Khi nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa ẩm thực nói riêng ở khu vực Nam Bộ, yếu tố sông nước luôn đóng vai trò quan trọng, tạo nên nét đặc sắc riêng, tính phong phú, đa dạng và sáng tạo. Chính vì vậy, ẩm thực của người Việt ở Nam Bộ là một đề tài phong phú, sẽ góp phần làm đa dạng hơn cho sắc thái văn hóa Nam Bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG TP.HCM BÀI BÁO CÁO KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: VĂN HÓA ẨM THỰC VÙNG
NAM BỘ VIỆT NAM
Môn: Cơ sở văn hóa Việt Nam Giảng viên hướng dẫn: Vũ Thị Cẩm Tú
Họ và tên sinh viên: Phạm Thị Phương Thảo
MSSV:0250040291
Trang 2Phần 1: Đặt vấn đề.
1.1 Lý do chọn đề tài: Ẩm thực hay nói đơn giản hơn đó là việc ăn và uống vốn là những chuyện hằng ngày, rất gần gũi và cũng rất đời thường Nhưng ở mỗi thời đại khác nhau thì ăn uống lại được quan tâm với những mức độ khác nhau Văn hóa ẩm thực bao gồm cả cách chế biến, bày biện và thưởng thức từng món ăn, thức uống, từ đơn giản đạm bạc đến cầu kỳ mỹ vị Đó là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống, nhất là đối với người Việt Nam, ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là văn hóa về tinh thần, văn hóa ấy được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển đời sống dân cư, cộng đồng Khi nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa ẩm thực nói riêng ở khu vực Nam Bộ, yếu tố sông nước luôn đóng vai trò quan trọng, tạo nên nét đặc sắc riêng, tính phong phú, đa dạng và sáng tạo Chính vì vậy, nghiên cứu về Văn hóa ẩm thực của người Việt ở Nam Bộ là một đề tài phong phú, sẽ góp phần làm đa dạng hơn cho sắc thái văn hóa Nam Bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung
1.2 Nội dung nghiên cứu: Văn hóa ẩm thực Việt Nam.
1.3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: Văn hóa ẩm thực Nam Bộ.
Nam Bộ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về nhiều mặt Đây là nơi tập trung những món ăn hấp dẫn, lôi cuốn thực khách mọi miền đất nước, cũng như các thực khách nước ngoài muốn tìm hiểu về ẩm thực Nam Bộ, Việt Nam Nói như thế tưởng chừng như việc ăn uống ở nơi đây rất cầu kỳ nhưng thực chất lại hết sức đơn giản Cũng chính từ sự chế biến đơn giản ấy đã càng làm cho hương vị đặc trưng của thực phẩm được giữ nguyên vẹn mà vẫn đầy đủ chất dinh dưỡng, để tìm hiểu rõ hơn về văn hóa
ẩm thực nơi đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua bài báo cáo sau
Phần 2: Nội dung.
2.1 Sơ lược về Nam Bộ.
Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ từ khi Việt Nam giành được độc lập vào năm 1945 Nam Bộ là một trong ba vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ) Trong thời Quốc gia Việt Nam (1949-1955) và Việt Nam Cộng hòa (1955-1975), Nam Bộ đôi khi còn được gọi là “Nam phần”
Trang 3Nam Bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa của nông thôn Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử
2.1.1 Vị trí địa lí, khí hậu.
Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Cam puchia và một phần phía Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ
Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, ít bão,thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao Khí hậu hình thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa mưa và mùa khô, không
có mùa lạnh Mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4
2.1.2 Hành chính.
Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía nam và hai thành phố là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ
Gồm 2 tiểu vùng:
1/ Đông Nam Bộ, bao gồm: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh
2/ Tây Nam Bộ, bao gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, và Thành phố Cần Thơ
2.1.3 Đời sống vật chất và tinh thần.
