1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm: một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực cho học sinh lớp 4 trong việc học môn toán

14 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 188 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học Toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng thì môn Toán lớp 4 có vị trí vô cùng quan trọng, khi học Toán học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt huy động tích hợp các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau. Vì vậy có thể coi việc học Toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của hành động trí tuệ học sinh, cũng qua việc dạy học Toán giáo viên giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năng suy luận lôgic, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi. Có thể nói : Dạy học toán không chỉ dạy tri thức và kỹ năng, mà còn hình thành và phát triển ở học sinh phương pháp năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Vậy làm thế nào để mỗi giờ học Toán đều diễn ra thật sôi nổi, có kết quả mà tất cả học sinh háo hức mong đợi, hào hứng tham gia học tập và hiểu bài? Làm thế nào để phát huy được tính ham hỏi và gây được hứng thú cho học sinh trong mỗi giờ học, làm sao mỗi giờ học tạo ra nhiều cơ hội để thầy trò được rút ra những điều cần học, cần biết, rèn kĩ năng, kĩ xảo trong học Toán.Xuất phát từ thực trạng trên và xuất phát từ việc đổi mới phương pháp dạy học với phương châm lấy học sinh là nhân vật trung tâm. Người thầy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức và hướng dẫn, còn học sinh giữ vai trò chủ đạo tích cực, chủ động học tập có kết quả Tôi chọn sáng kiến Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực cho học sinh lớp 4 trong việc học môn toán áp dụng vào giảng dạy

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

* Lý do viết sáng kiến:

Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống của người lao động, rất cần thiết

để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên Môn toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận , có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học

Trong dạy học Toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng thì môn Toán lớp 4 có vị trí vô cùng quan trọng, khi học Toán học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt huy động tích hợp các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau Vì vậy có thể coi việc học Toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của hành động trí tuệ học sinh, cũng qua việc dạy học Toán giáo viên giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năng suy luận lôgic, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi

Có thể nói : Dạy học toán không chỉ dạy tri thức và kỹ năng, mà còn hình thành và phát triển ở học sinh phương pháp năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Vậy làm thế nào để mỗi giờ học Toán đều diễn ra thật sôi nổi, có kết quả mà tất cả học sinh háo hức mong đợi, hào hứng tham gia học tập và hiểu bài? Làm thế nào để phát huy được tính ham hỏi và gây được hứng thú cho học sinh trong mỗi giờ học, làm sao mỗi giờ học tạo ra nhiều cơ hội để thầy trò được rút ra những điều cần học, cần biết, rèn kĩ năng, kĩ xảo trong học Toán

Xuất phát từ thực trạng trên và xuất phát từ việc đổi mới phương pháp dạy học với phương châm lấy học sinh là nhân vật trung tâm Người thầy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức và hướng dẫn, còn học sinh giữ vai trò chủ đạo tích cực, chủ động

Trang 2

học tập có kết quả Tôi chọn sáng kiến " Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực cho học sinh lớp 4 trong việc học môn toán" áp dụng vào giảng dạy Hy vọng góp

phần vào việc nâng cao chất lượng dạy Toán cũng như góp phần làm học sinh thích học Toán, tiếp thu tri thức hiểu bài nhanh, khắc sâu, nhớ lâu kiến thức bài học phát triển được tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ của học sinh Giúp các em học sinh miền núi đặc biệt là học sinh dân tộc mạnh dạn, tự tin hơn trước đám đông, biết cách tự đánh giá việc học của mình cũng như biết đánh giá kết quả học tập của các bạn khác Từ đó các em có tính chủ động hơn trong học tập và biết phấn đấu thi

đua nhau để việc học có kết quả cao hơn.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

I Cơ sở lý luận về dạy học môn toán:

Như chúng ta đã biết, toán học là khoa học suy diễn trừu tượng nhưng toán học ở tiểu học lại mang tính trực quan, cụ thể bởi vì mục tiêu của môn toán học ở tiểu học là hình thành những biểu tượng toán học ban đầu và rèn luyện kĩ năng toán cho học sinh, tạo cơ sở phát triển tư duy và phương pháp toán học cho học sinh sau này Một mặt khác toán học còn có tính thực tiễn Các kiến thức toán học đều bắt nguồn từ cuộc sống Mỗi mô hình toán học là khái quát từ nhiều tình huống trong cuộc sống Dạy học toán học ở tiểu học là hoàn thiện những gì vốn có trong học sinh, cho học sinh làm và ghi lại một cách chính thức các kiến thức toán học bằng ngôn ngữ và các kí hiệu toán học Mỗi tiết học là dịp để học sinh hình thành những kiến thức và kĩ năng mới, vận dụng một cách sáng tạo nhất, thông minh nhất trong việc học toán trong cuộc sống sau này Chính vì vậy, người giáo viên cần biết phát huy tính tích cực, trí thông minh của học sinh thông qua giờ học toán

