1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm MỘT VÀI BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỶ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM MÔN VẬT LÝ LỚP 8

20 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 210 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT VÀI BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỶ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM MÔN VẬT LÝ LỚP 8 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa với mục tiêu Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi ngành Giáo Dục cần có những thay đổi mạnh mẽ về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển. Nghị quyết Trung Ương Đảng lần thư 4 khóa VII đã được thể chế trong bộ luật Giáo Dục năm 2005 xác định: “Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Việc dạy học vật lý có những khả năng to lớn trong việc rèn luyện học sinh, khả năng tư duy lôgic và tư duy biện chứng, hình thành ở các em niềm tin về bản chất khoa học của các hiện tượng tự nhiên cũng như khả năng nhận thức của con người về thế giới xung quanh, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống. Trong mục tiêu của môn Vật lý cũng đã xác định rõ: Ngoài việc phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lý cơ bản phổ thông, còn phải hình thành cho các em những kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, truyền đạt thông tin, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và phục vụ cuộc sống. Rèn luyện cho các em thói quen làm việc khoa học là góp phần tạo ra các năng lực hành động, năng lực tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề. Đây là chìa khóa của sự thành công trong cuộc sống. Tuy nhiên, hiện tượng học sinh yếu kém bộ môn Vật lý trong trường THCS, ở bất cứ địa phương nào, năm học nào, khối học nào cũng có. Nguyên nhân thì rất nhiều, có em do khả năng hạn chế của bản thân, có em do sự lười học lâu ngày mà thành hổng kiến thức, hạn chế hoặc mất hẳn kỹ năng giải toán, có em do không đủ kiến thức, kỹ năng… và còn rất nhiều nguyên nhân khác. Cụ thể, đối với học sinh lớp 8, phần lớn là do các em bắt đầu chuyển từ giải bài tập ở dạng định tính sang dạng bài tập định lượng nên còn nhiều bỡ ngỡ, một số em chưa theo kịp. Vì vậy, chất lượng ở bộ môn Vật lý khối 8 sẽ sụt giảm hơn so với khối 7. Vậy “làm như thế nào” để học sinh vừa lấy lại được kiến thức cơ bản nhất ở lớp dưới, vừa hình thành những kỹ năng làm làm bài tập vật lý 8 và cao hơn là hạn chế được tỉ lệ học sinh yếu kém trong bộ môn. Đây thực sự là một nỗi niềm trăn trở của người giáo viên Và đó chính là lí do tôi chọn đề tài này.

Trang 1

MỘT VÀI BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỶ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM MÔN VẬT LÝ LỚP 8

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa với mục tiêu Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi ngành Giáo Dục cần có những thay đổi mạnh mẽ về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển

Nghị quyết Trung Ương Đảng lần thư 4 - khóa VII đã được thể chế trong bộ luật Giáo Dục năm 2005 xác định: “Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Việc dạy học vật lý có những khả năng to lớn trong việc rèn luyện học sinh, khả năng tư duy lô-gic và tư duy biện chứng, hình thành ở các em niềm tin về bản chất khoa học của các hiện tượng tự nhiên cũng như khả năng nhận thức của con người về thế giới xung quanh, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống

Trong mục tiêu của môn Vật lý cũng đã xác định rõ: Ngoài việc phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lý cơ bản phổ thông, còn phải hình thành cho các

em những kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, truyền đạt thông tin, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và phục vụ cuộc sống Rèn luyện cho các em thói quen làm việc khoa học là góp phần tạo ra các năng lực hành động, năng lực tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề Đây là chìa khóa của sự thành công trong cuộc sống

Tuy nhiên, hiện tượng học sinh yếu kém bộ môn Vật lý trong trường THCS, ở bất cứ địa phương nào, năm học nào, khối học nào cũng có Nguyên nhân thì rất nhiều, có

em do khả năng hạn chế của bản thân, có em do sự lười học lâu ngày mà thành hổng

Trang 2

kiến thức, hạn chế hoặc mất hẳn kỹ năng giải toán, có em do không đủ kiến thức, kỹ năng… và còn rất nhiều nguyên nhân khác

