, máu lợi, lưỡi bự trắng Đau tức vùng thượng vị khi gõ hoặc ấn sâu
Biểu hiện qua xét nghiệm
Chụp X quang dạ dày:
Có hình ảnh các niêm mạc thô không đồng đều, bờ cong lớn nham nhở, hình răng cưa
Nội soi: phát hiện được các thể:
- Viêm long: thường có tăng tiết, niêm mạc xung huyết và phù nề Đôi khi xuất
huyết lốm đốm
- Viêm phì đại: ngoài viêm dạ dày thể phì đại thực thụ (nếp niêm mạc thô, to), còn
có thể nổi cục, thể khảm, thể polip, thể giả u (cần phân biệt với ung thư)
- Viêm dạ dày loét trượt: các tổn thương ở niêm mạc hình tròn, nông, có bờ rõ.
- Viêm teo dạ dày: mới đầu niêm mạc phẳng, không mượt, về sau dần dần mất
nếp, teo, nhạt màu
Sinh thiết dạ dày
- Hình ảnh mô học của viêm dạ dày mạn thể nông: lớp đệm xung huyết, phù nề, tróc biểu mô Các tuyến vẫn bình thường về số lượng và hình thái
- Thể viêm teo dạ dày:
+ Nhiều bạch cầu trong tổ chức đệm
Trang 9+ Giảm số lượng tuyến và các tuyến teo nhỏ.
- Nếu các tế bào tuyến của dạ dày có hình thái giống như tế bào tuyến của ruột (loạn sản ruột), thì đó là một thể nặng hơn của viêm teo dạ dày
Khi nào bạn cần phải đến bệnh viện?
- Triệu chứng cấp tính kéo dài ngày càng nặng, uống các loại thuốc thông thường
tự mua không bớt
- Cơn đau nặng hơn khám bình thường
- Tiêu ra phân đen, dính , rất hôi thối
- Triệu chứng không giảm dù đã theo chế độ kiêng cữ tốt
- Ói nhiều, ói liên tục, ói có máu
- Xót và đau bụng
- Chóng mặt xây xẩm, ngất xỉu
- Tim đập nhanh, toát mồ hôi lạnh
- Tái xanh, khó thở, đau ngực
Viêm dạ dày có thể dẫn đến hậu quả gì?
Quá trình viêm diễn ra từ vài giờ đến vài ngày, liền sẹo nhanh, phục hồi hoàn toàn.
Trang 10Tuy nhiên có một số tác giả cho rằng có thể từ viêm dạ dày cấp, nếu bị nhiều đợt
có thể chuyển thành viêm mạn, vì niêm mạc bị phá huỷ liên tiếp và có vai trò của cơ chế tự miễn
Viêm dạ dày thể ăn mòn hoặc xuất huyết có thể dẫn đến shock, truỵ tim mạch
Tiến triển và biến chứng khi viêm dạ dày mạn
Viêm dạ dày mạn tiến triển từ từ, hình thái niêm mạc thay đổi dần dần từ viêm phì đại đến viêm teo (thể teo đõn thuần, thể teo có loạn sản)
Tiến triến
Viêm dạ dày mạn tiến triển từ từ, hình thái niêm mạc thay đổi dần dần từ viêm phì đại đến viêm teo (thể teo đõn thuần, thể teo có loạn sản)
Biến chứng
- Ung thư dạ dày
- Xuất huyết tiêu hoá
- Viêm quanh dạ dày, tá tràng
- Viêm túi mật mạn, viêm tụy mạn
Chẩn đoán viêm dạ dày nói chung
Chẩn đoán viêm dạ dày chủ yếu dựa vào các yếu tố sau:
Triệu chứng lâm sàng: thường sau khi ăn, vùng thượng vị cảm thấy đau, tức hoặc
Trang 11nóng rát, ăn kém, bụng đầy, chướng hơi, hễ ợ hơi được thì dễ chịu hoặc buồn nôn, nôn, ợ chua
Dạ dầy viêm thể teo thường ăn uống rất kém, bụng đầy, đau âm ỉ và cơ thể suy nhược Dạ dày viêm thể phì đại thường có triệu chứng đau kéo dài, thức ăn và loại thuốc có tính kiềm có thể làm giảm đau nhưng đau không có chu kỳ, thường kèm rối loạn tiêu hóa, có thể gây xuất huyết
Nên phối hợp với nhưng phương pháp hiện đại như chụp X.quang, Nội soi để xác định cho rõ hơn
Xét nghiệm và chẩn đoán viêm dạ dày mạn
Làm thế nào để xét nghiệm và chẩn đoán viêm dạ dày mạn? Để trả lời câu hỏi này,
có thể tham khảo một số phương pháp dưới đây:
1 Xét nghiệm viêm dạ dày mạn
Chụp X quang dạ dày
Có hình ảnh các niêm mạc thô không đồng đều, bờ cong lớn nham nhở, hình răng cýa
Nội soi: phát hiện đýợc các thể :
- Viêm long: thường có tăng tiết, niêm mạc xung huyết và phù nề Đôi khi xuất
huyết lốm đốm
- Viêm phì đại: ngoài viêm dạ dày thể phì đại thực thụ (nếp niêm mạc thô, to), còn
Trang 12có thể nổi cục, thể khảm, thể polip, thể giả u (cần phân biệt với ung thư).