Chương trình môn toán tiểu học đã có những đổi mới đó là tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức mới nhằm giúp học sinh học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lực của học sinh Để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, trước hết giáo viên phải nắm vững mục tiêu, nội dung, khả năng có thể khai thác trong từng bài Điều quan trọng là giáo viên phải xây dựng những phương pháp huy động tính tích cực của học sinh trong hoạt động học để các em nắm chắc và vận dụng thành thạo các nội dung trong từng bài, góp phần phát triển năng lực tư duy

và năng lực thực hành của học sinh

Trang 3

II Thực trạng của dạy học môn toán ở trường Tiểu học Tân Bình.

1 Về phía giáo viên:

Phần đa giáo viên nhiệt tình, quan tâm đến chất lượng học sinh lớp mình chủ nhiệm Có đổi mới phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với đặc trưng môn học Giáo viên giành thời gian cho sinh được luyện tập thực hành nhiều hơn song bên cạnh đó còn một số hạn chế sau:

- Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của đồ dùng dạy học, sử dụng chưa đúng lúc đúng chỗ

- Chưa sử lý hết các tình huống trong tiết dạy, việc tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức

-Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa lôgic, chưa phù hợp cho từng đối tượng chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm Các kiến thức liên quan đến bài giảng chưa biết sử dụng bài trước để giới thiệu dẫn dắt lôi cuốn học sinh một cách hấp dẫn vào bài mới Khai thác nội dung kiến thức giáo viên cũng chưa làm nổi bật được khi nào bắt đầu, khi nào cao trào đỉnh điểm, khi nào kết thúc Cách đặt ra tình huống có vấn đề, tự nhớ lại kiến thức cũ và vận dụng làm bài, chủ động, sáng tạo trong.giờ.học

- Một bộ phận giáo viên còn chưa chú ý đúng mức đến đối tượng học sinh yếu, chỉ chú ý đến học sinh Khá, Giỏi, thích tổ chức các hoạt động học tập trên lớp với những học sinh khá, giỏi để tránh xử lí các tình huống phức tạp mất thời gian Giáo viên chỉ chú trọng vào các em HS khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung

của lớp như vậy các em học yếu không có cơ hội bộc lộ khả năng của mình và đã

ngại học lại thêm tính ì, ngại suy nghĩ, ngại vận động

Giáo viên còn chưa có sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để đối tượng

học sinh nắm vững được lượng kiến thức chưa đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Tổ chức các hình thức dạy và học chưa phong phú, chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng của học sinh Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải

2 Về phía học sinh:

Trang 4

Với nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 4, 5 Tôi nhận thấy, hầu hết các em chăm ngoan, có tinh thần học tập, tích cực xây dựng bài, thích học môn Toán Tuy nhiên kiến thức lớp 4 trừu tượng hơn, vận dụng một số tính chất của số, phép tính, hình học dạng khái quát hơn Các em thực hành, vận dụng nhiều: Dạy học dựa vào hoạt động học của học sinh Vì thế việc học của một số em gặp rất nhiều trở ngại Đặc biệt chưa nhận thức đúng vai trò của môn Toán Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng để biến tri thức của thầy thành của mình Cho nên sau khi học xong bài, các em chưa nắm được lượng kiến thức thầy giảng, rất nhanh quên và kỹ năng tính toán chưa nhanh Ví dụ: Khi học xong các cách giải toán về phân số các em làm rất lộn xộn: cộng hai phân số cùng mẫu số cũng quy đồng rồi cộng tử số, có khi nhân phân số các em cũng quy đồng…mặc dù khi học xong bài mới, ở lớp các em vân dụng làm bài rất tốt, nhưng khi làm luyện tập chung lại lộn xộn Tinh thần hợp tác học tập chưa cao nhiều em còn chưa tự tin, học thụ động Qua khảo sát chất lượng môn Toán lớp 4B của trường Tiểu học Tân Bình vào đầu tháng 9 năm 2012, bằng đề của tổ khối chuyên môn tôi thu được kết quả như sau:

III Các giải pháp tổ chức thực hiện dạy học môn toán.

