ĐẶT VẤN ĐỀ: Chúng ta đã biết, việc dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học mục tiêu quan trọng nhất là: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng việt nghe, nói, đọ
Trang 1MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1
KIỀU THANH HUY
Giáo viên trường Tiểu học Bán trú “B” Tân Châu
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chúng ta đã biết, việc dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học mục tiêu quan trọng nhất là: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng việt ( nghe, nói, đọc, viết ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy…
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Việc giao tiếp bằng tiếng Việt được thực hiện thông qua hai dạng ngôn ngữ : lời nói và chữ viết Để có thể hiểu được nội dung giao tiếp, người
ta phải nghe và đọc được tiếng Việt Để có thể bày tỏ ý nghĩ, tình cảm của mình, người ta phải nói hoặc viết được tiếng Việt trong cả hai dạng ngôn ngữ ( lời nói và chữ viết ) Dạy sử dụng tiếng Việt là dạy cách dùng tiếng Việt trong cả hai dạng ngôn ngữ ; là dạy cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết;
là dạy học sinh lĩnh hội và sản sinh các ngôn bản bằng tiếng Việt
Hình thức giao tiếp bằng lời ( nghe – nói ) và hình thức giao tiếp bằng chữ ( đọc – viết ) có mối quan hệ mật thiết với nhau, thực hiện tốt việc giao tiếp bằng lời sẽ làm cơ sở để dạy hình thành giao tiếp bằng chữ và ngược lại dùng hình thức giao tiếp bằng chữ làm cơ sơ để hoàn thiện hình thức giao tiếp bằng lời
Trong việc giảng dạy môn Tiếng việt lớp Một, giáo viên cần có những biện pháp và hình thức rèn luyện kĩ năng nghe – nói như thế nào để học sinh tiếp thu được bài học theo yêu cầu đề ra? Đây là vấn đề gây khó khăn không nhỏ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy – học môn Tiếng Việt Những khó khăn đó là do chúng ta chưa xây dựng được chính âm trong nhà trường
Chính âm là cách phát âm phù hợp với chuẩn phát âm đã được thừa nhận trong một ngôn ngữ Yêu cầu cơ bản của chính âm là xây dựng một cách phát âm chuẩn thống nhất trong phạm vi toàn dân, để cho ngôn ngữ có thể thực hiện thuận lợi chức năng làm công cụ giao tiếp của mình
Trang 2Điều quan trọng muốn nói ở đây là: chính âm trong tiếng Việt với nội dung cơ bản như đã nói ở trên đã được nhân dân thừa nhận, nhưng nó lại không tồn tại trong thực tế mà chỉ tồn tại trong ý thức, trong đầu óc của đại
đa số người nói tiếng Việt
Chữa lỗi phát âm là biện pháp bổ trợ cho học sinh viết đúng chính tả
vì trong ngôn ngữ mà chữ viết được xây dựng theo nguyên tắc ngữ âm học, như tiếng Việt thì chính âm và chính tả có mối quan hệ rất mật thiết bổ trợ cho nhau
Nhận thức được tầm quan trong của việc dạy học sinh phát âm đúng chính âm ở cấp Tiểu học nhất là ở khối Một – Khối đầu cấp, nên tôi chọn đề tài :” Một số biện pháp giúp học sinh phát âm đúng khi học môn Tiếng Việt lớp 1.” để nghiên cứu
