1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

NHỮNG điểm mới về đại DIỆN và PHẠM VI đại DIỆN TRONG bộ LUẬT dân sự 2015

25 637 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 229 KB
File đính kèm dai dien va pham vi dai dien 2015.rar (31 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án môn học luật dân sựTrong đời sống dân sự diễn ra hàng ngày, hầu hết các trường hợp chủ thể quan hệ pháp luật dân sự đều tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự từ khi cam kết, thỏa thuận và thực hiện những quyền nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự. Tuy nhiên do tính chất phong phú, đa dạng của giao dịch dân sự cũng như vài lý do khách quan, chủ quan của chủ thể quan hệ pháp luật dân sự mà trong những trường hợp nhất định chủ thể xác lập thực hiện giao dịch dân sự cần có sự giúp đỡ của người khác, phải thông qua hành vi của một người khác. Vì thế để đảm bảo cho mọi chủ thể có thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự và khắc phục điều trên mà chế độ đại diện đã ra đời. Nội dung của chế độ đại diện đã được quy định chi tiết trong Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 3

* Mục đích 3

* Ý nghĩa 4

4 Đối tượng nghiên cứu và phương nghiên cứu của đề tài 4

* Đối tượng nghiên cứu 4

* Phương pháp nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Bố cục của đề tài 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠI DIỆN VÀ 6

PHẠM VI ĐẠI DIỆN 6

1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ ĐẠI DIỆN 6

1.1.1 Khái niệm đại diện 6

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ đại diện 6

1.1.3 Phân biệt người đại diện với một số chủ thể khác tương tự 7

1.2 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐẠI DIỆN VÀ CHỦ THỂ CẦN ĐẠI DIỆN 7

1.2.1 Điều kiện hình thành quan hệ đại diện 7

1.2.2 Các chủ thể cần có người đại diện 7

1.3 PHÂN LOẠI ĐẠI DIỆN 8

1.3.1 Đại diện theo pháp luật 8

a Đại diện theo pháp luật của cá nhân 9

b Đại diện theo pháp luật của pháp nhân 9

1.3.2 Đại diện theo ủy quyền 9

1.4 PHẠM VI ĐẠI DIỆN 10

1.4.1 Khái niệm phạm vi đại diện 10

1.4.2 Phạm vi đại diện 10

1.4.3 Các trường hợp vượt quá thẩm quyền và không có quyền đại diện 11

1.4.4 Chấm dứt đại diện 11

CHƯƠNG 2: ĐIỂM MỚI VỀ ĐẠI DIỆN VÀ PHẠM VI ĐẠI DIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 13

2.1 ĐIỂM MỚI CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẠI DIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 13

2.1.1 Điểm mới về chủ thể của quan hệ đại diện trong Bộ luật Dân sự 2015 13

2.1.2 Điểm mới về phân loại đại diện trong Bộ luật Dân sự 2015 14

2.1.2.1 Bộ luật Dân sự 2015 tách riêng quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân 14

2.1.2.2 Đại diện theo ủy quyền 14

2.2 ĐIỂM MỚI CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHẠM VI ĐẠI DIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 15

2.2.1 Điểm mới về phạm vi đại diện trong Bộ luật Dân sự 2015 15

2.2.2 Điểm mới của quy định về trường hợp không có quyền đại diện và vượt quá phạm vi đại diện 15

* Về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện: 15

Trang 2

* Về hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm

vi đại diện: 16

KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19 PHỤ LỤC SO SÁNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VÀ BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ ĐẠI DIỆN VÀ PHẠM VI ĐẠI DIỆN 20

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong đời sống dân sự diễn ra hàng ngày, hầu hết các trường hợp chủ thể quan

hệ pháp luật dân sự đều tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự từ khi cam kết,thỏa thuận và thực hiện những quyền nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự Tuynhiên do tính chất phong phú, đa dạng của giao dịch dân sự cũng như vài lý do kháchquan, chủ quan của chủ thể quan hệ pháp luật dân sự mà trong những trường hợp nhấtđịnh chủ thể xác lập thực hiện giao dịch dân sự cần có sự giúp đỡ của người khác, phảithông qua hành vi của một người khác Vì thế để đảm bảo cho mọi chủ thể có thể thamgia quan hệ pháp luật dân sự và khắc phục điều trên mà chế độ đại diện đã ra đời Nộidung của chế độ đại diện đã được quy định chi tiết trong Bộ Luật Dân sự năm 2015

