1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Án lệ trong bộ luật dân sự 2015

8 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 23,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÁN LỆ, LẼ CÔNG BẰNGÁn lệ lẽ công bằng: Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Th

Trang 1

ÁN LỆ, LẼ CÔNG BẰNG

Án lệ lẽ công bằng: Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử

Cơ sở pháp lí: khoản 2 điều 6 BLDS 2015

+ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2011, HĐTP TAND tối cao ban hành nghị quyết 03/2015 về quyết định lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

+ Nghị quyết số 49/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Cơ sở thực tiễn: xuất phát từ nhu cầu không ngừng đổi mới và phát triển của xã hội, có những trường hợp mà pháp luật không dự liệu hết được và không kipj thời ban hành các văn baen hướng dẫn thì việc áp dựng án lệ là một trong những

phương thức có thể đáp ứng được yêu cầu này

Ngoài ra với các án lệ đã được thừa nhận theo kinh nghiệm của quốc tế thì việc áp dụng án lệ là phương thức hiệu quả để góp phần nâng cao năng lực của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp như dân sự, thương mại Với những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (hệ thống pháp luật Dân sự - Civil Law), tiêu biểu một số nước như Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản,… Án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật Những bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý nhưng tòa cấp dưới phải tham khảo, nếu không nguy cơ bị tòa cấp trên sửa án rất cao

Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật Khi

có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng Ở nước ngoài, khái niệm án lệ (Case Law) còn được gọi là tiền lệ pháp (Precedent) là một trong những nguồn luật chính thức và quan trọng trong hệ thống pháp luật của quốc gia và được áp dụng rộng rãi Theo đó, những bản án, quyết định giải quyết

vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó Tiền lệ pháp ở nước ngoài còn là quá trình làm luật của tòa trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới khi xét xử

Trang 2

Ở Việt Nam dưới chế độ Sài Gòn trước năm 1975, tiền lệ pháp cũng được coi là một nguồn trong lĩnh vực dân sự, Bộ Tư pháp đã xuất bản án lệ theo định kỳ ba tháng Ấn phẩm đăng tải những trích dẫn về quan điểm hay định hướng xét xử trong các bản án của Tối cao pháp viện, Tòa hành chính, Tòa thượng thẩm

Những bản án này là một trong những căn cứ pháp lý để xét xử cho các tranh chấp tương tự về sau Hệ thống luật pháp của chế độ Sài Gòn trước đây vốn chịu ảnh hưởng của luật pháp châu Âu, nhất là luật pháp của Pháp, đặc biệt là pháp luật dân

sự, nên cũng rất quan tâm việc xây dựng án lệ Bộ Dân luật do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành theo Sắc luật số 028 TT/SLU ngày 20/12/1972, đã có qui định liên quan đến yêu cầu áp dụng án lệ trong xét xử, cụ thể, ại Thiên mở đầu, Điều 8

có ghi: “Thẩm phán nào không chịu xét xử vì lẽ luật không định hay luật tối nghĩa, thiếu sót, sẽ có thể bị truy tố về tội bất khẳng thụ lý”( cái này k nói cx k sao nha Mang tính tham khảo )

Bình luận:

Có thể nói BLDS 2015 thừa nhận hay cho phép tòa án áp dụng án lệ, đây được coi

là điểm mới và là điểm đột phá trong sửa đổi luật bởi:

+ Tiết kiệm thời gian giải quyết vụ án và chi phí được giảm bớt bởi nếu như trước đây khi gặp một vụ việc mà có tính chất phức tạp hoặc còn tranh cãi nhiều thì phải qua nhiều quy trình xét xử từ sơ thẩm phúc thẩm tái thẩm rồi lên giám đốc thẩm khiến cho việc giải quyết tốn nhiều thời gian và chi phí Hơn nữa đối với một số vụ việc liên quan đến quyền nhân thân hoặc vấn đề bồi thường vụ việc mà giải quyết kéo dài lâu dễ dẫn đến không bảo đảm được công bằng cho bên bị vi phạm

