Và tất cả những dự kiến tỉ mỉ, được hình dung trước và thể hiện khoa học trong từng kế hoạch bài học – Thiết kế bài dạy ư học, mà sách này chỉ là một trong những mô hình gợi ý sao cho m
Trang 1TS NguyÔn V¨n §−êng (Chñ biªn) – ThS Hoμng D©n
ThiÕt kÕ bμi gi¶ng
12
TËp mét
Nhμ xuÊt b¶n Hμ Néi
Trang 3Lời nói đầu
Để giúp các giáo viên (GV) Trung học phổ thông (THPT) đang trực tiếp đứng lớp giảng dạy có hiệu quả hơn chương trình – sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 12
theo hướng Tích hợp và Tích cực, chúng tôi biên soạn bộ sách tham khảo: Thiết kế
bài giảng Ngữ văn 12, gồm 2 tập
Sách bám sát chương trình, hệ thống hoá, cụ thể hoá SGK và sách giáo viên
(SGV) Ngữ văn 12 thành hệ thống hoạt động dạy học trong từng bài, từng tiết, chú trọng đến các định hướng tích hợp (ngang, dọc) và tích cực hoá hoạt động học của
học sinh (HS) bằng nhiều hình thức học phong phú, hấp dẫn và nhẹ nhàng: các chùm câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để tổ chức đàm thoại, hoạt động nhóm nhỏ và vừa, thảo luận chung cả lớp, nêu vấn đề
Nhìn chung, thầy (cô) giáo cần kiên quyết và kiên trì đóng vai trò người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học của HS; không nên làm thay, làm giúp hoặc
lấn sân của các em Nhưng muốn thế, người thầy phải thực sự hiểu nhiều biết
rộng, phải khéo léo, tỉ mỉ, tâm lí, phải tin ở bản thân và học trò, phải nói ít mà làm nhiều hơn, nghe nhiều hơn, tổ chức nhiều hơn Và tất cả những dự kiến tỉ mỉ,
được hình dung trước và thể hiện khoa học trong từng kế hoạch bài học – Thiết kế
bài dạy ư học, mà sách này chỉ là một trong những mô hình gợi ý sao cho mỗi giờ
dạy học Ngữ văn ở trường THPT Việt Nam thế kỉ XXI không còn là giờ thầy truyền giảng thao thao, trò ngáp ngắn ngáp dài hay là giờ giảng chính trị, đạo đức,
giờ tra vấn, lên lớp khô khan mà là giờ học hợp tác giữa thầy và trò; giờ học đàm
thoại, trò chuyện tâm tình về con người và cuộc sống, qua những áng danh văn, là
giờ thực hành nói và viết tiếng Việt nhẹ nhàng, đầy hứng thú HS được nâng cao,
dù là chỉ chút ít, trên nhiều mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm
Chúng tôi cố gắng biên soạn, gợi ý trên tinh thần nhận thức lí luận ấy
Trang 5Tuần 1 (Bμi 1)
Tiết 1 ư 2 Văn học
Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX
A Kết quả cần đạt
Giúp học sinh (HS):
ư Hiểu được một số nét tổng quát về văn học Việt Nam thời kì từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX trên các bình diện cơ bản: các chặng
đường, giai đoạn phát triển, những thành tựu, những đặc điểm chủ yếu và những
đổi mới bước đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975, đặc biệt là từ năm 1986 đến hết thế kỉ XX
ư Tích hợp với những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện
ư Sử dụng kết hợp các phương pháp hướng dẫn HS đọc, phân tích các luận
điểm nội dung trong các mục của SGK, trao đổi, thảo luận, GV tóm tắt, điều chỉnh, khẳng định, khắc sâu kết luận; điểm bình những dẫn chứng tiêu biểu, gợi nhớ lại những tác giả, tác phẩm đã học ở THCS; sử dụng bảng, sơ đồ hệ thống hoá
ư Đảm bảo yêu cầu hệ thống hoá, toàn diện và quan điểm lịch sử để nhận xét,
đánh giá thời kì văn học hiện đại Việt Nam
• Chuẩn bị của thầy – trò:
ư HS đọc lại SGK Ngữ văn THCS, tìm tên tất cả các tác giả, tác phẩm văn học
từ 1945 đến hết thế kỉ XX, ghi nhớ nội dung (văn xuôi), thuộc lòng (thơ), chọn những tác giả, tác phẩm yêu thích nhất
ư GV suy nghĩ, hình thành các bảng hệ thống, sơ đồ khái quát hoá các chặng
đường, các đặc điểm và giá trị của văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX
Trang 6B Thiết kế bμi dạy ư học
Hoạt động 1
Tổ chức kiểm tra bài cũ
(Hình thức: vấn đáp)
1 GV kiểm tra sách vở, tài liệu, tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của HS, chuẩn bị
cho việc học Ngữ văn trong năm học phổ thông cuối cùng
ư Giải thích ngắn gọn nghĩa các từ ngữ: kỉ nguyên, thời kì văn học, giai đoạn
văn học, chặng đường văn học và quá trình ư tiến trình văn học
+ HS giải thích, cắt nghĩa
+ GV kết luận
1 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá
+ HS đọc mục 1 tr.3 – 4, tự khái quát những ý chính
+ GV hỏi:
ư Những yếu tố hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá chủ yếu nào đã ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự phát triển của văn học Việt Nam từ 1945 – 2000? Nhân tố nào đóng vai trò quyết định? Vì sao?
ư Em hiểu thuật ngữ nhà văn – chiến sĩ như thế nào?
ư Kể tên một số nhà văn – chiến sĩ mà em đã biết, đã được học?
ư Theo em, Thạch Lam có phải là nhà văn – chiến sĩ không? Vì sao?
+ HS thảo luận, trả lời, quan sát bức ảnh minh hoạ tr.4
Trang 7Định hướng:
ư Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt Điều đó thể hiện ở:
ư 30 năm chiến tranh liên tục, đất nước chia cắt, kinh tế nghèo nàn, chậm phát triển, giao lưu quốc tế hạn hẹp, chịu ảnh hưởng văn hoá các nước XHCN Liên Xô (cũ), Trung Quốc
ư Đường lối lãnh đạo văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam tạo nên một nền văn học thống nhất và phát triển là nhân tố ảnh hưởng quyết định Thống nhất
về tư tưởng, tổ chức, quan niệm kiểu nhà văn – chiến sĩ
ư Thạch Lam không phải là nhà văn ư chiến sĩ vì ông sáng tác theo phương
pháp lãng mạn (đã qua đời trước năm 1945)
ư Những nhà văn trong bức ảnh minh hoạ chính là những "nhà văn – chiến sĩ"
đầu tiên của nước Việt Nam mới, văn học cách mạng Việt Nam mới
2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
+ HS đọc lại mục 2 tr.4 – 10, hệ thống hoá và tập đưa các nội dung phù hợp vào bảng hệ thống hoá dưới đây
+ GV đưa khung bảng hệ thống hoá HS điền các nội dung phù hợp
nhà), truyện vừa của Nguyễn Đình Thi(Xung kích), Võ Huy Tâm (Vùng mỏ), Tô Hoài (Truyện Tây Bắc), Nguyên Ngọc (Đất nước đứng lên) Nguyễn Huy Tưởng (Kí sự Cao Lạng), Nguyễn Văn Bổng (Con trâu)
Thơ Hồ Chí Minh viết ở Việt Bắc (Cảnh khuya, Tin thắng trận), Tố Hữu: Huế tháng Tám,
Hồ Chí Minh, tập thơ Việt Bắc, thơ Trần Mai Ninh (Nhớ), Xuân Diệu: Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi(Đất nước), Hoàng Cầm (Bên kia sông Đuống), Quang Dũng (Tây Tiến), Chính Hữu(Đồng chí), Hữu Loan (Đèo Cả), Hoàng Trung Thông (Bao giờ trở lại), Minh Huệ (Đêm nay Bác không ngủ)
* Kịch: Nguyễn Huy Tưởng (Bắc Sơn, Những người
ở lại), Học Phi (Chị Hoà)
* LLNCPB: Trường Chinh (Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam), Nhận đường của Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai
Tố Hữu (Gió lộng), Chế Lan Viên (ánh sáng và phù sa), Tế Hanh (Lòng miền Nam, Tiếng sóng, Gửi miền Bắc), Xuân Diệu (Riêng chung, Cầm tay và
Kịch: Học Phi (Một
đảng viên, Ngọn lửa (Nguyễn Vũ),
Đào Hồng Cẩm (Chị Nhàn, Nổi gió)
Trang 8Hoài (Mười năm), Nguyễn Tuân (Sông Đà), Nguyễn Huy Tưởng (Sống mãi với thủ đô), Lê Khâm (Trước giờ nổ súng), Hữu Mai (Cao điểm cuối cùng), Trần Dần (Người người lớp lớp), Đào Vũ (Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm)
Mũi Cà Mau), Huy Cận (Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời), Nguyễn Đình Thi (Người chiến sĩ), Hoàng Trung Thông (Những cánh buồm), Thanh Hải (Những
đồng chí trung kiên), Giang Nam (Quê hương)
+ LLNCPB: Hoài Thanh (Phê bình
và tiểu luận),
Đặng Thai Mai (Trên đường học tập và nghiên cứu), Xuân Diệu (Phê bình giới thiệu thơ), Chế Lan Viên (Phê bình văn học)