II NỘI DUNG, BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT:
1 Quá trình phát triển kinh nghiệm:
Qua quá trình học tập, giảng dạy, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiện cứu tài liệu, tôi đã nghĩ ra một số biện pháp giúp học sinh phát âm đúng
Trước đây, trong quá trình dạy học âm, chương trình bắt buộc phải phân biệt rõ nguyên âm và phụ âm, dựa vào tiêu chí phát âm mà giáo viên hướng dẫn học sinh phát âm chính xác, đồng thời đối với học sinh cũng phải biết phân biệt được nguyên âm, phụ âm Cái khó đối với học sinh là, qua việc phát âm các em phải nhận ra được đâu là nguyên âm, đâu là phụ âm, dựa vào khi phát âm luồng hơi phát ra như thế nào Điều này khiến cho các
em gặp nhiều lúng túng gây ảnh hưởng đến thời gian tiết học Vì giáo viên phải giải thích nhiều lần mà chưa chắc gì học sinh nắm được
Qua nhiều năm thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới tôi thấy tâm đắc, bởi chương trình không đặt nặng vấn đề trên, miễn sao khi đứng lớp giáo viên dạy học sinh phát âm đúng theo yêu cầu đã đề ra là đạt Nói như vậy, không phải là chúng ta không còn coi trọng vấn đề trên trong lúc dạy học sinh phát âm, mà ngược lại còn đòi hỏi người giáo viên phải nắm một cách chắc chắn hơn nữa đặc điểm phát âm của hệ thống nguyên âm và phụ âm Các tiêu chí phát âm của âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối Đồng thời giáo viên còn sử dụng một số biện pháp bổ trợ nhằm giúp các em phát
âm chính xác
2 Nội dung – Biện pháp tiến hành :
2.1) Dạy học phần âm:
a) Biện pháp thứ nhất:
Dạy học sinh phát âm dựa vào tiêu chí khu biệt nguyên ân, phụ âm:
Trang 3Để học sinh phát âm đúng, thì đây là vấn đề quan trọng mà giáo viên nào cũng phải nắm tường tận trong việc hướng dẫn học sinh phát âm và cũng là yếu tố quyết định sự thành công của tiết dạy âm
Đặc trưng chung của nguyên âm:
Để thấy rõ những đặc điểm của nguyên âm nên đối chiếu nó với phụ âm
Nguyên âm do thanh tạo nên còn phụ âm về cơ bản là tiếng động
* Bảng phân loại và miêu tả nguyên âm tiếng Việt:
Chiều hướng
lưỡi
Độ mở hình dáng
của miệng môi
hàng trước hàng sau hàng sau
Không tròn môi
không tròn môi
tròn môi
iê
ư ươ
u uô Hơi hẹp ê ơ â ô
Hơi rộng e
o
* Tiêu chí khu biệt nguyên âm : Có 3 tiêu chí khu biệt nguyên âm :
- Chiều hướng của lưỡi: Khi phát nguyên âm lưỡi có thể đưa ra phía
trước hoặc lùi về phía sau
Ta có:
+ Nguyên âm hàng trước ( lưỡi đưa ra phía trước ): i , iê, ê, e
+ Nguyên âm hàng sau ( lưỡi thụt vào phía trong ) : ư, ươ, ơ, a, ă, â, u,
uô, ô, o
- Độ mở của miệng: Khi phát âm các nguyên âm, miệng có thể mở từ
: hẹp – hơi hẹp – hơi rộng – rộng Ta có:
+ Nguyên âm hẹp : ( miệng mở hẹp ) : i, ư, u
+ Nguyên âm hơi hẹp : ( miệng mở hơi hẹp ) : ê, ơ, ô, â
+ Nguyên âm hơi rộng: ( miệng mở hơi rộng ): e, o
Trang 4+ Nguyên âm rộng ( miệng mở rộng ): a, ă.