Cụ thể, đối với học sinh lớp 8, phần lớn là do các em bắt đầu chuyển từ giải bài tập ở dạng định tính sang dạng bài tập định lượng nên còn nhiều bỡ ngỡ, một số em chưa theo kịp Vì vậy, chất lượng ở bộ môn Vật lý khối 8 sẽ sụt giảm hơn so với khối 7 Vậy “làm như thế nào” để học sinh vừa lấy lại được kiến thức cơ bản nhất ở lớp dưới, vừa hình thành những kỹ năng làm làm bài tập vật lý 8 và cao hơn là hạn chế được tỉ lệ học sinh yếu kém trong bộ môn Đây thực sự là một nỗi niềm trăn trở của người giáo viên! Và đó chính là lí do tôi chọn đề tài này

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

1 Cơ sở lý luận:

Thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung do Bộ GD & ĐT phát động, trong đó có nội dung “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” là một trong những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta hiện nay nhằm đánh giá thực chất chất lượng học sinh Bên cạnh đó cũng phản ánh được chất lượng và hiệu quả giảng dạy của giáo viên

Những học sinh lên lớp là những học sinh có kiến thức thực sự, xứng đáng đựơc lên lớp Những học sinh không đảm bảo được yêu cầu sẽ không được lên lớp Xuất phát

từ vấn đề này, chúng ta không thể hiểu theo hướng là vô tư để học sinh yếu kém “ở lại lớp” mà không có trách nhiệm của giáo viên trong đó

Đối tượng học sinh học tập yếu, kém vẫn luôn tồn tại trong giáo dục, tuy nhiên về số lượng học sinh yếu, kém nhiều hay ít và mức độ tiến bộ của học sinh yếu, kém nhanh hay chậm trong quá trình được giáo dục và rèn luyện mới là điều đáng quan tâm của riêng mỗi nhà trường

Tuy cùng được học một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau, có điều kiện hoàn cảnh sống và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau, môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập, khả năng tiếp thu kiến thức

Trang 3

của mỗi học sinh cũng phải khác nhau…Chất lượng bộ môn Vật lý trong trường THCS Vĩnh An nói riêng và tình trạng chung với hầu hết các trường trong huyện

tương đối thấp Cụ thể, chất lượng bộ môn Vật lý (tỷ lệ %) trong năm học 2013 –

2014 của trường THCS Vĩnh An như sau:

TRUNG BÌNH

TRÊN TRUNG BÌNH

TOÀN

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu kém gồm có chủ quan và khách quan mà nếu giáo viên kịp thời quan tâm, giáo dục sẽ giúp cho nhiều học sinh yếu kém tiến bộ và thoát khỏi tình trạng yếu kém

Giúp đỡ học sinh yếu kém được gắn với cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”

Để đạt được kết quả tốt trong giảng dạy người thầy phải có niềm say mê, tình yêu thương đối với mọi học trò, tính kiên nhẫn , có niềm tin và không ngại khó Là giáo viên đứng lớp, được tiếp xúc với các em hàng ngày, hiểu được tâm lí của lứa tuổi học trò, luôn tạo cho các em niềm tin: “ Mỗi ngày đến trường là một niềm vui” Khi các

em đã yêu thích môn học rồi thì việc hạn chế được tỉ lệ học sinh yếu kém là không khó

2 Nội dung, biện pháp thực hiện:

2.1 Xác định, phân loại học sinh và tìm hiểu nguyên nhân:

Sau khi tổ chức khảo sát chất lượng học sinh đầu năm cần:

Trang 4

So sánh kết quả khảo sát chất lượng đầu năm này với kết quả xếp loại học lực cuối năm qua; các chỉ số về tỷ lệ tăng hay giảm?

