Vì thế, ở một số đơn vị chỉ chú trọng đầu tư cho một số học sinh tham gia nghiên cứu với mục tiêu dự thi cấp quốc gia mà chưa chú trọng tổ chức rộng rãi hoạt động nghiên cứu khoa học của
Trang 1KẾT QUẢ MONG ĐỢI
1 Về kiến thức: Học viên nắm được:
- Hiện trạng cuộc thi Khoa học – Kỹ thuật của học sinh phổ thông
- Quy trình và nghiệp vụ hướng dẫn học sinh phổ thông thực hiện các đề tài NCKH
- Những kiến thức cơ bản về phương pháp luận NCKH
2 Về kỹ năng: Học viên củng cố và phát triển các kỹ năng:
- Tư duy về vấn đề nghiên cứu, từ đó hướng dẫn học sinh hình thành đề tài nghiên cứu
- Phát huy năng lực hướng dẫn học sinh: Xây dựng đề cương và triển khai kế hoạch nghiên cứu đề tài
3 Về thái độ: Học viên cần:
- Nghiêm túc, đam mê trong NCKH
- Truyền cảm hứng sáng tạo và say mê NCKH cho học sinh
PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỀ TÀI KHOA HỌC
LĨNH VỰC XÃ HỘI – HÀNH VI
1 Yêu cầu và tầm quan trọng của việc học sinh phổ thông NCKH
- Khuyến khích học sinh trung học NCKH; sáng tạo kĩ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn
- Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh; thúc đẩy giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nâng cao chất lượng dạy học trong các cơ sở giáo dục trung học
- Khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, cơ sở nghiên cứu, các tổ chức và cá nhân hỗ trợ hoạt động nghiên cứu KHKT của học sinh trung học
- Tạo cơ hội để học sinh trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình; tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập quốc tế
2 Những điểm còn hạn chế của cuộc thi Khoa học – Kỹ thuật của học sinh
2.1 Về nhận thức
- Mặc dù hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm qua nhưng một bộ phận cán bộ quản lí, giáo viên và cha mẹ học sinh chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của nghiên cứu khoa học đối với việc đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh
Vì thế, ở một số đơn vị chỉ chú trọng đầu tư cho một số học sinh tham gia nghiên cứu với mục tiêu dự thi cấp quốc gia mà chưa chú trọng tổ chức rộng rãi hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trong các nhà trường
Trang 2- Cũng vì nhận thức chưa đúng nên một số cha mẹ học sinh đã "đầu tư" cho con
em mình nghiên cứu chỉ với mục đích là được dự thi cấp quốc gia hay quốc tế, để được tuyển thẳng vào đại học hoặc dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm cơ hội du học nước ngoài Việc này đã làm sai lệch động cơ nghiên cứu của các em và vô hình chung làm cho học sinh có nhận thức không đúng đắn về hoạt động nghiên cứu khoa học
2.2 Về công tác tổ chức
- Mặc dù Cuộc thi đã được tổ chức hằng năm nhưng một số địa phương còn chưa chủ động trong việc triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh, chưa huy động được đông đảo học sinh tham gia nghiên cứu để tạo được nhiều dự án để lựa chọn cho cuộc thi cấp tỉnh Có đơn vị chưa tổ chức cuộc thi cấp tỉnh mà chỉ lựa chọn một số dự
án để cử đi tham dự Cuộc thi cấp quốc gia
- Việc thực hiện các yêu cầu về tổ chức Cuộc thi cấp quốc gia của một số địa phương còn hạn chế, nhất là về các quy định thực hiện trên website của Cuộc thi, dẫn đến những sai sót về thông tin của học sinh cũng như chậm trễ về thời gian, gây khó khăn cho công việc chung
- Công tác theo dõi, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả triển khai hoạt động khoa học và cuộc thi khoa học kĩ thuật ở các địa phương chưa có điều kiện thực hiện đầy đủ, kịp thời
- Quy trình thẩm định và đánh giá các dự án dự thi của học sinh vẫn còn những điểm phải tiếp tục cải tiến; việc đánh giá năng lực thực sự của học sinh trong quá trình thực hiện dự án còn gặp khó khăn
2.3 Về nội dung các dự án
Đối chiếu với các tiêu chí đánh giá dự án khoa học kĩ thuật của Intel ISEF, các
dự án của học sinh Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như sau:
- Việc nghiên cứu tổng quan còn hạn chế, dẫn tới câu hỏi/vấn đề nghiên cứu chưa được xác định một cách rõ ràng, cụ thể trong mối quan hệ với những nghiên cứu mới nhất trong và ngoài nước Vì vậy có những đề tài đã không xác định được tường minh điểm mới so với những đề tài cùng lĩnh vực đã được công bố Cũng vì chưa đầu tư nghiên cứu tốt về tổng quan nên học sinh chưa đề xuất được những ý tưởng mới và vì thế nhiều dự án dự thi mới chỉ đạt mức độ "cải tiến", chưa thể hiện được sự sáng tạo về mặt khoa học hay kĩ thuật Một số dự án còn "nhầm" lĩnh vực đăng kí dự thi, thể hiện việc xác định vấn đề/câu hỏi nghiên cứu chưa rõ ràng về mặt khoa học
- Việc lập kế hoạch nghiên cứu của một số dự án chưa được thực hiện một cách khoa học, thể hiện ở việc hoàn thành các Biểu mẫu của Cuộc thi chưa chuẩn xác về mặt nội dung cũng như thời gian thực hiện; cũng vì thế mà chất lượng nghiên cứu còn hạn chế
- Việc ghi chép các minh chứng và lí giải về quá trình nghiên cứu, bao gồm việc xác định vấn đề nghiên cứu, lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề và quá trình thực thi
Trang 3giải pháp để giải quyết vấn đề còn hạn chế, thể hiện ở việc lúng túng khi phải trả lời các câu hỏi dạng "Tại sao lại làm thế này mà không làm thế kia?".
