1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kỹ thuật nông lâm kết hợp

92 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội -Nhiều nơi xây dựng các công trình quy mô trên đất dốc không được luật pháp cho phép, nên trong trường hợp đó canh tác theo đường đồng mức sẽ là một kỹ t

Trang 1

Chương IV KỸ THUẬT NÔNG LÂM KẾT HỢP

1 GIỚI THIỆU CÁC KỸ THUẬT BẢO TỒN ĐẤT VÀ NƯỚC

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO TỒN ĐẤT VÀ NƯỚC

1.1.1 Tính cấp bách của việc chống xói mòn bảo vệ đất

Xói mòn là một hiện tượng tự nhiên ảnh hưởng đến đất đai và gián tiếp đến sức sản xuất của một địa điểm, đặc biệt là trên đất dốc Sự thành lập của lớp dết mặt, nơi chứa đựng các quá khứ, tiềm năng và tương của con người, diễn ra rất chậm cả đến hàng trăm năm do quá trình phong hoá của lớp đá mẹ Tuy nhiên, hàng tấn đất mặt dễ dàng bị xói mòn trôi ra sông, ra biển trong một thời gian ngắn nếu con người không biết giữ gìn quan tâm đến sự sử dụng đất của mình Cho nên bảo tồn dết để kiểm soát

sự xói mòn cần được quan tâm vì:

Xói mòn diễn ra trên hầu hết các vùng đất dốc Đất càng dốc khả năng xói mòn càng mạnh, xói mòn phụ thuộc vào chế độ mưa và các hoạt động sử dụng đất của con người

Xói mòn đang là nhân tố quan trọng nhất làm suy thoái tài nguyên đất, làm hoang hoá các vùng đất dốc nhiệt đới, làm đói nghèo đời sống của người dân ở nhiều vùng trên thế giới

Xói mòn càng mạnh thì khả năng phục hồi của đất và tài nguyên sinh vật càng khó khăn, vật liệu bào mòn làm cạn hồ tích nước, gây lũ lụt hạn hán Chống xói mòn để bảo vệ vốn đất là một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất và là sự tồn tại lâu bền của con người trên hành tinh

1.1.1 1.1.2 Tính cấp bách của việc bảo tồn nước

Nước là một tài nguyên quan trọng cho cuộc sống của con người trên quả đất Tuy nhiên nước cũng là một tai hoạ cho chúng ta nếu quá thừa hay quá thiếu vì nó sẽ là những nguyên nhân gây ra các thiên tai như lũ lụt và hạn hán Xét đến tài nguyên nước chúng ta nên quan tâm đến số lượng, sựđiều hoà phân phối theo thời gian và chất lượng của nó Khi xã hội loài người phát triển như cầu về nước càng tăng lên vì:

Nhu cầu nước của con người ngày càng tăng lên đó là nhu cầu nước tưới cho trồng trọt, nước cho chăn nuôi, nước cho công nghiệp và nước cho sinh hoạt hàng ngày

• Nguồn nước đang ngày càng khan hiếm và mất ổn định dẫn đến hoang hoá đất đai, lũ lụt, hạn hán…

• Nguồn nước đang bị ô nhiễm (ô nhiễm hữu cơ, chất độc hoá học…)

Sự sử dụng đất đai bị chi phối bởi lưu vực nước của các hệ thống sông ngòi và càng ngày người ta càng nhận thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ của thượng lưu, hạ lưu một con sông và vùng biển cận duyên của một khu vực

Trang 2

1.2 MỘT SỐNGUYÊN TẮC CHÍNH CỦA VIỆC PHÒNG CHỐNG XÓI MÒN ĐẤT

1.2.1 Phân loại xói mòn đất

Đất bị xói mòn do nhiều yếu tố và đó cũng là cơ sở để phân thành các loại xói mòn khác nhau như sau:

Xói mòn do gió: gió làm khô và rời rạc các phần tử đất, cát và bị gió thổi đi đến nơi khác

Xói mòn do trọng lực: Đất di chuyển do chính trọng lượng của nó, có thể là đất

bị trôi theo khe, rãnh, cũng có thể do lở đất đá

Xói mòn do nước: đây là loại xói mòn do sự công phá của giọt mưa đối với lớp đất mặt và sức công phá, cuốn trôi của dòng chảy đây là loại xói mòn nguy hiểm cho vùng đất dốc khi không có lớp phủ thực vật, gây ra các hiện tượng xói mặt, xói rãnh, xói khe

Trang 3

1.2.2 Các yếu tố chi phối đến xói mòn đất

1.2.2.1 Khí hậu

Quan hệ giữa điều kiện khí hậu với tình hình xói mòn đất hết sức mật thiết và phức tạp Ví dụở nơi có độ ẩm cao do mưa nhiều dễ gây ra xói mòn Nhưng ởđâu có điều kiện khí hậu thuận lợi thì cây, cỏ sinh trưởng tết và như vậy sẽ làm hạn chế xói mòn Ngược lại ở nơi khô hạn, lượng mưa ít, cây cỏ khô cằn thì khả năng ngăn cản lực công phá của giọt mưa kém dễ xói mòn Nơi có gió mạnh làm tăng cường tốc độ rơi của giọt mưa và dễ gây xói mòn

Trong các yếu tố khí hậu thì lượng mưa ảnh hưởng trực tiếp đến xói mòn mạnh nhất, nó thể hiện qua sự phân bố mưa theo mùa trong năm và cường độ mưa Khi cường độ mưa càng lớn thì sức gõ của hạt mưa xuống mặt đất càng mạnh và làm tăng dòng nước mặt, độ xốp của đất giảm, sức thấm nước của đất giảm và làm tăng khả năng xói mòn đất

1.2.2.2 Địa hình

Địa hình là cơ sở của xói mòn đất là điều kiện gây ra dòng chảy, làm cho thế năng của nước trên mặt đất biến thành động năng Những yếu tố địa hình làm ảnh hưởng tới xói mòn đất là: độ dốc, chiều dài dốc và hình dạng mặt dốc

• Đất càng dốc, sườn dốc càng dài thì xói mòn càng mạnh

• Ngoài ra hướng dốc khác nhau thì điều kiện tiểu khí hậu cũng khác nhau vì điều kiện chiếu sáng, nhiệt độ, ẩm độ, chế độ gió khác nhau ảnh hưởng đến sinh trưởng, độ che phủ của thực vật và gián tiếp ảnh hưởng đến xói mòn

1.2.2.3 Địa chất và đất

Đất là đối tượng của xói mòn, sự phong hoá trên mỗi loại đá mẹ khác nhau sẽ hình thành các loại đất với các tính chất khác nhau, và như vậy tính chất và cường độ xói mòn ở mỗi loại đất là không giống nhau

• Hình thức xếp lớp của đá mẹ cũng ảnh hưởng tới xói mòn

Thành phần cơ giới của đất có ảnh hưởng rất lớn chế độ nước của đất và xói mòn; đất cát có sức thấm nước tết nhưng kết cấu rời rạc nên sức đề kháng với xói mòn kém, còn đất sét có sức liên kết lớn nên sức đề kháng xói mòn mạnh nhưng thường bí chặt khó thấm nước dễ tạo ra dòng chảy bề mặt mạnh gây xói khe…

Độ xốp của đất nói lên số lượng lỗ hổng trong đất nhiều hay ít do đó nó ảnh hưởng lớn tới tốc độ thấm nước và sức chứa nước của đất và như vậy có ảnh hưởng đến xói mòn

Tính chất hoá học của đất ảnh hưởng tới xói mòn đất: chẳng hạn hàm lượng chất hữu cơ cao sẽ thúc đẩy sự thấm nước vào đất; các con Ca+, Mg có ảnh hưởng tốt đến cấu tượng đất

Trang 4

• Lượng ion Na+ làm gia tăng nước chảy bề mặt làm xói mòn đất

1.2.2.5 Các hoạt động sử dụng và quản lý đất của con người

Nhịp độ tăng trưởng trong cả hai mặt dân số và phát triển kinh tế xã hội trong nhiều thập kỷ qua đã làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất Con người với các hoạt động sử dụng và quản lý đất khác nhau đã góp phần gây ra xói mòn đất và xói mòn đất đóng vai trò chủ yếu trong việc làm suy thoái đất

Các hoạt động sử dụng và quản lý đất dẫn đến xói mòn đất như sau:

Khai thác rừng không hợp lý

Phá rừng làm nương rẫy

Canh tác nông nghiệp không bền vững

Lửa rừng

Chăn thả gia súc quá mức

Xây dựng đường, cầu cống, nhà cửa, đường điện ở vùng đồi núi không hợp lý Khai thác khoáng sản không hợp lý

• Trồng rừng quy mô lớn nhưng không chú ý đến hỗn loài và chọn loại cây trồng hợp lý

1.2.3 Sử dụng các biện pháp kỹ thuật để kiểm soát xói mòn

1.2.3.1 Biện pháp cơ học và quản lý để kiểm soát xói mòn

Xây dựng các hệ thống tiêu nước

Trang 5

1.2.3.3 Các biện pháp chống xói mòn truyền thống để kiểm soát xói mòn

Làm đất và canh tác theo đường đồng mức

Luân canh, xen canh hoa màu

Che tủ mặt đất, làm đất hạn chế

1.2.4 Một số nguyên tắc chính để bảo tồn đất và nước

Bảo tồn đất và nước là một công việc cần thiết và hết sức cấp bách hiện nay nhằm

sử dụng đất bền vững, do vậy cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

Sức sản xuất của đất bị mất đi thì quan trọng hơn nhiều so với chính lớp đất bị bào mòn mất đi Do vậy, bảo vệ đất phải là một sự phối hợp các chiến thuật phát triển nông nghiệp tổng thể có trọng tâm cải thiện kỹ thuật làm sức sản xuất gia tăng Thông thường, các kỹ thuật bảo vệ đất chống xói mòn được thiết kế và triển khai trước một bước đối với kỹ thuật cải thiện năng suất cây trồng để chống xói mòn đất Tuy nhiên cả hai đều quan hệ tương hỗ với nhau và phải được triển khai đồng bộ và phối hợp

Xói mòn là kết quả của việc sử dụng đất như thế nào và chính nó không là

nguyên nhân chính trực tiếp của sự thoái hoá đất Sự thoái hoá của đất phải được ngăn chặn trước khi xảy ra, hơn là phát triển một phương án cứu chữa

Đất đã được nghiên cứu quá nhiều bởi các chương trình và dự án bảo vệ đất chống xói mòn trong khi đó nông dân là người sử dụng đất lại ít tìm hiểu vấn đề này

Do vậy, một dự án có mục tiêu bảo tồn đất và nước, giải quyết sự thoái hoá của đất phải dùng biện pháp triển khai "từ dưới lên", lấy nền tảng từ các hiểu biết của nông dân

và nông trại tại chỗ như là một hệ thống tổng thể để xem xét sự sử dụng đất Trái lại biện pháp áp đặt "từ trên xuống" thường chỉ chú trọng giải quyết các triệu chứng của xói mòn đất qua việc phân chia đất thành các bậc thềm để canh tác xen băng hay các kỹ thuật khác chỉ thành công nhất định do sự tác động của các tổ chức bên ngoài hệ thống

Ở các vùng đồi núi cao, năng suất cây trồng bị giảm sút nhiều do thiếu hay thừa nước, hơn là đất bị xói mòn mất đi Do vậy cần quan tâm hơn việc quản lý nguồn nước mưa, nhất là các kỹ thuật bảo tồn nước hơn là chỉ chú tâm vào bảo tồn đất Kết quả là, các kỹ thuật canh tác như cây bừa, tủ lớp mặt có tiềm năng và ý nghĩa cao hơn so với các biện pháp cơ giới để bảo vệ đất và nước chống xói mòn

Các nỗ lực bảo vệ đất và nước sẽ thành công hơn khi được áp dụng một cách lâu dài hơn là chỉ áp dụng trong các hoạt động ngắn hạn theo từng dự án nước cố định

Nông hộ và trang trại cụ thể là trọng tâm cho các chương trình bảo vệ đất và nước

Nông dân cần được thuyết phục bởi các lợi ích trước mắt, kết quả của các thay đổi canh tác Điều quan trọng là phải giải quyết ngay các nhu cầu cấp thiết của nông

Trang 6

dân qua việc giới thiệu các kỹ thuật canh tác sản xuất mang cả lợi ích kinh tế nhanh lẫn

có ý nghĩa phòng hộ lâu dài

1.3 MỘT SỐ KỸ THUẬT BẢO TỒN ĐẤT VÀ NƯỚC CÓ THỂ ÁP DỤNG TRONG TRANG TRẠI NÔNG LÂM KẾT HỢP

1.3.1 Canh tác theo đường đồng mức

1.3.1.1 Đặc điểm

Canh tác theo đường đồng mức trên đất

dốc là để giảm sự xói mòn đất và lượng nước

chảy bề mặt Đường đồng mức là đường

tưởng tượng nối các điểm cùng cao độ với

nhau trên một mặt dốc và nó thường trực

giao với đường nước chảy xuống Thông

thường để hạn chế xói mòn người ta trồng

các loại cây bụi hay xây dựng các rào chắn

dọc theo các đường đồng mức của mặt dốc

Trồng trọt theo đường đồng mức bao gồm

việc xây dựng bẫy đất, bậc thang hay mô đất

đồng mức, hay trồng các hàng cây đồng

mức, làm đất, cày bừa theo đường đồng mức

là kỹ thuật đang được khuyến khích phát

triển ở vùng Đông nam Á để mang lại sự bền vững cho các nông trại ở vùng cao Có nhiều cách phối hợp hoa màu với nhau, với gia súc và cây rừng trên cùng một diện tích canh tác theo đường đồng mức Hệ thống SALT đã được phát triển và áp dụng tại Philippin là một dẫn chứng về canh tác theo đường đồng mức

1.3.1.2 Lợi ích

Giảm xói mòn và nước chảy bề mặt

Giảm sự mất mát chất dinh dưỡng

1.3.1.3 Giới hạn

• Đo đạc và định hướng các đường đồng mức sai sẽ khiến cho đất bị xói mòn mạnh hơn

Đòi hỏi lao động cho chăm sóc và giữ gìn

Cần các kỹ năng chuyên môn để xác định các đường đồng mức

1.3.1.4 Điều kiện áp dụng

• Yếu tố sinh học tự nhiên:

Trang 7

-Cải thiện năng suất cây trồng và điều kiện đất là các điểm thuyết phục

-Giữ nước cho các mương tiêu nước sẽ làm gia tăng độ thấm nước vào đất và sản xuất hoa màu

• Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

-Nhiều nơi xây dựng các công trình quy mô trên đất dốc không được luật pháp cho phép, nên trong trường hợp đó canh tác theo đường đồng mức sẽ là một kỹ thuật phù hợp để thay thế

-Một số vùng nông dân có tập quán canh tác lên xuống theo dốc vì dễ thao tác các công cụ và sử dụng trâu bò hay máy cơ khí để làm đất

1.3.2 Canh tác theo bậc thang

1.3.2.1 Đặc điểm

Canh tác theo bậc thang là một kỹ thuật

canh tác bảo vệ đất, thường được sử dụng trên

đất dốc, sườn núi để giữ nước và kiểm soát chống

xói mòn Chúng được xây dựng bằng cách đào và

đắp đất tạo nên các bậc thềm giống như bậc

thang đi lên xuống Cấu tạo này giúp nước thấm

từ từ vào đất Các hệ thống bậc thang có thể được

củng cố bằng các mô đất hay các hàng đá xếp ở

mép mỗi bậc thang, cũng có thể trồng cỏở giữa 2

bậc thang kế tiếp nhau hoặc trồng thêm cỏ và cây

bụi thấp ở mép bậc thang Hệ thống này rất phổ

biến để trồng lúa và các loại hoa màu khác ở

vùng cao

1.3.2.2 Lợi ích

• Kiểm soát hiệu quả xói mòn đất

Các vật liệu bào mòn được giữ lại ởđáy các mương tiêu nước được đào dọc theo bậc thang

Giảm chiều dài dốc Cứ mỗi 2 - 3m chiều dài dốc lại được biến đổi thành bậc thang Do vậy vận tốc nước chảy xuống sẽ giảm

• Cải thiện được độ phì của đất lâu dài

Trang 8

Cần có kỹ năng xây dựng và bảo trì bậc thang

Bậc thang cải thiện với mặt dốc cách khoảng chiếm nhiều đất canh tác

Trang 9

1.3.2.4 Điều kiện áp dụng

• Yếu tố sinh học và tự nhiên:

Không thích hợp cho các loại đất cạn và dễ lở

Không thích hợp để trồng khoai tây vì các bậc thang sẽ bị úng nước

-Loại bậc thềm cải tạo với các bờ dốc ở giữa hai bậc thang chỉ áp dụng nơi mưa

ít

• Yếu tố dân sinh kinh tế và xã hội

-Ở vài nơi nông dân không chấp nhận kỹ thuật này vì thiếu lao động và thu nhập của họ thấp

-Thiếu sự an toàn về quyền canh tác trên đất là một nhân tố khiến các kỹ thuật canh tác bảo vệ lâu dài như hệ thống bậc thang không được nông dân chấp nhận -Trên các loại đất nghèo, hệ thống bậc thang cho tỉ lệ thu hồi vốn và lợi nhuận tháp so với kinh phí đầu tư ban đầu

1.3.3 Hoa màu che phủ đất

1.3.3.1 Đặc điểm

Người ta trồng các loại hoa màu phủ đất

để bảo vệ đất giảm xói mòn và để cải tạo đất

nhờ vào lượng phân xanh của chúng (cày vùi

các loại thân lá còn xanh hay các phẩm vật dư

thừa hoa màu canh tác) Các loài thực vật này

thường là các loại có đời sống ngắn (ít hơn 2

năm) và được trồng ngoài đất đồng ruộng hay

dưới tán các cây trong giai đoạn bỏ hoá Các

loài hoa màu phủ đất này cũng được trồng xen

hay trồng sau khi gieo trồng phân loài các loài cây lấy hạt như ngô hay được trồng một lần vào chu kỳ canh tác hoa màu Kỹ thuật trồng hoa màu phủ đất thường được áp dụng

ở Việt Nam và các nước khác ở vùng châu Á để loại trừ cỏ dại dưới rừng cao su hay dừa và nhằm mục đích cung cấp thức ăn cho gia súc Hoa màu phủ đất còn được trồng trong các hệ thống bỏ hoá để cải tạo độ phì của đất nhanh chóng và rút ngắn được giai đoạn bỏ hoá

Phần lớn các loại hoa màu che phủ đất để làm lớp che phủ và tạo phân xanh Thí

dụ như

Sắn dây dại (Pueraria tokinensis)

Đậu bướm (Clitoria tematea)

Trang 10

Đậu xanh (Vigna radiata) Cỏ kudzu (Pueraria phaseoloides) Đậu triều (Cajanus cajan) Cốt khí (Tephrosia candida) Điền thanh (Sesbania sp.)

1.3.3.2 Lợi ích

Cải thiện độ phì và lý hoá tính của đất

Giảm xói mòn và thất thoát nước

Cản trở cỏ dại phát triển

Giảm dùng phân hoá học và thuốc diệt cỏ

Cung cấp lương thực cho người và cỏ nuôi gia súc

Tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất

Giúp giữ độ ẩm của đất và bảo vệ đất khỏi bị khô hạn

Một vài hoa màu phủ đất có thể cho thu nhập

1.3.3.3 Các giới hạn

Có thể cạnh tranh nước và chất dinh dưỡng với cây lâu năm

Có thể phát triển thành cỏ dại

Có thể làm nơi trú ẩn cho sâu bệnh hại

• Một vài loài có thể tiết ra các chất hoá học cản trở gây trồng cho các loài hoa màu tiếp sau

• Chuột và rắn có thể trú ẩn trong lớp che phủ đất

1.3.3.4 Điều kiện áp dụng

• Yếu tố sinh học tự nhiên

-Không thể áp dụng ở những nơi đất quá dốc

-Góp phần và cải tạo độ phì của đất

-Một vài loại hoa màu che phủ ra hoa kết quả rất nhiều do đó rất khó kiểm soát; trong khi các loài khác lại không ra hạt đều đặn và tết do các điều kiện khí hậu của nơi trồng

• Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

-Làm giảm dùng thuốc diệt cỏ và lao động làm cỏ

Trang 11

- Nông dân có đất thuộc diện chỉ sử dụng đất đai ngắn hạn sẽ không thích chấp nhận kỹ thuật này

-Hoa màu che phủ tạo nên thu nhập ngắn hạn thấp

-Hoa màu che phủ thường không sản xuất các lợi ích thiết yếu (như lương thực, hạt giống v.v )

-Nhiều loại hoa màu che phủ rất thích hợp cho gia súc ăn Chúng là nguồn cung cấp cỏ tươi hữu hiệu cho trâu bò, gia súc khác nhưng rất khó bảo vệ với nơi có tập quán thả rông gia súc để kiếm cỏăn

1.3.4 Luân canh hoa màu

1.3.4.1 Đặc điểm

Căn cứ vào việc áp dụng một cách phổ biến của nông dân, luân canh hoa màu được đánh giá là một kỹ thuật bảo vệ đất và nước quan trọng nhất ở vùng Đông Nam

Á Rất nhiều loại hoa màu

được canh tác liên tiếp nhau,

loài này kế loài kia, trên cùng

một diện tích Sự bố trí canh

tác này thay đổi theo thời gian,

nhưng tất cả đều được xây

dựng để: cải tạo lý hoá tính và

tình trạng màu mỡ của đất

canh tác

Mỗi loại hoa màu đòi hỏi một cách khác nhau về đặc điểm đất đai nơi mà nó được canh tác Mặt khác, mỗi loại lại phải để lại vài lợi ích cho đất như các phế phẩm còn lại hay có vài ảnh hưởng tích cực cho kết cấu của đất Một hệ thống luân canh tốt sẽ quan tâm đến các đặc điểm này của từng loại hoa màu được trồng - cái gì mất đi và được trả lại cho đất - làm sao cho tổng thể thay đổi sẽ có một ảnh hưởng cải thiện đất nói chung Trong các hệ thống nông lâm kết hợp, thành phần cây lâu năm có thể được biến đổi sau một thời gian dài, thường không dưới một năm Kỹ thuật nông lâm kết hợp cần một phương án lâu dài để áp dụng luân canh, triển khai một loạt nhiều loại hoa màu, mỗi thứđược bố trí thống nhất trong một chu kỳ canh tác

Một kiểu canh tác luân canh thường thấy là lúa -đậu xanh - ngô -đậu ma hay các loại dậu khác Một vài loại hoa màu được trồng như bộ đậu làm gia tăng đạm của đất,

như đậu xanh (Vigna sinensis) được trồng với lúa (oriza sativa), để cung cấp đạm trở lại cho dết mà đã bị lúa hấp thu Tương tự đậu ma (cowpea: Vigna radiata) với khả

năng định đạm và ảnh hưởng tốt đối với đất của nó, thường được trồng sau cây ngô

(Zea mays) là một cây hấp thụ nhiều đạm từ đất

Trang 12

1.3.4.2 Lợi ích

Rất hiệu quả để cải thiện độ phì của đất

Giảm sự thất thoát chất dinh dưỡng

Giúp giữ năng suất của hoa màu

Làm đa dạng các loài canh tác

Giúp kiểm soát sâu bệnh hại

1.3.4.3 Các giới hạn

Có thể khó khăn nơi nguồn nguyên liệu sản xuất nghèo nàn

Ít được áp dụng cho những cây hoa màu lâu năm

• Đôi khi đòi hỏi người nông dân phải trồng những loại cây không hợp với sở thích của họ

1.3.4.4 Điều kiện áp dụng

• Yếu tố sinh học tự nhiên

-Trong khi một vài yếu tố dinh dưỡng vẫn còn đòi hỏi bón thêm, luân canh vẫn tiếp tục sử dụng loại này để cốđịnh sức sản xuất của việc canh tác

- Luân canh hoa màu có thể được xây dựng để phát huy hiệu quả tốt của nó trên đất nghèo kiệt

• Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

Có thể tăng thu nhập lâu dài, nhưng có thể cho thu nhập thấp trước mắt

Có thể cung cấp bữa ăn thay đổi cho người

-Chính sách đất đai không rõ ràng sẽ làm nản lòng người áp dụng các kỹ thuật canh tác bảo vệđất

-Có thểđòi hỏi lao động cao - một khó khăn nơi có sự tâm canh theo mùa

Trang 13

1.3.5 Trồng cỏ theo băng

1.3.5.1 Đặc điểm

Trồng cỏ theo đường đồng mức sẽ tạo ra trướng ngại để làm giảm xói mòn và nước chảy bề mặt Nó thúc đẩy tạo ra các bậc thang tự nhiên trên đất đồi dốc ngay cảở năm thứ nhất, vì đất bị bào mòn được giữ lại phía trước các rào cản này