Về địa bàn cư trú: cư trú ven sông đã tạo thuận lợi cho việc di chuyển bằng đường thủy, phù sa sông rạch bồi đắp quanh năm thuận lợi cho việc dẫn thủy nhập điền, tưới tiêu ruộng đồng, hoa màu, nơi ở thoáng mát cùng bao tiện ích của cuộc sống sinh hoạt thường nhật như: tắm giặt, đánh bắt thủy hải sản, giao lưu trao đổi hàng hóa, bán buôn
Cư trú kiểu nhà ở trước là sông sau ruộng Loại hình cư trú này rất phổ biến ở Nam bộ Dân cư sống tập trung nhau thành một dải dài theo dòng chảy của con sông Mỗi nhà cách nhau bằng một khoảnh đất trống, một bụi chuối, hay hàng cây nào đó Nhà ở
Trang 4chính giữa, phía trước là một con lộ đất nhỏ rồi mới tới sông Ở bến sông, người ta bắc một cây cầu ván gie ra mé sông để làm nơi giặt giũ, tắm gội, rửa chén bát cũng như mọi sinh hoạt khác cần đến nguồn nước Có khi người ta chỉ để một hoặc hai thân cây dừa nằm lài từ trên bờ đến mé nước để làm cầu Thân dừa đẽo thành bậc thang để không trợt té Kế bên cầu thường là chỗ đậu ghe, xuồng để thuận tiện mỗi khi di chuyển Có người cất một mái lá gie ra sông để ghe xuồng tránh nắng mưa Dọc theo triền sông thường là những hàng cây so đũa, điên điển, bần, dừa
Cư trú ở giáp nước Nơi đây thường diễn ra các buổi họp chợ, buôn bán, trao đổi hàng hóa và cũng là một cái “chợ thông tin” cho mọi người Giáp nước là nơi ghe xuồng ngược xuôi thường hay ghé lại nghỉ ngơi, vào hàng quán để ăn uống đợi con nước sau Điều này rất thuận tiện cho họ, vì cả hai chuyến đi về họ đều đi con nước xuôi, chèo chống đỡ mệt, khỏi phải tốn nhiều công sức “Đi trên kinh rạch Nam Việt, gặp chỗ giáp nước thì luôn luôn ta thấy một cái chợ hoặc lớn hoặc nhỏ, ít nhất cũng là một xóm
có vài quán bán hàng, vì chỗ giáp nước là chỗ đổi con nước; mười ghe thì chín ghe đậu lại đợi con nước sau Trong khi nghỉ, người ta lên bờ mua thức ăn, đồ dùng, uống trà,
cà phê, thế là tự nhiên nổi lên cái chợ
Cư trú kiểu trước đường sau sông Đặc điểm cư trú này hình thành sau hai mô hình kia Mô hình nhà ở này hình thành khi công cuộc khai phá đất hoang đã hoàn tất, cuộc sống xã hội phát triển, nhu cầu giao thương đã cao Mô hình này thường tập trung ở nơi dân cư đông đúc, đường sá thuận tiện Phía trước nhà là một con đường đất, hoặc
đã được lót đan, có khi tráng xi măng Đường tương đối lớn, đối diện bên kia đường thường là một dãy nhà, tạo nên thế đối diện và tâm điểm là con đường này Phía sau nhà thường là con sông lớn, người ta cho bắc cầu để tiện việc sinh hoạt Nhà kiểu này thường có đặc điểm trước là nền đất sau là nhà sàn Phía nhà sàn này dùng cho sinh hoạt cá nhân của các thành viên trong gia đình như: nấu bếp, đặt vài cái lu chứa nước, làm nhà tắm, nhà vệ sinh Đôi khi người ta cất thêm một cái chái bên nhà để làm chỗ đậu ghe xuồng Nhà ở kiểu này ngoài việc tiện cho cho việc sinh hoạt vì ở gần nguồn nước còn được cái thuận lợi khác là được cả hai mặt tiền Mặt trước, mặt sau đều có thể buôn bán được, hoặc có việc đi lại khi cần
Về phương tiện đi lại: Ghe xuồng không chỉ phục vụ việc đi lại và chuyên chở của con người còn là phương tiện đánh bắt thủy hải sản Cư dân Nam bộ có tập quán sống ven sông rạch, có nguồn cá tôm rất dồi dào và phong phú, nên người ta dùng chiếc ghe,