- Hình dáng của môi : Khi phát các nguyên âm, hai môi có thể
khép thành vòng tròn hoặc không
Ta có:
+ Các nguyên âm tròn môi : u, uô, ô, o
+ Các nguyên âm không tròn môi: i, ê, iê, e, ư, ơ, â, ươ, a, ă
Chỉ cần 3 tiêu chí này mà không cần hơn vì chúng đáp ứng điều kiện
cần và đủ cho việc xác định khả năng cộng hưởng của một khoang rỗng vốn
phụ thuộc vào thể tích , hình dáng và lối thoát của không khí
Bảng phân loại và miêu tả hệ thống phụ âm tiếng Việt :
Phương
thức
phát
âm
Độ rung của
dây thanh
Vị trí phát âm
mặt lưỡi
cuối
môi răng răng ngạc
cứng
tắc
không
vang
vô thanh p t tr ch c(k,q)
hữu thanh b đ
th
xát
không
hữu thanh v d,gi r g (gh)
vang
- Về phương thức cấu âm : Có 3 phương thức chính: tắc, xát, rung
+ Âm tắc:là nhóm phụ âm: p, b, t, th, n, tr, ch, k ( c, q )
Khi phát âm một âm tắc thì lưỡi con nâng lên bịt kín lối thông lên mũi
và không khí bị cản trở hoàn toàn do những bộ phận khác nhau ở miệng,
muốn thoát ra phải phá vỡ sự cản trở ấy, tạo nên tiếng động
+Âm mũi: cũng thuộc loại phương thức tắc, nhưng được xếp thành
nhóm riêng Khi phát âm lưỡi con hạ xuống Không khí không ra qua miệng
được, trở ra bằng đường mũi Vì dây thanh trấn động mà không khí ra tự do
nên tỉ lệ thanh so với tiếng động là rất lớn và những âm này được gọi là âm
vang Các âm : m, n, nh, ng ( ngh)
+ Âm xát: Được chia thành 2 loại: ph, x, s, kh, h v, d, gi, r, g (gh),l
Âm rung: Xét về độ rung của dây thanh có vô thanh, hữu thanh
Âm vang: / l / ( Còn gọi là âm bên Vì khi phát âm luồng hơi từ phổi
lên thoát ra ngoài ở một trong số hai bên cạnh lưỡi)
Trang 5- Về vị trí cấu âm:
Từ ngoài vào trong có nhiều vị trí, ở đó các âm tố được cấu tạo do sự nhích lại gần nhau của các bộ phận cấu âm Một bộ phận tĩnh như: răng, lợi, ngạc, mạc, một bộ phận động như : môi, lưỡi con, lưỡi với sự phân chia khu vực kèm theo các tên gọi khác nhau : đầu lưỡi, mỏm lưỡi mặt lưỡi trước, mặt lưỡi giữa, mặt lưỡi sau, gốc lưỡi Để tạo nên một chướng ngại cần phải
có hai bộ phận
Ở cùng một vị trí, với những phương thức cấu âm khác nhau người ta
có những âm khác nhau Dưới đây ta sẽ phân loại các âm quan sát theo từng
vị trí
Âm môi trong đó có hai tiểu nhóm:
+ Môi – môi : p, b, m
+ Môi – răng: ph, v
Âm đầu lưỡi trong đó có hai tiểu nhóm:
+ Đầu lưỡi – răng : t, đ, th, n, x, d, gi, l
Các âm này được phát với đầu lưỡi và mặt răng trong của hàm răng trên :t, đ, th, n, l ; mặt răng trong của hàm dưới : x, gi, d
+ Đầu lưỡi – ngạc cứng ( còn gọi là âm quặt lưỡi ): tr, s, r
Các âm này được phát với đầu lưỡi nâng cao và quặt về phía sau để mặt dưới của đầu lưỡi tiếp cận với phần sau lợi , tức giữa lợi và ngạc
+ Âm mặt lưỡi ( âm ngạc ): ch, nh Các âm này được phát với mặt lưỡi tiếp xúc với ngạc cứng
+ Âm cuối lưỡi : c (k, q ), ng, kh, g (gh)
Các âm này khi phát âm mặt lưỡi sau tiếp xúc với ngạc tạo nên một chướng ngại