+ Án lệ được quy định để làm rõ những quy định của pháp luật còn có nhiều cách hiểu khác nhau đó là đã không có sự thống nhất về nhận thức giữa cơ quan tiến hành tố tụng với nhau hoặc giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với đương sự về việc áp dụng các quy định cụ thể của pháp luật về tố tụng hoặc pháp luật về nội dung để xét xử, giải quyết vụ việc dân sự Vì vậy để giải quyết vấn đề này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán, Hội đồng xét xử sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp (phương pháp phân tích nghĩa của từ; phân tích khái niệm trong bối cảnh của quy định hoặc theo mục đích ban hành văn bản ) để đưa ra lập luận, lý giải về nội dung, phạm vi, đối tượng áp dụng của quy định còn có cách hiểu khác nhau hoặc luận giải về lý do lựa chọn, áp dụng một hoặc một số điều luật cụ thể để đưa ra phán quyết giải quyết vụ việc dân sự Vì vậy, trong trường hợp bản án, quyết định

đó được lựa chọn, thông qua để phát triển án lệ, thì những lập luận, lý giải nêu trên chính là án lệ

Trang 3

+ Nó giải quyết được các vấn đề, sự kiện pháp lí làm cơ sở cho Tòa án chỉ ra

nguyên tắc, đường lối hoặc quy phạm pháp luật cần áp dụng Án lệ này được xác lập trong bối cảnh có những vụ việc dân sự mà vấn đề pháp lý cần được giải quyết chưa được pháp luật quy định hoặc các bên đương sự không có thỏa thuận Trong trường hợp này, Tòa án sẽ áp dụng Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết, theo đó tập quán, quy định tương tự của pháp luật hoặc án lệ lẽ công bằng sẽ được Tòa án lựa chọn, áp dụng làm cơ sở để đưa ra phán quyết trong bản án, quyết địnhtheo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng

+ Nó còn giúp cho các cá nhân, các thương nhân khi đàm phán, soạn thảo kí kết hợp đồng dân sự, thương mại biết để phòng tránh những rủi ro

Hạn chế:

Án lệ sẽ chỉ có thể áp dụng trong một thời hạn nhất định, khi nó còn phù hợp với quy định của pháp luật, và dược tạo ra khi mà trên thực tế có những vụ việc làm tiền đề để Mà trên thực tế luôn không ngừng xuất hiện các tình tiết mới, các tranh chấp,… mà pháp luật chưa dự trù được cũng như chưa có án lệ để áp dụng, do vậy tuy là một công cụ hữu hiệu nhưng đó cũng chỉ là biện pháp tạm thời, bởi cốt yếu những quy định của pháp luật mới là căn cứ vững bền nhất

Thứ hai, đối với mỗi thời kì luật sẽ có những quy định khác nhau, do vậy mà án lệ sẽ chỉ dùng được trong thời điểm nội dung của nó phù hợp với quy định của pháp luật

Đánh giá sự tác động của quy định này tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống Những tác động của quy định mới này đến các lĩnh vực của đời sống:

Nổi bật nhất, đó là quy định này đã nâng cao vai trò của tòa án, cơ quan thì hành pháp luật, giúp cho tòa án phát huy tối đa chức năng của mình

Đối với xã hội, quy định này tạo căn cứ để giải quyết những tranh chấp phát sinh, khắc phục được những thiếu sót trong quy định của pháp luật, bảo vệ được các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự nói riêng và các quan hệ xã hội nói chung

Đối với hoạt động lập pháp: thể hiện một bước tiến dài trong kĩ thuận lập pháp, sự thay đổi tư duy lập pháp,…

SỬA ĐỔI HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI

Trang 4

Cơ sở pháp lí: xuất phát từ nghị quyết 49/2015 về cải cách tư pháp đến năm 2020.