Trong công tác giảng dạy, vai trò của người Thầy rất quan trọng, đặc biệt là môn Toán Người giáo viên chủ yếu cung cấp cho học sinh một cách đầy đủ, chính xác, có hệ thống kiến thức Ngoài ra, còn thường xuyên rèn luyện cho các em những kĩ năng cần thiết giúp các em có phương pháp, vận dụng kiến thức đã học vào việc làm các bài tập liên hệ với thực tiễn Vì vậy, môn học này có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông Cho nên tôi đã vận dụng những phương pháp này nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh như sau:

- Hướng dẫn học sinh thực hiện có hiệu quả chương trình và sách giáo khoa

Trang 5

toán 4.

- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp dạy học vấn đề hình thành tri thức mới

- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề để tổ chức hoạt động dạy học

- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ để tổ chức hoạt động đạt hiệu quả

- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán phát huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh

- Giúp học sinh tham gia vào các hoạt động thực hành luyện tập theo khả năng của mình

IV Các biện pháp đã thực hiện.

1 Hướng dẫn học sinh thực hiện có hiệu quả chương trình và SGK toán 4.

Những tiết học toán trong sách giáo khoa là những tiết học rất quan trọng, nhằm cung cấp cho các em học sinh những yêu cầu cơ bản nhất mà chương trình đặt ra Bằng hình ảnh trực quan sinh động và phương pháp sư phạm của giáo viên, các em dần dần nắm chắc kiến thức, rèn luyện các kĩ năng, Việc nắm chắc kiến thức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức ban đầu của học sinh Giáo viên cần xuất phát từ những vấn đề rất cụ thể, chi tiết; học sinh phải nắm được bản chất của vấn

đề, các em phải có nền kiến thức đại trà vững chắc rồi mới đến ngọn là giải quyết các bài toán ở mức độ cao hơn Để làm được điều đó giáo viên cần:

Tổ chức tốt các hoạt động học tập trong các tiết học để học sinh giải quyết tốt các bài tập trong sách giáo khoa Học sinh phải hiểu sâu sắc vấn đề ,nắm chắc kiến thức và vận dụng tốt vào thực hành

Thời lượng dành cho thực hành, luyện tập trong mỗi tiết học chiếm từ 60% -70%, nên ta cần tận dụng đặc điểm này để tăng cường thực hành, giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng toán học, giải quyết về cơ bản các nhiệm vụ thực hành ngay trong các tiết toán tại lớp

Giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc, thuộc lòng các quy tắc, các công thức tính mà sách giáo khoa đã cung cấp Có kĩ năng vận dụng công thức, quy tắc vào giải quyết các bài toán trong sách giáo khoa phần thực hành

Trang 6

Giáo viên nên chuyển nội dung từng tiết dạy học toán thành các phiếu học tập hay phiếu thực hành ( nếu có điều kiện) để phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh, nêu cao hiệu quả và tăng năng suất học tập Trong quá trình biên soạn các phiếu học tập, giáo viên nên tích hợp nhiều nội dung giáo dục gắn với thực tế và gần gũi thu hút được hứng thú của học sinh, có thể thiết kế các bài tập dưới dạng bài tập trắc nghiệm, các trò chơi hay câu đố vui toán học mà không làm biến dạng nội dung cơ bản của môn toán, góp phần tăng thêm gia vị cho môn toán để các em tiếp thu bài tốt hơn

Khi học sinh đã hoàn thành tốt các bài tập trong SGK , giáo viên cần dần từng bước hình thành ở các em cách suy luận sáng tạo, biết giải các bài toán theo các cách khác nhau

2 Sử dụng tốt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn toán:

Để chuyển tải được những kiến thức khoa học tới cho học sinh, giáo viên phải sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Việc nắm bắt kiến thức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào cách thức và phương pháp giảng dạy của giáo viên

Trong xu thế dạy học hiện nay, giáo viên không còn là người truyền thụ tri thức theo một chiều, học sinh thụ động tiếp thu và làm theo Người giáo viên cần căn cứ vào vốn sống, khả năng hiểu biết của học sinh để thiết kế các hoạt động nhằm giúp học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự trợ giúp của các bạn trong nhóm, trong lớp hay của giáo viên Giaó viên trở thành người thiết kế người

tổ chức hướng dẫn các hoạt động còn học sinh là người thi công, người trực tiếp hoạt động để tìm tòi kiến thức

