Trong bài viết mang tính nhận diện chân dung về nhà thơ trẻ, Nhị Ca cho rằng: Một trong những đặc điểm của hồn thơ Phạm Tiến Duật là “ được nuôi dưỡng bằng chất liệu đời sống thực tươi t
Trang 1LUẬN VĂN THẠC Sĩ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:PGS TS Lý Hoài Thu
HÀ NỘI, 2015
Trang 2PGS.TS Lý Hoài Thu, người đã tận tâm hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn này!
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với Ban Giám hiệu , Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 cùng các Thầy, Cô giáo đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học!
Cuối cùng tôi xin được chân thành cám ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!
Hà Nôi, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Hồng Thanh
Trang 3Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Hồng Thanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đính nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Những đóng góp của luận văn 8
6 Bố cục của luận v ă n 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 Khái lược chung về tư duy thơ và hành trình sang tác thơ Phạm Tiến Duật 9
1.1 Khái niệm về tư duy nghệ thuật và tư duy thơ 9
1.1.1 Tư duy nghệ thuật 9
1.1.2 Tư duy thơ 13
1.2 Hành trình sang tác thơ của Phạm Tiến Duật 14
1.2.1 Những chặng đường và thành tựu chính 14
1.2.2 Phạm Tiến Duật và thế hệ những nhà thơ trẻ thời chống Mỹ 18
1.2.3 Quan niệm về thơ của Phạm Tiến Duật 22
Chương 2 Những nguồn cảm hứng chủ đạo và hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Phạm Tiến Duật 25
2.1 Những nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ Phạm Tiến Duật 25
2.1.1 Cảm hứng về quê hương đất nước 26
2.1.2 Cảm hứng về tình yêu 32
2.1.3 Cảm hứng về thời cuộc thế sự 37
2.2 Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Phạm Tiến Duật 42
2.2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 45
2.2.2 Hệ thống các nhân vật trữ tình khác 48
Trang 52.2.2.1 Hình tượng người lính trên tuyến đường Trường Sơn 48
22.2.2 Hình tượng những cô thanh niên xung phong 58
2.2.2.3 Hình tượng nhân vật đám đông 64
Chương 3 Một sổ đặc điểm thuộc phưoug thức nghệ thuật 71
3.1 Nghệ thuật xây dựng hình ảnh và biểu tượng 71
3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 79
3.2.1 Ngôn ngữ giản dị đời thường 80
3.2.2 Ngôn ngữ sáng tạo tài hoa 87
3.3 Giọng điệu và thể thơ 90
3.3.1 Giọng điệu 90
3.3.1.1 Giọng tinh nghịch dí dỏm 91
3.3.1.2 Giọng trữ tình thiết tha 93
3.3.1.3 Giọng suy tư chiêm nghiệm 95
3.3.2 Thể thơ 98
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Phạm Tiến Duật đến với thơ ca từ khi ông gia nhập quân đội nhân dân Việt Nam và trở thành người chiến sĩ, thi sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trong suốt cuộc hành trình dài và rộng song song tay súng và tay bút ông đã trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại thời chống Mỹ Thơ Phạm Tiến Duật trải dài theo con đường hành quân ra mặt trận, theo con đường huyền thoại Hồ Chí Minh Từ ồn ào sôi động theo cuộc kháng chiến đến lặng lẽ trầm tư bước vào thời kì hòa bình Suốt cuộc đời cầm bút, Phạm Tiến Duật
đã tạo dựng cho mình một giọng thơ riêng, một phong cách nghệ thuật độc đáo Cũng chính vì vậy mà việc tìm tòi nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật vẫn luôn là sự hấp dẫn với bao thế hệ người đọc, người nghiên cứu văn học
1.2 Trên phương diện lí luận thì vấn đề nghiên cứu, khám phá thơ Phạm Tiến Duật
từ góc độc tư duy nghệ thuật sẽ giúp chúng tôi có điều kiện để tìm hiểu soi chiếu thơ Phạm Tiến Duật ở chiều sâu sáng tạo, để từ đó có thể khẳng định thêm các phương diện trong phong cách nghệ thuật cũng như các vấn đề về thi pháp
1.3 Trên phương diện thực tiễn văn học, Phạm Tiến Duật có một vị trí quan trọng trong nền thơ Việt Nam hiện đại thời chống Mỹ Thật khó có thể hình dung diện mạo văn hoc Việt Nam thời kì này nếu thiếu đi tiếng thơ dạt dào tươi trẻ của Phạm Tiến Duật Khẳng định như vây bởi Phạm Tiến Duật đã mang đến thơ ca một hệ thống thi pháp, một giọng điệu riêng, tạo ra một bước ngoặt của thơ ca chống Mỹ.1.4 Phạm Tiến Duật còn là một trong những tác giả tiêu biểu của thơ ca chống Mỹ được lựa chọn đưa vào giảng dạy trong nhà trường Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông
như: Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Lửa đèn, sẽ còn ghi mãi dấu ấn của một
thời không thể nào quên, nó có giá trị bồi đắp cho muôn thế hệ về lòng yêu nước, về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc, về lòng tự hào dân tộc
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đi đến lựa chọn đề tài: Thơ Phạm Tiến Duật nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật Qua đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp
Trang 7thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp quan trọng của Phạm Tiến Duật đối với thơ ca chống Mỹ nói riêng và nền thơ Việt trong quá trinh hiện đại hóa nói chung.
2 Lịch sử vấn đề
Phạm Tiến Duật có thơ đăng báo từ những năm 1960 nhưng phải đến những năm 1969 - 1970 khi báo Văn nghệ tổ chức cuộc thi thơ ông mới thật sự đóng một cột mốc vững chắc trong làng thơ Việt Trong cuộc thi này, Phạm Tiến Duật đã đoạt giải nhất với chùm thơ viết về chiến trường và gây được ấn tượng mạnh mẽ với độc giả bởi một tiếng thơ mới lạ, sôi nổi trẻ trung Kể từ đây, Phạm Tiến Duật ung dung trên con đường sáng tác và đã gây được sự chú ý của nhiều cây bút, những nhà phê
bình, nghiên cứu văn học Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ của Nhị Ca đăng trên Tạp chí Vãn nghệ Quân đội, số 10, 1970 là một trong những bài viết đầu
tiên về thơ Phạm Tiến Duật Trong bài viết mang tính nhận diện chân dung về nhà thơ trẻ, Nhị Ca cho rằng: Một trong những đặc điểm của hồn thơ Phạm Tiến Duật
là “ được nuôi dưỡng bằng chất liệu đời sống thực tươi trẻ thở hết không khí mặt trận dữ dội và tự tin, có thời gian ngẫm nghĩ về cuộc chiến đấu quyết liệt, dũng cảm” [28, ừ 108] Nhị Ca cũng rất quan tâm đến kĩ thuật tạo dựng câu thơ mới mẻ của Phạm Tiến Duật và khẳng định một trong những yếu tố làm nên sự mới mẻ đó
là “ dáng dấp xốc vác, xô bồ cứng cáp hơn, như hạt gạo đỏ đồng chiêm, vừa chắc
dạ, vừa béo ngọt” [ 28, ừ 108] Bên cạnh đó Nhị Ca cũng có những đánh giá xác đáng về những thành công và hạn chế thông qua việc phân tích, thẩm bình một số
bài thơ tiêu biểu trong tập vầng trăng quầng lửa.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài viết Người viết trẻ giữa cánh rừng già đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 7, 1972 đã có sự đánh giá chân xác về
Phạm Tiến Duật khi ông cho rằng: Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật đã làm xôn sao đời sống thơ ca vốn có Thơ Phạm Tiến Duật đã cổ vũ cho cuộc chiến đấu theo cách riêng của mình và đã đón nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều phía Nguyễn Minh Châu cũng chỉ ra nguồn nhựa sống mảnh đất phù sa màu mỡ cho hạt giống thơ Phạm Tiến Duật chính là những cánh rừng già, những chặng đường Trường Sơn
Trang 8Nguyễn Ngọc Thiện có bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật (in trên Tạp chỉ văn học, số 4,1974) Dưới cái nhìn văn nghệ phục vụ chính trị,
cổ vũ chiến đấu, tác giả đã có những đánh giá khá đầy đủ về hai tập thơ vầng trăng quầng lửa và Thơ một chặng đường ở chỗ ông cho rằng thơ Phạm Tiến Duật là
tiếng nói khỏe khoắn, đôn hậu, bắt nguồn từ trực tiếp cuộc sống chiến đấu sôi nổi
mà hào hùng của dân tộc Bên cạnh đó, tác giả cũng phê phán một số bài thơ như
Qua mảnh trời thành phố Vinh, vỏng trắng, Nghĩ về trẻ con trước trận đánh vẫn có
sự lệch lạc về tư tưởng làm yếu đi sức mạnh cộng đồng nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh Ngày nay, nhìn lại khi chiến tranh đã đi qua ta có thể chia sẻ, cảm thông cho nhà thơ bởi những ưu tư trăn trở khi đối diện với cái chết, phút bình yên lắng đọng trong tâm hồn đó cũng là những vấn đề mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc
Nhà thơ Vũ Quần Phương dưới cái nhìn biện chứng về quá trình vận động và
phát triển của thơ ca dân tộc, trong bài viết: Một đóng góp của dòng thơ quân đội vào nền thơ Việt Nam ( in trên Tạp chỉ Văn học số 6, 1979) đã chỉ ra sự kế thừa
những kinh nghiệm của thơ ca dân gian trong thơ Phạm Tiến Duật Theo tác giả bài viết thì chính điều đó đã khiến cho thơ Phạm Tiến Duật “ đầy rẫy những chi tiết đời sống đánh Mỹ, chính xác, cụ thể như hiện vật trong bảo tàng” [40,tr.l07] Đe khẳng định tầm quan trọng trong việc sử dụng chất liệu đời sống trong thơ Phạm Tiến
Duật, Vũ Quần Phương đã đi sâu vào phân tích bài thơ “Lửa đèn ” - một tác phẩm
tiêu biểu của Phạm Tiến Duật qua đó tác giả nhấn mạnh chất liệu hiện thực không cần tô vẽ chính là sự lựa chọn sắp xếp bộc lộ khuynh hướng trí tuệ Đen năm 1985,
Vũ Quần Phương phát triển bài viết thành bài nghiên cứu về tác giả Phạm Tiến
Duật trong cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại ( Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985),
với tư cách là một nhà thơ trẻ tiêu biểu của nền thơ cách mạng thời chống Mỹ
Tác giả Đỗ Trung Lai trong một bài viết đầy tâm huyết : Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật (in trên Tạp chỉ Văn học, số 4,1986) đã có những khẳng định vai
trò của thực tiễn chiến tranh đối với những sáng tác của Phạm Tiến Duật Bài viết cũng đi vào đánh giá, giai đoạn sáng tác trong chiến tranh của Phạm Tiến Duật
Trang 9NM nghiên cứu văn học Trần Đăng Suyền trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập III ( Nxb Đại học Sư phạm I, 2002) đã có những đánh giá tương đối toàn
diện về thơ Phạm Tiến Duật Tác giả đã giới thiệu từ tiểu sử, con người nhà thơ đến chất liệu thơ ca, ngôn ngữ, giọng điệu, đặc điểm thế giới nghệ thuật của thơ Phạm Tiến Duật Ông cho rằng “ Vùng thẩm m ĩ’ của thơ Phạm Tiến Duật là rừng Trường Sơn Tác giả cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất trẻ trung, giọng thơ ngang tàng, ngôn ngữ sinh hoạt đời thường trong phong cách thơ Phạm Tiến Duật
Vũ Văn Sỹ trong bài viết Phạm Tiến Duật, người chứa được Trường Sơn nhiều nhất ( in trên Tạp chí Nhà văn, số 12, 2007) đã đánh giá cao vị trí của Phạm
Tiến Duật trong hành trình phát triển của thơ trữ tình cách mạng Tác giả bài viết đã
nhấn mạnh: “ Thơ Phạm Tiến Duật đã lưu lại trong lịch sử vần học dấu mốc của thơ trữ tình Việt Nam trên hành trình đi tìm cải đẹp trên các sự kiện và biến cổ in đậm chất sử thi của một thế kỉ đầy biến động”.