Cơ sở thực tiễn: nó bắt nguồn từ thương mại quốc tế: cho phép các bên gặp khó khăn yêu cầu bên kia đàm phán lại nhưng chưa tới mức không thể thực hiện được như trường hợp bất khả kháng Ở quốc tế, có hai bộ nguyên tắc về hợp đồng rất nổi tiếng và có ảnh hưởng nhiều trên thế giới Đó là Bộ Nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế và Bộ Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng Cả hai bộ

nguyên tắc này đều có quy định cho phép điều chỉnh lại hợp đồng và việc quy định

về thay đổi hoàn cảnh tương ứng với xu hướng hiện đại đề xuất trao cho tòa án (trọng tài) quyền điều tiết để giảm bớt những hà khắc của tự do hợp đồng và của hiệu lực ràng buộc của hợp đồng

Vậy thì khi cho phép các bên có quyền sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi khi có đủ ddkien như: sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết; tại thời điểm giao kết các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; việc tiếp tục thực hiện hd mà k có sự thay đổi nội dung hd sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho 1 bên…

Có thể thấy điều khoản liên quan đến Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi được xem như sự thay đổi đáng kể trong chế định hợp đồng, là bước tiến mới mẻ trong tiến trình lập pháp nước ta Xét từ phương diện lý luận nói chung, điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi không phải là vấn đề hoàn toàn mới, vì nội dung này được xem là nằm trong quy định về sửa đổi hợp đồng nói chung Tuy nhiên, khi Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên đưa ra điều khoản cụ thể hóa các khía cạnh của điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, trong đó trường hợp

áp dụng cũng như quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được xác định rõ hơn rất nhiều thông qua những quy định pháp luật mới có thể thấy việc quy định điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi đã có sự thay đổi tích cực rất lớn bởi:

+ Việc điểu chỉnh hđ để phân chia cho các bên thiệt hại và lợi ích phát sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh 1 cách công bằng, bình đẳngcác bên có quyền đã đưa vào hợp đồng của họ một điều khoản cho phép bên gặp khó khăn đặc biệt được yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng Điều khoản này được gọi là điều khoản đàm phán lại hợp đồng khi có sự thay đổi do hoàn cảnh dẫn đến khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng

+ xuất phát từ thực tế thì việc điều chỉnh hợp đồng này là hợp lí và cần thiết bởi có nhiều trường hợp trên thực tế muốn thay đổi hợp đồng khi hoàn cảnh cảnh thay đổi nhưng lại không thể quy về trường hợp bất khả kháng Và việc quy định này đã

Trang 5

cho phép bên gặp khó khăn có quyền yêu cầu điều chỉnh hợp đồng là cân bằng và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình sản xuất kinh doanh

+ Ngoài ra điều chỉnh lại hợp đồng hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thiện chí, theo hướng các bên không chỉ quan tâm, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

+ Nó còn giúp cho việc bảo đảm giao dịch dân sự, không phá vỡ hợp đồng thức đẩy các hợp đồng được thực hiện; đẩy mạnh giao lưu dân sự

Tuy nhiên đây là một điều luật mới và việc quy định thiếu sót là một điều không thể tránh khỏi Có thể thấy BLDS là luật chung quy định về các lĩnh vực hôn nhân, thương mại, đất đai… Vậy trong trường hợp nếu các bên có thỏa thuận về chủ thể

có thẩm quyền giải quyết vậy trong trường hợp này Trọng tài sẽ phải làm gì khi một trong các bên có quyền yêu cầu giải quyết?