Đình Thi (Vào lửa, Mặt trận trên cao), Nguyễn Tuân (Kí), Nguyễn Trung Thành (Rừng xà nu), Nguyễn Sáng (Chiếc lược ngà), Nguyễn Thi (Người
mẹ cầm súng) Anh Đức (Hòn Đất)
Tố Hữu (Ra trận, Máu và hoa), Chế Lan Viên (Hoa ngày thường – Chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc), Xuân Diệu (Hai đợt sóng), Chính Hữu (Đầu súng trăng treo), Phạm Tiến Duật (Vầng trăng quầng lửa), Lưu Quang Vũ ư Bằng Việt (Hương cây – Bếp lửa), Huy Cận (Chiến trường gần, chiến trường xa), Nguyễn Duy, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa
Điềm, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa
+ Kịch:
Đại đội trưởng của tôi (Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt (Vũ Dũng Minh), Tiền tuyến gọi (Trần Quán Anh)
+ LLNCPB:
Lê Đình Kị, Phong
Lê, Huệ Chi, Hoàng Trinh
* Một vài nhận xét về văn học Việt Nam trong vùng địch tạm chiếm:
+ HS đọc đoạn SGK tr.9 – 10, nêu ý kiến phản hồi
Trang 93 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
+ HS dựa vào SGK, tr.10 – 14: đọc tên 3 đặc điểm; phân tích nội dung cụ thể của từng đặc điểm, nêu một vài dẫn chứng minh hoạ ở các tác giả, tác phẩm đã học ở THCS
+ GV khẳng định và chốt từng đặc điểm, chỉ rõ mối quan hệ giữa các đặc điểm
trận (Hồ Chí Minh), mô hình nhà văn – chiến sĩ; văn nghệ phụng sự kháng chiến
Kháng chiến đem đến cho văn nghệ sức sống mới (Nguyễn Đình Thi)
3.2 Nền văn học hướng về đại chúng:
ư Vai trò của đại chúng – nhân dân: vừa là đối tượng phản ánh vừa là người
đọc vừa là nguồn sản sinh, nuôi dưỡng văn nghệ, trở thành nguồn cảm hứng mới
mẻ, lớn lao của văn nghệ cách mạng
ư Đề tài đại chúng, nhân vật đại chúng (công, nông, binh)
ư Cách viết giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu, trong sáng, chủ đề rõ ràng
3.3 Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng l∙ng mạn
ư Đó là một tất yếu trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh
ư Nội dung khuynh hướng sử thi thể hiện ở việc lựa chọn đề tài và chủ đề, nhân vật, điểm nhìn trần thuật, bố cục và ngôn ngữ, giọng điệu của tác phẩm Ví dụ: thơ Tố Hữu; tiểu thuuyết Nguyên Ngọc, kí Nguyễn Tuân
ư Cảm hứng lãng mạn bay bổng, tạo ra niềm tin tưởng vào tương lai chiến thắng (Mảnh trăng cuối rừng, Những ngôi sao xa xôi Dấu chân người lính, Gió lộng, Ra trận, Hoa ngày thưòng, Chim báo bão, Khúc ca mới );
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,
Mà lòng phơi phới dậy tương lai (Tố Hữu)
ư Nêu và lí giải sơ lược mặt hạn chế của đặc điểm này
Hoạt động 4
Hướng dẫn đọcư hiểu mục II:
"Vài nét khái quát văn học Việt Nam
từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX"
1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hoá
+ HS đọc đoạn SGK tr.14 – 15, nêu ý kiến nhận xét phản hồi
Trang 10ư Đòi hỏi đổi mới toàn diện như một yêu cầu tất yếu, sống còn trước toàn
Đảng toàn dân (Nghị quyết đại hội Đảng VI – 1986)
ư Văn học cũng phải đổi mới toàn diện mới phù hợp với nguyện vọng của nhà
văn, người đọc và hợp quy luật phát triển khách quan của nền văn học Việt Nam
2 Những chuyển biến và thành tựu bước đầu
(Đất trắng), Thái Bá Lợi
(Hai người trở lại trung
(Mùa lá rụng trong
vườn), Nguyễn Minh
lắm người nhiều ma),
Bảo Ninh (Nỗi buồn
chiến tranh), Tô Hoài
(Cát bụi chân ai, Chiều
và tập thơ Khối vuông ru bích), Nguyễn Duy (ánh trăng), Hoàng Nhuận Cầm (Xúc xắc mùa thu), Xuân Quỳnh (Tự hát), ý Nhi (Người đàn bà ngồi
đan), Nguyễn Quang Thiều (Sự mất ngủ của lửa), Trần Anh Thái (Đổ bóng xuống mặt trời); Chế Lan Viên (Hoa trên đá, Ta gửi cho mình,), Tố Hữu (Một tiếng
đờn), Y Phương (Tiếng hát tháng giêng), Trần Nhuận Minh (Nhà thơ và hoa cỏ), Thi Hoàng (Gọi nhau qua vách núi)
Lưu Quang Vũ (với gần 50 vở kịch nói
đưa lên sân khấu những vấn đề xã
hội bức xúc, nóng bỏng): Vụ án 2000 ngày, Hồn Trương
Ba da hàng thịt, Tôi
và chúng ta, Chim sâm cầm đã chết), Doãn Hoàng Giang(Nhân danh công lí), Xuân Trình (Mùa hè ở biển)
Hoài Thanh (Chuyện thơ), Trần
Đình Sử (Thi pháp thơ Tố Hữu), Phan Ngọc (tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều), Nguyễn Đăng Mạnh (Nhà văn
ư tư tưởng và phong cách, Mấy vấn đề phân tích thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chân dung văn học), Vương Trí Nhàn (Cánh bướm và
đoá hướng dương),
Đỗ Lai Thuý, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Hoà, Chu Văn Sơn
Trang 11+ Từ năm 1975 – 1986: văn học Việt Nam từng bước đổi mới;
+ Từ năm 1986 – 2000 ư 2008 ngày càng đổi mới thực sự mạnh mẽ và đi vào chiều sâu
+ Nội dung và xu hướng đổi mới: dân chủ hoá mang bản chất nhân bản và nhân văn sâu sắc
+ Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề phong phú và mới mẻ; cá tính sáng tạo của nhà văn được phát huy mạnh
+ Văn học khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng, phức tạp, thể hiện nhiều phương diện đời sống của con người
+ Tính chất hướng nội, đi sâu khám phá đời sống bên trong, quan tâm nhiều hơn đến số phận cá nhân của mỗi con người trong hoàn cảnh đời thường phức tạp + Hạn chế: khuynh hướng tiêu cực, biểu hiện cực đoan, quá đà, có xu hướng nói nhiều đến mặt trái của xã hội, thiếu lành mạnh khi chạy theo thị hiếu tầm thường để câu khách
Hoạt động 5
Hướng dẫn tổng kết và luyện tập
+ HS đọc, suy nghĩ và trình bày nội dung mục Kết luận trong SGK, tr.17, trả
lời những câu hỏi sau:
1 Truyền thống tư tưởng lớn mà văn học Việt Nam 1945 – 1975 kế thừa là gì? (chủ nghĩa yêu nước anh hùng)
2 Thành tựu nổi bật về nghệ thuật thể loại mà văn học Việt Nam giai đoạn này đạt được là gì? (Thơ và truyện ngắn)
3 Những hạn chế của văn học VN 1945 – 1975 là gì? Vì sao lại tồn tại những hạn chế ấy? (Nội dung chưa sâu sắc, nghệ thuật một số tác phẩm còn non yếu, sơ lược, cách thể hiện con người còn đơn giản, một chiều )
4 Nhưng thành tựu là chủ yếu Có thể khái quát giá trị và vị trí của giai đoạn văn học này như thế nào? (Thể hiện khát vọng lớn lao của cả dân tộc: Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do VHVN 1945 – 1975 xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học Nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay)
5 Văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000 bước vào công cuộc đổi mới toàn diện như thế nào? Vì sao phải đổi mới? Bản chất của đổi mới? Kết quả của đổi mới? Nêu tên một vài tác giả, tác phẩm tiêu biểu? Những hạn chế trong quá trình
đổi mới? Nguyên nhân?
6 Hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt ở nước ta đã tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của văn học như thế nào?
Trang 12+ HS đọc lại nội dung mục Ghi nhớ; tr.19
+ Bài tập về nhà:
Làm bài tập ở mục Luyện tập: viết thành một bài văn dài khoảng từ 1 – 2 trang giải thích ý kiến của Nguyễn Đình Thi trong bài Nhận đường, làm rõ mối
quan hệ giữa văn học và xã hội
8 Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập (Phần 1: Tác gia Hồ Chí Minh)
Tiết 3 ư 4 Lμm văn
ư Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói chung;
kĩ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý nói riêng
B Thiết kế bμi dạy ư học
Hoạt động 1
Ôn tập kiến thức lớp 9 + GV dẫn vào bài:
Văn nghị luận nói chung, nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng là kiểu bài chúng ta thường gặp trong đời sống hằng ngày, trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng khác Hơn nữa, ở bậc THCS, chúng ta cũng đã nghiên cứu khá kĩ kiểu bài này; vậy bây giờ em nào có thể nhắc lại những nội dung cơ bản đã học ở lớp 9?