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập, để đáp ứng nhu cầu giaolưu dân sự, phát triển kinh tế, hợp tác quốc tế,… pháp luật Việt Nam và các nước trênthế giới đã thừa nhận quyền tự do xác lập và thực hiện giao dịch thông qua người khác.Đây là điểm tiến bộ mà nhiều nước trên thế giới đã công nhận từ lâu Điều này đượcthể hiện trong việc ghi nhận chế định đại diện trong luật ở các nước như Điều 164 Bộluật dân sự Đức, Điều 1984 Bộ luật dân sự Pháp năm 1804, Điều 797 Bộ luật dân sự

và thương mại Thái Lan

Ở nước ta hiện nay, thì điểm tích cực này được ghi nhận trong luật Thương mại,luật Tố tụng dân sự, luật Hôn nhân và gia đình, nhưng được quy định chung và cụ thểnhất trong Bộ luật dân sự 2015 Việc ghi nhận quy định pháp luật về đại diện trong Bộluật dân sự 2015 đã đảm bảo được quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các chủ thểtrong hoạt động pháp lý đời sống dân sự, góp phần thúc đẩy sự phát triển của giao lưudân sự, giao kết trong hoạt động thương mại, giúp cho cơ quan nhà nước có thẩmquyền dễ dàng hơn trong việc xử lý các vụ việc có liên quan đến những chủ thể là đốitượng không có đầy đủ năng lực pháp lý và các vụ việc có yếu tố thay thế nhau trongviệc xác lập, thực hiện các giao dịch pháp lý dân sự, thương mại Đồng thời tầm quantrọng của chế định đại diện còn được thể hiện trong các quy định về việc đại diện chongười không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chonhững đối tượng này

3 Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Trang 4

- Phân tích điểm mới về đại diện và phạm vi đại diện trong Bộ Luật Dân sự năm

2015 so với Bộ Luật Dân sự năm 2005

* Ý nghĩa

Nghiên cứu đề án môn học này giúp cho chúng ta hiểu được những quy định củapháp luật về đại diện và phạm vi đại diện, vận dụng cơ chế đại diện, tức là việc mộtngười nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch với ngườithứ ba Khi giao dịch được xác lập, thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện thì ngườiđược đại diện chịu sự ràng buộc của giao dịch Ngược lại, nếu giao dịch được xác lập,thực hiện ngoài phạm vi đại diện thì, về nguyên tắc, người được đại diện không chịuràng buộc bởi giao dịch được xác lập, thực hiện trên danh nghĩa của họ Chính vì vậy,việc xác định phạm vi đại diện của người đại diện rất quan trọng trong thực tế đờisống

Đề tài này cũng giúp cho chúng ta hiểu được đại diện và phạm vi đại diện cầnđược ghi nhận và thể hiện một cách nhất quán trong các quy định liên quan

4 Đối tượng nghiên cứu và phương nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về chế định đại diện trong luật dân sự là đi phân tích những điều luậtquy định về hoạt động đại diện, những trường hợp cụ thể cần và có thể áp dụng chếđịnh đại diện Đi phân tích vai trò của chế định đại diện vào đời sống dân sự, qua đó cóthể so sánh để tìm ra sự khác biệt giữa chế định đại diện trong quan hệ dân sự so vớiquy định về đại diện trong các ngành luật khác như đại diện trong thương mại hay đạidiện trong tố tụng

* Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật Đặcbiệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đại diện trong đời sống dân sự trongthời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập

Để đề tài được hoàn thành người viết đã dựa trên một số phương pháp khoa họcchuyên ngành như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp logic, phương pháp

so sánh, đối chiếu tham khảo từ sách báo, tạp chí, thu thập, tổng hợp tài liệu…

5 Phạm vi nghiên cứu

Trước hết phải nói rằng, chế định đại diện là một hiện tượng pháp lý thông dụngluôn diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội, đồng thời đây là vấn đề rất đa dạng đanxen với nhiều ngành luật khác nhau Bởi vậy, Đề tài không thể giải quyết được mộtcách toàn diện các nội dung về lý luận và vấn đề đặt ra từ thực tiễn, đề tài: “Khái niệmđại diện và phạm vi đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành- nhữngnét mới” bài tiểu luận chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chếđịnh đại diện; khái quát những nét chính về chế định đại diện mà pháp luật quy định