Ngoài ra để tránh trường hợp Tòa án can thiệp quá nhiều thì trước khi yêu cầu Tòa

án điều chỉnh hợp đồng thì 2 bên phải chứng minh được 2 bên đã có 1 time hợp lí thực hiện hợp đồng nhưng k có kết quả thì mới được quyền yêu cầu tòa án can thiệp Qua đó vừa giúp bảo đảm được tính minh bạch vừa giúp bảm đảm được tính

tự do thỏa thuận hợp đồng của các bên

Vận dụng quy định trong đời sống: cái này méo biết chỉ biết mỗi hạn chế xảy ra tranh chấp thôi kiểu thế

QUYỀN HƯỞNG DỤNG/ QUYỀN BỀ MẶT

Cơ sở pháp lí: chưa tìm đc

Cơ sở thực tiễn:

Đối với quyền hưởng dụng: nó xuất phát từ nhu cầu cần tới sản phẩm của nhau hay cần tới vật chất của nhau do nhu cầu ngày càng tăng và k có sự phân bổ đồng đều của cải vật chất nên do đó đã cho chủ sở hữu có quyền cho người khác 1 vài quyền cơ bản của mình

Hơn nữa BLDS đã có sự tách bạch giữa quan hệ thực tế của người chiếm hữu với tài sản và quan hệ giữa chủ sở hữu với chủ thể có quyền khác đối với tài sản khi có lợi ích trên cùng một tài sản Do vậy chế định về quyền hưởng dụng ra đời

Bình luận

Trang 6

Quyền hưởng dụng theo quy định tại điều 257 là quyền của chủ thể đc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong 1 time nhất định

Có thể lần đầu tiên BLDS thừa nhận quyền hưởng dụng là quyền khác đối với tài sản là một điểm đôi mới trong BLDS bởi lẽ :

+ Người có quyền hưởng dụng có thể đươc thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền Qua đó giúp cho họ có thể khai thác tối đa công dụng mà tài sản đó mang lại, tránh trường hợp bỏ phí

+ BLDS cũng có quy định về bảo vệ quyền hưởng dụng đối với tài sản và quy định thời gian hưởng dụng tài sản của người hưởng udnjg qua đó giúp cho họ có được một tâm lí an tâm hơn trong quá trình khai thác và hưởng hoa lợi lợi tức và ngoài

ra còn giúp hạn chế những tranh chấp xảy ra về quyền hưởng hoa lợi lợi tức

+ Quyền hưởng dụng có thể được xác lập dựa trên quy định của pháp luật, thỏa thuận của các bên hoặc di chúc Như vậy ở đây BLDS đã góp phần tạo ra được sự công bằng giữa các bên và giúp cho các bên có thể hưởng một số lợi ích nhất đinh Ví dụ như thừa kế A viết di chúc để lại tài sản cho các con, nhưng muốn vợ 2 của mình- mẹ kế của các con hưởng tài sản trong khoảng time bà ta còn sống Như vậy q.dinh này hoàn toàn phù hợp với pl

Tuy nhiên việc quy định thời hạn quyền hưởng dụng dài vậy thì quyền lợi của chủ sở hữu có được đảm bảo không trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc chấm dứt quyền hưởng dụng nhưng bên hưởng udnjg lại k đồng ý Thiết nghĩ nên quy định chặt chẽ hơn nữa vấn đề này, nên rút ngắn lại thời gian hưởng quyền hưởng dụng bởi lẽ nếu như ví dụ trên về thừa kế thì ng mẹ kế này trong trường hợp này vẫn đc hưởng 2/3 suất của 1 ng thừa kế theo pl

Quyền bề mặt:

BLDS năm 2015 quy định về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản theo hướng tách bạch giữa quan hệ thực tế của người chiếm hữu với tài sản và quan hệ giữa chủ sở hữu với chủ thể có quyền khác đối với tài sản khi có lợi ích trên cùng một tài sản

Trang 7

Cơ sở pháp lí: cụ thể hóa nội dung, tinh thần của Hiến Pháp về sở hữu toàn dân, sở hữu tư nhân: tài sản hợp pháp của cá nhân, pháp nhân k bị quốc hữu hóa

Cơ sở thực tiễn: chưa tìm đc

Bình luận: Theo quy định tại điều 267 BLDS năm 2015, Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác

Việc ghi nhận quyền bề mặt trong Bộ luật dân sự năm 2015 có tác động tích cực để các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các loại tài sản trong xã hội không bị đóng băng

mà luôn được tham gia lưu thông kinh tế, được sử dụng một cách hiệu quả và tiết kiệm