Trang 13chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của người viết
ư Về hình thức, bài viết phải có bố cục ba phần; có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn chính xác, sinh động
(SGK Ngữ văn 9, tập 2, tr.36 NXB GD HN, 2005)
Hoạt động 2
Tìm hiểu đề và lập dàn ý + GV yêu cầu HS đọc, suy nghĩ, trao đổi, thảo luận về đề bài trong SGK:
"Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu:
Ôi, sống đẹp là thế nào hỡi bạn?"
Thao tác 1: Gợi dẫn tìm hiểu đề
+ GV nêu câu hỏi:
1 Câu thơ trên của Tố Hữu nêu lên vấn đề gì?
2 Để sống đẹp, con người cần rèn luyện những phẩm chất nào? Với thanh niên, HS ngày nay, sống như thế nào thì được coi là sống đẹp?
3 Với đề bài trên, cần sử dụng những thao tác lập luận nào?
4 Với đề bài trên, phạm vi tư liệu sẽ sử dụng để làm bài chủ yếu thuộc lĩnh vực nào? Có thể dùng dẫn chứng là thơ văn được không? Tại sao?
+ GV gợi dẫn HS trả lời:
1 Vấn đề được nêu lên trong câu thơ là: Sống đẹp
2 Để sống đẹp:
a Đối với con người nói chung:
ư Phải có lí tưởng (mục đích) sống đúng đắn, cao đẹp
ư Phải có sự hiểu biết (tri thức) sâu rộng về khoa học và đời sống
ư Phải có tâm hồn phong phú, tình cảm lành mạnh
ư Phải luôn biết hành động phù hợp với pháp lí và đạo lí, góp phần vào sự phát triển xã hội và phát triển bản thân
b Đối với thanh niên, HS:
ư Nói chung, phải rèn luyện cả bốn phẩm chất trên
ư Nói riêng, phải thường xuyên rèn luyện để có kết quả công tác, học tập tốt
và có lối sống lành mạnh
3 Có thể sử dụng tổng hợp các thao tác:
a Giải thích: Sống đẹp là gì? Sống không đẹp là gì? Tại sao đã là con người thì phải sống đẹp?
Trang 14b Phân tích: các khía cạnh biểu hiện của sống đẹp
ư Trong giao tiếp: nói năng, thưa gửi
ư Trong công việc: trách nhiệm
ư Trong quan hệ: đoàn kết, vị tha, tương thân tương ái
ư Trong hành động: quyết đoán, có hiệu quả
đẩy lùi
4 Phạm vi sử dụng tư liệu:
ư Đây là kiểu bài nghị luận xã hội nên dẫn chứng chủ yếu lấy trong đời sống thực tế, tức là thuộc vốn sống trực tiếp (do tuổi đời, hoàn cảnh sống, kinh nghiệm sống, khả năng quan sát, tổng hợp, phân tích ) của người viết
ư Có thể dùng dẫn chứng thơ văn, nhưng rất hạn chế bởi nếu quá đà sẽ lạc sang kiểu bài nghị luận văn học
Thao tác 2: Lập dàn ý
+ GV nêu câu hỏi:
1 Công việc của phần Mở bài là gì?
2 Nội dung của phần Thân bài gồm những ý chính nào?
3 Công việc của phần Kết bài là gì?
+ GV gợi dẫn HS trả lời:
1 Công việc của phần Mở bài là dẫn luận đề (sống đẹp) vào bài viết theo một
trong các cách: trực tiếp, gián tiếp, phản đề
Trang 15ư Khẳng định sống đẹp là cách sống mang ý nghĩa nhân văn cao cả đối với con người Có những tấm gương sống đẹp đã được nhân dân ta "phong Thánh" hoặc cổ tích hoá, thần thoại hoá
ư Câu thơ của Tố Hữu đặt ra một vấn đề muôn thuở mang tính nhân loại, dưới dạng câu hỏi tu từ, gợi mở cho chúng ta tiếp tục suy nghĩ về cách sống, lối sống, mục đích sống, ý nghĩa của cuộc sống
* Đọc tham khảo:
Người bước ra từ cổ tích Truyện cổ tích Việt Nam luôn có hình ảnh một "ông Tiên" xuất hiện để cứu giúp người không may gặp hoạn nạn, những số phận bất hạnh Hình ảnh "Ông Tiên" đầy lòng nhân ái trong truyện cổ tích là hình ảnh của ước mơ do nhân gian tưởng tượng ra, nên "ông Tiên" hiền từ, tay cầm cây phất trần hoá phép cứu nhân
độ thế ấy tuy rất đẹp nhưng không có thật Trong xã hội ta hiện nay, lại may mắn thay có truyện cổ tích trong đời thật và một "ông Tiên" có thật: Đó là "ông Tiên" Sáu Tường, tên thật là Nguyễn Vĩnh Nghiệp, người từng giữ nhiều chức vụ của
Đảng và Nhà nước, nhưng có một "chức vụ" của ông từ khi về hưu cho đến cuối
đời khiến người ta nhớ mãi và những bệnh nhân nghèo, người mù, tàn tật, trẻ em bị sứt môi, hở hàm ếch mang ơn mãi Con người như cây đại thụ toả rợp bóng mát nhân ái xuống thế gian ấy đúng nghĩa là một "ông Tiên" bước ra từ truyện cổ tích ngay từ lúc còn sống cũng như khi đã đi vào cõi vĩnh hằng
Vâng, nguyên Chủ tịch UBND TP.HCM, Anh hùng lao động trong thời kì đổi mới, Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TP.HCM đã vĩnh biệt cõi nhân gian của chúng ta vào lúc 13h4’ ngày 9.11.2007 sau khi đã dốc toàn tâm lực cho bệnh nhân nghèo, người mù sáng mắt, trẻ em khuyết tật có xe lăn, có được nụ cười trên
đôi môi lành lặn, nhưng chính ông lại không thể chống chọi nổi với căn bệnh hiểm nghèo của mình: Ung thư tuỷ sống Ông Sáu Tường mất đi, tuy là quy luật "sinh, lão, bệnh, tử" trong cõi nhân gian, nhưng đó là sự mất mát to lớn cho cuộc sống luôn đầy bất trắc và có quá nhiều số phận bất hạnh đang cần những tấm lòng nhân
ái bao la như ông chở che, an ủi Có lẽ mọi người đều không thích những con số thống kê khô khan, nhưng những "con số" thuộc về ông Sáu Tường thì hoàn toàn khác, nó không khô khan mà lại có linh hồn, mang ý nghĩa nhân văn, nhân bản vô cùng sâu sắc Trong khoảng trên 10 năm làm công việc từ thiện, ông Sáu Tường và những người bạn chí cốt của ông trong Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo đã làm được những việc với những con số khổng lồ: Giúp cho hơn 800.000 người mù được nhìn thấy ánh sáng, hơn 400.000 trẻ em hở hàm ếch tìm thấy được nụ cười trên đôi môi tươi tắn, hơn 300.000 trẻ em khuyết tật được đi trên xe lăn, nghe được bằng máy
Trang 16xa đối với người Kinh; tới tận các bản, làng người dân tộc ở miền rừng núi trong nước, mà còn được trải rộng ra khỏi biên giới sang cả Campuchia, Lào Chỉ với con số và khối lượng công việc ấy đã thấy ông Sáu Tường thật vĩ đại, rất xứng
đáng là một anh hùng trong thời kì mới, một người cộng sản chân chính
Nhưng đâu chỉ có một bề mặt phẳng lặng từ những con số và khối lượng công việc đã mang lại kết quả tốt ấy Quá trình để ông Sáu Tường "ngộ" ra việc làm từ thiện xuất phát từ trái tim nhân ái, tấm lòng thương người nghèo bao la của ông và
đi đến việc hình thành Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo thành phố thật không dễ dàng Đó là một quá trình vạn dặm đầy gian khổ, nó đòi hỏi người đi phải có sự kiên trì, nhẫn nại và quên chính bản thân mình để đạt được mục đích cuối cùng cũng là vì mọi người, vì bệnh nhân nghèo, trẻ em bất hạnh Bởi lẽ, việc tìm ra những người tâm huyết, cùng chí hướng, có tấm lòng nhân ái để hình thành ra một
tổ chức, một Hội từ thiện trong cơ chế thị trường như hiện nay đã khó, nhưng việc
đi vận động xin tiền cho Hội hoạt động cứu giúp bệnh nhân nghèo chữa bệnh, giúp người mù mổ mắt, giúp trẻ em khuyết tật trở lại lành lặn mới là việc cực kì gian nan Nếu không có một người cộng sản chân chính, quên mình vì nghĩa lớn như
ông Sáu Tường thì không thể chinh phục được lòng người để mang lại sự thành công, gây được tiếng vang, thu hút nhiều nguồn tài trợ trong nước và nước ngoài như chúng ta đã thấy
Cố chống chọi với chứng bệnh nan y, dành từng phút giây hiếm hoi có được trong cuộc sống ngắn ngủi để chăm lo cho người nghèo, trẻ em khuyết tật và đến giờ phút cuối cùng mới chịu buông tay từ biệt cõi nhân gian Ông Sáu Tường đã hơn ý nghĩa của một tấm gương sáng cho mọi người học tập vì chưa chắc chúng ta
đã học tập được một phần công đức của ông, tấm lòng thương người nghèo bao la của ông; mà phải tôn vinh ông là một "ông Tiên" giữa đời thường, như đồng chí Nguyễn Minh Triết – Chủ tịch nước đã từng nói
(Theo Từ Vân, "Người bước ra từ cổ tích" Báo An ninh Thủ đô, số 2176, 12.11.2007)
Hoạt động 3
Cách làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí + GV hỏi:
1 Bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường bàn về những vấn đề gì?
2 Để viết kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; có thể dùng những thao tác lập luận nào?