- Cách trình bày kết quả nghiên cứu của nhiều dự án còn rập khuôn, nặng về hình thức
Nhiều bản báo cáo dự án còn có cấu trúc như là một luận văn, luận án, trình bày dài dòng
về cơ sở lí luận nhưng không làm bật được vấn đề nghiên cứu và điểm mới, sáng tạo của đề tài Việc trình bày poster cũng như việc trả lời phỏng vấn của một số học sinh còn hạn chế, chưa sáng tạo, linh hoạt
3 Một số nguyên nhân của hạn chế
- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của học sinh, gia đình học sinh, nhà trường và xã hội còn hạn chế Việc triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học của một
số địa phương mới ở mức độ phát động phong trào, còn thiếu kế hoạch triển khai và tổ chức các hoạt động cụ thể để lôi cuốn học sinh tham gia, qua đó phát hiện và bồi dưỡng những ý tưởng khoa học, những học sinh có có lòng say mê và khả năng nghiên cứu khoa học
- Năng lực và quy trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học của một số nhà trường, giáo viên còn hạn chế, chưa tạo cơ hội để học sinh phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong việc đề xuất và thực thi ý tưởng sáng tạo khoa học kĩ thuật, thể hiện ở việc chưa hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch nghiên cứu để phê duyệt trước khi tiến hành nghiên cứu Một số giáo viên hướng dẫn chưa nắm được những quy định của Cuộc thi, kể cả Tiêu chí đánh giá dự án dự thi Trong quá trình hướng dẫn, giáo viên chưa yêu cầu học sinh thực hiện đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ dự thi, thể hiện qua việc hoàn thành và nộp các Biểu mẫu một cách chính xác và đúng hạn Một
số dự án còn nặng “bóng dáng” của người hướng dẫn từ ý tưởng đến việc trình bày kết quả nghiên cứu
- Khả năng tìm tòi và tham khảo các tài liệu khoa học chuyên ngành của cả giáo viên và học sinh còn hạn chế, nhất là việc tìm và nghiên cứu các tài liệu bằng tiếng Anh trên mạng, dẫn tới có những dự án được thực hiện có thể trùng lặp hoặc đã lạc hậu so với những nghiên cứu đã được công bố ở nước ngoài
- Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trong các trường phổ thông còn thiếu thốn, chưa đồng bộ
- Sự gắn kết giữa trường phổ thông với các trường cao đẳng, đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức khoa học công nghệ (sở khoa học và công nghệ; Liên hiệp các hội khoa học-kỹ thuật, các doanh nghiệp khoa học công nghệ; các trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm khoa học - kỹ thuật; ) trong quá trình tổ chức cho học sinh nghiên cứu còn chưa chặt chẽ và thường xuyên Các trường phổ thông chưa tranh thủ được nhiều
Trang 4người hướng dẫn, các nhà khoa học chuyên ngành, cơ sở vật chất, thiết bị, phòng thí nghiệm, kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh.
- Cơ chế, chính sách dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh như kinh phí, chế độ đãi ngộ cho giáo viên làm công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học còn chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa tạo được động lực bên trong cho cả giáo viên và học sinh trong hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật
PHẦN II: HƯỚNG DẪN HỌC SINH NCKH(Trong phạm vi cuộc thi KH-KT của học sinh phổ thông)
1 Xác định nhóm nghiên cứu:
- Một đề tài có thể do 1 đến 2 học sinh nghiên cứu
- Nhóm nghiên cứu phải hội tụ:
+ Thường là học sinh lớp 9 hoặc 11, 12 với học lực từ loại khá trở lên
+ Có năng lực tìm tòi, khám phá, sáng tạo và thích NCKH
+ Có những hiểu biết cơ bản về lĩnh vực nghiên cứu
2 Hướng dẫn học sinh xác định vấn đề nghiên cứu:
- Đặt và trả lời các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Phải làm gì? Làm như thế nào? Nghiên cứu vấn đề sẽ đáp ứng mục tiêu gì?