Thứ hai, nó loại bỏ được rủi ro và có thể đem lại lòng tin cho bên có quyền bề mặt bởi lẽ BLDS cũng q.diinh về quyền bề mặt cx đc bảo vệ: k ai có thể hạn chế haowjc tước đoạt trái pl quyền bề mặt Ví dụ, khi một doanh nghiệp muốn đầu tư sản xuất, kinh doanh ổn định thì thì phải có đất để xây dựng mặt bằng, để có thể có quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp phải đầu tư nguồn vốn rất lớn; Trường hợp xác lập hợp đồng thuê đất thì thì quan hệ giữa người thuê đất và chủ thể có quyền sử dụng đất là quan hệ trái quyền, bên cho thuê đất có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và bồi thường cho bên thuê để lấy lại đất bất cứ thời điểm nào Trường hợp này bên thuê đất phải chấp nhận rủi ro, không mang tính ổn định nên bên thuê không muốn đầu tư nhiều trên đất Nhưng nếu doanh nghiệp và chủ thể có quyền

sử dụng đất thỏa thuận xác lập quyền bề mặt thì trong thời hạn thỏa thuận, doanh nghiệp được toàn quyền như một chủ sở hữu xây dựng công trình trên đất, canh tác, sử dụng và sở hữu tất cả tài sản tạo ra trên đất, được chuyển nhượng, cho thuê, mua bán, cầm cố như một chủ sở hữu đích thực Trường hợp này chủ thể có quyền

sử dụng đất trao toàn bộ quyền bề mặt cho doanh nghiệp và quyền này là vật quyền, được pháp luật bảo vệ, chủ thể có quyền sử dụng đất không được tự ý đơn phương chấm dứt quan hệ quyền trên bề mặt trước thời hạn nếu chủ thể quyền bề mặt không đồng ý Do đó chủ thể quyền bề mặt ổn định hơn rất nhiều, họ có thể yên tâm đầu tư trên đất Với chính sách đó có thể giảm thiểu chi phí rất nhiều cho doanh nghiệp và khuyến khích đầu tư xã hội trên đất của người khác

Thứ ba, với quy định này nó sẽ giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn

mà hiện nay chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết như xử lý tài sản trên đất trong

Trang 8

trường hợp thu hồi đất khi hết thời hạn thuê đất; tranh chấp trong quản lý, sử dụng nhà chung cư như phải xử lí tài sản thuộc sở hữu của mình trước khi quyền bề mặt chấm dứt

Thứ tư, với việc không phải trả tiền và nó khác với thuê đất, mặt nước Do đó nó góp phần thúc đẩy sảm xuất phát triển bởi tâm lí ng Việt là muốn dùng nhưng k muốn trả tiền, muốn k phải bỏ vốn nhưng vẫn có lợi nhuận Do vậy q.dinh này phần nào đc đông đảo ng dân ủng hộ và đồng tình haha cái này t chém

Việc ghi nhận quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản là quyền

bề mặt của Bộ luật Dân sự năm 2015 có vai trò quan trọng trong hoàn thiện thể chế kinh tế và thúc đẩy giao lưu dân sự trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị

trường Qua đó, bảo đảm tốt hơn cho tài sản là hàng hóa trong giao lưu dân sự

được tối đa hóa giá trị không chỉ bởi chủ sở hữu mà còn bởi cả người không phải là chủ sở hữu; hạn chế được rủi ro pháp lý, giữ được sự ổn định của các quan hệ dân

sự và các quan hệ khác có liên quan

Hạn chế: tuy nhiên đây là lần đầu tiên được quy định do đó vẫn có trường hợp luật chuyên ngành: đất đai, bất động sản chưa kịp thay đổi dẫn đến dễ lúng túng khi áp dụng luật Biết mỗi thế ae chém hộ

Tác động của quyền bề mặt lên các mặt của đời sống:

Ngày đăng: 13/10/2016, 12:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w