Cỏ có thể được trồng dọc theo đáy và sườn của đê để cố định đất và để ngăn ngừa xói mòn ở phần dốc trên cao Cỏ cũng thường được trồng ở mô đất đắp ven bậc thang

để cố định giảm xói mòn và ổn định bậc thang

Cỏ được cắt tỉa định kỳ (sau 2 - 4 tháng) để ngăn chúng ra hoa, che bóng hay phát triển ra vùng đất canh tác giữa 2 băng cỏ Do vậy kỹ thuật trồng các băng cỏ chống xói mòn là rất thích hợp cho nông dân có hệ thống nuôi gia súc tại chỗ và cắt cỏ cho chúng

ăn Cỏ cũng có thểđược sử dụng làm vật liệu tủ gốc cho các loại hoa màu

Trên đất đồi dốc, hạt cỏ, cành hoặc bụi cỏ được trồng thành hàng đôi dọc theo đường đồng mức với khoảng cách là 50cm Trồng trên bờđê mật độ của cỏ dầy hơn, còn ở trên mép bậc thang cỏ được trồng theo hình nanh sấu có khoảng cách 30cm x 20cm Các loài cỏ thường dùng để cản xói mòn là cỏ Setana (Setaria ancaps), cỏ ruzi (Brachiaria ruziiensis), cỏ voi (Pennisetum purpureum), NB21 cỏ vơi lai, sả

(Cymbopogon citratus), và cỏ Vetiver (Vetivena zizannoides)

1.3.5.2 Lợi ích

Hạn chế xói mòn đất và nước chảy bề mặt

Cung cấp cỏ cho gia súc

Cỏ được dùng vật liệu tủ

Trang 14

1.3.5.3 Các giới hạn

Cần công lao động để chăm sóc các băng cỏ

Dùng vật liệu cỏ để tủ bề mặt có thể tạo nên cỏ dại phát triển

Trồng cỏ cạnh tranh diện tích đất dành để trồng cây lương thực

1.3.5.4 Điều kiện áp dụng

* Các yếu tố sinh học tự nhiên

-Không được áp dụng trên đất quá dốc hay các vùng đất có mưa kéo dài

-Cỏ không thể sống ở các vùng khô hạn

* Các yếu tố dân sinh kinh tế xã hội s

-Nông dân có thể không có đủ thời gian để quản lý thâm canh cỏ nên dễ để thành

cỏ dại

-Trong các hệ thống truyền thống nông dân có tập quán thả rông gia súc, nên họ

sẽ không chấp nhận hệ thống chăn nuôi một chỗ và cắt cỏđem về

-Nông dân sợ khu trồng cỏ một số loài gậm nhấm sẽ trú ẩn và phá hoại hoa màu lương thực kế cận

-Nguồn giống cỏ để trong không sẵn cho một số nơi ở vùng cao

-Nếu nông dân không nuôi gia súc, họ không quan tâm đến kỹ thuật này

1.3.6 Trồng cây xanh thành các băng theo đường đồng mức

1.3.6.1 Đặc điểm

Các băng cây xanh là kỹ thuật trồng đơn

giản để giảm xói mòn trên đất dốc Các loại

cây hay bụi cố định đạm, cỏ, cây ăn quả, hay

các loại hoa màu như dứa, chuối được trồng

theo đường đồng mức Rất nhiều loài cây và

hoa màu được đưa vào trồng thêm trong băng

để tăng thêm thu nhập và đa dạng sản phẩm

của nông trại Các băng sẽ giảm dòng chảy của

nước mưa và giữ đất lại để dần dần tạo thành

Trang 15

1.3.6.2 Lợi ích

Hạn chế xói mòn

Cải thiện độ phì và độẩm đất

Cung cấp sinh khối làm phân xanh

Tạo bóng che thích hợp cho cây khác

Nguồn thức ăn cho gia súc, củi và các vật liệu khác

Cải thiện được cấu tạo và độ thấm nước của đất

Cung cấp vật liệu tủ bề mặt đất

1.3.6.3 Các giới hạn

Mất một phần đất canh tác do trồng các băng cây đồng mức (ít nhất là 10% đất canh tác bị mất)

Băng cây cạnh tranh với hoa màu trồng trong băng giữa về ánh sáng, dinh

dưỡng và nước Cắt xén rễ và tỉa lá và cành nhánh có thể hạn chế sự cạnh tranh

• Các loài cây trên các băng có thể là nơi ký gởi và phát triển của sâu bệnh hại -Sự giữ nước hiệu quả các lượng nước mưa lớn có thể gây cho đất ngập úng và lở nhất là ở các triền dốc

1.3.6.4 Điều kiện áp dụng

* Các yếu tố sinh học tự nhiên

-Nhiệt độ cao hay thấp quá có thể làm hư hại các băng đã trồng

-Rất khó khăn để trồng các băng đồng mức trên đất dốc (> 50%)

-Phần lớn các cây bộ đậu cố định đạm đều không thích ứng phát triển trên đất a xít

* Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

Thiếu hạt giống của cây trồng làm băng

Thiếu tiền để mua hạt giống cần thiết

Thiếu thời gian và lao động để xây dựng các băng cây đồng mức

-Không có chủ quyền hay sử dụng đất lâu dài

-Nông dân sợ các băng cây không sản xuất lương thực, thực phẩm

-Nông dân nghĩ rằng các băng sẽ cạnh tranh mạnh đến hoa màu và là cây chủ cho dịch bệnh

-Nông dân canh tác theo lối truyền thống sử dụng phương pháp và dụng cụ đơn giản để làm việc, họ không thích băng cây và canh tác theo đồng mức vì bất tiện

Trang 16

1.3.7 Đai đổi hướng chảy theo đường đồng mức

1.3.7.1 Đặc điểm

Các đai đổi hướng nước chảy được đào dọc theo các đường đồng mức ngang qua đồi với mục đích thu lượng nước chảy trên bề mặt đất và chuyển hướng nước chảy về các hướng nhất định Các đai đổi hướng này xây dựng đất chính để bảo vệ đất và nước

ở vùng đất đồi dốc Các kênh và đê này được đào và đắp theo nhiều khoảng cách khác nhau tuỳ theo độ dốc của đất; độ dốc càng lớn, thì khoảng cách càng gần Kích thước của đai và kênh là rộng im ở mặt đai, rộng 0,5m ởđáy kênh và sâu 0,5m

* Yếu tố sinh học tự nhiên

-Để hiệu quả, đai và kênh phải được xây dựng theo đúng các đường đồng mức chính xác Nông dân phải biết dùng khung chữ A hay ống nước thăng bằng để xác định các đường chính xác này

* Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội Một phần đất canh tác bị mất để dành xây dựng các đai

và kênh

Trang 17

-Đổ nước vào đường nước chảy ở nông trại kế cận có thể gây ra một tranh chấp về mặt

xã hội

Trang 18

1.3.8 Rào cản cơ giới

1.3.8.1 Đặc điểm

Các rào cản cơ giới xây dựng trên mặt đất dốc để hạn chế tốc độ nước chảy trên

bề mặt và giữ đất bị bào mòn bởi hiện tượng xói mòn bề mặt Các kiến tạo này có thể được làm bằng gỗ hay đá; theo thời gian, chúng có thể tạo thành hàng rào cản cây sống

Ở Philippin và Papua New Guinea các rào cản được làm bằng khúc gỗ và cành nhánh xếp dọc theo đường đồng mức của đất đồi dốc Thường người ta đóng các cọc gỗ để giữ chúng lại Phía trên của rào cản cỏ và các vật liệu hữu cơ khác được xếp dọc theo

để giữ đất bị cuốn trôi theo dòng nước

Khoảng cánh của giải đất giữa hai rào cản thay đổi tuỳ theo độ dốc của đất, nhưng thường chỉ biến động từ 4 đến 8m Các loại hoa màu như ngô, khoai lang và thuốc lá được trồng trên các giải đất ở giữa

1.3.8.2 Lợi ích

Giảm lượng nước chảy tràn bề mặt

Giữ các phẩm vật bào mòn lại

• Nếu bảo vệ thích hợp có thể phát triển thành các bậc thang trong một thời gian

• Cho phép nông dân canh tác trên đất dốc nơi mà thường không thích hợp để canh tác