Trong giảng dạy giáo viên cần biết lựa chọn các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình Xuất phát từ các ví dụ hay các bài toán mẫu trong SGK, giaó viên cần tổ chức cho học sinh thảo luận để tìm ra cách giải quyết vấn đề mà bài toán đưa ra

Trên cơ sở đó giáo viên giúp các em biết tổng hợp để rút ra những nhận xét, những quy tắc hay những kết luận cần thiết Khi giảng dạy các kiến thức mới, dạng toán mới giáo viên cần chú ý các bước sau đây:

*Phương pháp chung: Tự phát hiện - Tự giải quyết - Tự chiếm lĩnh

Trang 7

* Các bước cụ thể:

Bước 1: Làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của học sinh ( làm xuất hiện vấn đề

và tạo cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu vấn đề đó)

Bước 2: Tổ chức các hoạt động học tập (theo cá nhân, theo nhóm hay cả lớp) Bước 3: Hướng dẫn học sinh trình bày ý kiến trước nhóm, trước lớp

Bước 4: Hướng dẫn học sinh nhận xét, đánh giá,bổ sung

Bước 5: Giáo viên hệ thống, kết luận vấn đề, hướng dẫn học sinh trình bày (GV chốt lại các vấn đề quan trọng)

Bước 6: Tổ chức cho học sinh luyện tập, thực hành, rèn các kĩ năng

* Lưu ý: Để triển khai các bước trên một cách có hiệu quả cần có sự trợ giúp của các phương tiện và đồ dùng dạy học, do đó trong quá trình tổ chức các họat động học tập của học sinh, giáo viên cần sử dụng các đồ dùng dạy học sao cho phù hợp và mang tính hiệu quả cao Phương pháp dạy học ở tiểu học phải phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh và điều kiện của lớp học Giáo viên cần chủ động lựa chọn, vận dụng phối kết hợp các phương pháp dạy học để phát huy hiệu quả cao nhất

3 Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực:

3.1 Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp dạy học vấn đáp trong hình thành tri thức mới.

Học sinh muốn tiếp thu tri thức mới cần có sự hướng dẫn của giáo viên bắng một hệ thống câu hỏi phù hợp Giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học nhằm chuyển giao ý đồ sư phạm của thầy thành nhiệm vụ học tập của trò

Ví dụ trong bài: "Phép nhân phân số" Hình thành phép tính nhân của 2 phân

số

4

3

5

2

Hình thành phép tính nhân của 2 phân số

4

3

5

2

cho học sinh là một vấn đề mới nếu giáo viên chỉ giới thiệu quy tắc tính, sau đó áp dụng vào luyên tập thì không phát huy được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của học sinh Do đó, giáo viên cần suy nghĩ, chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp để hướng dẫn học sinh tiếp

thu tri thức mới một cách tích cực, sáng tạo

Trang 8

Với bài học này, giáo viên có thể tổ chức hoạt động dạy học bằng hệ thống câu hỏi sau:

- Hãy tính 43 của 52

Đây là một tình huống mà học sinh chưa thể thực hiện được ngay Nhưng nếu học sinh chịu khó suy nghĩ, vận dụng kiến thức đã học ( Cách cấu tạo phân số ) hoặc giáo viên hướng dẫn thì học sinh có thể thực hiện được Ở đây, giáo viên muốn học sinh thực hiện câu hỏi trên để dẫn đến cách tính

4

3

x

5

2

- Hãy phân tích 52 thành tổng của 4 phân số bằng nhau?

Ta có: 52 = 52 44

= 208 = 202 +202 +202 +202

- Từ kết quả trên, hãy cho biết, 43 của 52 là bao nhiêu?

Ta có: 43 của 52 là 202 +202 +202 = 206

- Hãy so sánh 42 53

với kết quả 43 của 52 ? ( 42 53

= 206 )

Kết luận: Ta nói tích của 43 với 52 = 206

Viết 43 

5

2

= 34 52

= 206 Giáo viên nêu công thức tổng quát: b a

d

c

= b a d c

và yêu cầu học sinh nêu quy tắc nhân hai phân số, sau đó tổ chức: luyện tập, củng cố

3.2 Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, để tổ chức hoạt động dạy học.

Ví dụ trong bài: " Phép cộng phân số " ( tiếp theo ).