- Viêm dạ dày loét trợt : các tổn thưõng ở niêm mạc hình tròn , nông , có bờ rõ
- Viêm teo dạ dày: mới đầu niêm mạc phẳng, không mượt, về sau dần dần mất
nếp, teo, nhạt màu
Sinh thiết dạ dày
- Hình ảnh mô học của viêm dạ dày mạn thể nông : lớp đệm xung huyết , phù nề , xâm nhiếm tế bào viêm, tróc biểu mô Các tuyến vẫn bình thường về số lượng và hình thái
- Thể viêm teo dạ dày :
+ Nhiều bạch cầu trong tổ chức đệm
+ Giảm số lượng tuyến và các tuyến teo nhỏ
- Nếu các tế bào tuyến của dạ dày có hình thái giống như tế bào tuyến của ruột ( loạn sản ruột ), thì đó là một thể nặng hơn của viêm teo dạ dày
2 Chẩn đoán viêm dạ dày mạn
Chẩn đoán xác định viêm dạ dày mạn chủ yếu dựa vào kết quả của nội soi và sinh thiết kết hợp với lấy dịch vị xét nghiệm
Xét nghiệm và chẩn đoán viêm dạ dày cấp tính
Khi có các biểu hiện của viêm dạ dày cấp tính cần thực hiện các xét nghiệm
và chẩn đoán chính xác để có biện pháp điều trị kịp thời.
Trang 131 Xét nghiệm viêm dạ dày cấp
- Nội soi dạ dày
+ Dạ dày có một phần hoặc toàn thể niêm mạc đỏ rực, bóng láng, có những đám nhầy dày hoặc mỏng, Các nếp niêm mạc phù nề, niêm mạc kém bền vững, dễ xuất huyết
+ Trên nền xung huyết phù nề, có những chỗ mất tổ chức (thường ở phần dưới thân vị, hanh vị), đôi khi có vết nứt kẽ, dài, ngắn, ngoằn ngoèo, chạy dọc các rãnh hoặc cắt ngang qua niêm mạc, đôi khi là dạng loét trợt (aphte) loét dài hẹp
- Dịch vị: tăng tiết dịch, tăng toan, trong dịch có BC, tế bào mủ.
- X quang: thấy hình ảnh nếp niêm mạc thô, ngoằn nghèo, bờ cong lớn nham nhở,
túi hõi rộng
- Xét nghiệm máu: BC tăng, CTBC chuyển trái, máu lắng tăng.
2 Chẩn đoán viêm dạ dày cấp
Chẩn đoán xác định
* Dựa vào :
- Lâm sàng: đau thýợng vị đột ngột không theo chu kỳ, nóng rát
- X quang: không thấy hình loét, chỉ thấy niêm mạc thô
- Soi dạ dày và sinh thiết: thấy tổn thương niêm mạc (đã nêu ở phần triệu chứng)
Chẩn đoán phân biệt
- Viêm tụy cấp (Amylaza máu và nước tiểu tăng cao)
- Thủng dạ dày
- Viêm túi mật cấp (sốt, sờ thấy túi mật to)
- Cơn đau cấp của loét dạ dày - tá tràng (X quang dạ dày có ổ loét)
Trang 14Tự chữa viêm dạ dày mạn tính
Theo Đông y, nếu bệnh có các biểu hiện: mặt trắng bệch, mệt mỏi, mất sức,
ăn uống kém… được quy về dạng tỳ vị hư hàn Nếu đau dạ dày, đau hai bên sườn, miệng khô, đắng, dễ cáu gắt, bí đại tiện, lưỡi có rêu vàng thì được quy vào chứng can hỏa lan đến dạ dày Còn nếu miệng khô, lưỡi đỏ rêu bóng, ngủ không ngon giấc, nhiều mộng, đại tiện táo thì được quy về dạng tổn thương
âm vị.
Đau dạ dày mạn tính là một bệnh rất phức tạp, tới nay chưa có cách điều trị hiệu quả thực sự Vì vậy, để có cách chữa trị lý tưởng thì phải kết hợp chữa nhiều mặt
- Không sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê đặc hoặc trà đặc
- Ăn uống thanh đạm, ăn những thứ dễ tiêu hóa Kỵ ăn chua, ăn nguội, quá nóng, quá cay và đồ khô rắn, tránh để đói hoặc no quá
- Khi ăn phải nhai chậm, nhai kỹ sẽ có lợi cho tiêu hóa Nên ăn nhiều bữa và số lượng thức ăn trong mỗi bữa có thể ít đi
- Ăn uống phải đúng giờ, không ăn phàm uống tục
- Viêm dạ dày dạng co bóp, vị toan tiết ra giảm, nên người bệnh có thể ăn thêm hoa quả chua, sữa chua, canh thịt để tăng thêm dịch vị
- Nếu vị toan tăng nhiều (bệnh nhân bị ợ chua, nôn nao, cảm thấy nóng ruột, ăn nhiều nhưng dễ đói) có thể ăn thêm rau xanh nhiều xơ, bánh bích quy…
- Kiêng ăn các thực phẩm ướp hoặc xào rán, ít ăn các thực phẩm mặn và các loại bánh quá ngọt
- Khi bị viêm mũi, viêm họng hoặc khoang miệng phải chữa trị kịp thời để tránh