Bước tiếp theo có thể khảo sát, tìm ra nguyên nhân học sinh học tập yếu kém vì các nguyên nhân như:

Do học sinh:

- Tiếp thu chậm; hỏng kiến thức; khả năng tính toán còn yếu;

- Chưa xác định mục đích, động cơ học tập, chưa tập trung trong giờ học;

- Làm bài không cẩn thận trong quá trình làm bài;

- Chưa có phương pháp học tập đúng đắn, chưa biết cách vận dụng công thức vào giải bài tập

Do giáo viên:

- Còn một số giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức đến đối tượng học sinh yếu, kém Chưa theo dõi sát xao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh

- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học sinh yếu kém không theo kịp

- Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm huyết với nghề, chưa thật sự “giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình và nhụt chí không tự vươn lên

- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình

Về phía phụ huynh:

Còn một số phụ huynh HS:

- Thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em Phó mặc mọi việc cho nhà trường

- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến trẻ không chú tâm vào học tập

- Học sinh ở với ông bà già yếu không quản lý được việc học của cháu

- Bố mẹ trình độ văn hóa thấp, nên khó chỉ dạy, theo sát được việc học của con mình

Trang 5

Sau khi phân tích nguyên nhân yếu kém của học sinh, giáo viên lập kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng học sinh

2.2 Tạo động cơ, gây lòng tin, hứng thú say mê, yêu thích học tập bộ môn cho học sinh.

- Cho học sinh thấy được vai trò, tầm quan trọng của bộ môn, tạo cho học sinh có nhu

cầu nâng cao tri thức môn học Nắm vững tâm lí lứa tuổi của các em học sinh tạo động cơ quyết tâm phấn đấu vươn lên để tự khẳng định mình “ Động cơ học tập không có sẵn, không thể áp đặt, phải hình thành dần dần trong quá trình học sinh chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiển của thầy ”

- Để thực hiện được vấn đề này, điều quan trọng là giáo viên phải luôn gần gũi, là

điểm tựa đáng tin cậy của các em học sinh Để học sinh có thể thấy rằng muốn đạt được mục tiêu trong học tập, ngoài môi trường, các tác nhân thuận lợi còn phải có sự cố gắng quyết tâm của thầy và trò trong quá trình học tập Sẽ có kết quả tốt hơn nếu giáo viên tổ chức được các buổi ngoại khóa tìm hiểu về vai trò của Vật lý trong đời sống, sản xuất; các buổi nói chuyện về các nhà bác học, những nghành nghề liên quan đến Vật lý; tổ chức những buổi sinh hoạt giới thiệu những tấm gương học tốt, gương chăm học, từ xưa đến nay, trong nước và nước ngoài nhằm kích thích sự yêu thích môn học của học sinh

- Cần giúp học sinh xác định đúng động cơ, thái độ học tập: Học là để có kiến thức,

để làm người, để chiếm lĩnh tri thức của loài người, biến kiến thức đó thành kiến thức của mình, học để lập thân, lập nghiệp nhằm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Và đơn giản nhất là học để vận dụng các kiến thức đó giúp ta xử lý các tình huống, công việc của chính mình trong cuộc sống hàng ngày một cách khoa học và hiệu quả Có như vậy học sinh mới tự giác học tập, chăm chỉ học tập, cố gắng vươn lên

- Vậy phải làm gì để gây lòng tin, tạo hứng thú, sự say mê, yêu thích bộ môn Vật lý

cho học sinh Đó chính là do người thầy, người cô chỉ dẫn, dìu dắt học sinh, kích thích học sinh qua các thí nghiệm dễ, gần gũi với đời sống để khơi dậy sự yêu thích môn học của các em

Trang 6

Ví dụ: Bài 9: Áp suất khí quyển

Để giới thiệu bài mới, thay vì giới thiệu như trong sách giáo khoa, cho Hs quan sát tranh ảnh hoặc cho học sinh quan sát một đoạn phim về “úp ngược một ly nước đầy được đậy kín bằng 1 tấm bìa không thấm nước” Rồi đặt câu hỏi vào bài mới: tại sao nước trong ly không chảy ra ngoài?