Trang 5chiếc xuồng của mình để đánh bắt cá tôm: câu tôm, câu cá, giăng lưới, cất vó, đặt lọp, xây nò, đóng đáy cọc, chài lưới, thả câu Chiếc xuồng, chiếc ghe, con đò còn phục vụ cho việc buôn bán rồi kết thành điểm chợ buôn bán, trao đổi hàng hóa trên sông, hình thành nên các khu chợ nổi hội tụ đủ các loại người tứ xứ đến buôn bán, làm ăn Từ những người dân bình thường đến những kẻ tứ cố vô thân, rời bỏ quê hương tha phương kiếm sống, với một chiếc ghe chất đầy hàng hóa, nay họ ở chỗ này, mai chỗ khác, len lỏi vào tận những con kinh, con rạch, những đường nước hẹp đem hàng hóa phục vụ đến tận nhà
Về nơi ăn, với những bữa cơm thường ngày trong gia đình thì tùy điều kiện không gian căn nhà rộng hay hẹp mà bố trí hợp lý: hoặc trên bàn, hoặc ngay trên sàn nhà Nếu là bạn thân rủ nhau nhậu chơi thì có thể trải đệm dưới gốc cây trong sân vườn hay ngoài đồng, tùy thích Nhưng khi nhà có đám tiệc thì không xuề xòa mà bày biện cỗ bàn rất nghiêm chỉnh trong tinh thần quý trọng khách mời, tạo nên nét văn hóa rất riêng mà cũng rất chung, hài hòa giữa phong tục truyền thống với đặc điểm văn minh vùng sông nước, hầu từng bước hoàn thiện nền văn hóa ẩm thực độc đáo Độc đáo vì
đã biết tận dụng, khai thác và chế biến “của trời cho” một cách kịp thời theo “đơn vị tính” thời gian là “tháng”, “ngày” thậm chí “giờ” Thí vụ: nếu ai đó ở vùng đầu nguồn,
có việc phải đi xa nhằm vào tháng cá mờm hoặc cá linh non xuất hiện thì đành phải chịu nhịn, vì sau đó chừng một tháng cá mờm đã lớn thành cá cơm, cá linh non cũng thế
Người Nam bộ rất thích ăn các loại thủy hải sản Kinh rạch chằng chịt đã tạo cho vùng đất Nam bộ trở thành một vùng đa sinh thái rất giàu thủy hải sản: tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, cá, lươn Từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên này, người Nam bộ chế biến ra các món ăn khác nhau
Chế biến món ăn là một khâu vô cùng quan trọng trong đó, loại rau nào ăn với món gì, món ăn đó chấm với nước chấm nào là một công thức đã được đúc kết qua kinh nghiệm bao đời Qua thời gian, con người càng ngày càng phát kiến thêm nhiều cách kết hợp món ăn khác nhau đã làm cho kho tàng văn hóa ẩm thực của dân tộc không ngừng phong phú lên
Nguồn thủy hải sản dồi dào dường như bất tận giúp người Nam bộ chế biến ra nhiều món ăn vô cùng phong phú, như: canh chua cá kèo, tép đất luộc gói với lá tằm ruột,
Trang 6lươn um lá nhàu, ốc bươu luộc hèm, chuột đồng xào sả ớt Đặc biệt, mắm được xem
là một món ăn đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Nam bộ: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc và chỉ một món mắm với những cách
ăn khác nhau: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm
Về trang phục của người Nam bộ không mấy khác biệt so với các vùng khác trong cả nước Nhưng do sống trong môi trường sông nước mà bà con đã có những lựa chọn trang phục để thích ứng với thiên nhiên ở đây Áo bà ba và chiếc khăn rằn là trang phục tiêu biểu của cả nam lẫn nữ nông dân Nam bộ- những người gắn bó trực tiếp công việc của mình với sông nước Do người suốt ngày phải chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu, giăng lưới nên áo quần rất mau mục Để thích ứng, bà con đã chọn những loại vải dày nhuộm đen để mặc được bền hơn Chiếc áo bà
ba với chiếc khăn rằn đã tỏ ra thích hợp với môi sinh: vừa bền vừa tiện lại thích hợp với điều kiện sông nước Áo bà ba rất thuận tiện cho việc ra đồng: gọn, nhẹ, bền, có túi
để đựng một vài vật dụng cần thiết Còn chiếc khăn rằn thì có thể dùng để lau mồ hôi, quấn cổ và có thể dùng quấn ngang người để thay quần
2.1.4 Ảnh hưởng của vị trí địa lí đến văn hóa ẩm thực.