- Hình thành vấn đề nghiên cứu một cách sáng tỏ, mạch lạch và có hướng giải quyết
3 Đặt tên đề tài:
- Tên đề tài phải sáng rõ, cô đọng, không quá dài
- Tên đề tài phải hàm chứa mục tiêu, nội dung và hướng nghiên cứu
- Tránh đặt tên đề tài như: Mang nhiều nghĩa, thử bàn, bước đầu nghiên cứu, một vài vấn đề, phát huy hơn nữa…
4 Xây dựng thuyết minh đề cương nghiên cứu:
- Nêu tầm quan trọng và tính cấp thiết khi nghiên cứu đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu nghiên cứu là cái đích cần giải quyết của đề tài (phân biệt với mục đích)
- Mục tiêu của đề tài phải ngắn gọn, rõ ràng
Trang 5- Mục tiêu của đề tài phải mang tính khả thi và có giới hạn nhất định theo quy
mô của đề tài
3 Nội dung nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu là đặt là nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề gì trong
4 Giả thuyết nghiên cứu:
- Là đặt ra giả định đề tài nghiên cứu thành công sẽ giải quyết được vấn đề theo
dự kiến khoa học
- Xác định giả thuyết phải bám sát mục tiêu và nội dung nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu và sự vật, hiện tượng, hoạt động… mà nhóm nghiên cứu trực tiếp khám phá, phân tích, đánh giá và kết luận
- Phạm vi nghiên cứu là giới hạn về không gian, thời gian, đối tượng nghiên cứu theo quy mô của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu là hệ thống cách thức, phương tiện tiếp cận giải quyết vấn đề nhằm đáp ứng mục tiêu và nội dung nghiên cứu
- Mỗi đề tài có hệ thống phương pháp nghiên cứu khác nhau
7 Kế hoạch nghiên cứu:
- Kế hoạch nghiên cứu là toàn bộ lộ trình từ khi bắt đầu đến khi hoàn thiện việc triển khai nghiên cứu một đề tài
- Kế hoạch nghiên cứu phải liệt kế toàn bộ công việc của quá trình nghiên cứu Trong đó thể hiện rõ: Nội dung công việc; yêu cầu cần đạt; ai làm; thời gian bắt đầu và kết thúc; dự kiến kinh phí (nếu có) và rủi ro
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu:
- Điểm qua những công trình nghiêu cứu của các tác giả đi trước liên quan đến đề tài nhằm:
+ Họ đã nghiên cứu đến đâu?
+ Thành tựu nghiên cứu của họ là gì?
+ Công trình nghiên cứu của họ đã gợi mở cho nhóm nghiên cứu vấn đề gi?
- Điểm qua những chương trình, những hoạt động của các tổ chức liên quan đến
đề tài nhằm:
Trang 6+ Họ đã làm gì? Làm đến đâu?
+ Kết quả của các chương trình, hoạt động đó có tạo điểm tựa về mặt thực tiễn cho đề tài không?
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài (nội dung 1): Các khái niệm, định nghĩa, quan
niệm liên quan đến đề tài
Chương 2: Luận điểm 1 (nội dung 2)
Chương 3: Luận điểm 2 (nội dung 3)
Chương 4: Luận điểm 3 (nội dung 4)
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Kiến nghị
PHẦN PHỤ LỤC
5 Hướng dẫn học sinh triển khai nghiên cứu
6 Hướng dẫn học sinh thiết kế poster
7 Hướng dẫn học sinh thuyết trình
Trang 7PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1 Khoa học là gì?
Khoa học được hiều là “ hệ thống những tri thức về mọi lọai qui luật của vật chất
và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy”
Khoa học còn được hiểu là một họat động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái
Ngoài ra, theo quan điểm triết học Mác, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác : Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt Đây là một nhận thức có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau
Điều cần lưu ý đối với người nghiên cứu và người quản lý nghiên cứu là , mỗi phát hiện mới về quy luật, hoặc sáng tạo mới thường phải chấp nhận sự va chạm với các định kiến xã hội, thậm chí là những đụng độ gay gắt, nếu như sự phát hiện hoặc sáng tạo đó khác biệt với một lề thói của cộng đồng, một tập tục dân tộc, một tín điều tôn giáo, những cái đã bén rễ sâu xa trong đời sống xã hội
2 Nghiên cứu khoa học là gì?
Nghiên cứu khoa học nói cho cùng là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới:
- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng (sau đây gọi chung là sự vật )
- Phát hiện quy luật vận động của sự vật
- Vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động vào sự vật
3 Chức năng cơ bản của nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học nhằm vào hai mục đích cơ bản: Nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Hai mục đích đó được thực hiện thông qua những chức năng cụ thể như sau :
về bản chất giữa một sự vật này với một sự vật khác
Sự mô tả bao gồm mô tả định tính và mô tả định lượng
Trang 8Mô tả định tính nhằm chỉ rõ các đặc trưng về chất của sự vật Ví dụ, Trái đất và Kim tinh quay xung quanh Mặt trời theo một quĩ đạo bầu dục “ Quay theo quĩ đạo bầu dục” là một đặc trưng về chất của cả hai hành tinh Trái đất và Kim tinh.
Mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật Trong ví dụ trên, người ta biết được một trong những đặc trưng về lượng là chu kỳ quay của Trái đất xung quanh Mặt trời là 365,24 ngày đêm; còn chu kỳ quay của Kim tinh xung quanh Mặt trời là 224,7 ngày đêm
Nội dung của giải thích có thể bao gồm giải thích nguồn gốc, giải thích quan hệ giữa các yếu tố cấu thành sự vật, giải thích tác nhân gây ra sự vận động của sự vật, giải thích mối liên hệ giữa các quá trình bên trong và các yếu tố bên ngoài sự vẫt, giải thích hậu quả của các tác động vào sự vật và giải thích qui luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật
Thực hiện chức năng giải thích, khoa học đã nâng tầm từ chức năng mô tả giản đơn các sự vật tới chức năng phát hiện qui luật vận động của sự vật, trở thành công cụ nhận thức các qui luật bản chất của thế giới
Trang 9+ Sáng tạo
Sáng tạo là sự làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại
Lịch sử phát triển khoa học đã chứng tỏ, khoa học không bao giờ dừng lại ở chức năng mô tả, giải thích và tiên đóan Sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao của khoa học
là sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới.