Trang 19

1.3.8.3 Các giới hạn

Các rào cản bằng gỗ không bền do bị mục trong vòng 2 đến 5 năm

Xây dựng rào cản đòi hỏi công lao động

1.3.8.4 Điều kiện áp dụng

* Yếu tố sinh học tự nhiên

-Để được nông dân chấp nhận nếu đất có độ dốc trung bình ít hữu hiệu để canh tác hoa màu

* Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

-Đôi khi nông dân không có đủ lao động để làm rào cản

Nông dân chỉ chấp nhận làm rào cản để

trồng loài hoa màu có giá trị kinh tế cao như

trường hợp thuốc lá ở Philippin

1.3.9 Bờ tường đá

Ở những vùng đất có nhiều đá, bờ tường đá là

thích hợp

Dọc theo đường đồng mức và phía trên hàng đám

cây bụi đồng mức, cắt ngang mặt dốc làm bề mặt để đặt

và giữ chặt các hòn đá lên nhau

Nếu có đủ đá, chất bờ tường đá cao ngang với

điểm giữa của hai đường đồng mức

Trồng cây bụi đa dụng ởđáy của bờ tường đá

chúng sẽ cố định và giữ chắc bờ tường cũng như sẽ

cung cấp lá cây cho gia súc

Điều kiện áp dụng: Nơi có đá lẫn vào đất, nông

dân kết hợp dọn đái xếp trên đường đồng mức Đầu tư

lao động để xây dựng ban đầu khá lớn

1.3.10 Các bẫy đất

1.3.10.1 Đặc điểm

Các bẫy đất là các kiến tạo để giữ đất bị bào mòn từ đầu nguồn lại Các kiểu thông thường nhất là hố và hào giữ nước được thiết kế trong lòng các kênh đổi hướng hay đường tiêu nước

Một hố nước làm giảm tốc độ của dòng chảy và giúp các phần tử đất bị bào mòn lắng lại tại chỗ Kích thước của hố tích nước tuỳ thuộc vào tầm cỡ của đường nước chảy

và các kênh tiêu cần được bảo vệ Các rào cản chặn đất có thể được làm bằng cọc thân,

Trang 20

cành của cây đỗ mai (Gliricidia sepium), tre, đá tảng, lóng gỗ hay các vật liệu có sẵn tại địa phương Hào là những hố giữ nước lớn và dài dọc theo mô cản để bổ sung thêm cho các kiến tạo khác Một hào thường có kích thước chừng im dài 0,5m; rộng 0,8m sâu

và bố trí nằm phía trên một mô đất đồng mức chừng 1m đến 2m Mục đích của các kiến tạo bẫy đất là giữ đất và giữ nước lại thời gian ngắn để tăng khả năng thấm nước Đất giữ lại trên các hố và hào nước

được nạo vét thường xuyên và chuyển đến

đồng ruộng bên cạnh

1.3.10.2 Lợi ích

Ngăn chặn sự phát triển và mở sâu

rộng các khe xói

Tạo điều kiện tết để các vật liệu bị

bào mòn giàu chất dinh dưỡng lắng đọng

lại

Giảm tốc độ nước chảy ở các khe

xói mòn và đường nước chảy

Nơi đất lắng tụ có thể canh tác hoa

màu

1.3.10.3 Các giới hạn

Đòi hỏi nạo vét thường xuyên để

tránh nước tràn vào bờ trong các trận mưa

lớn Các đập chắn đòi hỏi bảo trì và sửa chữa thường xuyên

1.3.10.4 Điều kiện áp dụng

• Yếu tố sinh học tự nhiên

-Vật liệu để xây dựng các bẫy đất có thể không có sẵn tại địa phương

-Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

-Cần sửa chữa các hư hại của đập chắn và phải nạo vét hố tích nước thường xuyên

-Các bẫy đất được xây dựng riêng lẻ không có các hỗ trợ bảo vệ khác sẽ không hiệu qua

Trang 21

1.3.11 Tích chứa nước ở vùng cao

Lưu vực nước phải có diện tích đủ lớn để gom nước vào hồ tích nước Số lượng nước tích được tuỳ thuộc vào tính chất và diện tích của vùng lưu vực nước và chế độ mưa của vùng Ở các nơi có lượng mưa biến động từ 1200 đến 1500mm/năm, một diện tích lưu vực nước canh tác theo hệ thống ruộng bậc thang rộng 0,2 đến 0,5 ha là đủ cho một lượng nước khoảng 1000m3 tích trong hồ chứa nước biến động từ 0,6 đến 1,0 ha là

đủ để tạo ra một thể tích nước như trên Đối với các nơi khô hạn có lượng mưa hàng năm thấp hơn, sự tích chứa nước vẫn tiến hành được với điều kiện khu vực lưu vực nước phải có diện tích lớn hơn

Địa điểm để xây dựng các hồ tích nước nhỏ có thểở chỗ cao hay ở vùng đất thấp, thung lũng nơi có thể lợi dụng lượng nước chảy thiên nhiên Các nơi thuộc nước chảy của cộng đồng nên quản lý thích hợp để chia xẻ lợi ích cho tất cả thành viên Nếu chọn lựa nơi có các mạch nước chảy quanh năm càng tết để có nước tưới quanh năm Nên chọn ở những nơi có độ dốc với các đồi dốc biến động từ 2 đến 18% là thích hợp nhất

1.3.11.2 Lợi ích

Để cải thiện được sự sản xuất lương thực, thực phẩm

Thúc đẩy sự cân bằng bảo tồn sinh thái

Đầu tư thấp trên mỗi diện tích canh tác có thu nhập cao

Hạn chế tác hại của khô hạn

Giúp dẫn nước tưới bằng trọng lượng

Trang 22

Phần lớn xây dựng và quản lý cá thể nên tránh được các tranh chấp xã hội

Trang 23

1.3.11.3 Các giới hạn

Đòi hỏi lao động nhiều để xây dựng

Khả năng thất thoát nguồn nước do bốc hơi và rò rỉ (tuỳ theo loại đất)

Các loài thực vật thuỷ sinh và bèo nổi có thể xâm nhiễm hồ tích nước

• Không thể kiểm soát lượng nước chảy tràn trong các trận mưa lớn có thể gây hư hại cho hồ và đê tích nước

• Thiết kế và xây dựng kém dẫn đến xói mòn và lụt

1.3.11.4 Điều kiện áp dụng

* Yếu tố sinh học tự nhiên

-Các loại đất không giữ được nước và có độ thấm thoát cao cần được tráng đáy hồ bằng giấy plastic hay sét nặng

* Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

-Nông dân có thể không ưng thuận để dành một diện tích đất làm hồ chứa nước -Chính sách sử dụng đất đai có ảnh hưởng quyết định của nông dân

-Không có đủ lao động

-Vốn vay hay vốn của nông trại có thể không sẵn có

-Đòi hỏi các kiến thức và kỹ năng để xây dựng và quản lý hồ và hệ thống thuỷ lợi nhỏ

1.3.12 Canh tác nương rẫy không đất

1.3.12.1 Đặc điểm

Đây là kiểu canh tác quảng canh rất phổ

biến ở các nước Đông Nam á, đặc biệt là để

canh tác lúa nương và khoai sọ, hệ canh tác

lấy cây sắn là cơ bản Nó còn được gọi là

kiểu canh tác du canh, phát chọc lỗ bỏ hạt

Tuy nhiên phần lớn là sau khi phát để khô

rồi đất và chọc lỗ, bỏ hạt, còn phương thức

canh tác nương rẫy không đất có nhiều ưu

điểm hơn đất (nông dân ở Papua New

Guinea sau khi chặt phát cây thì không đất

mà dọn xếp theo đường đồng mức, sau đó chọc lỗ và bỏ hạt một cách đơn giản)

Trang 24

1.3.12.2 Lợi ích

• Sử dụng các chất dinh dưỡng chứa trong sinh khối của thảm thực vật

Kiểm soát cỏ dại trong 3 tháng đầu và hoa màu mọc nhanh giữ được độ ẩm của đất Đây là một phương pháp đơn giản để chuyển hoá đất rừng thành đất canh tác

• Lớp thực vật không đất che phủ đất ngăn cản lực xung kích của giọt mưa tăng lượng nước thấm vào đất hạn chế dòng chảy mặt

Phối hợp để canh tác hoa màu có của

Không gây khả năng cháy rừng

1.3.12.3 Các giới hạn

• Dễ làm xói mòn đất và thất thoát dinh dưỡng của hệ sinh thái

• Chỉ có thể dùng khi làm đất có giới hạn hay canh tác không cần làm đất, nhất là khi lớp phủ thực vật nhiều