Trang 5

trong Bộ luật dân 2015, nêu lên những điểm mới về đại diện và phạm vi đại diện trong

Bộ Luật Dân sự năm 2015

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu đề tài nghiên cứu được chia làm 02 chương:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về đại diện và phạm vi đại diện

Chương 2: Điểm mới về đại diện và phạm vi đại diện trong Bộ Luật Dân sự năm2015

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠI DIỆN VÀ

PHẠM VI ĐẠI DIỆN 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ ĐẠI DIỆN

1.1.1 Khái niệm đại diện

Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015, đại diện là việc cá nhân, phápnhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặcpháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giaodịch dân sự

Như vậy, đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể làbên đại diện và bên được đại diện Quan hệ đại diện làm phát sinh mối quan hệ nữa làquan hệ giữa người đại diện với người thứ ba, theo ý chí và vì lợi ích của người đượcđại diện Tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (cá nhân, pháp nhân, tổ hợptác, nhà nước) đều có quyền được có người đại diện cho mình trong việc xác lập, thựchiện các giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho quyền và lợi ích của mình Tuy nhiên, cánhân không được người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định phải tự mìnhxác lập thực hiện giao dịch đó Ví dụ: pháp luật không công nhận một cá nhân ủyquyền cho người khác thay mình làm thủ tục ly hôn, kết hôn, hay lập di chúc, làmchứng minh nhân dân… (Các công việc có liên quan tới yếu tố nhân thân)

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ đại diện

- Tồn tại cùng lúc nhiều mối quan hệ pháp luật

- Người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập, thực hiện các giao dịch

dân sự “vì lợi ích của người được đại diện”.

- Người đại diện xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự làm phát sinh quyền vànghĩa vụ cho người được đại diện

Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại song song đó là quan hệ bêntrong và quan hệ bên ngoài Quan hệ bên trong là quan hệ giữa người đại diện vàngười được đại diện, quan hệ bên ngoài là mối quan hệ giữa những người đại diện vàngười thứ ba Ngoài ra, còn có một mối quan hệ về lợi ích và trách nhiệm giữa ngườiđược đại diện và người thứ ba (còn gọi là mối quan hệ gián tiếp)

Người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là nhân danh người được đạidiện chứ không phải là nhân danh chính họ Do vậy người đại diện phải giới thiệu tưcách pháp lý của mình với người thứ ba để người này hiểu được hai vấn đề trước khixác lập giao dịch đó là:

Thứ nhất, ai là người trao đổi lợi ích hay chịu trách nhiệm về hậu quả của giaodịch với họ

Thứ hai là thẩm quyền của người đại diện đến đâu và đưa ra cơ sở chứng minhnhư hợp đồng ủy quyền hay các bằng chứng khác.v.v…

Trang 7

Mục đích người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích của ngườiđược đại diện Lợi ích và quyền lợi trong quan hệ với người thứ ba được chuyển chongười được đại diện Trong quan hệ đại diện theo ủy quyền, người đại diện có thểđược hưởng thù lao, tiền công theo thỏa thuận Còn với đại diện theo pháp luật thì chỉ

có nghĩa vụ theo pháp luật chứ người đại diện không được hưởng lợi ích vật chất cụthể từ quan hệ này Người đại diện là nhân danh người được đại diện và thẩm quyềncủa họ bị giới hạn trong phạm vi đại diện theo thỏa thuận hay theo quy định của phápluật nhưng họ vẫn có sự chủ động trong khi tiến hành công việc cần thiết để đạt đượcmục đích là vì lợi của người được đại diện

1.1.3 Phân biệt người đại diện với một số chủ thể khác tương tự

Điểm đặc biệt của đại diện là giao dịch dân sự do cá nhân, pháp nhân (gọi làngười đại diện) xác lập trong phạm vi đại diện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứtcác quyền, nghĩa vụ dân sự của người khác (gọi là người đại diện) Chính điều đó là cơ

sở phân biệt chế định đại diện với các chế định pháp lý tương tự khác

Khác với người đại diện, người nhận bán hàng ký gửi, đại lý dù xác lập giao dịch chongười ký gửi, người đại lý nhưng nhân danh mình, không phải nhân danh người kýgửi, người đại lý Vì vậy, giữa người ký gửi, người đại lý và người mua không có quan

hệ pháp lý Mọi quyền, nghĩa vụ dân sự trong loại hợp đồng này đều chỉ phát sinh đốivới người nhận ký gửi, nhận đại lý và người mua

Khác với đại diện, người đưa tin không xác lập giao dịch mà chỉ truyền đạt ý chícủa một bên đến đối tác

Nếu không có hợp đồng ủy quyền thì bản thân việc tư vấn ký kết hợp đồngkhông phải là đại diện Người thực hiện dịch vụ tư vấn chỉ hỗ trợ về mặt pháp lý đểhợp đồng do các bên ký kết đúng pháp luật, thể hiện đúng ý chí đích thực của các bên

1.2 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐẠI DIỆN VÀ CHỦ THỂ CẦN ĐẠI DIỆN

1.2.1 Điều kiện hình thành quan hệ đại diện

Thứ nhất, Người đại diện nếu là cá nhân - phải là người có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ Người đại diện là tổ chức thì phải có năng lực pháp luật dân sự

Thứ hai, người đại diện phải thực hiện các hành vi đại diện nhân danh ngườiđược đại diện

Thứ ba, việc đại diện phải được thực hiện trong phạm vi đại diện và vì lợi íchcủa người được đại diện

1.2.2 Các chủ thể cần có người đại diện

Người đại diện theo pháp luật theo Điều 141 quy định bao gồm:

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên

- Người giám hộ đối với người được giám hộ

- Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trang 8

- Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình

- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với hộ gia đình

- Những người khác theo quy định của pháp luật

Về điều kiện đối với người đại diện và người được đại diện:

Người được đại diện nếu là cá nhân thì phải là người không có năng lực hành vidân sự đầy đủ, người mắc bệnh tâm thần hoăc bệnh khác mà không nhận thức và làmchủ hành vi của mình, người bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự.Đây là những đối tượng mà bản thân họ không thể trực tiếp tham gia vào bất kỳ giaodịch nào nên pháp luật quy định sẵn những chủ thể có nghĩa vụ bảo về quyền lợi của

họ trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự Các chủ thể còn lại là một tổchức nên khi tham gia vào các giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện

cụ thể

Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Và để nhận biết quan hệđại diện theo pháp luật phải dựa vào các căn cứ:

- Đối với con chưa thành niên căn cứ vào giấy khai sinh

- Đối với người được giám hộ căn cứ vào xác nhận của Ủy ban nhân dân xã,phường nơi người giám hộ cư trú

- Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự căn cứ vào quyết định củaTòa án khi tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Đối với pháp nhân căn cứ vào Đăng ký kinh doanh, Điều lệ hay Quyết địnhthành lập pháp nhân

- Đối với hộ gia định căn cứ vào Sổ hộ khẩu

- Đối với tổ hợp tác căn cứ vào hợp đồng hợp tác có xác nhận của Ủy ban nhândân xã, phường

Điều kiện của chủ thể tham gia quan hệ đại diện theo ủy quyền: hai bên chủ thểcủa quan hệ đại diện theo ủy quyền đều phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừtrường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 : “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện”.

Đại diện theo ủy quyền có hai loại: đại diện theo ủy quyền của cá nhân và đạidiện theo ủy quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

- Đối với đại diện theo ủy quyền của cá nhân thì trong trường hợp vì lý do chủquan hay khách quan, cá nhân có thể thông qua một cá nhân khác hoặc một pháp nhân

để đại diện cho họ xác lập các giao dịch dân sự

1.3 PHÂN LOẠI ĐẠI DIỆN

1.3.1 Đại diện theo pháp luật

Trang 9

Theo Điều 140 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước quyết định”

Căn cứ hình thành: Do ý chí của nhà nước Pháp luật quy định mối quan hệ đạidiện được xác lập dựa trên các mối quan hệ tồn tại sẵn có chứ không phụ thuộc vào ýchí hay sự định đoạt của các chủ thể

Người đại diện theo pháp luật theo Điều 141 quy định bao gồm:

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên

- Người giám hộ đối với người được giám hộ

- Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình

- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với hộ gia đình

- Những người khác theo quy định của pháp luật

a Đại diện theo pháp luật của cá nhân

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên

- Người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ của người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa

án chỉ định

- Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đạidiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 ở trên

- Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

b Đại diện theo pháp luật của pháp nhân

- Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:

+ Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

+ Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;

+ Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án

- Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đạidiện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộluật này

1.3.2 Đại diện theo ủy quyền

Khoản 1 Điều 142 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”

Căn cứ xác lập: dựa trên ý chí của hai bên chủ thể, người đại diện và người đượcđại diện tự thỏa thuận với nhau về nội dung ủy quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện vàtrách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền

- Cá nhân, pháp nhân có thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thựchiện giao dịch dân sự

Trang 10

- Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách phápnhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập,thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình,

tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diệntheo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủmười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện

1.4 PHẠM VI ĐẠI DIỆN

1.4.1 Khái niệm phạm vi đại diện

Người đại diện thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện, bởi vậy cầnphải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó Giới hạn này chính là phạm vi đại diện

Vì vậy, phạm vi đại diện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong việcnhân danh người được đại diện xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba.Trong giao dịch dân sự, chúng ta thường xuyên phải vận dụng cơ chế đại diện,tức là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giaodịch với người thứ ba Khi giao dịch được xác lập, thực hiện phù hợp với phạm vi đạidiện thì người được đại diện chịu sự ràng buộc của giao dịch Ngược lại, nếu giao dịchđược xác lập, thực hiện ngoài phạm vi đại diện thì, về nguyên tắc, người được đại diệnkhông chịu ràng buộc bởi giao dịch được xác lập, thực hiện trên danh nghĩa của họ.Chính vì vậy, việc xác định phạm vi đại diện của người đại diện rất quan trọng trongthực tế đời sống

1.4.2 Phạm vi đại diện

- Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đạidiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo Điều lệ của pháp nhân, theo nộidung ủy quyền hoặc các quy định khác của pháp luật Trường hợp không xác địnhđược cụ thể phạm vi đại diện theo quy định thì người đại diện theo pháp luật có quyềnxác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trườnghợp pháp luật có quy định khác

Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khácnhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giaodịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện củangười đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Người đại diện phải thông báocho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình (Căn cứ Điều 141, BLDS 2015)

- Trường hợp không được thực hiện giao dịch thông qua người đại diện: Lĩnhvực giao dịch được phép đại diện rất rộng rãi Tuy nhiên, nếu tính chất của giao dịchchỉ cho phép tự mỗi cá nhân thể hiện ý chí, tự mình bày tỏ ý chí thì không được xáclập giao dịch thong qua đại diện, chẳng hạn: hành vi lập di chúc, ủy quyền… Trongcác lĩnh vực có tính chất tương tự pháp luật dân sự thì việc ký kết hợp đồng lao động

Trang 11

của vị thành niên cũng không thể bỏ qua người đại diện Việc kết hôn, li hôn, nhận connuôi cũng phải do các bên tự thực hiện với sự công nhận của cơ quan nhà nước Ngoạitrừ việc đại diện giải quyết vấn đề tài sản chung của vợ chồng

1.4.3 Các trường hợp vượt quá thẩm quyền và không có quyền đại diện

Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện chỉ làm phát sinh quyền vànghĩa vụ của người được đại diện trong phạm vi đại diện Còn đối với trường hợp giaodịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vị thẩmquyền đại diện thì hậu quả pháp lý của nó được quy định tại Điều 142 và Điều 143BLDS 2015

Giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiệnkhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện trừ trường hợpngười đại diện hoặc người được đại diện đồng ý Người đã giao dịch với người không

có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện củangười đó để trả lời trong thời gian ấn định Nếu hết thời gian này mà không trả lời thìgiao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện

Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diệnkhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịchđược thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ýhoặc biết mà không phản đối thì giao dịch đó vẫn có giá trị đối với người được đạidiện Đối với người đã giao dịch với người đại diện, nếu họ không biết về việc vượtquá phạm vi đại diện thì có quyền hoặc yêu cầu người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ

về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện hoặc đơn phương chấm dứt thực hiệnhoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộgiao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại Còn trường hợp người đã giao dịchvới người đại diện biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi thẩm quyền mà vẫnxác lập giao dịch thì giao dịch đó là vô hiệu Trường hợp người đại diện và người giaodịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đạidiện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồithường thiệt hại

1.4.4 Chấm dứt đại diện

Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:

+ Theo thỏa thuận;

+ Thời hạn ủy quyền đã hết;

+ Công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;

+ Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc

ủy quyền;

+ Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện,người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

Trang 12

+ Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộluật này;

+ Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được

- Đại diện theo pháp luật chấm dứt trong trường hợp sau đây:

+ Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đãđược khôi phục;

+ Người được đại diện là cá nhân chết;

+ Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

+ Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan

Ngày đăng: 19/07/2017, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w