4 Tri thức khoa học
+ Tri thức thường nghiệm
Tri thức thường nghiệm là những hiểu biết được tích lũy từ kinh nghiệm sống thường ngày Thiếu những tri thức này, con người sẽ hoàn toàn bỡ ngỡ trước các biến động, không biết phản ứng trước những sự vật xung quanh
+ Tri thức khoa học
Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy từ quá trình nghiên cứu khoa học Tri thức khoa học được biểu hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, tiền đề, qui luật, định luật, định lý, lý thuyết, học thuyết vv…
Trong một tọa đàm về kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong cải cách kinh tế, tác giả Việt Phương đã có sự so sánh thú vị giữa tri thức thường nghiệm với tri thức khoa học Việt Phương xem tri thức khoa học là những chủ kiến có giá trị, nó không miên man dàn trải, mặt nào, vấn đề gì cũng có một tí ý kiến, kiểu ý kiến để “ nói chuyện nổi bật ở thính phòng” Tác giả gọi đó là những hiểu biết phổ thông ( tức tri thức thường nghiệm), không chuyên môn ( tức tri thức khoa học ), có thể hấp dẩn ở các cuộc nói chuyện tài tử, không phải là kiến thức khoa học chuyên sâu, càng không phải là sự sáng tạo
5 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học
+ Tính mới
Nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập vào thế giới của những sự vật mà con người chưa biết Vì vậy quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp
lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo Vì vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng
số một của lao động khoa học.
+ Tính tin cậy
Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau
Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của nghiên cứu khoa học, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện ( nếu có )
+ Tính thông tin
Trang 10Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản xuất mới vv…Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin.
Đó là những thông tin về qui luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng, thông tin
về qui trình công nghệ và các tham số đi kèm qui trình đó
Bảng 1: Câu hỏi tự trắc nghiệm của người nghiên cứu:
1 Kết luận có đúng không Có Không
( 1.1 ) Nếu “ không” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 2
( 1.2 ) Nếu “ có” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 3
2 Có còn cách nào khác để đạt kết quả Có Không
( 2.1) Nếu “ không” thì bác bỏ giả thuyết và chấm dứt nghiên cứu
( 2.2) Nếu “ có” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 3
3 Có đề ra được giải pháp kiểm chứng giả thuyết Có Không
( 3.1 ) Nếu “có” thì tiến hành nghiên cứu bổ sung và kiểm tra theo Câu hỏi 1 ( 3.2 ) Nếu “ không” thì chấm dứt quá trình tự trắc nghiệm
+ Tính rủi ro:
Tính hướng mới của nghiên cứu khoa học qui định một thuộc tính quan trọng khác của nghiên cứu khoa học Đó là tính rủi ro ( risque ) Một nghiên cứu có thể thành công, có thể thất bại Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân với các mức độ khác nhau :
- Do thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề được đặt
ra trong nghiên cứu
- Do trình độ kĩ thuật của thiết bị thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thuyết
- Do khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa đủ tầm xử lý vấn đề
- Do giả thuyết nghiên cứu đặt sai
- Do những tác nhân bất khả kháng vv…
Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả
+ Tính kế thừa
Trang 11Ngày nay không còn một công trình nghiên cứu khoa học nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học rất xa khác nhau.
Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu: Một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng cửa cố thủ trong những lý luận
và phương pháp luận “ riêng có”, “ của mình” mà bài xích sự thâm nhập về lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù rất khác nhau
+ Tính cá nhân:
Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân Việt Phương cho rằng “ người có chủ kiến sai còn hơn người không có chủ kiến gì cả”
6 Các lọai hình nghiên cứu khoa học
Dù nghiên cứu khoa học trong bất cứ lĩnh vực nào- khoa học tự nhiên, khoa học
kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn,vv… cũng đều tồn tại ba loai hình nghiên cứu khoa học: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và NC triển khai Mỗi lọai hình được đặc trưng bởi chủng lọai sản phẩm thu được từ trong kết quả nghiên cứu
7 Đề tài nghiên cứu khoa học
Đề tài nghiên cứu là một nhiệm vụ nghiên cứu và do một người hoặc một nhóm người thực hiện Như vậy, xét trên một ý nghĩa nào đó, đề tài nghiên cứu có thể xem là một phạm trù của tổ chức nghiên cứu
Trong Đương đại khoa học Từ điển, Hướng Hồng định nghĩa “ Đề tài nghiên cứu khoa học là đối tượng của lao động nghiên cứu khoa học” , và là “ một trong những yếu tố của năng lực nghiên cứu”
7.1 Một số vấn đề liên quan đến đề tài NCKH
7.1.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Cụm từ nhiệm vụ nghiên cứu nay đã đi vào hệ thống văn bản chính thức về tổ
chức và quản lý nghiên cứu khoa học của Nhà nước
Nhìn chung trong những hệ thống kinh tế nhiều thành phần, có thể có các nguồn nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia
Trang 12Chủ trương này được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Trong bất cứ quốc gia nào đây cũng luôn được xem là một nguồn quan trọng nhất Tính quan trọng ở đây không chỉ thể hiện ở tầm ảnh hưởng quốc gia và quốc tế của những nhiệm vụ này, mà còn ở chỗ đó là một địa chỉ hấp dẫn đối với người nghiên cứu trong việc tìm kiếm “ thị trường” cho những người nghiên cứu khác nhau.
+ Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên
Đây là nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu Tùy thuộc vị trí của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu, cơ quan cấp trên có thể rất khác nhau: một viện nghiên cứu tư nhân có thể không có cấp trên, viện nghiên cứu thuộc hãng sản xuất thì cấp trên là hãng, cấp trên cũng có thể là một bộ, một trường đại học, nếu viện trực thuộc bộ hoặc trường
+ Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác :
Các đối tác giao nhiệm vụ nghiên cứu theo hợp đồng có thể là các doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội trong nước, cũng có thể là các đối tác nước ngoài Đối với người nghiên cứu, đây chưa hẳn là những nhiệm vụ nghiên cứu có nhiều hứng thú về mặt học thuật, nhưng thường lại là những hợp đồng đưa lại thu nhập cao Hơn nữa, thường khi thông qua việc thực hiện hợp đồng nhiều ý tưởng nghiên cứu mới xuất hiện, tạo tiền đề cho những bước nghiên cứu tiếp sau
+ Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình :
Bao giờ trong người nghiên cứu cũng có những ý tưởng thường trực Khi có điều kiện ( chẳng hạn, về kinh phí) thì người nghiên cứu biến đó thành một đề tài nghiên cứu.Nghiên cứu này có thể chưa cần cho ai, nhưng là sự tích lũy cho các bước phát triển về sau
7.1.2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Là toàn bộ sự vật trong phạm vi quan tâm của đề tài nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là: Một bộ phận đủ mang tính đại diện của đối tượng, đủ để xem xét và phân tích Quĩ thời gian đủ để hoàn tất công trình nghiên cứu Khả năng được hỗ trợ về kinh phí, phương tiện thiết bị thí nghiệm( nếu cần thiết) đảm bảo thực hiện các nội dung nghiên cứu
7.1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
Bất cứ thực hiện nghiên cứu nào, người nghiên cứu cũng phải đề ra cho mình một hoặc một hệ thống mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là cái đích nghiên cứu mà người nghiên cứu vạch ra để thực hiện, để định hướng nỗ lực nghiên cứu trong quá trình tìm kiếm.
Trong nghiên cứu khoa học, ngoài khái niệm” mục tiêu nghiên cứu” người ta còn
nói đến “ mục đích nghiên cứu” với một sự phân biệt về ý nghĩa phạm tr Mục tiêu
Trang 13nhằm trả lời câu hỏi “ làm cái gì ?” Trong nhiều xêmina tổ chức cho sinh viên học
tập về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, hai phạm trù này thường hay được hiểu lẫn lộn
Ví dụ có sinh viên nghiên cứu đề tài về “ Trống đồng cổ Việt Nam” đã trình bày mục đích nghiên cứu thay cho mục tiêu nghiên cứu
- Nhằm bổ sung đầy đủ thêm những trang sử dân tộc ( thông sử), lịch sử văn hóa, lịch sử mỹ thuật, lịch sử các nghề thủ công
- Để bổ sung thông tin giới thiệu cho khách tham quan
Trong mối liên hệ giữa nhiệm vụ vấn đề, đối tượng, mục tiêu cần lưu ý : “ nhiệm vụ”, “ vấn đề”, “ đối tượng” là sự vật tồn tại khách quan trước người nghiên cứu Còn
“ mục tiêu” là sự chọn lựa mang tính chủ quan của người nghiên cứu
7.1.4 Đặt tên đề tài:
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài Tên một
đề tài khọahoc khác với tên của tác phẩm văn học hoặc những bài văn luận chiến Tên một tác phẩm văn học hoặc một bài luận chiến có thể mang những ý ẩn dụ sâu xa Còn tên của một đề tài khọa hoc thì chỉ được mang một ý nghĩa hết sức khúc triết, đơn vị, không được phép hiểu hai hoặc nhiều nghĩa
Về nguyên tắc chung, tên đề tài phải ít chữ nhất, nhưng chứa đựng một lượng thông tin cao nhất
Tên đề tài không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin, đại lọai như :
Về vấn đề …,
Thử bàn về …,
Vài suy nghĩ về…;
Góp phần vào việc nghiên cứu về…
Về mặt kết cấu, tên đề tài có thể cấu tạo theo một trong những cách được chỉ trong bảng sau :
THÀNH PHẦN TRONG CẤU TẠO
TÊN ĐỀ TÀI
VÍ DỤ
Trang 14Đối tượng nghiên cứu “ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
tỉnh Lâm Đồng hiện nay”
Giả thuyết nghiên cứu “ Ca Huế là một dòng âm nhạc cổ điển
Mục tiêu nghiên cứu
“ Ứng dụng phương thức đào tạo tại chức đội ngũ GV TH và MN theo địa chỉ”
Mục tiêu + phương tiện “ Nghiên cứu sử dụng Zieccôn làm men trắng