Gần đây nhất là tác giả Lý Hoài Thu với bài viết Không gian Trường Sơn và những giai điệu tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật ( in trên Tạp chí Nhà văn và tác phẩm, số 6, 2014) Trong cái nhìn đồng đại, tác giả Lý Hoài Thu đã khẳng định
không gian Trường Sơn có ý nghĩa như “ cái nôi nghệ thuật” cho nhiều hồn thơ thăng hoa cất cánh nhưng đọng lại hơn cả là Phạm Tiến Duật Tác giả nhấn mạnh :
“ Phạm Tiến Duật thực sự là một hiện tượng nổi bật của đời sổng thơ ca thời chiến tranh chổng Mỹ, có ảnh hưởng mạnh mẽ đặc biệt là phía “cộng đồng tiếp nhận
Tác giả cũng đi vào lí giải sở dĩ thơ Phạm Tiến Duật được đón nhận của đông đảo
giới trẻ là bởi “Phạm Tiến Duật đã nhìn một phần chiến tranh qua lăng kính của tình yêu tuổi trẻ, tình cảm lứa đôi Dưới cái nhìn lịch đại, tác giả cũng chỉ ra: so
với thơ thời chống Pháp thì đời sống tình cảm của người lính chủ yếu được khai thác ở khía cạnh tình đồng chí, đồng đội, tình yêu nam nữ nếu được nhắc đến cũng rất mờ nhạt thậm chí nó chìm vào trong tình đồng chí, đồng đội Từ đó tác giả đi đến nhận định: Thơ chống Mỹ, đặc biệt là Phạm Tiến Duật, thế giới nhân vật không chỉ hiện lên ở tình bằng hữu mà luôn có sự hiện diện của cặp đôi nam nữ Họ là gương mặt của tình yêu là những nhân vật chính của đời sống chiến trường Tác giả
Trang 10còn khẳng định sức hấp dẫn của thơ Phạm Tiến Duật không chỉ ở cách thức tiếp cận hiện thực đời sống, về cấu tứ, giọng điệu mà còn ở sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi, ở sự đa sắc thái của cái tôi trữ tình trong thơ Phạm Tiến Duật.
Qua việc khảo sát các bài viết, các công trình nghiên cứu về thơ Phạm Tiến Duật, chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả đã khai thác khá nhiều khía cạnh, vấn đề,
có nhiều ý kiến khác nhau song hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng Phạm Tiến Duật là một hiện tượng lạ của thơ ca Việt Nam hiện đại Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật trên thi đàn đã làm cho thi ca của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống
Mỹ thêm sôi nổi, cá tính Kế thừa những đóng góp, phát hiện của những người đi
trước, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi tập trung khai thác: Thơ Phạm Tiến Duật nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật với mong muốn góp thêm ý kiến khẳng
định những đóng góp của Phạm Tiến Duật trên phương diện tư duy nghệ thuật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu những thành tố quan trọng làm nên lối tư duy nghệ thuật trong thơ Phạm Tiến Duật Trong đó tập trung khảo sát về con người, hành trình sáng tác, cảm hứng thơ, hình tượng nhân vật trữ tình, đặc điểm phương thức nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ những sáng
tác của Phạm Tiến Duật đã được xuất bản chủ yếu là các tập thơ: vầng trăng quầng lửa, Tiếng bom và tiếng chuông chùa, Tuyển tập Phạm Tiến Duật Bên cạnh đó để
làm nổi bật đề tài, chúng tôi cũng sử dụng những sáng tác của các nhà thơ cùng thời
và khác thời với tác giả Phạm Tiến Duật Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là thơ Phạm Tiến Duật, nhưng những sáng tác của các tác giả khác được sử dụng để đối chiếu so sánh, soi sáng cho đề tài
3.3 Mục đích nghiền cứu
Trang 11Thông qua đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm ý kiến khẳng định những đóng góp của Phạm Tiến Duật ở chiều sâu tư duy nghệ thuật để từ đó thấy rõ hơn vẻ đẹp của một phong cách thơ độc đáo cũng như làm rõ hom các khía canh của thi pháp trong thơ ông để từ đó thêm phần khẳng định vị trí quan trọng của Phạm Tiến Duật đối với nền thơ ca chống Mỹ.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lí thuyết về tư duy thơ, luận vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5 Những đóng góp của luận văn
Luận văn có thể đóng góp ở hai phương diên:
Thứ nhất: Cố gắng hệ thống hóa một số phương diện tiêu biểu trong hệ hình tư duy của thơ để nghiên cứu trường hợp tác giả
Thứ hai: Thông qua việc tiếp cận thơ Phạm Tiến Duật, chỉ ra được đặc điểm tưduy thơ Phạm Tiến Duật từ đó khẳng định những đóng góp của ông trong thơ chống
Mỹ nói riêng cũng như thơ hiện đại Việt Nam nói chung
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 03 chương:
Chương I: Khái lược chung về tư duy thơ và hành trình sáng tác của Phạm Tiến Duật
Chương II: Những nguồn cảm hứng chủ đạo và hình tượng nhân vật trũ tình trong thơ Phạm Tiến Duật
Chương III: Một số đặc điểm thuộc phương thức nghệ thuật
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ TƯ DUY THƠ
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
1.1 Khái niệm về tư duy nghệ thuật và tư duy thơ.
Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên
hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực
khách quan mà trước đó ta chưa biết Theo Từ điển triết học của M Rodentan, p Iudin thì: “ Tư duy là một hoạt động nhận thức lí tính của con người Khí quan của
tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỉ tế bào thần kinh ”
[ 16,tr.676]
Theo triết học duy vậy biện chứng, tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động của con người Trong quá trình đó, con người so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau Trải qua các quá trình khái quát hóa và trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lý luận.v.v Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật nhất định Vì vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từ trước
Tư duy chỉ nảy sinh khi con người nhận thức được tình huống Tình huống là điều kiện quan trọng của tư duy Song, không phải tình huống nào cũng nảy sinh tư duy Chỉ có những tình huống mà con người nhận thức rằng “có vấn đề” và cần phải giải quyết nó đễ thỏa mãn nhu cầu thì trong tình huống đó tư duy mới nảy sinh Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, và phương tiện để biểu hiện các mối quan hệ đó chính là ngôn ngữ
l.l.l.T ư duy nghệ thuật
Tư duy nghệ thuật là tư duy được thể hiện và thực hiện trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Sáng tạo nghệ thuật là hình thái đặc trưng và là hình thái cao nhất của hoạt động thẩm mỹ Chủ thể của tư duy nghệ thuật trước hết là các nghệ sĩ, những
Trang 13người sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì : Tư
duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp
nhận tác phẩm nghệ thuật Tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, đã bàn khá nhiều về tư duy nghệ thuật Theo đó, ông nhận định: “ Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục sảng tạo các biểu tượng trực quan,
là sự hình tượng hóa hiện thức khách quan theo nhận thức chủ quan” [ 19,tr.57] Điều đó nói lên rằng " Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phổi mạnh mẽ của thế giới quan, nhân sinh quan người sáng tạo” [ 19,tr.57].
Là hình thái kết tinh nhất của tư duy thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật được biểu hiện trên những phương diện sau:
Thứ nhất, khác với tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật là tư duy tái hiện, tái tạo Nếu tư duy khoa học hướng đến việc phát hiện bản chất, các quy luật của đối tượng,
sự vật và thể hiện kết quả dưới dạng các khái niệm trừu tượng, thì tư duy nghệ thuật lại tái hiện, tái tạo hiện thực, cuộc sống dưới dạng những hình tượng cụ thể, sinh động Trong tư duy nghệ thuật, bản chất, các quy luật của hiện thực, cuộc sống không hiện ra dưới dạng trừu tượng của khái niệm mà biểu hiện qua hình tượng cụ thể, sinh động Hình tượng nghệ thuật là sáng tạo của chủ thể tư duy Xét về mặt nhận thức luận, hình tượng nghệ thuật về bản chất, cũng là sự phản ánh hiện thực, tuy nhiên, sự phản ánh này không phải là trực tiếp, mà là gián tiếp và được thực hiện thông qua sự sáng tạo mang tính cá nhân, in đậm dấu ấn chủ thể Vì thế, tư duy nghệ thuật không chấp nhận sự giống nhau, sự lặp lại, sự sao chép; nó luôn giả định tính cá biệt, điển hình và độc đáo
Thứ hai, trong quá trình tư duy nghệ thuật, người nghệ sĩ lấy chất liệu từ hiện thực, nhưng kết quả của tư duy nghệ thuật, tức hình tượng nghệ thuật không phải là
sự sao chép y nguyên hiện thực mà có sự hư cấu, sáng tạo của người nghệ sĩ Tư duy nghệ thuật đích thực luôn là tư duy sáng tạo Mỗi hình tượng nghệ thuật, mỗi tác phẩm nghệ thuật, đều khai mở những cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn nhận cuộc sống và con người một cách độc đáo, sáng tạo Tính sáng tạo trong tư duy nghệ thuật, được thực hiện một cách đặc biệt thông qua các năng lực: cảm hứng, trực
Trang 14giác, những liên tưởng đa chiều và bất ngờ Những năng lực này là biểu hiện của năng lực sáng tạo trong tư duy nghệ thuật; đồng thời, chúng cũng là kết quả của tư duy nghệ thuật.