+ Âm họng : h
Được cấu tạo do sự đóng hoặc thu hẹp dây thanh
b) Biện pháp thứ hai:
Sử dụng cử chỉ điệu bộ trong việc day phát âm :
Trong khi mô ta cách phát âm, để giúp học sinh nắm được vị trí phát
âm thôi thường sử dụng hai ngón tay ( ngón cái và ngón trỏ ) như là một bộ máy phát âm thu nhỏ
- Ngón tay cái giữ vai trò như : môi dưới, răng dưới, lưỡi
- Ngón tay trỏ giữ vai trò như : môi trên ,răng trên, lợi, ngạc cứng, ngạc mền
a môi
b răng
Trang 6c lợi ( nưới răng )
d ngạc cứng
đ ngạc mềm (Có hình minh họa)
e lưỡi con
g đầu lưỡi
h mặt lưỡi trước
i mặt lưỡi sau ( cuối lưỡi )
k nắp họng
Dùng cách này kết hợp với việc miêu tả cách phát âm trong lúc giáo viên phát âm mẫu để học sinh quan sát theo dõi, học sinh nắm được vị trí phát âm và việc phát âm của học sinh sẽ dễ dàng và chính xác hơn
Cách này chủ yếu giáo viên dựa vào tiêu chí phát âm của hệ thống nguyên âm và phụ âm đã nêu ở phần trên
Cách tiến hành:
- Giáo viên phát âm mẫu, đứng ở vị trí cả lớp dễ quan sát khuôn miệng , phát âm rõ, chính xác
- Giáo viên mô tả cách phát âm ( nêu đặc điểm hoạt động của bộ máy phát
âm – chú ý: độ mở của miệng, vị trí của lưỡi, hình dáng của môi )
- Phát âm thị phạm một cách rõ ràng để học sinh theo dõi
- Phát âm thị phạm lại kết hợp dùng 2 ngón tay mô tả (nếu cần thiết)
Học sinh phát âm theo mẫu vài lượt, sau đó từng em phát âm lại -giáo viên nhận xét sửa chữa hoặc cho học sinh biết phát âm đúng thực hiện lại cho bạn nghe và sửa phát âm sai
- Luyện phát âm ( Cá nhân – nhóm – cả lớp )
VD:
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /b/, /p/, /m/
Ta xác định đây là phụ âm : môi – môi
Giáo viên mô tả cách phát âm và kết hợp dùng hai ngón tay cong lại Hai vùng vân tay của hai ngón tay chạm vào nhau vừa phát âm vừa thị phạm chậm rãi vừa bật hai ngón tay ra theo độ mở vừa phải của miệng
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /ph/, /v/
Ta xác định đây là phụ âm môi vùng cản ở môi – răng
Cũng theo cách trên giáo viên dùng 2 ngón tay cong lại, đầu ngón tay trỏ chạm vào vùng giữa vân tay của ngón cái bật ra
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /t/, /đ/, /th/, /n/, /l/
Ta xác định đây là phụ âm lưỡi : đầu lưỡi – răng
Trường hợp này ngón tay cái giữ vai trò là lưỡi, ngón tay trỏ giữ vai trò của răng Dùng hai ngón tay cong lại, đầu ngón tay của ngón cái chạm
Trang 7vào vùng cuối của đốt thứ nhất ngón tay trỏ ( mặt răng trong ) bật ra theo độ
mở vừa phải của miệng
Âm /x/, /d/, /gi/ đầu lưỡi chạm vào mặt răng của hàm dưới nên lúc này ngón tay trỏ giữ chức năng là lưỡi, chạm vào vùng cuối của đốt thứ nhất của ngón tay cái giữ chức năng là mặt trong của hàm răng dưới
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /tr/, /s/, /r/
Ta xác định đây là phụ âm lưỡi : Đầu lưỡi – ngạc cứng