đục cho gốm sứ “Mục tiêu + Môi trường “ Xác định cơ cấu cây công nghiệp ở Lâm
Đồng”
Mục tiêu+ phương tiện+ Môi trường
“ Nghiên cứu máy phát từ trường xung cao ở Việt Nam bằng phương pháp mô phỏng trên máy vi tính
7.1.5.Tổ chức đề tài:
Đề tài là một phạm trù về một tổ chức nghiên cứu Đề tài có thể do một người thực hiện, nhưng cũng có thể do một nhóm người thực hiện
Một nhóm người thực hiện đề tài bao gồm những thành phần sau:
- Chủ nhiệm đề tài, thường là người có kinh nghiệm nghiên cứu, đã từng tham gia nhiều công trình nghiên cứu khác nhau
- Thư ký đề tài phụ trách các công việc hành chính của đề tài như theo dõi họat động của đề tài, báo cáo, phụ trách tài chính vv…
- Thành viên đề tài gồm những thành viên chính nhiệm, kiêm nhiệm hoặc cộng tác theo từng vấn đề cụ thể Các thành viên đề tài phân công phối hợp làm việc với nhau trên cơ sở cây mục tiêu Mỗi thành viên phụ trách một mục tiêu bộ phận và chịu
sự điều khiển của người phụ trách mục tiêu cấp trên trực tiếp
7.2 Trình tự nghiên cứu khoa học
Từ các tư liệu đã có, tuy mỗi tác giả có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng ta có thể hình dung một qui luật chung về trình tự nghiên cứu khoa học, gồm các bước sau :
7.2.1 Lựa chọn đề tài :
Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu có một ý nghĩa quan trọng đối với người nghiên cứu, vì mỗi đề tài nghiên cứu gắn liền với những cố gắng đầu tư sức lực, thời gian, kinh phí… đôi khi quyết định cả phương hướng chuyên môn của một đời sự nghiệp.Việc lựa chọn đề tài có những đặc điểm sau:
Đề tài được chỉ định :
Người nghiên cứu có thể được chỉ định thực hiện một đề tài mà đơn vị đang thực hiện theo yêu cầu của cấp trên hoặc theo một hợp đồng với đối tác
Trang 15Đối với sinh viên hoặc nghiên cứu sinh làm luận văn , thì đề tài được chỉ định có thể là một phần nhiệm vụ của đề tài mà thấy họac nộ môn đang thực hiện, nhưng số người có cơ hội tham gia cộng tác trực tiếp với thầy không nhiều.
Cũng có trường hợp, căn cứ yêu cầu học tập, thầy hướng dẫn đưa ra một đề tài mang tính giả định cho sinh viên hoặc nghiên cứu sinh, không liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của thầy
Đề tài tự chọn
Trong trường hợp được tự chọn đề tài, người nghiên cứu cần tìm hiểu hiện trạng phát trtiển của lĩnh vực chuyên môn, tìm hiểu tình hình thực tế mà xác định một hướng nghiên cứu thích hợp
Việc lựa chọn đề tài có thể dựa trên những căn cứ sau:
1 Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?
- Bổ sung những chỗ còn trống trongblý thuyết của bộ môn khoa học
- Xây dựng cơ sở lý thuyết mới hoặc làm rõ một số vấn đề lý thuyết vốn tồn tại
- Xây dựng nguyên lý các giả pháp khác nhau trong kỹ thuật, công nghệ, tổ chức quản
lý vv…
2 Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không? Ý nghĩa thực tiễn thể hiện ở những điểm sau :
- Xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế và xã hội
- Giải đáp những đòi hỏi trong sản xuất về kỹ thuật , công nghệ, tổ chức, quản lý, thị trường vv…
- Giải đáp nhu cầu phát triển nội tại của lĩnh vực nghiên cứu
Ví dụ, theo các tác giả Đặng Vũ Họat và Hà Thị Đức, trong một đề tài nghiên cứu
về giáo dục học, thì ba yêu cầu trên có thể là như sau :
- Giải đáp nhu cầu trực tiếp của công tác giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường
- Xuất phát từ logic bên trong của sự phát triển khoa học giáo dục.
Về nhu cầu trên đây, người nghiên cứu có thể tìm hiểu qua các văn kiện chính thức, dự án, chương trình phát triển của các cơ quan nhà nước.
3 Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không?
Tính cấp thiết thể hiện ở mức độ ưu tiên giải đáp những nhu cầu thực tiễn liệt kê trên đây
4 Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài không? Điều kiện nghiên cứu đại thể bao gồm:
- Cơ sở thông tin, tư liệu
- Phương tiện thiết bị thí nghiệm ( nếu cần phải tiến hành thí nghiệm)
- Quĩ thời gian và thiên hướng khoa học của thầy hướng dẫn trực tiếp
- Các đồng nghiệp tốt nghiệp trước có kinh nghiệm và có quĩ thời gian
5 Đề tài có phù hợp sở thích hay không?