3 Quy trình làm một bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí thường gồm mấy bước? Là những bước nào?
Trang 17+ GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận và trả lời:
1 Bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường bàn về các vấn đề như:
ư Quan niệm về cuộc sống, lí tưởng sống, thái độ sống
ư Quan niệm về tốt – xấu, thiện ư ác, chính nghĩa – gian tà, vị tha – ích kỉ
ư Các quan hệ xã hội như: tình đồng loại, tình cốt nhục, tình bạn, tình yêu
ư Các hành động hoặc các ứng xử như: tích cực – tiêu cực, có ý thức – vô ý thức, có văn hoá ư vô văn hoá
2 Dùng tổng hợp các thao tác lập luận như: giải thích, phân tích, chứng minh,
a Loại đề: nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
b Yêu cầu về nội dung: nêu suy nghĩ về câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn"; thực chất là phân tích cách cảm, hiểu và bài học về đạo lí rút ra từ câu tục ngữ một cách có sức thuyết phục
c Tri thức cần có:
+ Vốn sống trực tiếp: tuổi đời, nghề nghiệp, hoàn cảnh, kinh nghiệm
+ Vốn sống gián tiếp: hiểu biết về tục ngữ Việt Nam; về phong tục, tập quán, văn hoá dân tộc
* Tìm ý:
a Giải thích nghĩa đen (ngắn gọn):
ư Nước là sự vật tự nhiên, thể lỏng, mềm, mát, cơ động, linh hoạt trong mọi
địa hình; có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống (nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; lạy trời mưa xuống/lấy nước tôi uống )
ư Nguồn: nơi bắt đầu của mọi dòng chảy
b Giải thích nghĩa bóng (chủ yếu):
ư Nước: những thành quả mà con người được hưởng thụ, bao gồm:
+ Các giá trị vật chất: cơm ăn, áo mặc, nhà ở, điện thắp sáng, phương tiện giao thông, tiện nghi cuộc sống, thuốc men chữa bệnh
+ Các giá trị tinh thần: văn hoá, nghệ thuật, lễ tết, lễ hội, tham quan
ư Nguồn: tổ tiên, tiền nhân, tiền bối ư những người vô danh và hữu danh có công tạo dựng nên đất nước, làng xã, dòng họ bằng mồ hôi lao động và xương máu chiến đấu trong trường kì lịch sử của dân tộc
Trang 18ư Bài học đạo lí:
+ Những người hôm nay được hưởng thành quả (vật chất và tinh thần) phải biết ơn những người đã làm ra nó trong lịch sử lâu dài của dân tộc và nhân loại + Nhớ nguồn là lương tâm và trách nhiệm của mỗi người
+ Nhớ nguồn là phải biết trân trọng, giữ gìn, bảo vệ, phát huy những thành quả đã có
+ Nhớ nguồn là đồng thời với hưởng thụ phải có trách nhiệm nỗ lực tiếp tục sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần
ư ý nghĩa của đạo lí:
+ Là một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh tinh thần của dân tộc
+ Là một trong những nguyên tắc đối nhân xử thế mang vẻ đẹp văn hoá của dân tộc
ư Câu tục ngữ nêu đạo lí làm người
ư Câu tục ngữ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc
ư Câu tục ngữ khẳng định một nguyên tắc đối nhân xử thế
ư Câu tục ngữ nhắc nhở trách nhiệm của mọi người đối với dân tộc
Kết bài:
ư Câu tục ngữ thể hiện một trong những vẻ đẹp văn hoá của dân tộc Việt Nam
ư Truyền thống đạo lí tốt đẹp thể hiện trong câu tục ngữ tiếp tục được kế thừa
và phát huy trong cuộc sống hôm nay
Bước 3: Viết bài
Mở bài:
a Đi từ chung đến riêng:
Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có nhiều câu tục ngữ sâu sắc thể hiện truyền thống đạo lí của người Việt Một trong những câu đó là câu "Uống nước nhớ nguồn" Câu tục ngữ này nói lên lòng biết ơn đối với những ai đã làm nên thành quả cho con người hưởng thụ
Trang 19b Đi từ thực tế đến đạo lí:
Đất nước Việt Nam có nhiều đền, chùa và lễ hội Một trong những đối tượng thờ cúng, suy tôn trong đó là các anh hùng, các vị tổ tiên có công với dân, với làng, với nước Truyền thống đó được phản ánh vào một câu tục ngữ rất hay và cô
đọng: "Uống nước nhớ nguồn"
c Dẫn một danh ngôn:
Có một câu danh ngôn nổi tiếng: "Kẻ nào bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào hắn bằng đại bác!" Thật vậy, nếu nước có nguồn, cây có gốc thì con người có tổ tiên và lịch sử Không có ai tự nhiên sinh ra ở trên đời này và
tự mình làm ra mọi thứ để sống Tất cả những thành quả về vật chất và tinh thần
mà chúng ta được thừa hưởng hôm nay đều do mồ hôi lao động và máu xương chiến đấu của cha ông ta tạo dựng Vì thế, câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn" quả là có một ý nghĩa đạo lí rất sâu sắc
Thân bài:
a Giải thích nội dung câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn":
ư Nghĩa đen:
+ Nước là sự vật tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống
+ Nguồn là nơi nước bắt đầu chảy
+ Uống nước là tận dụng môi trường tự nhiên để tồn tại và phát triển
Kết bài:
Trang 20Câu tục ngữ nhắc nhở mọi người ghi nhớ một đạo lí của dân tộc, đạo lí của người được hưởng thụ Hiện nay, tuy cuộc sống có phần bộn bề phức tạp, nhưng dòng chảy chính của cuộc sống vẫn là dòng chảy của đạo lí "Uống nước nhớ nguồn"
b Đi từ sách vở sang đời sống thực tế:
Hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu tục ngữ, chúng ta hãy tự xem xét và điều chỉnh suy nghĩ, hành động của mình Nghĩa là, mỗi chúng ta không chỉ có quyền
được hưởng thụ, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của dân tộc
Bước 4: Kiểm tra và sửa chữa
Sau khi viết xong bài, GV giúp HS sửa những lỗi về bố cục, liên kết, từ ngữ, chính tả
b Để nghị luận, tác giả đã sử dụng các thao tác lập luận:
ư Giải thích: Văn hoá ư đó có phải là sự phát triển nội tại bên trong một con người hay không? – Tất nhiên rồi Đó có phải là cách ứng xử của anh ta với người khác không? Nhất định là phải đó có phải là khả năng hiểu người khác không? Tôi cho là thế Đó có phải là khả năng làm người khác hiểu mình không? Tôi cho
là như vậy Văn hoá nghĩa là tất cả những cái đó Một người không thể hiểu được quan điểm của người khác tức là trong chừng mực nào đó anh ta có hạn chế về trí tuệ và văn hoá
Trang 21ư Phân tích: Một trí tuệ có văn hoá, có cội nguồn từ chính nó, cần phải có những cánh cửa mở rộng Nó cần có khả năng hiểu được đầy đủ quan điểm của rngười khác, mặc dù không bao giờ cùng đồng ý với quan điểm đó Vấn đề đồng ý chỉ nảy sinh khi anh đã hiểu được sự việc Nếu không, đó chỉ là sự cự tuyệt mù quáng, quyết không thể là cách tiếp cận có văn hoá đối với bất cứ vấn đề gì
ư Bình luận: Đến đây, tôi sẽ để các bạn quyết định lấy văn hoá và sự khôn ngoan thật sự là gì Chúng ta tiến bộ nhờ học tập, nhờ kiến thức và kinh nghiệm
Đến lúc tích luỹ được một lượng khổng lồ các thứ đó, chúng ta lại trở nên không tài nào biết được mình đang ở đâu! Chúng ta bị tràn ngập bởi mọi thứ và không hiểu sao, chúng ta lại có cảm giác rằng tất cả mọi thứ đó cộng lại chưa hẳn đã nhất thiết đại diện cho sự phát triển của trí khôn con người Trong tương lai sắp tới, liệu chúng ta có thể kết hợp được tất cả sự phát triển của khoa học, của tri thức và những tiến bộ của con người với sự khôn ngoan thật sự hay không, tôi không biết
Đó là một cuộc chạy đua giữa các lực lượng khác nhau Tôi nhớ đến một người rất thông thái – một nhà thơ Hi Lạp nổi tiếng, đã nói: "Sự khôn ngoan là gì/Chính là
sự cố gắng của con người/Vượt lên sợ hãi/Vượt lên hận thù/Sống tự do/Thở hít khí trời và biết chờ đợi/Dành trọn tình yêu cho những gì tươi đẹp"
* Bài tập 2:
(GV gợi dẫn HS tự làm)
Nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi nói: "Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống" Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống con người
Trang 22Tuần 2 (Bμi 2)
Tiết 5 Văn học
ư Vận dụng được những kiến thức nói trên vào việc cảm thụ và phân tích văn thơ của Người
ư Tích hợp với các tác phẩm của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh đã học ở THCS và lớp 10, 11
ư Dành thời gian thích đáng cho 2 mục Quan điểm sáng tác và Phong cách
nghệ thuật Giảng rõ hai khái niệm cơ bản quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật
• Chuẩn bị của thầy – trò
ư Tranh, ảnh chân dung của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi Người hoạt
động ở Pháp, khi là Chủ tịch nước, trong thời kì kháng chiến chống Pháp
Trang 23ư Truyện và kí Nguyễn ái Quốc (1974; Phạm Huy Thông dịch); Thơ Hồ Chủ
Dẫn vào bài mới
1 GV nói chậm kết hợp với cho HS xem một số tranh ảnh về Nguyễn ái Quốc –
Hồ Chí Minh thời kì ở Pháp và trong thời kì kháng chiến chống Pháp, khi là Chủ tịch nước
Trong nhiều năm từ cấp THCS, chúng ta đã được học một số tác phẩm văn học xuất sắc của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh Rõ ràng, dù không chủ ý, nhưng Người vẫn được xem là môt trong những nhà văn – nhà thơ ư nhà chính luận lớn có công khai móng đắp nền cho nền văn học cách mạng trẻ tuổi Việt Nam từ những năm 20 thế kỉ XX Bài học này sẽ tìm hiểu một cách khái quát về Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh với tư cách là một tác gia văn học lớn, để từ đó
đọc hiểu tiếp những áng văn thơ, chính luận kiệt xuất nhất của Người
2 GV hỏi:
+ Nêu tên những tác gia văn học đã được học trong chương trình THCS, THPT?