Thay vào đó: giáo viên có thể cho cả lớp quan sát một màn trình diễn ảo thuật (chính là thí nghiệm trên) do chính một bạn trong lớp thực hiện (dưới sự hướng dẫn trước của giáo viên) Cách làm trên, chắc chắn sẽ hấp dẫn hơn, thu hút được sự chú ý của các em Đó chính là thành công lớn ngay từ ban đầu, kích thích các em tìm hiểu các nội dung tiếp trong bài học

- Tạo cho học sinh hứng thú bằng sự thay đổi phương pháp, hình thức dạy học: Linh hoạt đa dạng trong mỗi giờ, mỗi phần, chú ý hoạt động đặc trưng bộ môn ( thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành), sử dụng phương tiện kĩ thuật dạy học Học sinh rất hào hứng khi được tham gia thí nghiệm trong giờ hay trong phòng thực hành, bài học sẽ có kết quả tốt hơn khi sử dụng các phương tiện như máy vi tính, máy chiếu đa năng, các phần mềm,

Ví dụ: Bài 22 Dẫn nhiệt

Trong phần II Tính dẫn nhiệt của các chất; câu C6 thay vì cho học sinh đọc và quan sát Hình 22.3 rồi trả lời thì: Giáo viên có thể thực hiện thí nghiệm này và thay cục sáp bằng con cá nhỏ Qua thí nghiệm, giáo viên đặt câu hỏi: tại sao khi đun, nước phía trên miệng ống sôi mà con cá vẫn còn sống?

Khi thấy hiện tượng thực tế này, học sinh rất thích thú nên sẽ cố gắng tìm hiểu cũng như ghi nhớ kiến thức

- Tạo hứng thú từ phong cách làm việc của thầy qua từng bài giảng trong quá trình nghiên cứu bộ môn; từ sự gần gũi, sự nhìn nhận của thầy trong sự cố gắng, nỗ lực của học sinh Tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong mỗi giờ học (yêu cầu nghiêm túc nhưng nhẹ nhàng , không căng thẳng ), đây chính là nghệ thuật sư phạm của người thầy nhờ sự nắm vững kiến thức khoa học của bộ môn, hiểu và nắm vững quy luật

Trang 7

nhận thức, tâm lý học lứa tuổi, tâm lí sư phạm , hiểu rõ và đồng cảm với đối tượng học sinh mà mình dạy

- Tạo hứng thú, yêu thích bộ môn từ việc lựa chọn bài tập có ý nghĩa ( đặc biệt các bài tập có liên quan đến thực tiễn, bài tập có nhiều cách giải hay, sáng tạo), bài tập có yêu cầu phù hợp với đối tượng học sinh, sao cho đối tượng yếu kém nếu thực sự cố gắng cũng hoàn thành được yêu cầu thầy giao Bài tập được nâng dần theo chất lượng và mức độ yêu cầu

Ví dụ: Bài 23 Đối lưu – Bức xạ nhiệt

Học xong bài này, để củng cố kiến thức cả ba hình thức truyền nhiệt, ta có thể liên hệ một số câu hỏi như sau:

 Vào mùa hè, ta nên chọn, mặc quần áo có màu sắc như thế nào?

 Vào mùa đông, ta nên mặc một lớp áo dày hay nhiều lớp áo mỏng? Vì sao? Nên chọn lựa màu sắc của áo như thế nào?

 Đèn kéo quân có cấu tạo chính gồm những gì? Đèn quay được là do đâu?

2.3 Đổi mới phương pháp dạy và học.

- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động

học tập của học sinh Việc đổi mới cần gắn với khai thác, sử dụng thiết bị giáo dục trên cơ sở bám sát nội dung sách giáo khoa, yêu cầu bộ môn về chuẩn kiến thức kĩ năng

- Đổi mới phương pháp dạy học, phải đổi mới từ khâu soạn giảng, quá trình lên lớp,

đến kiểm tra đánh giá Bài soạn thực sự là bản thiết kế để giáo viên thực hiện trong giờ dạy, kèm theo bản thiết kế là sự chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết cho giờ dạy.Ở mỗi bài dạy cần:

+ Xác định đúng, đủ mục tiêu bài học theo đặc điểm từng dạng bài

+ Cải tiến hình thức tổ chức hoạt động để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh

+ Hệ thống kiến thức phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức, cần giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài

Trang 8

+ Mỗi bài học cần xây dựng một số câu hỏi then chốt nhằm khai thác những kiến thức trọng tâm của bài

+ Tăng cường sử dụng dồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả tiết dạy

+ Đối với các tiết thực hành cần chuẩn bị đồ dùng và thực hiện các thí nghiệm trước khi lên lớp để bảo đảm các thí nghiêm thành công Đồng thời dự kiến trước các tình huống thí nghiệm thất bại xảy ra đối với học sinh để hướng dẫn cho các em làm tốt

- Trong giờ, học sinh phải được làm việc tham gia chiếm lĩnh kiến thức mới Để thực

hiện tốt vấn đề này giáo viên cần quan tâm tới các đối tượng học sinh, đặc biệt với học sinh yếu kém Dạy học sinh cách học trong đó có phương pháp tự học là yêu cầu bắt buộc luôn phải đặt ra trong mỗi giờ lên lớp

- Lồng ghép dạy kiến thức với bù lấp kiến thức hổng cho học sinh và dùng kiến thức

mới để soi sáng, củng cố kiến thức mà học sinh đã học trước đó

- Xây dựng hệ thống bài tập trong giờ phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau.

Có câu hỏi phát hiện dấu hiệu bên ngoài, có câu hỏi về bản chất, cần có tư duy, so sánh, khái quát tổng hợp cao

* Dạy học sinh trong đó có tự học: Học  Hỏi  Hiểu  Hành

- Biết cách học từng phần, từng nội dung, từng bài Biết cách ghi nhớ, ghi nhớ có

chọn lọc, nhớ để hiểu và hiểu giúp ghi nhớ dễ hơn, sâu hơn lâu hơn

- Hiểu mấu chốt, vì vậy học sinh phải biết cách xây dựng câu hỏi để tự trả lời và nhờ

người khác trả lời, luôn đặt ra câu hỏi “tại sao ?” để tự trả lời, trước một vấn đề mới, vấn đề nghiên cứu, trước một lời giải hay cách giải quyết của bản thân và người khác

- Nâng cao năng lực khái quát hóa, tổng hợp trong học và tự học, biết sử dụng phương pháp xây dựng “ Cây kiến thức ” để củng cố, hoàn thiện kiến thức kĩ năng.

- Cho học sinh làm việc nhiều hơn, tăng cường bài tập vận dụng kiến thức, bài tập rèn

luyện kiến thức, bài tập rèn luyện kĩ năng thích hợp cho các đối tượng “Hiểu” để

“Hành” và “Hành” để sáng tỏ kiến thức đã “Hiểu” Học trước hết để hiểu, hiểu trên cơ sở đó mà hành Hiểu là điểm tựa, hành để phát triển

Trang 9

2.4 Tổ chức phụ đạo học sinh yếu kém

Giáo viên nên chấp nhận mọi trình độ của học sinh kể cả “không có chữ nào”.