Thứ ba, nghệ thuật còn là tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ Người nghệ sĩ cảm xúc trước các cảnh đời, các thân phận con người, các hiện tượng của cuộc sống, từ đó mà sáng tạo nên những tác phẩm, những hình tượng nghệ thuật Thậm chí những đối tượng ngoại giới là đối tượng tự nhiên YÔ tri, vô giác nhưng thông qua cảm xúc và tái tạo của người nghệ sĩ cũng trở nên sinh động, có tình cảm, tâm hồn Người xưa hay dùng từ cảm tác (nhân cảm xúc mà sáng tác) trong tiêu đề một bài thơ hoặc đề từ một bức tranh là có ý như vậy Nghệ thuật không phải là lập luận,
lý giải, thuyết lý, mà là giãi bày tình cảm, tâm tư Các tác phẩm nghệ thuật là sự đối tượng hoá, là kết tinh tâm tư, tình cảm, nguyện vọng người nghệ sĩ
Thứ tư, tư duy nghệ thuật không chỉ có yếu tố tình cảm, cảm xúc, mà còn có yếu tố trí tuệ, tri thức Hình tượng nghệ thuật không chỉ là biểu hiện mà còn phản ánh do vậy tư duy nghệ thuật là quá trình khám phá, phát hiện bằng và thông qua cảm xúc Nghệ thuật không khám phá “chân lý” của cuộc đời, khám phá và mách bảo con người cách hành xử có nhân tính Cũng như tư duy nói chung, tư duy nghệ thuật có chức năng cung cấp cho con người những tri thức nhất định Khác với tri thức khoa học, tri thức với tư cách kết quả của tư duy nghệ thuật là một loại tri thức đặc biệt Đó là tri thức về những bí ẩn của cuộc đời, của tồn tại người, Không có gì
có ý nghĩa hơn đối với con người bằng tri thức về cuộc đời, về đời người Nhưng cuộc đời, đời người là một cái gì đó thật khó đưa vào khuôn khổ những trí thức, những khái niệm logic, trừu tượng của tư duy khoa học Tính đa dạng, phức tạp và mâu thuẫn của cuộc đời khiến người ta chỉ có thể tiếp cận nó một cách sinh động bằng chính sự thể nghiệm, hoặc là trực tiếp trong hoạt động sống, hoặc hoặc là gián tiếp thông qua thụ cảm các hình tượng nghệ thuật Với tư cách kết quả của tư duy nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật có thể đưa dẫn con người đến với những bí ẩn của cuộc đời; vì trong khi khám phá, phát hiện một lĩnh vực, một tính quy luật chung nào đó của cuộc đời, nó đồng thời biểu hiện một sự đánh giá giá trị nhất định
Trang 15Thứ năm, trong tư duy nghệ thuật, phương diện tình cảm, cảm xúc và phương diện trí tuệ, tri thức không tồn tại độc lập và tách rời nhau Nói cụ thể hom, tri thức nghệ thuật là tri thức được bộc lộ ra qua cảm xúc Nghệ sĩ trong trạng thái cảm xúc
mà nhận diện lẽ sống , trách nhiệm và ý nghĩa cuộc đời Cũng như vậy, những cảm xúc trong sáng tạo và thụ cảm nghệ thuật không phải là những cảm xúc thuần thuý,
mà là những cảm xúc mang tính trí tuệ, được nảy sinh trên cơ sở Yốn tri thức, phông văn hoá của nghệ sĩ hoặc người thụ cảm Những người có phông tri thức, văn hoá rộng hẹp khác nhau sẽ có cảm xúc và thụ cảm nghệ thuật nói riêng và thẩm mỹ nói chung một cách khác nhau Tri thức phong phú và sâu sắc, đặc biệt là tri thức trong lĩnh vực thẩm mỹ sẽ là một trong những nhân tố tạo nên sự tinh tế của thị hiếu và do
đó, sự tinh tế của cảm xúc Lunatvacxki có lý khi nhận xét rằng, tình cảm thẩm mỹ
là một loại tình cảm thông minh Là sự thống nhất giữa phương diện tình cảm, cảm xúc và phương diện trí tuệ, lý trí, tư duy nghệ thuật góp phần tạo nên sự cân bằng trong lối sống, khắc phục sự thiên lệch trong đời sống con người
Thứ sáu, hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa cái hiện thực và cái lý tưởng, ước mơ Người nghệ sĩ xuất phát từ hiện thực, nhưng nhìn nhận hiện thực thông qua lý tưởng thẩm mỹ của mình Lý tưởng thẩm mỹ phản ánh xu thế phát triển của hiện thực, cuộc sống và khát vọng của người nghệ sĩ về những giá trị cuộc sống, đặc biệt là những giá trị về nhân cách con người Nó được hình thành trong tư duy nghệ thuật, đồng thời là phương thức để tư duy nghệ thuật quán triệt hiện thực, nhìn nhận hiện thực cuộc sống một cách tích cực, lạc quan Theo nghĩa đó, tư duy nghệ thuật góp phần tạo ra niềm tin và động lực cho cuộc sống, làm cho lối sống của con người trở nên năng động và có ý nghĩa hơn
Sau cùng, với tư cách tổng hoà tất cả những đặc trưng trên, tư duy nghệ thuật
là tư duy hướng tới cái đẹp, tư duy về cái đẹp, cổ vũ cho cái đẹp Hình tượng nghệ thuật chính diện là sự phản ánh, sự kết tinh, sự thăng hoa và tôn vinh cái đẹp trong đời sống hiện thực Hình tượng nghệ thuật phản diện cũng gián tiếp thực hiện chức năng này; bởi khi sáng tạo nó, người nghệ sĩ dựa trên cơ sở khẳng định cái đẹp và phê phán cái xấu Sự thụ cảm hình tượng chính diện hay phản diện, do vậy, đều tạo
Trang 16nên tình cảm và thái độ khẳng định cái đẹp và phê phán cái xấu Cái đẹp là trung tâm của quan hệ thẩm mỹ, quan hệ nghệ thuật giữa con người và hiện thực.
1.1.2 Tư duy thơ
Theo tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam thì “Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình khả năng biểu hiện phong phủ nhờ ngôn ngữ thơ” [19, tr59] So với các loại hình nghệ thuật khác, khả năng biểu hiện của tư duy thơ
phong phú và đa dạng hơn, cách biểu hiện cũng riêng biệt hcm Phương tiện để biểu hiện chính là ngôn ngữ Bởi ngôn ngữ thơ bao gồm hệ thống các kí hiệu, các hình ảnh, hình tượng, các biện pháp tu từ Ngôn ngữ chính là sự phản chiếu trí tuệ con người cũng như nghệ thuật và khoa học Ngôn ngữ là sự thể hiện hình thức mà qua đấy cá nhân nhìn nhận thế giới và chuyển nó vào nội tâm của mình Ngôn ngữ không phải là một “công trình” đã hoàn thành và bất di bất dịch, mà là một hoạt động đang diễn ra Trí tuệ làm việc không ngừng để thích ứng âm thanh, chất liệu ngữ âm, với sự thể hiện của tư duy Chính hình thức ngôn ngữ với những quy tắc hình thái và cú pháp cho phép nâng đỡ lao động đó của tư duy Ngôn ngữ là thế giới trung gian, thế giới “ở giữa” hiện thực và tư tưởng Cuộc hành trình của hiện thực vào tinh thần phải kinh qua miền đất ngôn ngữ; mà khi chuyến đi đã tới đích thì hiện thực đã bị biến dạng
Nói đến tư duy thơ, ta không thể không nói đến chủ thể trữ tình bởi “sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy” [19,tr.59] chính là điều quan trong nhất trong tư duy thơ Đọc thơ ta luôn bắt gặp bóng dáng con người đang nhìn, ngắm, đang rung động, suy tư về cuộc sống Con người ấy được gọi là chủ thể trữ tình Nói cách khác, chủ thể trữ tình là con người đang cảm xúc, suy tư trong tác phẩm thơ Nhân vật trữ tình trong tác phẩm thơ chỉ hiện diện, đối thoại với độc giả bằng những sắc thái tình cảm, thái độ tình cảm Trong tác phẩm thơ, chủ thể trữ tình là yếu tố luôn có mặt để thể hiện nội dung trữ tình của tác phẩm Chủ thể trữ tình trong thơ được biểu hiện chủ yếu ở hai dạng thức là chủ thể trữ tình trực tiếp và chủ thể trữ tình gián tiếp Ở dạng trực tiếp đó là tình cảm, cảm xúc, tâm
Trang 17trạng, suy nghĩ của tác giả được giãi bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Ở đây, nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào Người đọc cảm nhận trước hết
là thế giới nội tâm, là thái độ xúc cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, cuộc đời và thiên nhiên Nhà thơ có thể không cần phải miêu tả kỹ về con người và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tình cảm đó Điều này chứng tỏ
sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của tác giả là đặc điểm tiêu biểu nhất của tư duy thơ Bên cạnh đó, chủ thể trữ tình còn được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác phẩm trữ tình Dù thể hiện qua thế giới chủ quan của con người, tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động Như vậy, tư duy thơ cũng phản ánh thế giới khách quan nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm biểu hiện những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người
Như vây, tư duy thơ không chỉ hướng nội mà còn có khả năng hướng ngoại Neu hướng nội là bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của nhà thơ thì hướng ngoại lại là cảm xúc, suy nghĩ về hiện thực khách quan và biểu hiện nó dưới lăng kính thẩm mĩ của nhà thơ Tìm hiểu tư duy thơ chính là quá trình đi tìm hiểu về sự vận động của chủ thể trữ tình nhà thơ trong cả hướng nội và hướng ngoại
1.2 Hành trình sáng tác thtf của Phạm Tiến Duật
1.2.1 Những chặng đường và thành tựu chính
Phạm Tiến Duật bắt đầu làm thơ từ khi là sinh viên khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội nhưng phải đến khi nhập ngũ (8/1964) hồn thơ Phạm Tiến Duật mới gặp được mảnh đất hiện thực màu mỡ để hạt mầm thơ anh phát triển mạnh mẽ thành một “ cây cao bóng cả” mà trẻ trung giữa rừng già Trường Sơn Được tiếp thu vốn tri thức văn hóa trong trường Đại học, Phạm Tiến Duật ý thức sâu sắc vị trí, sự xuất hiện rất đúng lúc, kịp thời của thế hệ mình:
Ta đi hôm nay đã không còn sớm
Trang 18Đất nước hành quân mẩy chục năm rồi
Ta đến hôm nay cũng không là muộn Đất nước còn đánh giặc chưa thôi (Chào những đội quân tuyên truyền-Chào những đội quân nghệ thuật)
Hành trình thơ Phạm Tiến Duật gắn liền với những cánh rừng già trường sơn với con đường ra mặt trận Nói một cách khác chính cuộc kháng chiến chống Mỹ và đường Trường Sơn đã nuôi dưỡng hồn thơ Phạm Tiến Duật Tuổi trẻ của ông gắn
bó sâu nặng với con đường Trường Sơn Thế nhưng chặng đưừng ông đến với thơ
ca và ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc cũng không hề đơn giản Trong lời giới thiệu tuyển thơ chống Mỹ cứu nước 1965 -1967, nhà thơ đàn anh Chế Lan Viên rất chú ý đến sự xuất hiện của các nhà thơ trẻ, ông đã nhắc tới nhiều nhà thơ nhưng Phạm Tiến Duật vẫn chưa hề được nhắc đến Chỉ đến khi, Phạm Tiến Duật đoạt giải Nhất cuộc thi thơ của báo văn nghệ 1969-1970, tên tuổi Phạm Tiến Duật mới gây