Bài toán: "Có một băng giấp màu, bạn Hà lấy 21 băng giấy, Bạn An lấy 31 băng giấy Hỏi cả 2 bạn lấy bao nhiêu phấn băng giấy màu? " ( Toán 4 trang 127 ) Sau khi học xong học sinh biết cách cộng hai phân số khác mẫu số và rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh

Hướng dẫn giải như sau:

Trang 9

+ Muốn tìm số phần băng giấy của 2 bạn Hà và An đã lấy, cần thực hiện phép tính gì? ( phép cộng: 12 + 13)

Như vậy, việc yêu cầu học sinh tính tổng hai phân số khác mẫu số là một tình huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà học sinh chưa thể giải quyết được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (học sinh chỉ mới biết tính tổng hai phân số có cùng mẫu số)

Tuy nhiên nếu học sinh chịu khó suy nghĩ hoặc được giáo viên hướng dẫn tìm cách biến đổi để đưa hai phân số đã cho thành hai phân số có cùng mẫu số (Quy đồng mẫu số) thì học sinh có thể giải quyết vấn đề kết hợp với phương pháp dạy học vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành phép cộng 2 phân số khác mẫu số

3.3 Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán phát huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.

Để giải được các bài toán này giáo viên cần triển khai các hoạt động mang tính chất thực tiễn, học sinh phải được thao tác trên đồ dùng trực quan Từ đó các

em sẽ tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học

Ví dụ: Trong bài "Phép cộng phân số"

Để hình thành phép cộng hai phân số có mẫu số bằng nhau, giáo viên và học sinh cùng thực hành trên băng giấy

- Chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau, bằng cách gấp đôi ba lần theo chiều ngang:

+ Tô màu vào 83 băng giấy

+ Tô màu vào 82 băng giấy

Nhìn vào băng giấy học sinh dễ nêu được hai lần đã tô màu được

8

5

băng

giấy Học sinh nêu: 83 + 82 = 3 82 = 85

Kết luận: Nêu được cách cộng hai phân số bằng cách lấy tử số cộng với nhau

và giữ nguyên mẫu số

Trang 10

3.4 Giúp học sinh tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình:

- Cho các em làm các bài theo thứ tự trong sách giáo khoa, không bỏ bài nào, kể cả bài dễ, bài khó

- Không bắt học sinh chờ đợi nhau trong khi làm bài Làm xong chuyển sang bài tiếp theo

- Học sinh này có thể làm nhiều bài hơn học sinh khác:

Ví dụ: Khi dạy bài : “ Tính bằng cách thuận tiện nhất ”

5

3

+

10

6

+

10

8

=

5

3

+ (

10

6

+

10

8

) =

5

3

+

10

14

=

10 20

Có thể một số em vẫn thực hiện theo thứ tự của các phép tính trong biểu thức,

ra kết quả đúng nhưng chưa nhanh và chưa hợp lí Giáo viên nên hướng dẫn học sinh các tính chất đã học của phép cộng để tìm ra cách giải thuận tiện.Hoặc trong bài luyện tập của phép nhân thì giáo viên phải dẫn dắt học sinh nhớ lại kiến thức đã học đó là:

* Tính chất giao hoán của phép nhân

* Tính chất kết hợp của phép nhân

* Tính chất nhân một số với một tổng ( Hoặc một tổng nhân với một số )

* Tính chất nhân một hiệu với một số ( Hoặc một số nhân với một hiệu ) Học sinh phải vận dụng nhanh các tính chất này vào giải toán: Khi nào vận dụng tính chất này, khi nào vận dụng tính chất kia:

Ví dụ: 2  10 + 10  5 = 10  ( 2 + 5 ) = 10  7 = 70 ( Áp dụng tính chất nhân một số với một tổng )

4 Thực hiện tốt khâu kiểm tra đánh giá học sinh:

Tích cực đổi mới kiểm tra đánh giá đó là đánh giá chất lượng dạy của thầy và đánh giá chất lượng học của học sinh Đánh giá thực chất sẽ tạo động lực nâng cao chất lượng dạy và học Những yêu cầu và nội dung kiểm tra phải bám sát quá trình học tập, bám sát mục tiêu môn học, chuẩn kiến thức kỹ năng, có sự phân hoá theo từng đối tượng học sinh Kiểm tra đánh giá phải đảm bảo chính xác và khách quan, tôn trọng kết quả của học sinh, động viên biểu dương học sinh kịp thời, nhắc nhở phê bình khéo léo tránh cho các em mặc cảm, chán nãn

Ngày đăng: 20/10/2016, 08:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w