Do nằm ờ khu vực sông nước là chủ yếu nên người Nam Bộ thường sống hòa hợp với thiên nhiên Các món ăn cơm hàng ngày thông thường là cá, tôm, lươn, trạch, là những thứ có nhiều dễ kiếm, vừa là đạm nhẹ, ít chất béo, dễ tiêu Đó không phải chỉ riêng ở nông thôn mà ngay trong các thành phố, thị xã, trong các bữa tiệc ở nhà hàng cũng không vắng mặt được các món cá, tôm ấy
2.2 Văn hóa ẩm thực vùng Nam Bộ.
Người Nam Bộ gồm nhiều vùng miền, dân tộc khác nhau hợp thành, qua đó phần nào tạo nên bản sắc ẩm thực cho vùng đất này Các lưu dân khi rời xa quê hương để lập nghiệp, họ mang theo cả những món ăn, cách nấu của nhiều món ăn của quê hương mình Vì vậy ẩm thực Nam bộ được hình thành, có những món ăn mang hương vị rất riêng biệt, độc đáo của từng địa phương Tất cả các món ăn Nam bộ đều mang phong cách của vùng sông nước phương Nam vốn rất hoang dã, hào phóng
Trang 72.2.1 Khẩu vị.
Người Nam Bộ nói chung là thích ăn cay (dùng tiêu ớt, gừng, tỏi xả làm giảm bớt mùi tanh của cá, lươn, ếch, rùa, rắn); ưa ăn món mặn (các loại mắm, cá khô ), thích
ăn chua (canh chua,dưa chua ), ưa ăn chát (bắp chuối, chuối chát, trái bần, lá điều, đọt vừng) và thích ăn đắng (khổ quả, rau đắng đất, mật cá lóc, mật cá kèo )
Ẩm thực Nam Bộ thường sử dụng chất béo, đạm của nước dừa, cơm dừa hàng ngày Nên tuy người Việt, người Khơme chung sống khá lâu nhưng trong bữa ăn hàng ngày không tiếp thu cách nấu ăn của người Hoa: xào, chiên, chỉ tiếp thu khi nấu trong bữa tiệc hoặc phục vụ cho khách nước ngoài Dừa là nguồn thực phẩm phong phú dồi dào tạo nên hương vị độc đáo Nước dừa, cơm dừa vừa là chất đạm vừa là chất béo, phù hợp cư dân vùng khí hậu nóng Chè nấu nước cốt dừa là hương vị riêng của ẩm thực Nam Bộ
2.2.2 Phong cách ăn uống.
Khác với cách ăn uống của người Bắc là cầu kì,tỉ mỉ, tinh tế, người Nam với cách sống phóng khoáng , giản dị nên phong cách ăn uống cũng đơn giản Về nơi ăn, với những bữa cơm thường ngày trong gia đình thì tùy điều kiện không gian căn nhà rộng hay hẹp mà bố trí hợp lý: hoặc trên bàn, hoặc ngay trên sàn nhà Nếu là bạn thân rủ nhau nhậu chơi thì có thể trải đệm dưới gốc cây trong sân vườn hay ngoài đồng, tùy thích Nhưng khi nhà có đám tiệc thì không xuề xòa mà bày biện cỗ bàn rất nghiêm chỉnh trong tinh thần quý trọng khách mời, tạo nên nét văn hóa rất riêng mà cũng rất chung, hài hòa giữa phong tục truyền thống với đặc điểm văn minh vùng sông nước, khách đến nhà gặp bữa cơm thì cùng ngồi xuống ăn coi như “thêm chén, thêm bát”, họ trọng tình cảm vì vậy trong cách ăn uống cũng không câu nệ chuyện lễ nghi
Phong cách ăn uống của người Nam Bộ là kết quả của sự giao tiếp hòa trộn nhiều tộc người của một vùng đất mới Cách ăn uống thể hiện ở sự dung hợp, hòa hợp giữa vốn truyền thống của mình với sự giao lưu ảnh hưởng qua lại với tộc người cùng chung sống trên vùng đất mới Đây không phải là sự dung hợp góp nhặt mà là có cái riêng mang sắc thái Nam Bộ rõ nét thực sự trở thành phong cách, sắc thái ăn uống đặc trưng Văn hóa ẩm thực Nam Bộ cũng làm giàu thêm sắc thái văn hóa ẩm thực Việt Nam
3.1 Món ăn của người Nam Bộ.
3.1.1 Món ăn.
Trang 8Nói đến tính hoang dã và tính sáng tạo trong văn hóa ẩm thực Nam Bộ là nói đến đặc tính ăn uống của người Miền Nam thể hiện trong các món có nhiều nguồn gốc tự nhiên
và sự chế biến các món ăn tự nhiên đó thành các món ăn khác nhau ,sự trù phú của vùng đất này về các nguồn lợi tự nhiên , vùng đất “làm chơi ăn thiệt “ Vì đây là nơi được thiên nhiên ưu đãi cho con người , con người không phải làm lụng nhiều mà vẫn
có cái ăn gặp gì ăn nấy , từ những cây cỏ trên bờ , con cá dưới sông , con chim trên trời , cho đến các loài sinh vật khác Tính hoang dã trong văn hóa ẩm thực của người Nam Bộ đã được định hình từ đây Điều dễ nhận thấy nhất ở tính hoang dã này là người Nam Bộ ăn rất nhiều rau , đây là loại thức ăn có sẵn ở vùng sông nước , ao hồ , ruộng vườn rất dễ tìm không cần nhiều thời gian chế biến , có loại chỉ cần hái vào rửa sạch là ăn được Người ta có thể ăn các loại rau từ rau đắng , rau dền , rau răm , cải xanh , tía tô, hành , hẹ , ngò gai, … đến các loại cây bông như : bông điên điển , thiên
lí , bông kim châm…Trong danh mục này có thứ dùng để ăn sống , có thứ dùng để nấu canh , có thứ luộc lên chấm với cá kho thịt kho hay nước chấm Người Việt nơi đây rất chuộng ăn canh, và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên các món canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú Do nguồn thuỷ sản dồi dào, thành phần thuỷ sản như cá, tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, lươn giữ vai trò quan trọng trong