ấn tượng mạnh mẽ trong bạn đọc và giới nghiên cứu văn học Đó cũng là thời điểm Phạm Tiến Duật đóng cột mốc vinh quang cho sự nghiệp sáng tác của mình đồng thời khẳng định sự xuất hiện đầy ấn tượng với tư cách là một nhà thơ trẻ thời chống Mỹ
Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng thời kì chống Mỹ Nó là đòi hỏi của dân tộc và thời đại, đồng thời cũng là đòi hỏi của chính nền thơ chống Mỹ Nhiều nhà thơ có tên tuổi thuộc nhiều thế hệ đã viết về chiến tranh bằng cách nhìn riêng, in đậm cá tính sáng tạo Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn cứ còn thiếu hụt một mảng, người đọc vẫn khát khao đọc những vần thơ của những người trực tiếp cầm súng, những vần thơ như còn vương bụi đất chiến trường và nồng nặc mùi khét lẹt của bom đạn Giữa lúc đó, Phạm Tiến Duật xuất hiện, đem đến cho thơ trẻ chống Mỹ một tiếng nói, một phong cách riêng làm sôi nổi trẻ trung cả nền thơ chống Mỹ
Thơ Phạm Tiến Duật thời chống Mỹ đưa người đọc đi thẳng vào thế giới hiện thực của chiến tranh, đến những nơi gian khổ nhất, nóng bỏng nhất, ác liệt nhất của
Trang 19Trường Sơn khói lửa Thơ ông phản ánh được một phần cái không khí khẩn
trương, dồn dập, ác liệt, sôi động và hào hùng của những năm tháng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” Tiếng thơ Phạm Tiến Duật lay động lòng người đọc bởi
ông nói về chiến tranh bằng con mắt của người trong cuộc Không khí chiến trường đã ùa vào những trang thơ nóng bỏng của ông Nhà thơ được tận mắt chứng
kiến cảnh trong đêm tối " Những mảnh tàn đen của lả nứa đang rơi /Dữ dội rừng bên bốc cháy” ( Những mảnh tàn lá) Hay cảnh " xe đi trong tầm bom rơi” giữa một vùng rừng “ngổn ngang cây đ ổ ”, đã nhìn thấy cảnh “ Hố bom dày như lỗ hà
ăn chân ” ở ngã ba Đồng Lộc Đó là một Trường Sơn với một hiện thực nóng hổi
một trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của giặc Mỹ Là nơi bom Mỹ trút đến kinh hoàng khủng khiếp:
Mười bảy trận bom Mỹ dội một ngày ( Tiếng cười của đồng chỉ coi kho)
Đó cũng là nơi:
Nơi túi bom bay mù bụi đỏ Đường gập gềnh ngổn ngang cây đổ Trời lô nhô thân gốc cưa ngang.
( Niềm tin có thật)
Đó còn là nơi:
Không thể ngờ chỉ ỉt giờ trước đỏ Những chiếc xe từ đất lửa về đây Hai phút trên đầu một lượt mảy bay
Lá ngụy trang như cỏn bốc khói
Và bãi đất này như cái lưng người Giơ ra không biết mỏi
Đen sạm khỏi bom nham nhở viết thương.
( Nghe hò đêm bốc vác)
Trang 20Thật hiếm gặp những trang thơ của Phạm Tiến Duật viết về chiến tranh mà ở
đó không có cảnh khói, lửa, đạn, bom Người đọc sau này chỉ qua thơ ông dường như cũng thấy hết những cam go khốc liệt của Trường Sơn chống Mỹ thủa nào.Thơ Phạm Tiến Duật thời chống Mỹ không chỉ miêu tả cái khốc liệt, dữ dội của chiến tranh mà còn thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng của những con người quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Với Phạm Tiến Duật đây mới là điều chủ yếu, điều đáng nói nhất:
Cốt chụp lẩy khuân mặt của ta Còn cái ác liệt của giặc thì
Có gì mà phải chụp ( Một bài thơ không vần kể chuyện chụp ảnh ở một vùng giáp với mặt trận)
Cái ác liệt của chiến tranh chỉ là cái phông nền để làm nổi bật chân dung người lính ngoài mặt trận mà thôi Cũng vì thế mà thơ Phạm Tiến Duật không gây cho người đọc cái cảm giác rùng rợn, ghê sợ về những cảnh tàn phá dữ dội của chiến tranh Nhà thơ chỉ nói đủ để người đọc hình dung được cái ác liệt, tàn khốc của nó Những gương mặt, những giọng nói, những tiếng cười, cử chỉ, hành động, tình cảm của những con người giữa cảnh bom rơi đạn nổ ấy được nhà thơ tập trung khắc họa, làm nổi bật lên lại đọng lại lâu bền trong tâm trí người đọc Đọc thơ Phạm Tiến Duật, người ta chú ý hình ảnh những anh lính lái xe mặc kệ những khó khăn gian khổ: áo ướt, mặt lấm, xe không kính, không đèn, không mui, vậy mà vẫn cứ ung dung, lạc quan yêu đời Người ta cũng rất ấn tượng với những cô thanh niên xung phong tinh nghịch với những câu nói ẫm ờ Thạch Nhọn, Thạch Kim hơn là lo ngại cho cái hoàn cảnh sống giữa chiến trường ác liệt của cô Người đọc thật sự không thể nào quên với hình ảnh cô thanh niên xung phong vác hòm đạn tám mươi cân
hình cánh hoa lan trên vai áo trắng ngần/ là vết xước đỉnh hòm vừa mới xé v ẫn
ngời sáng gương mặt của cô bộ đội lái xe lạc quan, duyên dáng, yêu đời mà đạn bom của kẻ thù không thể nào tàn phá
Có thể nói, cuộc đời quân ngũ của Phạm Tiến Duật gắn liền với con đường, với rừng già Trường Sơn Ke cả khi ông làm cán bộ tuyên truyền hay làm phóng viên
Trang 21thì chiến trường vẫn là địa chỉ công tác, hoạt động, sáng tác thơ Sự cộng hưởng của không khí chiến trận hào hùng cùng với một trái tim rực lửa thiết tha đã thăng hoa thành nghệ thuật thơ ca Sự hình thành phong cách, tư duy thơ Phạm Tiến Duật gắn với con đường huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh trong cuộc chiến tranh chống
Mỹ cứu nước Cuộc chiến đấu ở Trường Sơn đã đem lại cho Phạm Tiến Duật nguồn chất liệu phong phú, cũng như nguồn cảm hứng sáng tạo mãnh liệt để ông viết lên nhiều bài thơ hay và độc đáo, nhất là những bài thơ về anh bộ đội và cô thanh niên xung phong
Sau 1975, Phạm Tiến Duật tiếp tục làm thơ bằng chính những trải nghiệm, thấm thìa của mình về ranh giới giữa sự sống và cái chết Tuy nhiên những bài thơ hay nhất của ông vẫn là những bài thơ hướng về thời chiến tranh Nhà thơ khẳng
định “ Tôi là một người lính, mãi mãi như vậy Tuổi trẻ của tôi trôi qua trong chiến tranh Tôi sẽ còn làm thơ với góc nhìn đời sổng của người lính, không khác được
đâu” Tập thơ Tiếng bom và tiếng chuông chùa (1997) viết về những nữ bộ đội trở
về từ chiến trường, đi tu, làm điều thiện như một đạo lý hết sức nhân văn của người Việt Đó là những ngày tháng đẹp nhất, bên những người đồng đội thân thương nhất vẫn sống mãi trong ông Tuy nhiên, những dòng thơ thời hậu chiến của ông đã không thể vươn lên như một biểu tượng như thời Trường Sơn được nữa
Có thể nói hành trình sáng tác thơ Phạm Tiến Duật chính là bức tranh thu nhỏ phản ánh hiện thực của cuộc sống chiến tranh nơi Trường Sơn khói lửa thời chống
Mỹ Tìm hiểu hành trình sáng tác của ông cũng là quá trình làm nổi bật bức chân dung dũng cảm, lạc quan, yêu đời tiêu biểu cho những nhà thơ chiến sỹ Trong đó nổi bật hơn cả là hình ảnh những anh lính lái xe, những cô thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn Đó là những bức chân dung ghi dấu của một thời kì đánh
Mỹ không thể nào quên của dân tộc
1.2.2 Phạm Tiến Duật và thế hệ những nhà thơ trẻ thòi chống Mỹ
Sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn cũng là thời gian Phạm Tiến Duật sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng Ông đã sống cuộc sống của người lính Trường Sơn tại nhiều đơn vị, nhiều trọng điểm ác liệt của tuyến
Trang 22đường mang tên Bác Thực tiễn cuộc sống đã “bước vào” thơ của ông một cách sống động, tự nhiên và đầy chất lính Có thể nói: Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật
và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng đường Trường Sơn
Phạm Tiến Duật đóng góp chủ yếu là những tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông là một người lính Trường Sơn Thơ của ông được các nhà nghiên cứu đánh giá cao và có nét riêng ở giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, có cái "tinh nghịch" nhưng cũng rất sâu sắc Nhiều bài thơ của Phạm Tiến Duật đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là ca khúc "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây" Thơ Phạm Tiến Duật có giọng điệu riêng không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được Khó vì giọng đùa vui, tinh nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm con người Giọng ấy là của một điệu tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa Điều đáng nói là giọng thơ
ấy đã tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó Kháng chiến chống xâm lược
Mỹ là cuộc chiến tranh ác liệt, nhất là ở Trường Sơn Hy sinh lớn, gian khổ nhiều Thơ cần phản ánh chân thật thực tiễn ấy, nhưng lại không được gây bi lụy, xót thương Cuộc chiến đang cần sự quả cảm của lòng người Nhưng cũng không được lên gân, cao giọng hay cắt bớt nét dữ dằn của thực tế chiến tranh Đây là một thử thách với tất cả các nhà thơ thời chống Mỹ Nhiều người không vượt được, Phạm Tiến Duật vượt qua được, trước hết nhờ vào giọng thơ đó
Phạm Tiến Duật được ca tụng là "con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại",
"cây săng lẻ của rừng già ”, "nhà thơ lớn nhất thời chổng M ỹ" Tìm hiểu thơ, Phạm
Tiến Duật ta không thể tách rời với các nhà thơ thơ cùng với ông Đó là thế hệ những nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ
Văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước ( 1964-1975) có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Văn học thời kì này phát triển mạnh mẽ trên nhiều thể loại và đã hoàn thành xứ mệnh lịch sử của mình Trong sự phát triển đó, không thể không kể đến thơ chống Mỹ đặc biệt là thơ của các nhà thơ trẻ thời kì này
Trang 23bởi họ đã mang đến một tiếng thơ trẻ trung mới lạ chưa từng có trước đó của văn học dân tộc Thật khó có thể hình dung một cách đầy đủ cho diện mạo văn học dân tộc nếu thiếu đi mảng thơ của các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ.