1.3.12.4 Điều kiện áp dụng

* Yếu tố sinh học tự nhiên

-Không thể trồng hoa màu dày tối đa do đất dốc khó canh tác

* Yếu tố dân sinh kinh tế xã hội

-Cần nhiều công lao động để phát rừng

Kỹ thuật làm đất tối thiểu (như cuốc hố, trọc lỗ để tra hạt, trồng cây

Kỹ thuật chăn nuôi gia súc gia cầm trong chuồng

Các kỹ thuật này đơn giản và cũng có thể áp dụng trong trang trại nông lâm kết hợp góp phần sử dụng đất bền vững

Trang 25

1.4 KỸ THUẬT LÀM THƯỚC CHỮ A VÀ XÁC ĐỊNH ĐƯỜNG ĐỒNG MỨC BẰNG THƯỚC CHỮ A

1.4.1 Cách làm một khung chữ A

Khung chữ A là một dụng cụ tự làm, đơn

giản cho nông dân ít có điều kiện hiểu biết và

trang thiết bịđo đạc đắt tiền để xác định các

đường đồng mức Bất kì một nông dân cá thể

- 3 cây tre hay gỗ có đường kính 3 - 4 râm

(2 thanh phải có chiều dài 2,1m và thanh còn lại

dài 1,2m)

-Dây bền, chắc để buộc hay đóng đinh

-Một viên đó bằng nắm tay hay bất kỳ vật

nào nặng tương tự

Buộc hay đóng đinh 2 thanh dài ở 1 đầu

cách phân cuối chừng 10 cái Phải đảm bảo chúng được buộc chắc chúng vào nhau tạo thành chân của một khung chữ A nên tạo các khấc ở tại nơi tiếp xúc để cho 2 thanh cây không được lên nhau

Kéo hai chân và buộc chắc với thanh cây ngắn hơn còn lại để tạo thần khung chữ

A Buộc hay đóng đinh chắc thanh ngang (khoảng kiếm từ mỗi đầu thanh làm chân) vào điểm giữa của mỗi chân chữ A Thanh ngang sẽ đỡ và giữ cho chân của khung

và sẽ dùng để hướng dẫn trong công việc xác định mặt ngang của vị trí

4 Cột một đầu sợi dây vào đỉnh của khung

5 Đầu dây còn lại được buộc vào một viên gạch, đá làm dây dọi, viên đá phải đủ nặng để khi cân bằng nó sẽ không bị lay động bởi gió Vị trí của viên đó phải ở dưới thanh ngang khoảng 20cm

1.4.2 Cân bằng khung chữ A

1 Tìm một bề mặt đất có mặt bằng hộp lý và đặc khung chữ A ở vị trí ngay thẳng đánh dấu 2 vị trí nơi các chân (A và Bị của khung chạm mặt đất (hình 1) Sau đó đánh dấu thanh ngang nơi dây dọi cắt qua

2 Đổi ngược vị trí của các chân khung chữ A sao cho chân A tiếp xúc mặt đất ở điểm đã đánh dâu B và ngược lại Một lần nữa, đánh dấu lại thanh ngang nơi dây dọi

Trang 26

cắt qua Nếu 2 điểm làm dấu chồng lên nhau, điều đó có nghĩa là đã tìm ra điểm giữa của thanh ngang và rằng khung chữ A đã được đặt trên mặt đất bằng Nếu 2 điểm làm dấu cách nhau, đánh dấu điểm cân bằng ở giữa 2 dấu trên (xem hình 2)

3 Để chính xác, di chuyển 1 chân vòng quanh cho đến khi dây dọi cắt qua lại ởđiểm giữa Đánh dấu vị trí của chân tại vị trí này và hoán chuyển chân của khung, nếu dây dọi vẫn cắt qua cùng điểm thì điểm cân bằng khung chữ A đã được xác định

Trang 27

1.4.3 Xác định đường đồng mức

Cắt cỏ mọc cao và dời các chướng ngại vật giúp

chúng ta đi lại dễ dàng, hai người thực hiện công

việc này là nhanh và dễ làm, một người dùng

khung chữ A trong khi người kia đánh dấu vị trí

của đường đồng mức

Bắt đầu từđiểm cao nhất của đất canh tác, dẫn các

cọc đầu tiên ở rìa khu vực và đặt vị trí của khung

chữ A ở gần sát và ngay ở trên cọc

Điều chỉnh chân phải của khung chữ A sao cho

dây dọi đi ngang qua điểm giữa của than ngang

(điều này có nghĩa là chúng ta đã xác định được

đường đồng mức) Đánh dấu điểm này bằng cách

đóng một cọc khác ngay ở sát trên chân phải

khung chữ A

Di chuyển khung chữ A sang bên phải bằng cách

đặt chân trái của khung chữ A ở vị trí chân phải

của khung ở lần cân bằng trước Điều chỉnh lại

khung để khung cân bằng, 1 lần nữa đánh dấu vị

trí chân phải bằng 1 cọc Tiếp tục làm cho đến ranh

giới đối diện của khu vực

Lập lại các bước 2 - 4 cho đến khi chúng ta vạch

được đường đúng mức đến chân của đồi dốc

Khoảng cách thẳng đứng giữa các đường đồng

mức nên là 1,5 m (khoảng cách sẽ thay đổi tuỳ

theo độ dốc của đồi) mà chúng ta có thể xác định

dễ dàng nhưở hình 3 bằng tầm vóc của một người

cao 1,6 m

Sau khi các đường đồng mức đã được xác định,

nên điều chỉnh một vài cọc mốc để tạo nên đường

cong hợp lý, thẩm mỹ cho đường đồng mức tránh

ảnh hưởng của thế đất bất đều Để thực hiện, đơn

giản chỉ dịch lại các cọc lệch quá xa đường đồng

mức

Trang 28

1.5 KỸ THUẬT CANH TÁC NÔNG LÂM KẾT HỢP TRÊN ĐẤT DỐC

Tàn phá rừng, xói mòn đất và kỹ thuật trồng không thích hợp là ba nguyên nhân chính yếu gây ra sản lượng thấp trong canh tác nông lâm đưa lại tình trạng nghèo đói triền miên ở vùng cao Kỹ thuật nông lâm kết hợp đang ngày càng trở nên một trong các kỹ thuật bền vững cho một nền sản xuất cung cấp lương thực đầy đủ và tạo thêm thu nhập cho vùng này SALT-3 là một kỹ thuật nông lâm kết hợp trên đất đồi núi mà sau đây là cách thức để xây dựng nó:

Bước 1: Tạo dựng vườn ươm nông lâm

Bảo đảm cung cấp đầy đủ vật liệu gây trồng cho trang trại nông lâm bằng cách xây dựng vườn ươm tại chỗ Một vườn ươm có kích thước 5m x 10m có thểđáp ứng đủ nhu cầu về vật liệu gây trồng cho 2 ha đất

Hãy xây dựng vườn ươm ở nơi thuận tiện cho việc đi lại với các khu sản xuất như: luống đặt bầu, nơi cấy cây con, luống gieo hạt v.v Các thiết bị cơ bản cần có là vòi tưới phun, xẻng, thuổng, cuốc, mai bóng cây, cào v.v

Bước 2: Chăm sóc nuôi dưỡng cây con

Để cây con sinh trưởng tốt và có tỉ lệ sống cao sau khi trồng, phải tạo cây con khoẻ mạnh và chất lượng cao

-Gieo hạt: Phần lớn các hạt cây của lâm nghiệp thường có vỏ cứng khó nảy mầm nên cần xử lý trước bằng biện pháp cơ học hay nước nóng Trở ngại thông thường cần được quan tâm khi hạt nảy mầm là bệnh rạp cây hay bệnh lở cổ rễ và côn trùng ăn lá cây Do vậy phải khử trùng đất trước khi gieo hạt để tránh bệnh rạp Chỉ dùng thuốc sát trùng khi cần

Luống gieo hạt và luống cây, cây con phải được giữẩm thường xuyên, phải tủ bề mặt liếp và che bóng cho cây con