Trường hợp này ngón tay cái giữ vai trò là lưỡi, ngón tay trỏ giữ vai trò là ngạc cứng Dùng 2 ngón tay cong lại, đầu ngón tay của ngón tay cái chạm vào vùng giữa đốt thứ hai của ngón tay trỏ bật ra theo độ mở vừa phải của miệng
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /ch/, /nh/
Ta xác định đây là phụ âm lưỡi : mặt lưỡi – ngạc cứng
Trường hợp này ngón tay cái giữ vai trò là lưỡi, ngón tay trỏ giữ vai trò ngạc cứng Dùng 2 ngón tay, ngón tay cái thẳng chạm phần vân tay vào vùng giữa đốt thứ hai của ngón tay trỏ( ngón tay trỏ hơi cong ) bật ra theo độ
mở vừa phài của miệng
+ Hướng dẫn học sinh phát âm: /c/ (/k/, /q/ ), /ng/(/ngh/), /kh/, /g/ ( /gh/ )
Ta xác định đây là âm lưỡi: cuối lưỡi – ngạc mềm
Trường hợp này hơi khó mô tả, chúng ta căn cứ vào tiêu chí phát âm
để hướng dẫn học sinh
Đây là biện pháp và hình thức hỗ trợ khi dạy học sinh phát âm , tôi
đã áp dụng trong lúc dạy học sinh phát âm Dùng cách này tuy không tuyệt đối , nhưng tôi nghĩ nó hỗ trợ rất nhiều nhằm giúp học sinh xác định được vị trí phát âm và phát âm dễ dàng và chính xác hơn
c) Biện pháp thứ ba:
Đưa âm vào tiếng trong quá trình phát âm
Biện pháp này sẽ giúp học sinh dựa vào những tiếng trong giao tiếp quen thuộc hằng ngày để điều chỉnh việc phát âm sai
Giáo viên áp dụng cách này vào cuối tiết học Tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động ‘chơi mà học’ để học sinh tìm tiếng có chứa âm vừa học Giáo viết những tiếng mà học sinh vừa tìm được lên bảng, gọi học sinh đọc và theo dõi sửa chữa phát âm cho học sinh
Đối với những học sinh thường xuyên phát âm sai , giáo viên dưa âm vào các tiếng đơn giản, vào câu có vần điệu dễ nhớ …nhằm giúp học sinh luyện tập kĩ năng phát âm
Trang 8VD:
+ Đưa tiếng đơn giản vào các dấu thanh:
thanh
tiếng
+ Câu có vần điệu dễ nhớ: Giáo viên tư đặt ra hoặc sưu tầm
VD:
- Cá rô bỏ vô rổ nghe rồ rồ
- Vô ý vô tứ
- Nhổ cỏ nhổ cả rễ…
2.2) Dạy học phần vần :
Như chúng ta đã biết, âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất được phân định trong chuỗi lời nói, bao gồm một số yếu tố ngữ âm tạo thành
Mỗi âm tiết được phát ra thành một tiếng, nên âm tiết còn gọi là tiếng
Sơ đồ cấu tạo âm tiết:
Âm tiết
thanh điệu
Nhìn vào sơ đồ cấu tạo âm tiết ta thấy:
- Cấu trúc âm tiết tiếng Việt gồm 2 bậc:
+ Bậc 1 : gồm 3 phần lớn : phụ âm đầu, vần và thanh điệu
+ Bậc 2 : Các yếu tố tạo vần ( âm đệm, âm chính, âm cuối )
- Am chính và thanh điệu là yếu tố không thể thiếu trong bất kì âm tiết nào
* Phụ âm đầu : 23 phụ âm tiếng Việt đều có khả năng làm âm đầu.
Đây là âm mở đầu âm tiết , có chức năng khu biệt âm tiết Nên âm đầu giữ vai trò rất quan trọng, quyết định sự thành công trong quá trình phát âm
Giáo viên căn cứ vào tiêu chí phát âm của hệ thông nguyên âm tiếng Việt đã nêu kĩ ở phần dạy học âm để hướng dẫn học sinh phát âm
* Phần vần: Chủ yếu học sinh hay sai ở âm đệm và âm cuối.