+ Vì sao Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh được học với tư cách tác giả mở
đầu nền văn học hiện đại Việt Nam?
Hoạt động 3
Hướng dẫn đọc hiểu khái quát về tiểu sử
Tác giả Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh (1890 – 1969)
+ GV giao việc:
ư HS đọc nhanh mục Tiểu sử trong SGK, tr.23 – 24
Trang 24ư Kết hợp với những hiểu biết đã có của mình, trình bày ngắn gọn tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh
+ HS làm việc theo nhóm, đại diện nhóm trình bày
Định hướng:
ư Quê hương, gia đình, thời niên thiếu
ư Từ năm 1911 – 1941:
ư Thời kì hoạt động cách mạng ở nước ngoài: tìm đường cứu nước, thành lập
Đảng CS Việt Nam, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945
ư Từ năm 1941 – 1969:
ư Lãnh đạo Đảng, nhân dân Việt Nam làm Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; lãnh đạo 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng CNXH ở miền Bắc với tư cách Chủ tịch Nước, Chủ tịch Đảng CSVN
ư Nhà yêu nước ư anh hùng dân tộc vĩ đại – danh nhân văn hoá thế giới
ư Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại di sản văn học quý giá Người là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc
Hoạt động 4
Hướng dẫn tìm hiểu sự nghiệp văn học của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh
1 Quan diểm sáng tác
1.1 Quan điểm sáng tác là gì?
(GV thuyết trình nêu vấn đề – HS lắng nghe – phản hồi):
+ Là lập trường, tư tưởng, quan niệm, ý kiến của nhà văn về văn học (vai trò
và nhiệm vụ, mục đích, bản chất và phương pháp sáng tác của nhà văn, tác phẩm văn học)
+ Đóng vai trò quyết định, soi sáng và điểm tựa cho sự nghiệp sáng tác của nhà văn
+ Mỗi nhà văn đều có quan điểm sáng tác của mình Quan điểm ấy có thể bộc
lộ trực tiếp trong những tác phẩm chính luận hoặc trong tác phẩm nghệ thuật, qua hình tượng văn học
+ Ví dụ: quan điểm sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu
1.2 Nội dung cơ bản quan điểm sáng tác của Nguyễn ái Quốc ư Hồ Chí Minh:
+ HS đọc SGK, tr.24 – 25, trả lời câu hỏi
+ GV hỏi:
Trang 25ư Có thể tạm chia QĐST của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh thành mấy nội dung? Từng nội dung hướng tới những vấn đề quan trọng nào?
ư Em hiểu thế nào về sứ mệnh thiêng liêng của văn học và nhà văn?
ư Khái niệm Nhà văn – chiến sĩ nên hiểu như thế nào?
ư Giải thích chất thép trong văn học?
ư Chất thép biểu hiện trong thơ văn của Hồ Chí Minh như thế nào?
+ HS trao đổi, trả lời
Định hướng:
ư Theo Hồ Chí Minh:
ư Văn học là vũ khí chiến đấu lợi hại phục vụ cho sự nghiệp cách mạng (bên cạnh các vũ khí khác: quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hoá )
ư Nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, tư tưởng (khái niệm nhà
vănư chiến sĩ); biểu hiện trực tiếp trong bức thư của Người gửi các hoạ sĩ Việt
Nam nhân dịp triển lãm tranh toàn quốc lần thứ nhất (1951)
ư Khái niệm chất thép trong thơ văn:
Đó là tính chiến đấu, đấu tranh, tính cách mạng của văn học, của nhà văn –
chiến sĩ; thể hiện trong bài "Cảm tưởng đọc Thơ nghìn nhà" (Nhật kí trong tù)
Tuy nhiên chất thép trong thơ Người biểu hiện rất phong phú linh hoạt, nhiều vẻ; ít bài trực tiếp, nhiều bài gián tiếp, rất mềm mại, dịu dàng, tình cảm nhưng vẫn sáng
ngời chất thép Ví dụ: Ngắm trăng, Tức cảnh Pác Bó, Trung thu
+ GV hỏi:
ư Vì sao Hồ Chí Minh lại đề cao tính chân thật và tính dân tộc của văn học?
Ví dụ?
Trang 26+ HS: dựa vào SGK, nêu cách hiểu của mình về mối quan hệ giữa tính chân thật và tính dân tộc của văn học
Định hướng:
ư Tính chân thật là yêu cầu viết đúng, tôn trọng sự thật (bản chất) cuộc sống
và con người trong quá trình thể hiện
ư Tính dân tộc là giữ được sự trong sáng của tiếng Việt khi viết, giữ được cái
hồn, cái bản sắc của dân tộc trong tác phẩm Nghĩa là viết cho hay, cho phù hợp với tâm hồn và tính cách Việt Nam
ư Hai tính chất cốt yếu của văn học kết hợp thống nhất với nhau trong tác
phẩm (cũng được thể hiện trong 3 phương châm: Dân tộc, khoa học, đại chúng
(Đề cương văn hoá Việt Nam) Đề cao sự sáng tạo của người nghệ sĩ
+ GV hỏi:
ư 4 câu hỏi Hồ Chí Minh tự đặt ra khi cầm bút sáng tác văn học là gì? Mục
đích của từng câu hỏi là gì?
ư Vì sao không phải tất cả các sáng tác của Hồ Chí Minh đều dễ hiểu, đều mộc mạc, giản dị như nhau? Ví dụ?