cơ cấu bữa ăn Cũng do môi trường lắm tôm cá, nên các loại mắm nơi đây phong phú hơn hẳn các vùng miền khác: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm tôm chua, mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm Cách chế biến cũng rất đa dạng và đặc sắc: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm Sau đây là một số món ăn nổi tiếng ở Nam Bộ:
“Con cá làm nên con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi! ”
Chỉ một món mắm mà người Nam bộ chế biến biết bao chủng loại Nào là mắm tôm chà, mắm tôm chua Gò Công, mắm ruộc Rạch Giá, mắm ba khía Cà Mau, mắm lòng Đồng Tháp (làm từ lòng cá và ruột cá), mắm thái Châu Đốc, mắm còng Long An… Mắm làm phải công phu, để lâu ngày cho thắm, ăn mới ngon
Đối với người Miền Nam , không phân biệt địa vị xã hội, bất luận sang hèn, ở một góc nhìn văn hóa ẩm thực, món mắm dân dã, “hương đồng gió nội”, được coi như một món ăn đậm “quốc hồn quốc túy”, rất hấp dẫn trai gái, trẻ già từ thành thị đến nông thôn Ngày trước, mắm là nguồn thực phẩm dự trữ ăn dài dài của dân đồng ruộng thảo
Trang 9dã lúc giao mùa, khan hiếm thức ăn Ngày nay, mắm đã trở thành hàng hóa, đặc sản, làm quà biếu, từng góp mặt trong các buổi liên hoan, tiệc tùng, mang đậm bản sắc văn hóa, gợi nhớ hồn quê sâu đậm…
Đầu tiên phải nói đến “mắm sống”, món ăn đơn giản, ngon miệng Mắm được làm từ
cá lóc, cá bông, cá sặt, cá linh… ăn với bắp nấu chín vừa cạp bắp, vừa cắn miếng mắm sống, nhai hòa tan trong cuống vị, thật không còn chỗ chê! Đang lao động vất vả ngoài đồng áng, khi về nhà bất chợt, lỡ bữa, bụng đói cồn cào, giở nồi cơm nguội, sẵn mắm sống trong hũ đem ra xé ăn, kèm với ít rau sống ngoài vườn, lát gừng xắt mỏng, trái ớt tươi, nghe ngọt lịm đến tận chân răng, ăn không biết no!
Ăn mắm cầu kỳ một chút thì có “mắm chiên” Đem con mắm to bè, bắt chảo dầu phi tỏi, bỏ con mắm vào chiên cho se lại, thắm đều dầu, rắc ít tiêu đâm nhuyễn, mùi vị thơm cực kỳ, ai mà chịu được! Chuẩn bị chu đáo hơn thì bằm mắm, bằm thịt ba dọi trộn chung với hột vịt, ướp phụ gia: tiêu, đường, bột ngọt… đem chưng cách thủy, xắt
ít lát ớt đỏ để lên trên, ta được món “mắm chưng” ăn kèm rau sống, chuối chát, dưa leo…
“Mắm kho” là món ăn thông dụng nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nào cũng có Nhưng muốn tận hưởng món “mắm kho bông súng” đúng nghĩa phải đến Đồng Tháp
“Muốn ăn bông súng mắm kho Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm”
Cá kho tộ, thịt kho tàu: Kho tộ tức là kho trong cái tô lớn, hoặc trong nồi bằng đất nung Trong quá trình Nam tiến, người dân đã mang theo văn hóa bản địa của nơi mình sinh sống vàoNam, trong đó có việc kho cá bằng tô Món thịt kho tàu thì có nhiều ý kiến cho rằng nó xuất phát từ Trung Hoa Thực tế Trung Hoa cũng có món thịt
ba chỉ kho với xì dầu không giống món thịt kho tàu của Việt Nam Có người lại cho rằng món thịt kho tàu là của các cư dân gốc Ngũ Quảng đi tàu đánh cá dài ngày, họ kho những nồi thịt sẵn để ăn dần trên tàu Món ăn có tên thịt kho được ăn trên tàu hay thịt kho tàu là từ đó Thịt kho tàu thì thường được cắt thật to, tẩm ướp gia vị và được kho với nước dừa tươi, rồi nấu cho mềm rục Món ăn này thường ăn với cơm trắng, có dưa cải chua hay dưa giá đỗ ăn kèm thì rất tuyệt