Bù lấp kiến thức cơ bản cho học sinh yếu kém để các em kịp thời hòa nhập với lớp Cần kết hợp nhiều phương pháp:

a Phụ đạo ngay trong tiết học chính khóa

- Trong phương pháp dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, giáo viên tăng cường hướng dẫn thêm để các em được làm 1 số bài tập có thể ít hơn số HS khá giỏi nhưng phải bảo đảm thành thạo về kiến thức và kỹ năng giải đúng các bài tập đó

- GV tìm phương pháp giảng dạy thích hợp, có trọng tâm, nhằm thẳng vào các yêu cầu quan trọng nhất, với mức độ yêu cầu vừa sức các em để nâng dần lên Không nôn nóng, sốt ruột, khắc phục tính ngại khó và những định kiến thiếu tin tưởng vào tiến bộ

- Khi giảng dạy các kiến thức mới, giáo viên cần thường xuyên theo dõi sự chú ý, khả năng tiếp thu của học sinh yếu kém, kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài giảng Thường xuyên gọi các em trả lời những câu hỏi ở mức độ vừa phải nhằm tăng tính tích cực của học sinh và giúp các em hiểu rõ bài học hơn

- Phần dặn dò: ngoài việc hướng dẫn các em câu hỏi tìm hiểu bài mới, giáo viên không nên chỉ dặn “các em về nhà nhớ làm bài tập trong sách bài tập” mà phải dặn rõ lượng bài tập đối với từng đối tượng HS khá – giỏi và HS Trung bình – Yếu

Trong các tiết sau, giáo viên cần kiểm tra việc học bài cũ cũng như làm bài tập đã giao của các em, đặc biệt là các em còn yếu

b Tổ chức nhóm học tập

Bên cạnh việp giúp đỡ các em trong giờ học chính khóa cần phân loại để tổ chức giúp đỡ riêng ngoài giờ theo nhóm học sinh Những lớp có những học sinh tích cực, có phương pháp học và tự học tốt có thể xây dựng nhóm bạn giúp đỡ Để tổ chức có hiệu

Trang 10

quả, giáo viên phải hướng dẫn cụ thể cách thức hoạt động của nhóm, của mỗi thành viên trong nhóm, phải thường xuyên theo dõi uấn nắn, điều chỉnh kịp thời

Cụ thể: Tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn trung bình, yếu, kém về:

+ Kiểm tra đồ dùng học tập, việc ghi chép của bạn

+ Hướng dẫn cách học tập, cách làm bài tập, và phương pháp vận dụng kiến thức

c Tiến hành tiết phụ đạo đối với những học sinh có học lực trung bình, yếu:

Trường THCS Vĩnh An của tôi, được sự quan tâm tận tình của Ban giám hiệu, đã tổ chức phân loại và mở lớp phụ đạo cho các học sinh trung bình, yếu, kém Mỗi đơn vị lớp có số lượng học sinh khoảng 20 em, lực học tương đối đều nhau nên giáo viên có thời gian theo dõi và giúp đỡ các em được tốt hơn

Trong các buổi này, chủ yếu kiểm tra việc lĩnh hội các kiến thức giảng dạy trên lớp, nếu thấy các em chưa nắm chắc phần nào, thì tiến hành ôn tập củng cố kiến thức để các em nắm vững chắc hơn, nói chuyện để tìm hiểu thêm những chổ các em chưa hiểu hoặc chưa nắm chắc để bổ sung, củng cố Hướng dẫn phương pháp học tập: học bài, làm bài, việc tự học ở nhà

Trước khi muốn làm bất kỳ một dạng bài tập nào, giáo viên cần phải:

Bước 1: Ôn lại kiến thức

Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền ( những kiến thức cơ bản, có nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu hỏi và bài tập) trong tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh, (cho học sinh nhắc lại) và chốt lên góc bảng

Vật lý 8 có rất nhiều công thức và theo kinh nghiệm dạy học, đa số các em yếu kém thường lười học bài, không nhớ được công thức và không xác định được tên các đại lượng, các dữ kiện có trong bài Do đó, các em không giải được bài tập

Giáo viên yêu cầu học sinh học thuộc công thức, học thuộc tên từng đại lượng, đơn vị (Nếu về nhà không học thì phải học thuộc ngay trên lớp)

Ngày đăng: 11/11/2016, 23:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w