Trang 16Trong khoa học thì yếu tố này luôn mang một ý nghĩa quan trọng Đương nhiên,
ở đâu và bao giờ người nghiên cứu cũng gặp mâu thuẫn giữa nguyện vọng khoa học của cá nhân với việc giải quyết nhu cầu bức bách của xã hội Người nghiên cứu luôn phải đứng trước sự lựa chọn này
7.2.2 Đặt tên đề tài
Tên đề tài thường được đặt sau khi đã làm rõ mọi vấn đề liên quan đến mục tiêu nghiên cứu Tên đề tài phải súc tích, ít chữ nhất, nhưng nhiều thông tin nhất Đề tài có thể được đặt tên theo một số cấu trúc sau :
- Đối tượng nghiên cứu : Môi trường ra rễ ( đề tài trong lĩnh vực nông nghiệp)
- Giả thuyết nghiên cứu : ca Huế là một dòng âm nhạc cổ điển ( âm nhạc)
- Mục tiêu nghiên cứu : Cải tiến giáo trình dạy tiếng Anh ( ngọai ngữ)
Ngoài ra còn một số lọai cấu trúc gồm một số thành phần như “ mục tiêu + phương tiện”, “ Mục tiêu + môi trường” vv……xem phần đề tài nghiên cứu khoa học) Trong mọi trường hợp, người nghiên cứu hết sức tránh đặt tên đề tài với những cụm từ mang nhiều tính bất định như “ một số vấn đề…”, “ vài suy nghĩ về…”, “ góp phần vào…”
Phát hiện vấn đề nghiên cứu :
Nếu có vấn đề thì mới có nhu cầu giải quyết vấn đề Tìm giải pháp để giải quyết vấn đề chính là nội dung của công việc nghiên cứu
Thông thường, các vấn đề nghiên cứu được phát hiện nhờ quan sát, trao đổi bằng cách phỏng vấn cá nhân hoặc trong các hội thảo khoa học Cũng có thể phát hiện vấn
đề nhờ những cuộc điều tra dùng phiếu hỏi, tiến hành các trắc nghiệm, hoặc thậm chí phải tiến hành những thực nghiệm Thực nghiệm cũng là để quan sát
Kết quả của công việc phát hiện vấn đề có thể cho người nghiên cứu thấy có vấn
đề để nghiên cứu, cũng có thể không có vấn đề để nghiên cứu, song cũng có thể phát hiện ra những giả vấn đề ( tưởng là có vấn đề, nhưng trên thực tế lại không là vấn đề)Công việc nghiên cứu chỉ xuất hiện khi xác định chắc chắn là có vấn đề
7.2.3 Xây dựng đề cương nghiên cứu
Đề cương được xây dựng để trình cơ quan và tổ chức tài trợ phê duyệt và là cơ sở
để làm việc với bạn các đồng nghiệp Nội dung đề cương cần thuyết minh những điểm sau :
+ Lý do chọn đề tài :
- Phân tích sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu để phát hiện vấn đề nghiên cứu
- Giải thích lý do lựa chọn của tác giả về mặt lý thuyết, về mặt thực tiễn
Trong phần này cần nêu rõ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về những vấn đề có liên quan
+ Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ sự vật trong phạm vi quan tâm của đề tài nghiên
Trang 17Ví dụ, đề tài” Hoàn thiện tổ chức của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo” có đối tượng nghiên cứu là “ tổ chức của nhà trường”
Phạm vi nghiên cứu là một phần giới hạn của đối tượng về không gian, thời gian
và qui mô vấn đề Cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu có thể là :
- Một bộ phận đủ mang tính đại diện của đối tượng, đủ để xem xét và phân tích
- Quĩ thời gian đủ để hoàn tất công trình nghiên cứu
- Khả năng được hỗ trợ về kinh phí, phương tiện thiết bị thí nghiệm( nếu cần thiết ) đảm bảo thực hiện các nội dung nghiên cứu
Ví dụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài trên có thể là các “ phòng, ban chức năng”, song cũng có thể gồm mọi tổ chức trong trường
+ Xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu :
Mục tiêu được cụ thể hóa dưới dạng một cây mục tiêu Căn cứ cây mục tiêu mà xác định nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể Cây mục tiêu rất cần trong việc phân tích, cụ thể hóa nội dung và tổ chức nghiên cứu Mục tiêu cấp dưới là công cụ để thực hiện mục tiêu cấp trên Ví dụ trong đề tài” hoàn thiện tổ chức” nói trên, mục tiêu nghiên cứu có thể là “ xác định lại chức năng các phòng ban”
+ Lựa chọn phương pháp nghiên cứu : Tùy từng lọai hình NCKH , có thể sử
dụng các PPNC khác nhau trong hệ thống các PPNC khoa học
+ Nội dung nghiên cứu :
Nội dung nghiên cứu được xác định dựa trên cây mục tiêu Cơ cấu nội dung chính là cơ sở để dự kiến các nguồn lực, lập kế họach tiến độ nghiên cứu, kế họach về nhân lực, vật tư thiết bị, tư liệu, tài chính và cuối cùng là cơ sở để vạch ra cơ cấu chương mục của báo cáo khoa học
+ Xây dựng kế họach nghiên cứu : Trình bày vắn tắt kế hoạch NC theo các nội
dung sau :
- Kế họach tiến độ
Kế họach tiền độ được xây dựng căn cứ yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ (hoặc là lệnh của cấp trên, hoặc yêu cầu củađối tác phía bên giao nhiệm vụ nghiên cứu theo hợp đồng)
- Kế họach nhân lực
Lập kế họach nhân lực nghiên cứu có phần phức tạp hơn trong kế họach nhân lực sản xuất UNESCO đã đưa ra một cách tính nhân lực dễ sử dụng trong khi xây dựng kế họach nghiên cứu gồm các lọai nhân lực sau :
- Nhân lực chính nhiệm ( full time staff ), trong một số tài liệu dịch trước đây, được dịch là “ nhân lực toàn thời gian” Trong dự toán tài chính, số nhân lực này được nhận 100% lương