+ HS trao đổi trong nhóm, phát biểu thảo luận
Định hướng:
ư Xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm
ư 4 câu hỏi Người thường đặt ra khi sáng tác:
ư Viết cho ai? (đối tượng – quan trọng nhất)
ư Viết để làm gì? (mục đích sáng tác)
ư Viết cái gì? (nội dung)
ư Viết như thế nào (hình thức, phương pháp)
ư Vận dụng rất linh hoạt và hiệu quả 4 câu hỏi đó Bởi vậy trong thơ văn của
Người có bài mộc mạc dễ hiểu vì viết cho quần chúng ít học (Ca nông dân, ca sợi
chỉ, ca du kích ) lại có bài uyên bác, sâu sắc vì viết cho trí thức, chức sắc; lại có
bài tâm tư sâu lắng, tinh tế vì viết cho riêng mình để giải trí, giải buồn trong tù
(Vãn cảnh, Tặng Bùi Công, Báo tiệp)
2 Sự nghiệp văn học của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh
+ HS đọc trong SGK, điền vào bảng hệ thống, phát biểu khái quát về từng loại tác phẩm của tác giả
Trang 27Bản án chế độ thực dân Pháp (bằng tiếng Pháp);
Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ,
Di chúc (bằng tiếng Việt)
ư Tuyên ngôn khai sinh nhước Việt Nam độc lập;
ư Kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ bảo vệ độc lập, tự do cho Tỏ quốc;
ư Những lời căn dặn cuối cùng để lại cho toàn Đảng, toàn dân
ư Những áng văn chính luận mẫu mực, sáng suốt, sắc sảo, nồng nàn, súc tích
2 Truyện và
kí
Viết bằng tiếng Pháp trong thời gian hoạt
động cách mạng ở Pháp (Tập: Truyện và kí: Vi hành, Những trò lố );
bằng tiếng Việt (Nhật kí chìm tàu,Vừa đi đường vừa kể chuyện)
Những năm
20 Những năm
30 Những năm
40, 50
Cây bút văn xuôi tài năng, trí tưởng tượng phong phú, vốn văn hoá sâu rộng, trí tuệ sâu sắc và trái tim nồng nàn tình yêu nước và cách mạng
Chất trí tuệ và tính hiện đại
Ngòi bút châm biếm vừa đầy tính chiến đấu vừa hóm hỉnh, tươi tắn
3 Thơ ca ư Nhật kí trong tù
ư Thơ Hồ Chí Minh
ư Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh
Những bài thơ tuyên truyền giản dị, mộc mạc, đầy khí thế
Những bài thơ cảm hứng nghệ thuật vừa cổ
điển vừa hiện đại
Nhân vật trữ tình mang nặng nỗi nước nhà
mà vẫn ung dung tự tại, tin vào tương lai tất thắng của cách mạng và dân tộc
3 Phong cách nghệ thuật của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh
3.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật:
+ (GV thuyết trình nêu gợi vấn đề; HS lắng nghe – phản hồi)
ư Là những đặc điểm riêng mang bản sắc riêng về tư tưởng và nghệ thuật thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn, trong cách nhìn, cảm nhận cuộc sống và con
Trang 28người, trong cách chọn đề tài, chủ đề, cấu trúc tác phẩm, chọn thể loại xây dựng hình tượng, ngôn ngữ, giọng điệu
ư Mỗi nhà văn tài năng đều có phong cách riêng; càng là nhà văn lớn, phong cách riêng càng đậm nét Ngược lại, những nhà văn phong cách mờ nhạt hoặc chưa có phong cách là những nhà văn còn hạn chế về tài năng, cá tính
ư Một vài ví dụ: phong cách nghệ thuật Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tế Xương, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
3.2 Những đặc điểm chủ yếu của phong cách nghệ thuật Nguyễn ái Quốc –
Hồ Chí Minh:
+ Độc đáo, đa dạng, hấp dẫn:
ư Bắt nguồn từ truyền thống gia đình, môi trường văn hoá, hoàn cảnh sống, hoàn cảnh cách mạng và cá tính của Người
ư Hình thành từ quan điểm sáng tác của tác giả
ư Thể hiện: Văn chính luận sắc sảo về lí lẽ, luận chứng, nồng nàn tình cảm, ngắn gọn, đa dạng về bút pháp
ư Truyện và kí; hiện đại, giàu tính chiến đấu, tính hài hước, hóm hỉnh
ư Thơ ca (nghệ thuật và tuyên truyền) với những nét phong cách riêng: thanh
đạm, nói ít gợi nhiều, vừa cổ điển vừa hiện đại, hoà hợp thép và tình
ư Phân tích mỗi dặc điểm một vài ví dụ tiêu biểu
Hoạt động 5
Hướng dẫn Tổng kết và Luyện tập
1 HS đọc mục Kết luận và Ghi nhớ, SGK, tr.29
2 HS tập, vận dụng phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) trong tập thơ Nhật kí
trong tù để làm rõ sự hoà hợp giữa bút pháp cổ điển và hiện đại của Hồ Chí Minh
+ HS chuẩn bị ở nhà dàn ý, đến lớp trình bày, thảo luận; nêu rõ cách làm
Định hướng:
ư Có nhiều cách phân tích bài thơ để làm rõ luận điểm; chẳng hạn:
ư Bút pháp cổ điển thể hiện ở: thi đề, cấu trúc, bố cục, thể loại, hình tượng
ư Bút pháp hiện đại thể hiện ở cảm xúc trữ tình, hướng vận động của tư duy, hình tượng
ư Sự kết hợp giữa thép và tình, nghệ sĩ – chiến sĩ
3 Những bài học thấm thía nhất của em sau khi học Nhật kí trong tù
Trang 294 (Tuỳ HS cảm nhận và lí giải theo cách cảm hiểu của bản thân, không gò ép, gượng gạo, miễn sao chân thực, chân thành và cởi mở HS có thể phát biểu bằng bài thu hoạch cá nhân
5 Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập
6 Đọc tham khảo các bài viết trong các tập chuyên luận:
Suy nghĩ mới về Nhật kí trong tù (GS Nguyễn Huệ Chi chủ biên; NXB văn
học, 1993) Mấy vấn đề phân tích thơ Hồ Chí Minh (GS Nguyễn Đăng Mạnh,
NXBGD, 1990)
Tiết 6 Tiếng Việt
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
A Kết quả cần đạt
ư Hiểu được sự trong sáng là một thuộc tính của tiếng Việt, thuộc tính này thể hiện ở tất cả các phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Việt Có ý thức giữa gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong nói, viết
ư Tích hợp với Văn qua văn bản "Tuyên ngôn Độc lập", với Tập làm văn qua các văn bản nghị luận
ư Rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt văn hoá trong sáng, có cảm xúc
B Thiết kế bμi dạy ư học:
Hoạt động 1
Tìm hiểu sự trong sáng của tiếng Việt + GV hướng dẫn HS tự học mục I trong SGK, tr.31 – 34, tóm tắt thành những luận điểm chính
Trang 30+ Có ý thức chọn lọc, sử dụng các từ thuần Việt và từ ngữ toàn dân
+ Hạn chế việc sử dụng từ ngữ vay mượn và các từ ngữ địa phương
b Có quy tắc
ư Quy tắc kết hợp âm vị với âm vị để tạo thành tiếng, kết hợp tiếng với tiếng
để tạo thành từ, kết hợp từ với từ để tạo thành cụm từ hoặc câu
ư Quy tắc kết hợp câu với câu để tạo thành đoạn văn, kết hợp đoạn văn với
Ví dụ:
ư Tổng thống và phu nhân (cần thiết)
ư Chị là một người vợ chiều chồng, chăm con (không dùng phu nhân thay
người vợ)
ư Báo Thiếu niên nhi đồng (cần thiết)
ư Trẻ em lang thang cơ nhỡ (không dùng thiếu niên nhi đồng thay trẻ em)
Trang 31
Không lạm dụng kiểu như:
ư Cô bé hát dân ca hay, là giọng ca trẻ của tỉnh Nghệ An, thường xuyên tham
dự những program ca nhạc đài truyền hình tỉnh tổ chức
ư Nét lì và liều ở cô MC trẻ trung này là việc không có năng khiếu dẫn vẫn
giới thiệu rất "oai" trong profile như thế
ư Một trong số đó là Diệp Chi, MC của gamesshow truyền hình dành cho SV
3 Tính văn hoá, lịch sự
Trong giao tiếp (nói, viết) cần có ý thức lựa chọn những từ ngữ vừa diễn đạt chính xác tư tưởng, tình cảm vừa đảm bảo vẻ đẹp văn hoá, lịch sự của ngôn từ; tránh những từ ngữ thô tục có thể làm ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt
và làm tổn thương đến tình cảm của người đọc, người nghe
Ví dụ:
ư Từ "chết" có thể thay thế bằng các từ ngữ: khuất núi, quy tiên, từ trần, về
cõi vĩnh hằng, vào cõi trường sinh , hoặc "thôi đã, thôi rồi" (Bác Dương thôi đã, thôi rồi/Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta – Nguyễn Khuyến), "đi" (Bác đã
đi rồi sao Bác ơi!/Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời – Tố Hữu), "về" (Bà về năm ấy
làng treo lưới/Biển động, Hòn Mê giặc bắn vào – Tố Hữu), "máu thấm cỏ" (Máu
thấm cỏ lời ca bay vào đất/Hi sinh lớn cũng là hạnh phúc – Nguyễn Đức Mậu)
ư Dùng các từ ngữ nói giảm, đưa đẩy:
+ Có lẽ chị không còn trẻ lắm! (đã già)
+ Có thể dưới con mắt ai đó thì em không thật đẹp? (xấu)
+ Nói trộm vía, dạo này trông thằng bé kháu quá!
+ Tôi hỏi khí không phải, chị đã có gia đình riêng chưa?
+ Nói đổ xuống sông xuống biển, nếu cụ có mệnh hệ nào thì con cháu sẽ có trách nhiệm chứ!
+ Anh đừng giận thì em mới nói cơ!
+ Em hỏi câu này anh không được cười em đấy!