Món canh chua không biết đã có từ bao giờ và đã được khởi nguồn từ đâu Có nhiều người cho rằng đây là món ăn bị ảnh hưởng từ ẩm thực của các dân tộc khác đang sinh
Trang 10sống tại Nam bộ như: Khmer, Chăm Và cho dù được xuất phát từ đâu, ảnh hưởng từ dân tộc nào đi nữa thì món canh chua Nam bộ cũng rất đặc trưng và khác biệt so với canh chua được các vùng miền khác nấu Có thể do đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nên người dân Nam bộ đã tạo ra được món ăn mang phong cách ẩm thực riêng của mình, bởi món canh chua Nam bộ sử dụng nguyên liệu chủ yếu là cá, tôm, các loại rau dân dã của vùng đất Nam bộ, vị đặc trưng của món canh chua chắc chắn là
vị chua, nhưng không thể thiếu vị ngọt của đường và vị mặn của nước mắm Phú Quốc.Vị chua của canh chua Nam bộ thường được tạo ra từ me (lá me, trái me hay me vắt), trái bần, trái khế, chùm ruột, xoài, trái giác, trái chanh hay cơm mẻ, giấm, hoặc có thể từ ổ kiến vàng, Tùy từng mùa, từng địa phương mà các nguyên liệu nấu canh chua có thể thay đổi như: cá lóc, cá trê, lươn, cá bông lau, cá tra, cá hú, cá cóc, cá dưa,
cá vồ, cá ngác, cá rô, cá linh, cá chốt, Các loại rau được nấu kèm với canh chua như: bông súng, bông điên điển, bông so đũa, kèo nèo, bồn bồn, mái dầm, tai tượng, lục bình, rau đắng, rau mác, rau nhút, rau cần ống, rau muống hay khóm, cà chua, đậu bắp, bạc hà, giá Tuy nhiên, món canh chua của người Nam bộ thường thì mùa nào sẽ nấu với nguyên liệu ấy, đến mùa nước nổi, canh chua được nấu với các loại bông điên điển, lục bình, bông súng, cá linh (loại đầu mùa) bởi cá chưa lớn nên xương mềm bụng
mỡ ăn rất béo
Một trong những món bánh tạo nên nét đặc trưng của vùng quê sông nước Nam Bộ là món bánh xèo Trong khi, bánh xèo Miền Trung nhưng bánh thường đậu xanh, giá, thịt
ba rọi, tôm, mực ống, lúc pha bột có thêm lòng đỏ trứng gà, bánh được đổ từng cái nhỏ cho 1 người ăn Còn bánh xèo miền Nam thì được 2 - 4 người ăn, nhưng bánh được làm từ thịt vịt, thịt heo, tôm, củ hủ dừa, giá, đậu xanh,…Ngoài các loại truyền thống
đó, món bánh xèo còn sử dụng nhiều loại khác để làm cho hương vị bánh xèo thêm hấp dẫn và phong phú như: nấm mối, nấm rơm, nấm kim châm, bông điên điển, hải sản,… Nét đặc biệt của bánh xèo Nam bộ là bột bánh lúc nào cũng pha thêm nước cốt dừa, bánh được đổ cái rất to, kỹ thuật đổ bánh rất công phu, làm sao bánh phải đạt được độ mỏng và giòn, vỏ banh bọc được hết nhân bánh không bị bể khi úp lại, và phải có vị béo, thơm của nước cốt dừa Bánh xèo Nam bộ được ăn kèm với gần 20 loại rau khác nhau, như rau diếp cá, rau húng, xà lách, cải xanh, cát lồi, đọt bứa, kim thất,
lá vông, đọt xoài, đọt cách, đọt bằng lăng, lá lốt, lá sung, lá lụa, lá cơm nguội, lá điều
và được chấm với nước mắm chua ngọt Và cách ăn của bánh xèo Nam bộ và bánh xèo