- Nhân lực kiêm nhiệm ( part time staff), là nhân lực chỉ dành một phần quĩ thời gian tham gia vào công việc nghiên cứu Ví dụ : giám đốc dự án có thể có vai trò rất
Trang 18quan trọng, nhưng thường chỉ tính khỏang 30 –50% quĩ thời gian, vì vị này thường là người có chức vụ chính nhiệm nào đó chẳng hạn, Viện trưởng, Bộ trưởng, Thứ trưởng hoặc những chức vụ chiếm quĩ thời gian tương đương Khi lập dự toán tài chính cũng chỉ tính lương bằng số phần trăm tương ứng so với mức lương qui định cho giám đốc
dự án chính nhiệm
- Nhân lực chính nhiệm qui đổi ( cquivalent full time staff ), trong một số tài liệu dịch trước đây, chúng tôi chuyển ngữ thành “ nhân lực thời gian toàn bộ tương đương” Có lẽ cách chuyển ngữ sau này phù hợp hơn
+ Lập danh sách cộng tác viên
Cộng tác viên được lựa chọn trên cơ sở cây mục tiêu Xu hướng các cộng tác viên hiện nay thường mong muốn nhận hợp đồng khóan gọn một nhiệm vụ nghiên cứu Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về khoa học xã hội thì cơ cấu cộng tác viên có phức tạp hơn Cơ cấu này có thể bao gồm :
- Những cộng tác viên nhận khóan gọn nhiệm vụ nghiên cứu Những cộng tác viên lọai này thường gồm những người có thể dành quĩ thời gian để thực hiện một phần báo cáo kết quả nghiên cứu sau này
- Những cộng tác viên chỉ tham gia một số cuộc thảo luận cần thiết, vì họ không
đủ quĩ thời gian để thực hiện trọn vẹn một nhiệm vụ nghiên cứu Mặc dầu vậy sự tham gia của bộ phận cộng tác viên này là rất cần thiết và rất đáng quý đối với công tác nghiên cứu
- Những cộng tác viên tham gia trong các cuộc phỏng vấn, điều tra dùng phiếu hỏi vv…
- Trong danh sách cộng tác viên, cần dự kiến hết các lọai nhân lực khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ thuần túy mang tính kĩ thuật trong nghiên cứu
- Thư ký hành chính để giúp chủ nhiệm đề tài thực hiện những công việc hành chính của đề tài như làm các thủ tục hành chính về kế họach, mua sắm văn phòng phẩm và trang thiết bị, điều hành việc chi tiêu tài chính và làm thanh quyết toán với các cơ quan rtài vụ, liên hệ với các cộng tác viên , tổ chức các hội nghị, hội thảo, tổ chức in ấn tài liệu vv…
- Nhân viên phụ trợ như thí nghiệm viên ( nếu là các nghiên cứu trong lĩnh vực kĩ thuật ), nhân viên xử lý số liệu thống kê và các phiếu điều tra, nhân viên giúp việc trong các cuộc điều tra, thu nhập số liệu Sinh viên các lớp trên có thể tham gia vào các công việc này, vì đây là một cơ hội rất tốt để làm quen với nghiên cứu khoa học
+ Lập dự toán tài chính:
Chi phí lương: Trong hướng dẫn của các UNESCO, chi phí lương bao gồm :
- Lương chính nhiệm
- Lương kiêm nhiệm
- Lương chính nhiệm qui đổi
Trang 19Chi phí nghiên cứu :
- Tiền trả các bản phân tích, nghiên cứu, dịch thuật
- Tiền trả cho các phỏng vấn
- Tiền trả cho việc in phát, hướng dẫn và xử lý kết quả điều tra
- Chi phí đi lại, ăn ở phục vụ các cuộc điều tra
Chi phí mua và xuất bản tài liệu :
- Mua sách, tài liệu, trả cho việc cung cấp số liệu
- Xuất bản các bản tin nghiên cứu
Chi phí hội nghị :
Trong hướng dẫn dự toán nghiên cứu của các cơ quan tài trợ nước ngoài, chi phí hội nghị bao gồm :
- Tiền trả cho các báo cáo
- Chi phí phòng họp, gồm tiền thuê phòng họp và các trang bị hội nghị, nước uống, ăn nhẹ giữa giờ, thuê nhân viên
- Tiền in chụp tài liệu sử dụng trong hội nghị và in kỷ yếu hội nghị
Chi phí quản lý đề tài
7.2.4 Tiến hành nghiên cứu
Nội dung của công việc nghiên cứu bắt đầu bằng việc nghiên cứu tư liệu, xây dựng khái niệm, đặt giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết và viết luận văn
+ Lập danh mục tư liệu
Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian làm việc trong các kho lưu trữ, các trung tâm thông tin, tư liệu, thư viện và các tiếp xúc cá nhân để khai thác các nguồn tư liệu
cá nhân Việc lập danh mục tư liệu có thể thực hiện theo nhiều phương thức :
+ Lập phiếu thư mục
Người nghiên cứu phải tự lập các phiếu thư mục để tiện tra cứu, Phiếu thư mục nên làm theo mẫu phiếu thư mục của các thư viện để tiện đối chiếu với hệ thống chung, cũng có thể cải tiến một chút theo thói quen tra cứu của cá nhân, nhưng phải bảo đảm một yếu cầu rất quan trọng là phải ghi rất rõ nguồn tư liệu, mã số của thư viện để sau tiện tra cứu lại,
+ Quản lý dữ liệu bằng máy vi tính
Lưu trữ trong đĩa từ để làm việc trên máy vi tính Người nghiên cứu nên tận dụng máy vi tính trong congciẹ6c chuẩn bị luận văn, trước hết là trong việc chuẩn bị bản thảo, lưu trữ tư liệu và số liệu.Phương tiện này giúp tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất nghiên cứu một cách đáng kể
Việc lập danh mục tư liệu không phải chỉ làm một lần trong bước đầu nghiên cứu, mà luôn được bổ sung trong suốt quá trình nghiên cứu,và về sau này, khi đã kết thúc đề tài nghiên cứu, danh mục tư liệu vẫn tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện trong suốt cuộc đời nghiên cứu