Khái niệm thơ trẻ thời chống Mỹ ở đây không chỉ được dùng với ý nghĩa chỉ về tuổi đời của các nhà thơ xuất hiện trên thi đàn mà còn trẻ cả về hồn thơ, giọng điệu, trẻ trong cách nhìn, cách nghĩ cách cảm của một lớp nhà thơ Nó được nhận diện và phân biệt bởi những dấu hiệu riêng, khó lẫn Trẻ về hồn thơ được phát lộ qua thi phẩm bằng các phương thức biểu đạt thẩm mĩ
Nhìn tổng thể, thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: Thế hệ nhà thơ xuất hiện từ trước cách mạng ( Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên ), thế
hệ những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp ( Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu ) và thế hệ những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ Mỗi thế hệ những nhà thơ nói trên đều có những đóng góp đáng ghi nhận đối với nền thơ chống Mỹ Bên canh đó, mỗi nhà thơ bằng phong cách riêng của mình đã đem đến một cách nhìn, cách cảm nhận riêng về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc, nói lên được một phần hiện thực lớn lao của đất nước Tuy vậy cách nhìn, cách cảm nhận về chiến tranh như thế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức và tình cảm của người đọc Bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc vẫn còn khuyết đi một mảng quan trọng cần được bổ sung Người đọc khao khát sự xuất hiện của những người trực tiếp ngoài chiến trận nghĩa là những nhà thơ chiến sĩ, những con người vừa cầm súng vừa cầm bút viết về những trải nghiệm của chính bản thân nơi “ đầu sóng ngọn gió” Hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó đã đưa tới sự hình thành, xuất hiện của một lớp nhà thơ trẻ như một sự đòi hỏi tất yếu của dân tộc và thời đại Đội ngũ những nhà thơ trẻ có mặt trên khắp các chiến trường, vừa cầm bút, vừa cầm súng họ đã mang đến nét tươi mới không dễ gì có được của thế hệ mình, làm cho thơ ca thêm đậm đà tính
cách Việt, tâm hồn Việt Bài ca ổng cóng của Thanh Thảo vang lên như một lời tuyên ngôn của lớp trẻ khi bước vào trận“ Bài ca của chúng tôi/ Là bài ca ổng cóng/ Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời” Có lẽ chỉ có thế hệ
Trang 24này chứ không phải ai khác mới nói được một điều tưởng như nghịch lý “Giữa chiến trường, tiếng bom nghe rất nhỏ ” ( Phạm Tiến Duật) Nếu không nếm trải thực
tế chiến trường thì khó có thể có được suy nghĩ như vậy Thế hệ nhả thơ chiến sĩ - nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu những năm 60, đặc biệt đông đảo trong thời kỳ chống
Mỹ, đem lại cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, gợi cảm, mà trong đó không ít tài năng đã sớm được chú ý và khẳng định: Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận cầm , Vương Trọng, Anh Ngọc, Thanh Thảo, Lê Anh Xuân Trong đội ngũ đông đảo hàng vạn thanh niên cầm súng đi vào các chiến trường miền Nam, đã nảy nở nhiều tài năng thơ như một nhu cầu tự ý thức và tự biểu hiện của thế hệ trẻ Đội ngũ được bổ sung liên tục từ quần chúng yêu thơ Tình cảm lớn lao đã trở thành nguồn mạch dồi dào cho cảm hứng thơ ca Và như vậy, đất nước ta có hẳn một thế hệ nhà thơ chống Mỹ, bởi YÌ trước khi làm thơ, trong khi làm thơ những nhà thơ ấy đã là những người lính, hoặc tình nguyện sống như những người lính chống Mỹ Điều đáng quý hcm cả, thế hệ nhà thơ này đã nhận thức sâu sắc sứ mệnh lịch sử lớn lao của thế hệ mình, chọn một con đường đi cho mình trong nhịp sống cuồn cuộn của dân tộc thời đánh Mỹ Thế hệ này chứ không phải ai khác
đã tự hiểu, tự nhận thức một cách đúng đắn con đường đi của mình Vừa cầm súng,
vừa cầm bút họ đã viết về thế hệ mình mình một cách trân trọng, tự hào: “ Không
có sách chúng tôi làm ra sách/Chủng tôi làm thơ ghi lẩy cuộc đời mình ” ( Hữu
Thỉnh) Sinh ra trong lòng nôi cách mạng, được đào tạo trong mái trường XHCN,
họ tha thiết tin yêu cách mạng và đang có mặt trên khắp các mặt trận sản xuất, chiến đấu Với kiến thức học tập có hệ thống, lại có thêm hành trang của vốn thơ ca dân tộc trên con đường rộng và dài của của nền thơ cách mạng, họ đã tự bồi dưỡng cho bản thân về tư tưởng, tài năng, vốn sống để có thể đi xa trên con đường đó và thực
sự trở thành nhà thơ cách mạng Tiếng thơ của họ trẻ trung mà luôn trăn trở, nghĩ suy đầy trách nhiệm về Tổ quốc, về dân tộc Họ đã thật sự vươn lên, khẳng định mình, vừa tiếp nối truyền thống các thế hệ trước, vừa có những sáng tạo độc đáo làm nên những nét riêng biệt của thơ trẻ thời chống Mỹ
Trang 251.2.3 Quan niệm về thơ của Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật là một trong số các nhà thơ thời chống Mỹ rất có ý thức về sáng tạo thơ ca Có thể thấy những quan niệm đó vừa được bộc lộ qua những bài bài phát biểu dưới dạng lí luận vừa được thể hiện qua những sáng tác của nhà thơ
Nói về quan niệm của Phạm Tiến Duật về thơ ca thực chất là đi tìm hiểu quan điểm nghệ thuật của ông Phạm Tiến Duật hầu như không tuyên ngôn to tát về quan niệm nghệ thuật, chỉ lặng lẽ "vừa làm vừa nghĩ" nhưng Phạm Tiến Duật có quan niệm về thơ và việc làm thơ rất nghiêm túc Với hành trình sáng tạo hom 30 năm, Phạm Tiến Duật tự đúc kết cho mình lí luận đúng đắn và tâm huyết về thơ Nhà thơ
cho rằng làm thơ cũng giống như người sao chè, người nghệ sĩ phải “ đi hái những cái búp của đời sống rồi dùng lửa nhiệt tình của anh sao lại khiến cho một thùng chè chỉ được một dúm móc câu Thơ hay cũng như chè ngon Đọc xong một bài thơ
mà mất ngủ như uổng chè Thái Nguyên thì đẩy là thơ bậc nhất” [ 31,tr.797] Vậy
ra thơ cũng có chất gây nghiện Từ trường của nó luôn thu hút sự chú ý những người có tâm hồn nghệ sĩ Người nghệ sĩ khi bắt tay vào sáng tác luôn mong muốn
có được một tác phẩm nghệ thuật ưng ý, lưu lại lâu dài trong lòng người đọc Đe đạt được điều đó đòi hỏi người sáng tạo phải lao động một cách nghiêm túc Cũng như bất cứ một nhà thơ chân chính nào, Phạm Tiến Duật rất coi trọng chất lượng thơ Ông trăn trở phải làm thế nào để sáng tạo ra nhiều bóng điện sáng trên một dây dẫn
dài Phạm Tiến Duật xem “ mỗi bài thơ như một sợi dây dẫn Mỗi câu thơ hay, chữ hay như những bóng đèn sáng trên dây dẫn ấy Dây dẫn ngắn, bóng điện sáng nhiều thì con đường thơ chắc là rõ lẳm Dây dẫn dài mà chỉ có vài bóng điện thì tù
mù, biết nói g ì” [ 31,tr.797] Nhà thơ luôn chú trọng đưa vào thơ những hình ảnh,
khung cảnh có tính tiêu biểu phát hiện từ chất sống mới của chiến trường nên chất thơ được chắt lọc, nâng cao Do vây, bài thơ của ông tuy dài mà không loãng, vẫn gây ấn tượng mạnh cho người đọc
Trang 26Phạm Tiến Duật cũng rất quan tâm đến chất lượng thơ Với ông, số lượng có thể ít nhưng chất lượng phải cô đọng, phải là những chắt lọc tinh hoa làm người ta say mê, thao thức thì thơ mới có giá trị.
Phạm Tiến Duật cũng rất chú trọng sự tự nhiên, dân dã trong sáng tạo nghệ
thuật Nhà phê bình Đinh Quang Tốn trong cuốn Tản mạn nghiệp vãn có một ý thật hay: "Sảng tạo nghệ thuật không phải là một công việc nặng nhọc vất vả Nói đến nghệ thuật là nói đến nhẹ nhàng thanh thoát " và ông lý giải: "Có tài năng thì sẽ thấy viết văn là công việc cũng nhẹ nhàng thôi Nghệ thuật đòi hỏi sự điêu luyện đến mức tự nhiên như hoa đến kỳ thì nở Trường hợp này thật đúng với Phạm Tiến Duật Phạm Tiến Duật làm thơ rất tự nhiên Tự nhiên đến mức ông "thơ hoá" cả
ngôn ngữ đời thường: “ Đêm ranh mãnh", “buồn cười đáo đ ể”, “cái miệng em ngoa", “xoong nồi xủng xoảng’’, “cười ha h a ” Ông không quan trọng tính kết
cấu, cứ viết một mạch tuôn chảy theo cảm xúc thật Cả khẩu khí, giọng điệu cũng tự nhiên nhuần nhuỵ, như thể nhà thơ nói ra thơ chứ không sáng tác thơ Đó chính là
sự điêu luyện của tâm hồn Thơ Phạm Tiến Duật là thứ thơ phát ra tự hồn, luôn thôi thúc bởi những rung động tươi mới
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm Sách giấy mở tung, trắng cả rừng chiều Anh đã đi rất nhiều rất nhiều
Những con đường như tình yêu mới mẻ Đất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn, Thạch Kim.
(Gửi em cô thanh niên xung phong)
Không chỉ chú trọng sự tự nhiên, Phạm Tiến Duật cũng rất thích sự tinh
nghịch, mới lạ: “ Người tinh nghịch là anh dễ thân”(Gủi em cô thanh niên xung phong),“ Biết lòng anh say miền đất lạ ” ( Trường sơn đông,Trướng sơn tây) Từ
cánh cửa nhà trường bước ra ngoài đời đã có nhiều cái lạ, vào với Trướng Sơn cái lạ lại nhiều hơn Vì thế anh lính trẻ tài hoa không hết ngạc nhiên khi đặt chân tới cái “ vùng rừng không dân” ấy Ngạc nhiên về âm thanh, ngạc nhiên về cảnh thiên nhiên
Trang 27và ngạc nhiên hơn cả là những con người đang sống, chiến đấu ở đây Cá tính ấy của hồn thơ Phạm Tiến Duật đã tìm đúng được mảnh đất riêng của mình Đó là đường Trường Sơn trong những năm chống Mỹ vô cùng ác liệt Với cá tính độc đáo, khuynh hướng chủ yếu của thơ Phạm Tiến Duật là đi tìm khám phá cái đẹp từ trong các diễn biến sôi động của cuộc sống Đường Trường Sơn trong những năm chống Mỹ là điển hình của cuộc sống sôi động ấy Nếu không có nó, Phạm Tiến Duật không thể cất lên giọng thơ đích thực của mình Nhà văn Nguyễn Văn Thọ
thật có lí khi nói: " Phạm Tiến Duật đã làm cho người coi kho bớt cô đơn, làm cho người lỉnh suốt ngày chỉ nghe thấy tiếng mưa rừng ấm lòng trở lại Phạm Tiến Duật
đã nói thay thể hệ chúng tôi” Chính Phạm Tiến Duật đã có lần tự bạch: " Nếu không có cuộc sống với những con người đa dạng ồn ào bao quanh với xô bồ chi tiết trôi chảy từng phút, từng giờ, thì hình như tôi không có thơ”.
Phạm Tiến Duật cũng ưa tiếng nói lạc quan, tươi tắn Mỗi bài thơ là một câu chuyện lạc quan về chiến tranh, tươi tắn, sinh động đến từng chi tiết trong lửa đạn Chúng còn được viết bằng cảm xúc tự nhiên đến mức, dường như nhà thơ đã rất dễ dàng - chỉ việc bê đời sống vào rồi khẽ khàng đặt vào đó Gắn bó với Trường Sơn, nhà thơ đưa vào thơ mình những chi tiết đời sống rất chân thực, thực đến trần trụi:
Xe có không kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
( Bài thơ về Tiểu đội xe không kính) Nhà thơ đã nói lên cái khí thế ra trận hào hùng của dân tộc qua hình ảnh của cuộc hành quân khẩn trương, hối hả tạo nên bản giao hưởng lớn Trường Sơn mà trong đó tiếng cười, tiếng hát át tiếng bom rơi đạn nổ
Quan niệm thơ đúng đắn và nghiêm túc đó xuất phát từ một trái tim tràn đầy nhiệt huyết, một tư duy thơ sắc sảo thông minh Xuất phát từ quan niệm đó mà hồn thơ Phạm Tiến Duật đã cất cánh thăng hoa để cái tên Phạm Tiến Duật trờ thành nhả thơ của Trường Sơn, thi sĩ huyền thoại của đường mòn Hồ Chí Minh những năm chống Mỹ
Trang 28CHƯƠNG2 NHỦÌVG NGUỒN CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ HÌNH TƯỢNG
NHÂN VẬT TRŨ TÌNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
2.1 Những nguồn cảm hứng chủ đạo trong thff Phạm Tiến Duật
Theo “ Từ điển thuât ngữ văn học” thì cảm hứng chủ đạo là " trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đẳm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm ” [1 l,tr 32].
Thuật ngữ cảm hứng chủ đạo lúc đầu chỉ yếu tố nhiệt tình say say sưa diễn thuyết, sau chỉ trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ về sau nữa lí luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở người nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả Cảm hứng chủ đạo luôn có sự thống nhất giữa đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm
Đối với với các nghệ sĩ chân chính thì cảm hứng chủ đạo là yếu tố cực kì quan trọng Nhà văn, nhà lí luận phê bình Biêlinxki xem cảm hứng chủ đạo như là điều kiện không thể thiếu đối với sự ra đời của một tác phẩm đích thực Theo ông cảm
hứng có tác dụng “ biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đổi với tư tưởng thành tình yêu đổi với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành ” [11, tr 32 ] Theo tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam thì cảm hứng có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy thơ Tác giả cho rằng: “ Tư duy thơ là tư duy sáng tạo trong một ừ-ạng thái đầy cảm hứng Cảm hứng không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đổi tượng nhận thức của tư duy và được kết tinh thành hình tượng” [19, tr.92].
Tóm lại, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố quan trong trong quá trình sáng tác
Nó có ý nghĩa khởi xướng, thúc đẩy quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ, nó biến những suy nghĩ, ý tưởng bên trong của người nghệ sĩ thành tác phẩm và trở thành
Trang 29yếu tố nội tại của tác phẩm Tìm hiểu tư duy thơ của một nhà thơ không thể không chú ý đến cảm hứng chủ đạo trong những sáng tác của nhà thơ đó.
2.1.1 Cảm hứng về quê hưtmg đất nước
Hình ảnh quê hương đất nước luôn có một vị trí đặc biệt trong những trang thơ xưa và nay Dù ở thời kỳ nào, giai đoạn nào thì hình ảnh quê hương, đất nước cũng nhận được sự quan tâm bởi mỗi con người đều có một quê hương, cội nguồn Thơ Phạm Tiến Duật cũng vậy Cảm hứng về quê hương đất nước là một phần không thể thiếu Ông đã dồn nén cảm xúc mãnh liệt thành những trang thơ dung dị và đong đầy kỷ niệm mà đọc lên ai cũng thấy có tình cảm của mình trong đó Bên cạnh đó,
Tổ quốc cũng hiện lên với tầm vóc lịch sử và những chiến công oai hùng đánh đuổi
giặc ngoại xâm Nhắc đến Phạm Tiến Duật là ta nhắc tới “Con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại ” Thơ của ông đã sớm trở thành tiếng nói ca ngợi tình yêu,
tình đồng đội, tình quê hương đất nước với giọng điệu sôi nổi lạc quan có chút gì đó tinh nghịch nhưng cũng rất sâu sắc
Thơ về đất nước, quê hương của Phạm Tiến Duật đặt trong một hoàn cảnh đặc biệt Đó là giai đoạn đất nước ta đang trong thời kì kháng chiến chống Mĩ gian khó Cảm hứng của thơ văn thời kì này sớm tìm được bến đậu ở tính lãng mạn cách mạng trong ngọn lửa kháng chiến bùng lên khắp đất nước Đây là thời kì văn học phát triển rực rỡ trên nhiều thể loại để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình: Làm cuốn "biên niên văn học" về cuộc chiến tranh ái quốc YĨ đại của dân tộc Văn nghệ
sĩ của chúng ta có vai trò quan trọng không kém trong việc cổ vũ tinh thần cho chiến sĩ, nhân dân Một trong số đó, Phạm Tiến Duật được đánh giá là gương mặt độc đáo của văn học Việt Nam 1945 - 1975 Thơ ông đã phác họa hình ảnh một đất nước gần gũi thân quen và một đất nước trong đau thương máu lửa mà rất đỗi hào hùng
Trong thơ kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1954 - 1975, đất nước không phải
là một khái niệm mơ hồ, xa xôi mà đã trở nên gần gũi, ấm áp gắn liền với tình yêu quê hương của tác giả Tình yêu đất nước luôn là mạch cảm hứng tinh khôi, trong
Trang 30suốt và rạo rực trong tâm hồn nhà thơ Hình ảnh đất nước trước tiên hiện lên qua những vùng đất, những làng quê bình dị mến thương.
Trong bài thơ nổi tiếng Lửa đèn, Phạm Tiến Duật đã miêu tả vẻ đẹp yên ả của
một vùng quê khi giặc chưa kéo đến Vùng quê ấy gợi lên bao nỗi niềm sâu lắng,
thương nhớ cho những người con mất nước: Anh cùng em sang bên kia cầu/Nơi có những miền quê yên ả/ Nơi cỏ những ngọn đèn thắp trong kẽ lả/ Quả cây chỉn đỏ hoe / Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu / Trỏ lối sang mùa hè,/ Quả cà chua như cải đèn lồng nhỏ xỉu/ Thắp mùa đông ấm những đêm thâu,/ Quả ớt nhu ngọn lửa đèn dầu/ Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng /Mạch đất ta dồi dào sức Sổng/Nên nhành cây cũng thẳp sáng quê hương Nhà thơ đã chọn lọc, sử dụng thành công chất liệu
bình dị của cuộc sống để gợi dậy những cảm xúc sâu lắng Quê hương đâu phải xa
lạ, nó là cây cầu nối đôi bờ hẹn hò, là vườn cây trái với những thức quả giản dị, quen thuộc trong mỗi ngôi nhà Nhưng với sự thăng hoa cảm xúc và bút pháp thể hiện mới mẻ, ta cảm tưởng nó như cuốn phim kí ức quay chậm, đủ sức neo lại trong lòng người đọc
Hình ảnh đất nước, quê hương không chỉ ở những vùng quê bình yên mà còn
là những vùng đất mà tác giả đã hành quân qua Trong bài thơ Đi trong rừng, tác
giả miêu tả lại cảnh đẹp trong rừng như một bức tranh có cả đường nét, âm thanh, màu sắc, tâm trạng:
Cây cúc đắng quên lòng mình đang đẳng Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay;
Cây bồng bênh cười vui suốt ngày, Thân thẳng cây chò, cành ngang cây bứa;
Cây nhựa trẳng là cây si, cây sữa, Nhựa vàng cây dọc, nhựa đỏ cây nò, Cây nứa mọc đứng, cây giang mọc bò, Cây tầm gửi mọc ngồi đỏng đảnh, Cây lim uy nghi, sa nhân ma mỏng mảnh,
Dạ hương của đêm, mắc cỡ của ngày.