Về tính văn hoá, lịch sự của tiếng Việt, ca dao, tục ngữ có những câu: "Anh
đã có vợ hay chưa/Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào, Người xinh tiếng nói cũng xinh/Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn, Cây chi thơm lạ thơm lùng/Thơm gốc thơm tễ người trồng cũng thơm, Lời nói chẳng mất tiền mua/Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, Lời nói gói vàng, Được lời như cởi tấm lòng, Lời chào cao hơn mâm cỗ, Chẳng được miếng thịt miếng xôi/Cũng được câu nói cho nguôi tấm lòng "
Trang 32* Bài tập 2
a Tôi có lấy ví dụ về một dòng sông Dòng sông vừa trôi chảy, vừa phải tiếp nhận – dọc đường đi của mình – những dòng nước khác Dòng ngôn ngữ cũng vậy – một mặt nó phải giữ bản sắc cố hữu của dân tộc, nhưng nó không được phép gạt
bỏ, từ chối những gì mà thời đại đem lại
b Tôi có lấy ví dụ về một dòng sông Dòng sông vừa trôi chảy, vừa phải tiếp nhận (dọc đường đi của mình) những dòng nước khác Dòng ngôn ngữ cũng vậy: một mặt nó phải giữ bản sắc cố hữu của dân tộc, nhưng nó không được phép gạt
bỏ, từ chối những gì mà thời đại đem lại
* Bài tập 3
Từ Microsoft là tên gọi một công ti, một danh xưng phổ cập đại chúng, do đó
nên dùng
Từ file nên chuyển dịch thành tệp tin
Từ hacker nên chuyển dịch là kẻ đột nhập trái phép
Tiết 7 – 8 Lμm văn
Trang 33ư Tích hợp với các kiến thức văn đã học và tích hợp với vốn sống thực tế đã tích luỹ được
ư Rèn luyện kĩ năng xây dựng văn bản và kĩ năng vận dụng các thao tác lập luận đã học
B Thiết kế bμi dạy ư học
Hoạt động 1
Tìm hiểu đề
Ngoài ba đề bài gợi ý trong SGK, có thể tham khảo thêm đề bài sau:
Anh (chị) có suy nghĩ gì về ý kiến: "Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết"
(Theo Văn học & Tuổi trẻ, số 1.2008)
1 Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
2 Yêu cầu:
a Công việc cần thực hiện:
Người viết phải lần lượt trình bày các suy nghĩ, tình cảm, thái độ của mình trước hiện tượng "thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người", sau đó so sánh tầm quan trọng của việc phê phán hiện tượng ấy với việc "ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết" Cần nhớ đây là văn nghị luận xã hội nên nhất thiết bài viết phải có một hệ thống lập luận chặt chẽ và một mạch cảm xúc chân thành, xúc động
b Phạm vi tư liệu cần sử dụng:
Người viết chủ yếu phải dùng vốn sống trực tiếp (vốn sống thực tế) của mình
để hệ thống hoá các dẫn chứng mắt thấy tai nghe về hiện tượng "thờ ơ, ghẻ lạnh
đối với con người", xâu chuỗi chúng thành một hiện tượng xã hội đã đến mức báo
động Từ đó bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm và thái độ của mình
c Các thao tác lập luận cần sử dụng: giải thích, chứng minh, phân tích, bác bỏ
Trang 34những chuẩn mực pháp lí và đạo lí, từ đó tự giác sống có trách nhiệm hơn với bản thân và trách nhiệm với cộng đồng
b ý 2: Ngợi ca "lòng vị tha, tình đoàn kết" vốn đã có truyền thống lâu dài trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta, nhưng phê phán "thái độ thờ
ơ, ghẻ lạnh" thì chưa có truyền thống, nên thường qua loa, sơ sài, chưa sâu sắc và hầu như chưa có hiệu quả cao như ngợi ca (có thể phân tích một số nguyên nhân khách quan và chủ quan)
c ý 3: Hiện nay cái xấu, cái ác dường như đang "lên ngôi" (dẫn chứng), do
đó việc phê phán cái xấu, cái ác là cần thiết; trong những cái xấu, cái ác đó có hiện tượng xấu là "thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người" (dẫn chứng)
d ý 4: Phê phán hiện tượng xấu nói trên và bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm, thái độ và sự đánh giá (về những nguyên nhân, hậu quả, nguy cơ do hiện tượng
đạo, đối với nhà trường, đối với người lớn
* Bài làm tham khảo
Từ xưa đến nay, lòng vị tha và tình đoàn kết luôn được ca ngợi hết mực Đó cũng chính là những phẩm chất tốt đẹp của con người chúng ta "Thương người như thể thương thân", "Lá lành đùm lá rách" hay "Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" Chúng ta lớn lên trong lời ru ngọt ngào, trong những câu ca dao, tục ngữ súc tích, trong những lời răn dạy để rồi thấm
được trong mình các phẩm chất đáng quý của con người Việt Nam
Nhưng những phẩm chất đó dường như được ca ngợi quá mức, làm ta tự hào quá mức mà quên mất đi việc phải phê phán nghiêm khắc thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh
đối với con người; quên mất đi những hiện tượng bạo lực đang xảy ra trước mắt
để rồi ngủ quên trên chiến thắng, trên những ca từ bóng bảy về nào là vị tha, nào là
Trang 35cùng nhau đứng lên chống quân xâm lược và cùng nhau gìn giữ hoà bình cho đất
mẹ thân yêu
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
ấy vậy mà, tôi thấy cái truyền thống tốt đẹp kia hình như đang ngày càng bị xuống cấp và tàn lụi Tôi thấy lớp HS ngày nay thờ ơ, người lớn lại càng thờ ơ hơn thế nữa Trong chiến tranh, có thật nhiều tấm gương anh hùng dám xả thân để cứu bạn, dám lấy thân mình lấp lỗ châu mai Ngày xưa thế, sao nay lại không thế? Liệu các bạn còn nhớ có một lần thầy giáo dạy Hoá lớp mình đã gọi chúng mình là lớp thế hệ CO2, tức là thờ ơ với tất cả mọi việc? Quả thật, tôi cũng thấy
đúng Thiết nghĩ, HS ngày nào cũng ra rả, từ môn Sử đến môn Văn, rằng phải có lòng vị tha, phải đoàn kết với tất cả Nhưng khi rời trường học mấy ai làm được như thế?
Tôi đã từng chứng kiến một em bé đang đạp xe trên đường thì bị một đôi tình nhân đi xe máy đâm vào Chiếc xe đạp bị hỏng nhưng may mắn em bé không làm sao Thấy em bé ngã, nhưng đôi tình nhân ấy vẫn thản nhiên phóng xe đi, coi như không có chuyện gì xảy ra Họ đã bỏ mặc em bé loay hoay với chiếc xe không thể
đi được, mà dắt về cũng khó Hay hôm trước tôi vô tình nhìn thấy một ông lão ăn xin nằm trên vỉa hè Quần áo ông rách rưới, bẩn thỉu Thỉnh thoảng mới có người quẳng cho ông lão một đồng xu lạnh lẽo Bỗng có một nhóm HS đi đến Các em
đã không cho ông lão xu nào mà còn chỉ trỏ, nhăn mặt, hét toáng lên khi thấy ông lão đến gần Tôi đọc trong mắt các em một nỗi khinh bỉ ghê gớm Hôm qua, tôi lướt mạng, xem một video clip Nội dung của clip đó là phê phán một ông chồng say rượu, đánh đập vợ tàn nhẫn Hình như với ông ta, người vợ là nơi để xả giận, là bịch cát để ông ta luyện võ, là kẻ dưới, là tôi tớ, cho nên việc đánh đập vợ là việc làm bình thường hằng ngày của ông ta chăng? Người đi đường bàng quan, không can thiệp Ông ấy đánh vợ xong cũng bàng quan bỏ đi, để mặc cho người đàn bà tội nghiệp quằn quại đau đớn Tôi tự hỏi liệu mình có quá thờ ơ với những chuyện đang xảy ra? Những người kia có quá vô tâm? Hay cả người đã quay clip
đó? Tại sao? Ôi, thật là đau xót Các bạn có suy nghĩ gì khi nghe tôi kể về những chuyện mắt thấy tai nghe trên? Và tất cả những gì tôi vừa kể mới chỉ là vài ba hạt cát trong cái sa mạc mênh mông của thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đang diễn ra hằng ngày hằng giờ trong cuộc sống quanh ta!