* Cấy cây con: Cắt xén rễ các loài cây được trồng theo cách trồng cây con rễ trần (Nhạc ngựa, Tếch ) Không để cỏ dại cạnh tranh với cây cấy Bón phân được tiến hành song song với tưới nước trong thời gian cách xa thời điểm xuất cây đi trồng Hoà tan phân hỗn hợp (14 - 14 - 14 hay 15 - 15 - 15 ) với nước theo một tỷ lệ 10g cho một lít nước Huấn luyện cây con cứng cáp từ từ bằng cách để cây con chịu đựng với các điều kiện khó khăn tương tự nơi trồng Nên việc thực hiện điều này từ 3 - 6 tháng trước khi trồng cây Cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn phải có khả năng chịu đựng tốt, tán phát triển tết và hệ rễ phát triển dày với nhiều rễ lông hút mịn

Bước 3: Trồng cây lương thực và hoa màu trên nửa phần dưới của nông trại

Nên trồng cây hằng năm ở các băng thứ nhất và thứ hai Băng là giải đất rộng từ 4

- 5m chạy theo đường đồng mức Tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh của nông trại, chọn

Trang 29

trồng các loài cây lâu năm như Chanh, Cà phê, Ca cao, Chuối, Tiêu… ở tất cả các băng thứ 3 Sau đó, trồng xen với chúng các loài cây ăn quả lâu năm như: Chôm chôm, Sầu riêng, Dâu da, ổi, Nhãn, Vải, Na, Cam, Quýt, Hồng xiêm, Quất hồng bì… theo các khoảng cách thích hợp Càng trồng sớm cây lương thực hoa màu, sẽ càng được nhanh chóng thoả mãn các nhu cầu thiết thực theo các bước của SALT -Để trồng cây hoa màu hàng năm

Bước 4: Chuẩn bị địa điểm trồng cây gỗ lâu năm

Chọn địa điểm trồng cây rừng ở nửa phần trên cao của trang trại nông lâm, dành phần dưới thấp cho canh tác hoa màu được hưởng các lợi ích phát sinh ra từảnh hưởng của cây gỗ như: Chất dinh dưỡng, độ ẩm được bảo vệ Ở những nơi đất quá dốc và bị xói mòn mạnh, phải chú ý tránh thúc đẩy xói mòn do khai quang khu vực Có thể xử lý thực bì từng phần hay toàn diện sao cho phù hợp với điều kiện của thực tế, tránh đất thực bì

Bước 5: Phân lô và cự ly trồng cây gỗ nhằm đạt 3 mục tiêu như cải tạo đất, cung

cấp chất đất sản xuất gỗ xây dựng có thể sử dụng khoảng cách cây trồng gần băng kỹ thuật trồng cây với mật độ lớn trong các lô trồng rừng nhỏ

Bước 6: Trồng cây

Việc này tiến hành càng sớm càng tết với các tỉnh phía bắc nên trồng vào vụ Xuân hoặc Thu còn ở các tỉnh phía Nam nên tiến hành từ đầu mùa mưa đến giữa mùa mưa để cây trồng có thể sống được trong mùa khô kế tiếp

Nên trồng cây theo đường đồng mức mặc dù điều này không bó buộc chặt chẽ Lưu ý không làm vỡ bầu đất khi đặt cây con trồng Mặt bầu phải hơi thấp hơn hoặc bằng với miệng hố trồng Đất phải được lấp vào hố và được nén chặt quanh cây con

Để giúp cây con hồi phục tại đất thoái hoá, nên bón lót từ 50 đến lòng phân hỗn hợp (14-14-14) trộn với phân me (46-0-0) theo tỷ lệ 50:50 Nên tủ gốc để đảm bảo cây con hồi sức nhanh

Bước 7: Trồng xen cây và hoa màu

Các loài cây hoa màu và cây thu hoạch nhanh và trung bình được xen trong phần đất trồng cây lâm nghiệp trong 2 năm đầu Các loài cây thu hoạch lâu dài như tiêu đen

và mây song có thể được trồng từ năm thứ hai Có thể nuôi thêm gia cầm như : ngỗng,

gà tây, vịt và gà cũng như các loại gia súc nhỏ như dê, cừu dưới tán cây trồng lâm nghiệp trong những năm kế tiếp

Để quản lý đất hiệu quả, luân canh trồng cây ngắn ngày bằng các loài cây bộ đậu với các loài cây không phải bộ đậu trong từng khu vực canh tác

Bước 8: Cải thiện quần thụ cây rừng

Trang 30

Ngoài chăm sóc, làm cỏ quanh gốc cây định kỳ và chặt tu bổ để cải thiện quần thụ trồng phải tỉa các cá thể dị dạng và trồng dặm lại những nơi trống nếu cảm thấy cây trồng dặm có thể phát triển theo kịp

Tuy nhiên, trồng dặm là một công việc mất thì giờ và tốn kém nên chỉ thực hiện khi cần giữ mật độ cao cho rừng cây Công tác này nên làm khi tỷ lệ cây chết của quần thụ cao hơn 30%, trồng dặm cũng phải tuân thủ thời vụ và kỹ thuật như khi trồng chính

Bước 9: Thu hoạch sản phẩm nông lâm thường xuyên

Định kỳ thu hoạch sản phẩm để làm vệ sinh cho trang trại nông lâm kết hợp Tất

cả sản phẩm có ích và dùng được trong nông trại đều được thu hoạch, chế biến và tiếp thị Với lâm nghiệp, lá cây làm thức ăn gia súc, gỗ chất đất và gỗ tròn lấy ra từ tỉa thưa

là các sản phẩm thu hoạch bắt đầu từ năm thứ hai Phải tỉa thưa làng trồng thường xuyên cho đến khi rừng cây đạt đến mật độ đòi hỏi sau cùng

2 CÁC KỸ THUẬT ÁP DỤNG TRONG TRANG TRẠI NHỎ NÔNG LÂM KẾT HỢP

2.1 KHÁI NIỆM VỀ TRANG TRẠI

Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội dựa trên

cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội bao gồm một số người lao động nhất định được chủ trang trại tổ chức và trang bị tư liệu sản xuất để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế quốc doanh phù hợp với yêu cầu của sử dụng đất và lao động theo các quy định của nhà nước.Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội trong đó có các quan hệ xã hội đan xen nhau, quan hệ giữa các thành viên của hộ trang trại, quan hệ giữa chủ trang trại và lao động thuê ngoài Về mặt môi trường có thể hiểu như sau: trang trại là một không gian sinh thái trong đó diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng Không gian sinh thái trang trại có quan

hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng, môi trường bao quanh trang trại là môi trường vật lí đó là khí hậu, đất, địa hình, nước, thực vật, cơ sở

hạ tầng, đó là môi trường văn hoá xã hội, đó là môi trường chính sách thể chế

Quy mô của một trang trại có thể thay đổi tuỳ theo diện tích sản xuất của nó và nguồn lao động được huy động để sản xuất cũng như mục đích sản xuất như trang trại kinh tế lớn, trắng vừa và nhỏ của gia đình, trang trại để sản xuất theo hướng hàng hoá, sản xuất tự cung tự cấp hay cả hai Đặc biệt ở các vùng cao thì các trang trại nhỏ là rất phổ biến và cần thiết vì các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, và chế biến nông sản ở đây

đã góp phần cung cấp việc làm, lương thực, thực phẩm và thu nhập cho các hộ nông dân

2.2 QUẢN LÝ TRANG TRẠI NLKH

2.2.1 Quản lý các nguồn tài nguyên trong trang trại NLKH

Trang 31

Một trang trại là một hệ thống canh tác đa dạng và tổng hợp để sử dụng đất theo một mục đích nào đó Norman đã định nghĩa một hệ thống là: "bất kì một tập hợp gồm các phần tử hay thành phần mà khi hoạt động chúng quan hệ ràng buộc với nhau" Do vậy một hệ thống trang trại NLKH được xem như là một sự dàn xếp chi ly của đất, nước, tài nguyên, hoa màu, vật nuôi, công lao động và các tài nguyên khác trong một môi trường do chủ hộ quản trị theo các kinh nghiệm, khả năng và kỹ thuật có sẵn

2.2.1.1 Quản lý tài nguyên đất

Đất là tài nguyên thiết yếu để sản xuất trong nông nghiệp Để có thể xây dựng và quản lý một trang trại sản xuất bền vững chủ trang trại cần quan tâm:

-Các đặc điểm của đất: Do các trang trịa ở vùng cao thường bịảnh hưởng bởi cách canh tác nương rẫy, đất đai ởđây thường thoái hoá, nghèo và thiếu các kỹ thuật bảo tồn thích hợp nên năng xuất cây trồng và vật nuôi thấp