Trang 31Bài thơ được Phạm Tiến Duật viết trên đường hành quân, v ấ t vả là thế song ông vẫn ghi lại được “bảo tàng thu nhỏ”, sống động về Trường Sơn Để rồi sau này, thời gian trôi đi, nhiều dấu tích Trường Sơn sẽ mờ phai song những cảm xúc trong tâm hồn con người được tái hiện trong thơ thì không bao giờ phai nhạt cả.
Không chỉ là một đất nước gần gũi thân quen, thơ Phạm Tiến Duật còn phác họa một đất nước trong đau thương máu lửa nhưng rất hào hùng Như ta đã biết, Phạm Tiến Duật thuộc thế hệ các nhà thơ sinh ra từ cách mạng, lớn lên trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Vì thế,
sự cộng hưởng của không khí chiến trận hào hùng cùng với tó i tim yêu nước rực lửa trong con người tác giả đã thăng hoa thành nghệ thuật thơ ca Tiêu biểu trong số
đó là những tập thơ nổi tiếng của Phạm Tiến Duật những năm trực tiếp cầm súng và
cầm bút sáng tác ở Trường Sơn như vầng trăng quầng lửa (1970, thơ), Thơ một chặng đường (1971, thơ), Ở hai đầu núi (1981, thơ) Hiện thực chiến trường, con
đường Trường Sơn, cuộc sống sinh hoạt của những người lính được Phạm Tiến Duật đưa vào thơ hết sức chân thực và sinh động Thơ Phạm Tiến Duật đưa người đọc đi thẳng vào giữa hiện thực của cuộc chiến tranh, đến những nơi gian khổ, nóng bỏng, ác liệt nhất, thấy được cái không khí khẩn trương, dồn dập, ác liệt, sôi động
và hào hùng của những năm tháng sục sôi đánh Mỹ
Trước hết là hình ảnh đất nước trong đau thương máu lửa Thơ Phạm Tiến Duật tái hiện đất nước trong đau thương, qua những mất mát, hiểm nguy Sự nguy hiểm của cuộc chiến rình rập từng phút:
Chúng nó đến từ bên kia biển
Rủ nhau bay như ỉũ ma trơi Gió thổi tắt đèn bom rơi máu ứa Trên đất nước đêm đêm sáng những ngọn đèn
Trang 32Cô gái làm duyên phải nhờ giọng nói Bông hoa làm duyên phải lụy hương bay.
bay, mìn của tiếng hò, của đèn cù, pháo sáng, quầng lửa, ánh chớp, vầng trăng:
Hai phút trên đẩu một lượt máy bay
lá nguỵ trang như còn bốc khói
và bãi đất này như cái lưng người giơ ra không biết mỏi đen xạm khói bom, nham nhở vết thương
( Nghe hò đêm bốc vác )
Không chỉ đau thương máu lửa, thơ Phạm Tiến Duật còn hiện lên với những hình ảnh của một đất nước rất đỗi hào hùng Thơ ông không nghiêng về miêu tả cái khốc liệt, cái dữ dội của chiến tranh mà chủ yếu là thể hiện lòng lạc quan, tha thiết yêu đời Nó tạo thành bản giao hưởng Trường Sơn mang đầy chất lãng mạn:
Và vầng trầng, vầng trăng đất nước vút qua quầng lửa vụt lên cao (Vầng trăng và những quầng lửa ) Thơ Phạm Tiến Duật rất nhiều lửa Tên các tập thơ của ông đều có lửa: vầng trăng quầng lửa, Lửa đèn, Đường dài và những đom lửa Lửa thắp suốt hành trình
thơ Phạm Tiến Duật, biểu tượng của ý chí và sức mạnh, chứa đựng nhiều suy tưởng
về đất nước, nhân dân Cái khốc liệt của chiến tranh chỉ là cái phông nền làm nổi bật chân dung những người ra trận Hình ảnh ánh trăng làm câu thơ tỏa sáng, nó khái quát được hình tượng đất nước gian khổ đau thương đầy sức vươn dậy với tư thế chiến thắng và kiêu hãnh Nó như tâm hồn con người trẻ trung, tràn đầy nhiệt
Trang 33huyết, tràn đầy yêu thương Như một trái tim luôn hướng về cuộc đời, tràn đầy niềm vui trong trẻo, không chịu già đi trước sự tàn phá của chiến tranh.
Đọc thơ của Phạm Tiến Duật ta còn nhận thấy sự phấn khích, say mê lý tưởng của nhà thơ Chiến tranh YÔ cùng tàn khốc nhưng không thể huỷ diệt hết được cái đẹp, sự sống tiềm tàng của thiên nhiên đất nước; không thể làm cạn kiệt những rung
động xanh non của tâm hồn say miền đất lạ Người đọc như cuốn theo ngọn lửa nhiệt thảnh của nhà thơ: Đường ra trận mùa này đẹp lẳm Đó là cảm xúc thốt nên
lời trước khung cảnh thực của con đường ra trận
Tiếng cười trong thơ Phạm Tiến Duật cũng là tiếng cười "đặc trưng" của tuổi trẻ: hồn nhiên, tinh nghịch, dí dỏm, đáng yêu :
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là Thạch nhọn Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
cái miệng em ngoa cho bạn em cười ròn Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để
( Gửi em cô thanh niên xung phong)
Và những tiếng cười thoải mái, ngang tàng của những người lính lái xe:
Không có kỉnh, ừ thì có bụi,
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
( Bài thơ về Tiểu đội xe không kỉnh )
Tiếng cười ấy thể hiện sự lạc quan, tư thế chủ động vượt lên hoàn cảnh với niềm tin chiến thắng của những con người đang căng đầy sức trẻ
Trong bài thơ Tiếng bom ở Seng Phan, nhà thơ nói trực tiếp về chiến trường
với những chi tiết cũng thật cụ thể nhưng lại bất ngờ mang phát hiện sâu sắc góp
thêm kinh nghiệm sống cho con người : Thế đấy, giữa chiến trường/ nghe tiếng bom rất nhỏ Nghịch lý ấy chỉ có thể giải thích bằng “ phép biện chứng của tâm hồn
Tiếng bom đến từ chiến trường, dù có dữ dội đến đâu cũng không át được những
âm thanh của sự sống, của tinh thần yêu nước Để rồi, trong đêm đen của chiến trận, nhà thơ vẫn thấy những hình ảnh vừa nên thơ vừa hào hùng:
Nơi tắt lửa là nơi dài tiếng hát
Trang 34Đoàn thanh niên xung phong phá đá sửa đường;
Dầu hố bom kề bên còn bay mùi khét Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương Đêm tắt lửa trên đường
Khi nghe gần xa tiếng bước chân rậm rịch
Là tiếng những đoàn quân xung kích
Đi qua.
( Lửa đèn)
Ngay cả khi viết về những sự mất mát hi sinh, ta vẫn thấy tác giả tái hiện một
đất nước ẩn chứa một tinh thần sắt đá: Khói bom lên trời thành một cái vòng đen/ Trên mặt đất lại sinh bao vòng trang/ Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng/ Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh/ Có mất mát nào lớn bằng cái chết/ Khăn tang, vòng tròn như một sổ không/ Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng/ Là cái đầu bốc lửa ở bên trong/ ( Viết về số 0) Bài thơ được viết cuối năm 1973, Tư lệnh
Đồng Sĩ Nguyên giao nhiệm vụ cho Phạm Tiến Duật ra miền Bắc chuẩn bị soạn thảo Văn bia Trường Sơn Trong hoàn cảnh đó, Phạm Tiến Duật đã tận mắt chứng kiến hậu quả tàn khốc do Mỹ ném bom, đặc biệt ở phố Khâm Thiên, Hà Nội Do vậy, ông đã viết bài thơ như một nén hương viếng những người dân tử nạn Câu thơ hay nhất, đọng lại nhiều dư vị nhất trong bài là câu cuối Dù chịu bom đạn nhưng
người dân không hề nhụt ý chí chiến đấu Hình ảnh cái đầu bốc lửa phải chăng đó
là ngọn lửa sục sôi căm thù và cũng là ngọn lửa niềm tin vào sự chiến thắng của ngày mai
Tóm lại, với một loạt các tập thơ của mình, Phạm Tiến Duật đã ghi lại hình ảnh đất nước vừa hiền hòa lại vừa anh dũng trong chiến đấu Đặc biệt, trong đó luôn toát lên sự lạc quan, trẻ trung của lớp thanh niên tham gia kháng chiến Nó là một khúc tráng ca sôi nổi hòa trong bản đồng ca của dân tộc nên tràn đầy say mê lý tưởng, rạo rực niềm tin Có thể nói, Phạm Tiến Duật đã tự soi mình giữa dòng chảy chung của văn học Việt Nam hiện đại, để lại hình ảnh đất nước với cảm hứng trữ
Trang 35tình hòa điệu với lý tưởng khát vọng cứu nước đã làm nên vẻ đẹp có một không hai của nền thơ ca chống Mỹ.
Nhớ - Hồng Nguyên ); hoặc len lỏi, thấp thoáng trong tâm tư, hoài niệm của người
lính mang dáng dấp tráng sĩ anh hùng Mat trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ
Hà Nội dáng kiều thơm (Tây Tiến - Quang Dũng) Đậm đà hơn một chút có lẽ là Núi Đôi của Vũ Cao và Màu tím hoa sim của Hữu Loan Tuy vậy, “Em” trong
những bài thơ này vẫn là “em du kích”, “em gái nhỏ hậu phương” ở phía sau chiến trường Thơ chống Mỹ, đặc biệt là thơ Phạm Tiến Duật thế giới nhân vật luôn có sự hiện diện của cặp đôi nam nữ: anh chàng bộ đội và cô gái thanh niên xung phong tạo nên phút giây đằm thắm của tình cảm, xoa dịu cái nóng bỏng của đời sống chiến trường Hình ảnh của họ - những chàng trai, cô gái như những nguyên mẫu đời thường đã hồn nhiên đi vào trang thơ, trở thành những biểu tượng rạng rỡ cho vẻ đẹp và sức sống tình yêu của tuổi trẻ thời đại chống Mỹ
Trước hết là những xao động, nhớ nhung trước hình ảnh các cô gái Trường Sơn Sự khốc liệt của chiến trường không ngăn được nhịp đập rạo rực của trái tim trước vẻ đẹp của những người con gái Giữa khung cảnh Trường Sơn khốc liệt, tác
giả như được xoa dịu bởi hình ảnh những “người đẹp Trường Sơn” đáng yêu, duyên dáng “Họ là kiểu nhân vật trữ tình luôn tồn tại bên cạnh cái tôi chủ thế, là đổi tượng để nhà thơ trao gửi tâm tu, tình cảm Có thể nói, sự có mặt của họ với những vẻ đẹp nữ tính đã góp phần “cân bằng giới tỉnh ”, khiến đời sổng của người lính ở chiến trường thêm phần ỷ nghĩa ’’ [ 14,tr 3] Phải có một tâm hồn rất trẻ, yêu
đời đến độ nồng say mới quên đi tất cả để cảm nhận được trọn vẹn vẻ đẹp ấy
Trang 36Cảm xúc rung động ấy có thể đến ngay từ hình ảnh cô thanh niên xung phong trên một cung đường sau loạt bom thù Trong đêm tối, tác giả không nhìn thấy gì nhưng chỉ qua giọng nói, tiếng cười của cô gái, tâm hồn tác giả đã vang lên những xao động êm ái, trong trẻo:
Có lẽ nào anh lại mê em Một cô gái không nhìn rõ mặt Đại đội thanh niên đi lấp hổ bom
Ảo em hình như trắng nhất
(Gửi em cô thanh niên xung phong)
Và rồi, từ sự xao xuyến ấy, cảm xúc của tác giả trở nên nồng nàn, khắc khoảihơn:
Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều Những con đường như tình yêu mới mẻ Đất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim Ớ đâu?Em tinh nghịch của anh?
(Gửi em cô thanh niên xung phong)
Những câu hỏi và điệp khúc dồn dập cứ xoáy vào lòng người đọc một ước mong tình yêu chân thành trong thời chiến, nơi người ta luôn phải tìm nhau, chờ nhau giữa bao tầng bom đạn
Trong bài thơ Nghe em hát giữa rừng, tác giả lại tái hiện cái nhìn đầy cảm
thông mà tinh nghịch với một cô gái hát không hay nhưng xinh đẹp Cái nhìn ấy thể hiện triết lí yêu bằng mắt rất dễ thương của tuổi trẻ:
Nghe em hát mà anh buồn cười Nhịp với phách xem chừng sai cả
Mồ hôi em ướt đầm trên mả Anh với mọi người nhìn nhau khen hay
( Nghe em hát trong rừng)
Trang 37Cái nhìn tinh nghịch về các cô gái Trường Sơn còn được tái hiện trong nhiều bài thơ như:
Em ở Thạch Kim sao cứ đùa anh là Thạch Nhọn Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc dài quanh hổ bom Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn Tiếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
(Gửi em, cô thanh niên xung phong) Trong bài Những bông hoa không hỏi, Phạm Tiến Duật lại miêu tả chân dung
cô gái nữ tính, kín đáo, ít nói nhưng làm tâm hồn nhà thơ thấy rạo rực vô cùng:
Cũng như em, những bông hoa không hỏi Những bông hoa chi nở để trả lời.
Có yêu không hoa không hề hỏi thế Hoa chỉ đẹp vô cùng để rạng rỡ thôi.
Hoa như em để rạo rực bao người.
Quả thực, vẻ đẹp tươi tắn của những cô gái Trường Sơn đã làm dịu đi cái khốc
liệt của chiến tranh Trong bài Lửa đèn, ta khá bất ngờ với chi tiết: Dầu hố bom kề bên còn bay mùi khét/ Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương Không gian chiến tranh
tưởng như thơm tho hơn bởi một tương phản, đối lập găy gắt, nhà thơ vẫn cảm nhận
đủ đầy sức quyến rũ và sự thăng hoa của bản sắc nữ Ở nhiều bài thơ khác, Phạm Tiến Duật cũng rất tinh tế khi nhận ra vẻ đẹp nữ giới dung dị nhưng đủ sức lay động
lòng người: Cái buồng lái là buồng con gái/ vẫn cành hoa mềm mại cài ngang ( Niềm tin có thật ) Những câu thơ đã toát lên vẻ đẹp đầy nữ tính của các cô gái bởi
ngay trong chiến tranh khốc liệt họ vẫn không quên làm đẹp, làm duyên cho cuộc sống của mình
Đó còn là sự ngưỡng mộ trước sự hy sinh, sự cam chịu Yất vả mà không một
tiếng kêu than của các cô gái Trường Sơn Trong bài Một đoạn thư riêng , tác giả đã
nhập vai người chồng để viết bức thư bày tỏ sự cảm thông với bao vất vả của người
Trang 38vợ mang bầu đồng thời bày tỏ niềm hạnh phúc phơi phới cùng bao ước mơ vào tương lai:
Mỹ rút chạy khỉ cái thai dần lớn, Anh đi giữa dòng người cuồn cuộn, Cuộc đời vui, sức sổng cứ dấy ỉên.
Hạnh phúc ở đằng kia, phía trước, rất gần thôi!
( Một đoạn thư riêng )
Tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật còn gắn với nỗi nhớ nhung những kỷ niệm đôi lứa trong cuộc chiến tranh:
Ảo có quen anh không, áo cỏ nhớ anh không?
Dau có gặp rồi mà giờ nhìn chẳng biết Cái đêm mưa bến phà cả đoàn người ướt hết Bao dáng áo làm đường, ở đó có em không?
(Ảo của hôm nào, người của hôm nay)
Không gian kỷ niệm cũng làm nhói lòng người đọc về nỗi đau chiến tranh Chiến tranh khiến cho tình cảm cách chia, làm ta chỉ biết gần nhau bằng kỷ niệm, bằng nhớ nhung và chờ đợi Tuy nhiên, kỷ niệm lại là hành trang tinh thần thắm đượm tình người của những người lính trẻ Tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật là những kỷ niệm nối liền những con đường bất tận trong bao la Trường Sơn, những con đưừng mặt trận giữa đại ngàn trùng điệp, nơi mà anh tìm em:
Áo thanh niên xung phong phơi ở nông trường Cái túi chéo làm sao mà lẫn được
Nhìn cái áo phơi thương thương như thuở trước Trời sắp mưa rồi, người bỏ áo đi đâu.
(Áo của hôm nào, người của hôm nay)
Ngoài những bài độc ca, tác giả còn có nhiều bài thơ song ca với sự kết hợp cả lời cô gái và chàng trai như minh chứng cho những tình yêu đẹp ở núi rừng Trường Sơn:
Trường Sơn Tây anh đi, thương em
Trang 39Bên ẩy mưa nhiều, con đường gánh gạo Muỗi bay rừng già cho dài tay áo Rau hết rồi, em cổ lẩy măng không.
Em thương anh bên tây mùa đông Nước khe cạn bướm bay lèn đá Biết lòng anh say miền đất lạ Chắc em lo đường chắn bom thù
( Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây )
Bài thơ là lời hai người con trai và con gái luôn quan tâm, lo lắng, thương nhớ
về nhau Dù hai người ở hai đầu Trường Sơn song tình yêu của họ vẫn có những gạch nối kỳ vĩ, làm gần lại cả hai phía Trường Sơn Họ là hai trong số người người, lớp lớp những chiến sĩ Trường Sơn ngày đêm vật lộn với mưa bom bão đạn của quân thù, chiến đấu và yêu, hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc, trọn vẹn với tuổi
xuân của mình Cuộc sống đó đã vào thơ qua những “chất liệu thường”, nhưng
chính tình yêu nồng nàn của tuổi trẻ đã thi vị hoá, biến mọi thứ bao bọc xung quanh đời sống đôi lứa trở nên hữu tình hơn Thay vì những xù xì, gân guốc của hiện thực chiến trường là sự mượt mà, đằm thắm Qua mối tình riêng tư của đôi trai gái, tác giả gián tiếp nói lên sức mạnh của cả dân tộc vượt lên trên cả cánh rừng đại ngàn, núi non trùng điệp và những hiểm nguy của chiến tranh Quả thực, trong số những
bản tình ca thời chống Mỹ, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây xứng đáng là tác
phẩm tiêu biểu cho cả nền thơ trẻ chống Mĩ cứu nước, từ cảm hứng đến giọng điệu Lời thơ được cất lên từ đôi cánh lãng mạn, giàu nhiệt huyết và phơi phới niềm vui Bài thơ là sự đánh dấu một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật: sôi nổi, trẻ trung, lạc quan, yêu đời
Cùng mạch cảm xúc đó, trong bài thơ Lửa đèn tác giả tưởng tượng ra viễn
cảnh hạnh phúc của đôi nam nữ khi đất nước được độc lập Giọng thơ vang lên xao xuyến bởi sự xuất hiện của chữ “ta” gắn kết hạnh phúc trong b à i:
Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thẳng Anh dắt tay em, trời chi chít sao giăng
Trang 40"Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm "
ca thơ chống Mĩ trước 1975
2.1.3 Cảm hứng về thời cuộc thế sự
Cảm hứng về thời cuộc thế sự vốn không phải điểm nổi bật trong thơ Phạm Tiến Duật song sau 1975, khi hoàn cảnh đất nước đặt ra một loạt vấn đề về đạo đức, nhân sinh thì cảm hứng thế sự đến với người chiến sỹ - nhà thơ Phạm Tiến Duật như một lẽ tất yếu Nằm trong dòng chảy của thơ đương đại, thơ Phạm Tiến Duật sau 1975 không thể không có những tìm tòi chuyển đổi Hòa chung vào nỗi buồn nhân sinh đời thường như các nhà thơ chống Mĩ khác, tác giả trầm tư hơn trước những vấn đề thế sự, trước những đổi thay của cuộc sống, trước những số phận của con người Cuộc sống thay đổi, cảm hứng và cái tôi trữ tình trong thơ ông cũng ngày càng đi vào chiều sâu, nhìn vào chính mình để chiêm nghiệm bao điều Sự chiêm nghiệm của cuộc sống trước thế thái nhân tình đã tạo cho thơ Phạm Tiến Duật nỗi buồn Xưa vào chiến trường lòng vui như mở hội, nay giữa phố phường
sự quan tâm đến những vấn đề của cá nhân, những suy tư, trăn trở về lẽ mất còn, những giá trị nhân sinh thế sự