Trang 9- Âm đêm: còn gọi là âm đầu vần, có chức năng biến đổi âm sắc của
âm tiết làm trầm hoá âm tiết Vị trí âm đệm không bắt buôc
Chỉ có hai âm vị / o /, / u / đảm nhiệm thành phần âm đệm này mà thôi
Hai âm vị trên thuộc vào hệ thống nguyên âm tròn môi nên khi phát
âm, giáo viên hướng dẫn học sinh tròn môi
- Âm chính : 14 nguyên âm trong tiếng Việt đều có khả năng đứng làm âm chính trong âm tiết Am chính là âm hạt nhân của vần Am tiết nào cũng phải có âm chính Am chính là đỉnh cao của âm tiết trong quá trình phát âm
Trên thực tế, khi hướng dẫn học sinh phát âm những âm tiết không có
âm cuối, giáo viên chỉ căn cứ vào các tiêu chí phát âm của nguyên âm và phụ âm nêu trên để hướng dẫn học sinh phát âm dễ dàng
VD: tha, thi, thư, thua, thưa, thia…
- Âm cuối : là âm kết thúc âm tiết, có chức năng khu biệt âm tiết
- Các âm cuối : p, t, c (ch ), m, n, ng ( nh ), và 2 bán âm /u/, /i/
Các tiêu chí khu biệt:
- Tiêu chí ồn – vang: Tiêu chí này phân âm cuối ra:
+ Các âm ồn : / p, t, c/
+ Các âm vang : /m, n, ng (nh), u, i /
VD: “sắp” với “sắm” và “sáu”
- Tiêu chí mũi – không mũi :Tiêu chí này khu biệt:
+ Các âm mũi: / m, n, ng(nh)/
+ Các âm không mũi : / u, i /
VD: “sắm” với “ sáu”
- Tiêu chí định vị môi – lưỡi phân các âm cuối ra :
+ Các âm môi : / p, m, u /
+ Các âm lưỡi : / t, c (ch), n, ng(nh), i / Chia ra:
Các âm đầu lưỡi : / t, n /
Các âm mặt lưỡi là : / c(ch), ng (nh) /
Với 4 tiêu chí khu biệt vừa kể trên đây, tiếng Việt có 9 âm vị làm âm cuối, trong đó có một âm vị / zéro / ( âm tiết khuyết âm cuối ),2 bán nguyên âm và 6 phụ âm
Định vị
Phương
thức
Môi
Lưỡi
Trang 10 Sự thể hiện bằng chữ viết của các phụ âm cuối và bán nguyên âm cuối có thể trình bày bằng một bảng sau:
/ u / - “ u, o “
/ i / - : i, y “
/ m / - “m”
/ n / - “n”
/ ng / - “ ng, nh “
/ p / - “ p “ / t / - “ t “ / c / - “ c, ch “
Dưa vào các tiêu chí kể trên của âm cuối , giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh phát âm chính xác hơn
Những vần cần lưu ý:
- Những vần kết thúc bằng âm“ c”với những vần kết thứ bằng âm “t”: + Âm “c” là âm mặt lưỡi
+ Âm “t” là âm đầu lưỡi
- Vần “ao” với “au”:
+ Vần “ao” : Căn cứ vào bảng mô tả nguyên âm thì âm “ o”là
nguyên âm tròn môi, độ mở của miệng hơi rộng Khi phát âm vần “ao” hoặc những tiếng mang vần “ao” thì kết thúc môi tròn hơi rộng
+Vần “au” là nguyên âm tròn môi, có độ mở của miệng hẹp Nên khi phát âm vần “au” hoặc các tiếng mang vần “au”kết thức môi tròn hẹp, môi dưới hơi nhích ra so với môi trên
- Vần “ai” với vần “ay”: Vần “ay” có cường độ mạnh hơn, được phát
âm khép hơn
- Vần “ in “ với vần “ inh “ : “in” : cường độ yếu, âm sắc của phụ âm
bị bỗng hơn ; “inh” cường độ mạnh
- Những vần có “ n ” đứng sau với những vần có “ ng ” đứng sau: Những vần có “ n ”: kết thúc đầu lưỡi, có âm sắc bỗng hơn
Những vần có “ ng ”: kết thúc mặt lưỡi, có âm sắc trầm đi
3 Kết quả đạt được :
- Qua quá trình áp dụng các biện pháp nêu trên, tôi thấy hiệu quả các tiết dạy của tôi ngày càng cao, kĩ năng phát âm của các em có cải thiện đáng
kể, đa số các em đều phát âm chính xác các âm, vần đã học ( ngoại trừ những em bị ngọng, đớt ở một số âm ) Điển hình như em : Võ Minh Tiến bị đớt âm “ th “ ( em phát âm “th “ thành “thời” ) Đồng thời không khí tiết học cũng thêm phần sinh động hơn vì giáo viên tổ chức nhiều hoạt động học tập gây hứng thú cho học sinh, học sinh tiếp thu bài nhanh, phát âm chính xác
Ở năm học 2006 – 2007, qua việc áp dụng những biện pháp nêu trên, sau khi học hết phần âm,vần thì hầu hết càc em đều phát âm một cách chính xác Đến cuối năm học, các em đã đọc trôi trải đoạn văn, khổ thơ đồng thời