(Đỗ Thu Quỳnh, Trường THPT Amsterdam)
* Nhận xét
I Đề bài
1 Vấn đề đặt ra trong đề bài giản dị, rất gần gũi với đời sống HS hiện nay
Trang 362 Đề bài ở dạng mở, do đó HS có điều kiện bày tỏ những suy nghĩ và cảm xúc thật của mình
II Bài viết của HS Đỗ Thu Quỳnh
1 Ưu điểm
a Cách vào bài tự nhiên, hợp lí
b Các dẫn chứng dùng để phê phán "thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người" tương đối điển hình và mang tính phổ biến
c Những suy nghĩ và cảm xúc khá chân thành
2 Nhược điểm
Bài viết hơi bị hụt hẫng Cần phải thêm một số đoạn để bày tỏ những suy nghĩ, đánh giá sâu sắc hơn; cần điểm qua một số nguyên nhân, hậu quả, nguy cơ của "thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người" và giải pháp đẩy lùi, tiến tới loại bỏ
nó ra khỏi cuộc sống hiện nay
* Đọc tham khảo:
Tình người
Vụ án vợ chồng hàng phở mười năm bóc lột và nhục hình người làm mướn tuổi còn vị thành niên gây bức xúc dư luận từ đầu tháng 11 năm ngoái tới giờ là một sự vụ vừa kinh khủng vừa không có gì là đáng ngạc nhiên
Những bằng cớ và các tình tiết mà bị hại và nhân chứng tường trình, bị cáo cung khai được báo chí nêu lên và đưa hình khiến mọi người thấy ghê sợ, căm phẫn đối với cái cặp phu thê quỉ dữ táng tận lương tâm ấy Nhất là với những ai sống trên cao vời, hằng ngày không phải hít thở bầu không khí của nhân quần thì hẳn phải lấy làm cực kì khó tin Sao lại có thể có chuyện như thế ở xã hội này, thành phố này? Tuy nhiên, trong mắt người bình dân Hà Nội, độc ác đến như tay chồng và mụ vợ kia quả là có một không hai, song những cặp "tê nác đi ê" kiểu ấy, những loại người như vậy thì đâu chỉ một hai mà là nhan nhản Bóc lột sức lao
động, cướp bóc, lừa gạt, khinh miệt, nhục mạ người lao động nghèo, nhất là người lao động ngoại tỉnh, bất kể họ ở lứa tuổi nào là chuyện quá thường rồi, có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy từ trong các ngôi biệt thự kín cổng cao tường, dọc
đường phố, nơi hàng quán, trong các xưởng thợ
Cặp vợ chồng hàng phở công nhiên đày đoạ dã man người đi ở đằng đẵng suốt mười năm trời cũng là điều gây phẫn nộ ghê gớm cho dư luận Nhưng, cũng vậy, người ta thấy choáng là bởi cái độ dài thời gian những mười năm ấy Mười năm, một cô bé bị nhục hình hằng ngày trong một cái nhà ngục có thể nói gần như công nhiên mở toang hoang ra giữa chợ trước mắt bao người Mười năm, như thế là quá dài, là quá đáng! Vậy thôi, chứ còn sự dửng dưng vô cảm của cái mà ta vẫn gọi là
Trang 37các cấp ngành nơi xã phường trước nỗi khổ của người dân, nhất là dân nghèo, không còn làm ai phải ngạc nhiên lắm nữa
Được môi trường êm ấm, no đủ, được ông bà chủ nhẹ tính, tốt bụng thì may, gặp phải bọn sài lang, lũ nhẫn tâm hung ác thì cậy vào hư không Đâu phải ai cũng
có cơ may gặp được một bà cụ già phúc đức và can đảm ra tay độ thế Thêm nữa,
sự đày đoạ kiểu như em Bình phải chịu nó quá độ là dã man và ngang ngược, nên
dù vô cảm và trì trệ đến thế nào, các cấp các ngành cũng phải có lúc không thể nhắm mắt làm ngơ Còn như bao người khác thì nỗi thống khổ rõ là đành phải cắn răng mà chịu, chẳng biết kêu ai, với lại chẳng biết kêu cái nỗi gì Bởi sự tàn ác vô lương trong đời sống chốn thị thành thời hiện đại thường là sự tàn ác "trong khuôn khổ" Loại như vợ chồng hàng phở tuy nhiều nhưng không phải đa số Có lẽ loại như vợ chồng Nghị Quế là nhiều nhất, tất nhiên văn minh hiện đại hơn, nhẫn tâm hơn, cay nghiệt, giả nhân giả nghĩa ở tầm sâu và tầm cao vượt trội bọn cường hào nông thôn ngày xưa Người lao động nghèo, người dân quê ra phố làm thuê làm mướn, chẳng may sa vào những nhà như thế, những ông chủ bà chủ, quý ông quý
bà kiểu đó, tuy có thể không phải bị đến hàng trăm vết sẹo trên mình như cô bé Bình, nhưng cực nhục không kém, mà hàng xóm, chính quyền đoàn thể dù có muốn cứu giúp cũng chẳng có cớ gì và cách gì
Tuy nhiên, hiện tượng người lao động nghèo bị bóc lột, bị coi rẻ có thể diễn ra
và trở thành chuyện không có gì lạ ở một nơi muôn đời thuần phong và nồng hậu tình người, đáng yêu đáng mến như Hà Nội, có lẽ không phải là do những hiện tượng đó đã diễn ra một cách công nhiên hay kín đáo, trắng trợn, ngang ngược hay ngọt ngào thâm hiểm, cũng không hẳn tuỳ thuộc sự quan tâm hay dửng dưng của chính quyền cơ sở Có một cái gì đó xa lạ, lạnh lẽo, trái với bản tính của người Việt, đáng sợ và đáng ghét vô cùng đã nhập tràn vào thái độ sống của thành phố này dẫn đến tình trạng đáng xấu hổ ấy Đấy là cái gì?
"Thời của người nghèo qua rồi"! ít ra phố nên lần ấy, khi cùng tôi đi bộ qua
đường, nghe một ông thị dân cưỡi Vespa chửi mắng một bà hàng rong chẳng may quệt gánh phải ông ta, mẹ tôi bảo vậy Những lời chửi mắng đểu giả độc địa tuôn xối ra trơn tuột như không ấy, tôi nghe đã quá nhàm, nhưng với mẹ tôi Mẹ tôi sửng sốt Mẹ tôi bảo vào thời gian của mẹ, những lời vô liêm sỉ cỡ ấy nhằm vào người dân quê, người nghèo, vào nỗi vất vả bần hàn của họ mà oang oang nói rống lên giữa phố đông Hà Nội như thế là xúc phạm cả phố, sẽ không ai bỏ qua
Tất nhiên thời của mẹ tôi cũng là thời của tôi Thời khác hẳn thời bây giờ Hà Nội của tôi thời còn nghèo khó chưa bao giờ như bây giờ Hồi đó thái độ nói chung của Hà Nội thị dân đối với người lao động nghèo, người dân quê ra tỉnh là cực kì khác
(Nhật Giang Báo Văn nghệ Trẻ, số 4, 27.1.2008)
Trang 38Tuần 3 (Bμi 3)
Tiết 9 ư 10 Văn học
ư Hiểu được giá trị nhiều mặt và ý nghĩa to lớn của bản Tuyên ngôn Độc lập;
vẻ đẹp, chiều sâu tư tưởng và tâm hồn của tác giả qua bản Tuyên ngôn Độc lập
ư Củng cố kĩ năng đọc hiểu văn bản chính luận qua việc phân tích bố cục, lập luận và ngôn từ của tác phẩm
ư Tích hợp với các tác phẩm "Bình Ngô đại cáo", "Nam quốc sơn hà", "Tinh
thần yêu nước của nhân dân ta"
• Trọng tâm bài học:
+ Hệ thống luận điểm và lập luận;
+ Giá trị to lớn nhiều mặt, riêng mặt Ngữ văn có ý nghĩa đặc biệt: áng thiên
cổ hùng văn của thời đại mới
ư Giá trị tư tưởng:
Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc vì độc lập tự do, mang tầm vóc quốc tế và thời đại
ư Giá trị nghệ thuật:
Trang 39áng văn chính luận mẫu mực, kết tinh tư tưởng, tài năng, tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh
• Chuẩn bị của thầy trò:
+ Thầy:
Sưu tầm bức ảnh hoặc tốt nhất là đoạn băng quay cảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn Độc lập, ảnh ngôi nhà (và căn gác) số 48, phố Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nơi Bác Hồ viết bản Tuyên ngôn Độc lập; bài hát Nắng Ba
Đình (Bùi Công Kì), đoạn thơ của Tố Hữu trong Theo chân Bác (1970) một số
bài viết về Tuyên ngôn Độc lập
+ Trò:
ư Sưu tầm các tranh ảnh, băng trên cùng với thầy, tổ chức xem trước khi học;
ư Đọc lại các bài Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ, Nam quốc sơn hà, Tinh
2 Đọc Tuyên ngôn Độc lập, gợi cho em nhớ tới những tác phẩm nào trong
lịch sử văn học Việt Nam? Vì sao?
Hoạt động 2
Dẫn vào bài mới
1 GV nói chậm – HS lắng nghe:
Nếu Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi – đầu thế kỉ XV được ca ngợi là áng
thiên cổ hùng văn, bản Tuyên ngôn Độc lập thứ hai của nước Đại Việt thì hơn 4
thế kỉ sau, Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba
Đình, Hà Nội chiều ngày 2 – 9 – 1945 xứng đáng là áng "thiên cổ hùng văn" của
thời đại mới, bản Bình Tây đại cáo, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, ngẩng cao đầu cùng nhân loại khắp bốn biển năm châu
2 Nhớ lại ngày Quốc khánh 2 – 9 – 1945, thời khắc thiêng liêng: Bác Hồ đọc
Tuyên ngôn Độc lập, Tố Hữu viết trong trường ca Theo chân Bác:
Người đứng trên đài lặng phút giây, Trông đàn con đó, vẫy hai tay,
Trang 40Cao cao vầng trán, ngời đôi mắt,
Độc lập bây giờ mới thấy đây!
Người đọc Tuyên ngôn, rồi chợt hỏi:
ư Đồng bào nghe tôi nói rõ không?
Ôi tiếng Bác hơn mọi lời kêu gọi Rất đơn sơ mà ấm bao lòng
ư Xem ảnh Bác Hồ đọc tuyên ngôn trên lễ đài, hoặc xem nhanh đoạn băng
Ngày độc lập
Hoạt động 3
Hướng dẫn đọc – hiểu khái quát tác phẩm
1 Đọc diễn cảm:
+ Yêu cầu giọng đọc:
Trang trọng, rõ ràng bình tĩnh, khúc triết (1, 3), có đoạn đau xót (2), có đoạn căm giận (2), có đoạn hùng hồn, đanh thép (2,3)
+ Nếu có điều kiện, cho HS nghe băng chính giọng đọc của Bác Hồ đọc bản
Tuyên ngôn Độc lập
+ GV đọc doạn 1, 4 HS đọc nối các đoạn sau cho đến hết bài
+ Nhận xét, trao đổi nhanh kết quả đọc
ư Đoạn 1: không ai chối cãi được:
Đặt vấn đề: Nêu nguyên lí chung của Tuyên ngôn Độc lập
ư Đoạn 2: Thế mà Dân chủ Cộng hoà
Giải quyết vấn đề: Chứng minh nguyên lí chung: Tố cáo tội ác, vạch trần bản
chất và âm mưu của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ư Đoạn 3: kết thúc vấn đề: