Theo quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 LDN 2014 thì: Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập: Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiện nay nền kinh thế nước ta đang phát triển theo hướng trở thành nền kinh thế thị trường, cùng với sự phát triển này là sự xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp và có thể kể đến là sự phổ biến của loại hình công ty cổ phần Việc chuyển đổi từ các loại hình doanh nghiệp sang công ty cổ phần ngày càng được đẩy mạnh từ doanh nghiệp nhà nước đến các loại hình doanh nghiệp khác Việc gia tăng số lượng công ty cổ phần cũng đòi hỏi cũng kéo theo nhiều vấn đề phát sinh và một trong những vấn đề đó là vấn đề về chuyển nhượng cổ phần Để làm
rõ những quy định của pháp luật về vấn đề chuyển nhượng cổ phần
NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Cổ phần và khái niệm chuyển nhượng cổ phần
Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014( LDN 2014) :
“ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần” Trong
đó vốn điều lệ của công ty cổ phần theo quy định tại điểm 29, điều 5 LDN 2014
là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần
Chuyển nhượng cổ phần cổ phần được hiểu là hành vi làm thay đổi ( mua bán, tặng cho, thừa kế, ) số cổ phần đang nắm giữ
2 Phân loại cổ phần
Có nhiều cách phân loại cổ phần nhưng theo quy định của LDN 2014 thì công ty cổ phần có thể tồn tại hai loại cổ phần là cổ phần phổ thông và cổ phần
ưu đãi
Trang 2Trong đó cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có trong công ty
cổ phần Có thể hiểu cổ phần chỉ hưởng lãi học chịu lỗ dựa trên kết quả hoạt động của công ty.Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần
ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm nhiều loại như: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần
ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và các cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định Cụ thể:
Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông, số phiếu của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định ( khoản 1, điều 16 LDN 2014)
Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so mới mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức cổ tức ổn định hàng năm (khoản 1, điều 117, LDN 2014)
Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoàn theo các điều kiện ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại ( khoản 1, điều 118, LDN 2014)
II Chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần
1 Điều kiện chuyển nhượng cổ phần
a) Cổ phần phổ thông
Với bản chất là loại hình công ty đối vốn, các cổ đông trong công ty cổ phần có thể tự do chuyển nhượng cổ phần của mình Tuy nhiên không phải tất cả các loại cổ phần đều được chuyển nhượng tự do Theo quy định tại khoản 3 Điều
119 và khoản 1 Điều 126 LDN 2014 thì:
Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập: Trong thời hạn 3 năm kể
từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác
và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải
Trang 3là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trong trường hợp này cổ đông không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhựng cổ phần đó Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi
bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Các hạn chế của quy định này không áp dụng đối với cổ phần mà
cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà
cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập
Quy định này tại LDN 2014 cơ bản cũng giống với quy định tại Luật doanh nghiệp 2005 đều hướng đến việc rằng buộc về vật chất đối với cổ đông sáng lập
để đảm bảo quyền lợi của những cổ đông khác tránh tình trạng lừa đào Đông thời loại trừ trường hợp cổ đông sáng lập rời bỏ công ty khi công ty vừa mới thành lập Tuy nhiên quy định của LDN 2014 cũng có điểm khác so với Luật Doanh nghiệp 2005 Theo quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật doanh nghiệp
2005 thì người không phải là cổ đông sáng lập của công ty khi mua cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập sẽ đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công
ty Quy định này dẫn đến trường hợp khi giải quyết các vấn đề liên quan đến chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập cần xem xét cổ đông đó
là cổ đông sáng lập đầu tiên hay là cổ đông sáng lập đương nhiên, vì đối với cổ đông sáng lập đương nhiên họ hoàn toàn có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người khác Còn LDN 2014 không quy định về khía cạnh này mà nêu thêm phạm vi của hạn chế này chỉ đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập có từ thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà không áp dụng đối với cổ phần cổ đông sáng lập có thêm sau khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh, và cổ phần cổ đông sáng lập đã chuyển nhượng cho người khác không phải cổ đông sáng lập của công ty
Trang 4Như vậy có thể thấy những quy định của LDN 2014 đã quy định cụ thể, rõ ràng hơn tránh gây nhậm lẫn
b) Cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi biểu quyết
Theo khoản 3, điều 116, Luật DN 2014 thì cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác Quy định này xuất phát từ việc chủ sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết là tổ chức được Chính phủ ủy quyền hoặc cổ đông sáng lập Chính vì quy định đặc biệt về chủ thể sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết nên việc cấm chuyển nhượng cổ phần biểu quyết là hoàn toàn phù hơp Tuy nhiên cổ phần biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong vòng 3 năm kể từ ngày công ty được cấp gấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, sau thời hạn này cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập trở thành cổ phần phổ thông ( khoản 3, Điều 113, LDN 2014) Các quy định này nhằm đảm bảo cho công ty có cơ cấu ổn định, không tạo sự sáo trộn khi công ty mới thành lập, đồng thời cùng với đặc điểm cổ phần ưu đãi biểu quyết có
số phiếu biểu quyết cao hơn cổ phần phổ thông có thể thấy quy định này nâng cao vị thế của cổ đông sáng lập và tổ chức mà chính phủ ủy quyền hơn các cổ đông khác trong việc quyết định các vấn đề quan trong của công ty trong những ngày đầu hoạt động
Cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại
Khoản 1, Điều 126 LDN 2014: “Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng”
Trang 5Như vậy cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại quy định trong điều
lệ công ty đều có thể tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần đó
Cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại là những loại cổ phần mà cổ đông sở hữu nó không có quyền biểu quyết do vậy việc chuyển nhượng cho người khác không hề làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty Pháp luật quy định cụ thể mọi hạn chế đối với việc chuyển nhượng những cổ phần nay sẽ do điều lệ công ty quy định So với LDN 2005 thì LDN 2014 đã quy định cụ thể và
rõ ràng hơn về việc chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại trong khi LDN 2005 không quy định cụ thể, tuy nhiên về bản chất cũng không có gì nổi bật, mới hơn so với quy định của LDN 2005
Ngoài ra, còn có một số trường hợp chuyển nhượng cổ phần khác:
Hiện nay, Luật doanh nghiệp 2014 chưa có nghị định hướng dẫn đối với những trường hợp này, tuy nhiên trong các văn bản pháp luật căn cứ theo Luật
DN 2005 thì các trường hợp chuyển nhượng cổ phần sau: cổ phần phát hành riêng lẻ, cổ phần của ngân hàng thương mại cổ phần, cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có một số điểm khác so với các trường hợp chuyển nhượng cổ phần khác Cụ thể:
Đối với cổ phần phát hành riêng lẻ:
Luật Doanh nghiệp 2005 quy định “Chính phủ quy định về việc chào bán
cổ phần riêng lẻ” (khoản 6, điều 87), theo đó nghị định số 01/2010/NĐ-CP là nghị định quy định về vấn đề này Quy định này không được LDN 2014 nói đến Theo nghị định 01/2010/NĐ-CP thì chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán
cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau: Các nhà đầu tư chứng
Trang 6khoán chuyên nghiệp, dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chuyên nghiệp (điểm a, b, khoản 1, điều 4) Cũng theo đó, cổ phần mà các công ty cổ phần khi phát hành riêng lẻ không được chuyển nhượng trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành, điều này cũng được quy định tại luật chứng khoán 2006 sửa đổi
bổ sung năm 2010
Tuy nhiên, quy định này sẽ gây khó khăn hơn cho doanh nghiệp khi phát hành cổ phiếu riêng lẻ, có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư để mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh Tuy nhiên, về thông
lệ cũng như kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, việc giới hạn thời gian chuyển nhượng với cổ phần chào bán riêng lẻ là hợp lý, bởi nếu không, doanh nghiệp sẽ lách luật bằng việc chào bán cổ phiếu ra công chúng dưới hình thức riêng lẻ (do cổ phiếu sau khi chào bán riêng lẻ có thể được bán cho người khác tùy ý)
Ngân hàng thương mại cổ phần cũng là một trường hợp đặc biệt vì nó hoạt động trong lĩnh vực tín dụng nên cũng được quy định khá đặc biệt:
Theo Thông tư 09/2010/TT-NHNN quy định về việc thành lập ngân hàng thương mại cổ phần thì tại khoản 2 Điều 14 có quy định:
Đối với cổ đông sáng lập:
Trong thời gian 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng số cổ phần phổ thông trong tổng số cổ phần góp vốn khi thành lập ngân hàng của mình cho các cổ đông sáng lập khác của Ngân hàng nếu đảm bảo quy định tại Điểm b Khoản 2 và Điểm c Khoản 3 Điều 5 Thông tư này
Trang 7Đối với cổ đông không phải là cổ đông sáng lập: Trong thời gian 03 năm kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chỉ được chuyển nhượng số cổ phần góp vốn khi thành lập ngân hàng cho cổ đông khác trong danh sách cổ đông của Ngân hàng tại thời điểm Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có hiệu lực nếu đảm bảo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 5 Thông tư này
Sau các thời hạn nêu tại Điểm a và b Khoản này, các cổ đông được chuyển nhượng cổ phần và duy trì tỷ lệ sở hữu cổ phần theo quy định của pháp luật hiện hành
2) Chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần
Điều 126 LDN 2014 quy định về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần:
“1 Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng
cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.
2 Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký Trường hợp chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
3 Trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó là cổ đông của công ty.
4 Trường hợp cổ phần của cổ đông là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kếtừ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.
Trang 85 Cổ đông có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần của mình tại công ty cho người khác; sử dụng cổ phần để trả nợ Trường hợp này, người được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ là cổ đông của công ty.
6 Trường hợp cổ đông chuyển nhượng một số cổ phần thì cổ phiếu cũ bị hủy bỏ và công ty phát hành cổ phiếu mới ghi nhận số cổ phần đã chuyển nhượng và số cổ phần còn lại.
7 Người nhận cổ phần trong các trường hợp quy định tại Điều này chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin của họ quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông.”
Các quy định tại Điều 126 nêu ra các cách thức chuyển nhượng cổ phần Nhìn chung có thể chia làm hai phương thức: chuyền nhượng trực tiếp và chuyển nhượng gián tiếp
a) Chuyển nhượng trực tiếp
Chuyển nhượng trực tiếp là việc các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ
phần cho nhau, cho người khác ngoài công ty thông qua việc trao đổi trực tiếp, ở đây người mua có điều kiện trực tiếp xác định, đánh giá , và trực tiếp trả giá cho người bán Hành vi chuyển nhượng này do hai bên mua bán tự thỏa thuận theo quy định giao dịch dân sự
Đối với phương thức chuyển nhượng trực tiếp thì bao gồm các hành vi mua bán, tặng cho, để thừa kế, Đây là hình thức cổ đông chuyển nhượng cổ phần cho các cổ đông khác hoặc người ngoài công ty thông qua trao đổi trực tiếp Việc thự hiện chuyển nhượng trực tiếp tuân thủ các quy định của Bộ luật Dân sự
2005 Thông thường hoạt động chuyển nhượng được thực hiện thông qua hợp đồng, hình thức, nội dung hợp đồng sẽ tuân theo quy định của luật dân sự Hợp đồng chuyển nhượng phải lập thành văn bản trong phải có những nội dung :
- Thời gian, địa điểm
Trang 9- Chủ thể: bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng và cẩn phải ghi đầy đủ thông tin
- Đối tượng chuyển nhượng
- Điều kiện chuyển nhượng
- Quyền và nghĩa vụ của các bên
- Phương thức thanh toán
- Các nội dung khác như: Cam kết, giải quyết tranh chấp,
Hợp đồng chuyển nhượng phải do bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc người ủy quyền ký kết
Trong những trường hợp đặc biệt: Khi cổ đông là cá nhân chết thì cổ phần của người đó sẽ được chuyển cho người thừa kế, lúc này người thừa kế sẽ là cổ đông của công ty Trường hợp không có người thừa kế hoặc người thừa kế bị truất quyền thừa kế thì cổ phần của cá nhân chết sẽ thuộc về công ty
Cổ đông cũng có các quyền tặng cho, sử dụng cổ phần để trả nợ vì cổ phần cũng là tài sản của đông do đó cổ đông hoàn toàn có quyền định đoạt cổ phần của mình Theo quy định thì người được tặng cho, được trả nợ bằng cổ phần sẽ
là cổ đông của công ty cổ phần
Quy trình chuyển nhượng cổ phần:
+ Tiếp nhận Hồ sơ Người chuyển nhượng (người bán) chuẩn bị 01 bộ Hồ
sơ chuyển nhượng bao gồm:
Sổ chứng nhận sở hữu cổ phần ( Công ty đã cấp cho cổ đông)
Giấy chuyển nhượng sở hữu cổ phần
Trang 10Người đi làm thủ tục chuyển nhượng phải là người chuyển nhượng Trường hợp người chuyển nhượng không trực tiếp đi làm thủ tục chuyển nhượng được thì phải làm Giấy ủy quyền cho người đi làm thủ tục chuyển nhượng
+ Thực hiện chuyển nhượng: công ty cổ phần tổ chức thực hiện chuyển nhượng theo các bước sau:
Bước 1: Kiểm tra tính hợp lệ, tính pháp lý của chứng từ chuyển nhượng Bước 2: Giao cho người làm thủ tục Giấy biên nhận hồ sơ đối với trường hợp được tự do chuyển nhượng là 10 ngày làm việc
Đối với trường hợp hạn chế chuyển nhượng bộ phận thực hiện chuyển nhượng sẽ xem xét và trả lời cụ thể khi phát sinh việc chuyển nhượng Bước 3: Tiến hành in Sổ chứng nhận sở hữu cổ phần cho người nhận chuyển nhượng và cập nhật các thông tin liên quan tới cổ đông mới vào Sổ đăng
ký cổ đông của Công ty
Bước 4: Thu Giấy Biên nhận hồ sơ, trả Sổ chứng nhận sở hữu cổ phần cho người nhận chuyển nhượng (Người mua) Người mua khi đến nhận sổ phải mang theo Giấy biên nhận hồ sơ + Chứng minh nhân dân
Trong trường hợp cổ đống sáng lập chuyển nhượng cổ phần thì công ty phải tiến hành thông báo thay đổi thông tin cổ đông sáng lập theo quy định tại khoản
3 điều 51 Nghị định 78/2015/NĐ-CP Việc đăng ký thay đổi thông tin cổ đông sáng lập trong trường hợp tặng cho, thừa kế cổ phần được thực hiện như quy định đối với trường hợp thông báo thay đổi thông tin cổ đông sáng lập do chuyển nhượng cổ phần quy định tại Khoản 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, trong đó, hợp đồng chuyển nhượng hoặc các giấy tờ chứng minh hoàn tất việc chuyển nhượng