Địa hình và địa mạo của đất trang trại chi phối đến sự sản xuất của trang trại đặc biệt ở vùng cao như độ dốc, hướng phơi, vùng tụ thuỷ, sườn dông v.v Quan tâm đến các đặc điểm này sẽảnh hưởng trực tiếp đến các sản xuất trong trang trại nhằm hạn chế hiện tượng xói mòn đất đai

2.2.1.2 Quản lý nguồn tài nguyên nước

-Khí hậu: Bao gồm nhiều yếu tố nhưng ở vùng nhiệt đới yếu tố mà trang trại cần quan tâm hơn hết là vũ lượng và sự phân bố mưa trong năm vì đa số các trang trại NLKH đều dựa vào nước trời để canh tác Chế độ mưa phần nào đã xác định loại hoa màu cũng như thời gian canh tác

-Nguồn nước: là yếu tố quan trọng để sản xuất nên chủ trang trại cần:

• Tận dụng triệt để các điều kiện thuận lợi về nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt

• Có phương hướng sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm

Xây dựng các công trình thuỷ lợi đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm chi phí xây dựng, lợi dụng triệt để tài nguyên bảo vệ đất

• Chú ý bảo vệ các nguồn nước không bì độc hại

2.2.1.3 Quản lý tài nguyên sinh học

-Hoa màu: Một trang trại NLKH bao gồm 2 loại hoa màu chính là cây nông nghiệp ngắn ngày và cây lâu năm kể cả cây rừng Các trang trại này hiện nay có năng suất kém so với các trang trại ở đồng bằng do loại hoa màu, kỹ thuật canh tác còn thấp, đầu tư ít và có khuynh hướng sản xuất tự cung cấp Tuy nhiên, chúng lại mang tính đa dạng, bảo tồn cao, và sản xuất kết hợp với nhau giữa các thành phần

-Vật nuôi: Là thành phần đóng góp cho thu nhập của trang trại ở vùng cao, nhất là

Trang 32

trong mùa khô, là điều hoà sự lao động và thu nhập của trang trại NLKH ở vùng khí hậu gió mùa Hơn nữa, vật nuôi cũng đóng góp đáng kể cho trồng trọt qua việc cung cấp phân hữu cơ cho canh tác bền vững

-Sâu bệnh, côn trùng và cỏ dại: là các thành phần sinh học mà chủ trang trại phải xem xét do không thể tránh khỏi sự xuất hiện của các sinh vật có hại này trong canh tác Do hệ canh tác ở vùng cao đa dạng hơn nên bảo vệ thực vật ởđây ít phức tạp như ở vùng đồng bằng canh tác tham canh Các kỹ thuật bảo vệ thực vật bằng biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp (IPM) thường được các chủ trang trại quan tâm do nó

dễ phù hợp với điều kiện tại chỗ

2.2.1.4 Quản lý tài nguyên con người

Tài nguyên con người thường được phân chia làm 2 loại căn cứ vào các yếu tố nội tại hay ngoại vi

Các yếu tố từ bên ngoài (ngoại vi): Là các yếu tố mà chủ trang trại không thể kiểm soát chúng được thí dụ như cấu trúc của làng, xóm, cộng đồng, các phong tục tập quán Cây trồng và vật nuôi được sản xuất trong trang trại có thể bịảnh hưởng bởi các yếu tố này mà chủ trang trại không thể can thiệp được như vài loại vật nuôi thiêng liêng

ở một số tôn giáo Ngoài ra ảnh hưởng của các luồng đào tạo, quê hương nôi trưởng thành, các nguồn hỗ trợ từ bên ngoài, v.v.v cũng chi phối đến quyết định và hành động của người canh tác Ví dụ tín dụng hỗ trợ làm thay đổi hàng loạt về loại và quy mô sản xuất của một thành phần canh tác nào đó trong trang trại

Các yếu tố bên trong (nội vi): Đây là những yếu tố nằm dưới sự kiểm soát của chủ trang trại gồm: đất đai, lao động và vốn liếng Quyết định về diện tích sẽ canh tác,

sự dụng lực lượng lao động phù hợp cho cả năm, và nguồn vốn để sản xuất là những điểm mà chủ trang trại phải dự kiến và quản lý

2.2.2 Quản trị trang trại Nông lâm kết hợp

Đối tượng chính của kỹ thuật NLKH là các trang trại nhỏ và vừa ở vùng sâu vùng

xa Do vậy, tìm hiểu tình trạng hiện tại và môi trường sinh sống của các trang trại là quan trọng để hỗ trợ các kỹ thuật NLKH đồng thời khuyến cáo chủ trang trại có các quyết định phù hợp để sản xuất bền vững

Một nông trại nhỏ và vừa có các đặc điểm thường thấy sau:

Nông trại trước hết là nhà hơn là nơi kinh doanh Các quyết định để sản xuất loài gì và như thế nào bị chi phối bởi các suy nghĩ của các thành viên đang sống trong trang trại Lưu ý là nông hộ nhỏ thường sản xuất để thoả mãn nhu cầu cho gia đình trước khi chuyển thành sản xuất hàng hoá

Nông hộ nhỏ có khuynh hướng tiêu thụ các nông sản mà họ sản xuất nên loài cây trồng vật nuôi được chọn lựa theo sở thích của họ

-Lao động trong gia đình là chín hơn là thuê mướn lao động bên ngoài

-Thị trường của các sản phẩm không rõ ràng, nhập liệu để sản xuất bấp bênh, thời

Trang 33

tiết khí hậu bất thường, và năng suất và thu nhập kém đã gia tăng mức độ rủi ro trong sản xuất ở trang trại nhỏ và vừa

-Tài nguyên của các trang trại nhỏ bị hạn chế Vốn hạn chế, quyền sử dụng đất không rõ ràng và các dịch vụ khuyến nông, thị trường, giao thông liên lạc không đầy đủđã làm cho sản xuất ởđây trở nên rất kém và tụt hậu

-Tuy nhiên sản xuất ở trang trại nhỏ rất đa dạng vì

Sản xuất đủ loại để tự cung cấp

Giảm các rủi ro

Điều hoà thu nhập, và

Tận dụng tối đa công lao động của gia đình

Do thiếu tài nguyên, vốn sản xuất ít, giá cả nông sản thấp, sự sản xuất trong các trang trại nhỏ và vừa thường ở mức thấp hay trung bình Lao động thường theo thời vụ

vì có nhiều công việc trong canh tác Quản trị trang trại kém do thời gian bị giới hạn Kết quả này đã chỉ rõ sự phức tạp của các trang trại nhỏ và vừa Tại đây, sự sản xuất hoa màu không thể được xét riêng lẻ mà phải tìm hiểu mối liên hệ với các thành phần khác trong hệ thống Ngay cả sản xuất cây nông nghiệp ngắn ngày cũng phức tạp vì trồng nhiều loài xen với nhau Tóm lại cần nghiên cứu các trang trại này dưới góc độ

hệ thống vì chỉ giới thiệu cho họ một kỹ thuật tân tiến như giống lai có năng suất cao là không đủ mà còn xét đến các yếu tố khác như phẩm chất sản phẩm, vốn liếng, phân bón, thuốc sâu bệnh, thị trường, giá cả…

Trang trại là nơi cung cấp lao động, kỹ thuật, tiền bạc và các tài nguyên khác trong hệ thống sử dụng đất để sản xuất Khi được quy thành tiền, giá trị của sự tiêu thụ trong nông hộ cung cấp các thông tin về sự sinh sống của cộng đồng và khi phân tích ở mức độ cộng đồng, người ta có thể nhận xét mức độ của cộng đồng chi tiêu hay dành dụm Kinh tế của một trang trại bao gồm thu nhập, cũng như các tài sản và các khoản

nợ Mô tả sơ lược về kinh tế trang trại bao gồm một tiến trình xác định sức lao động, hàng hoá và thu nhập chia sẻ bởi một nhóm người sống trong cùng một gia đình và xác định các tài nguyên đầy đủ liên hệ đến các nhu cầu của họ So với các vấn đề khác, mô

tả này là một bảng cân đối giữa chỉ tiêu và thu nhập của mỗi thành viên trong nông hộ kèm theo giới tính để phân tích đặc điểm của từng đầu tư về sự quyết đặt, đóng góp, ảnh hưởng và chi tiêu

Một bản sơ lược về trang trại có thể được phát triển nhờ vào sự sử dụng của 3 công cụ đơn giản: Kiểm kê nông hộ (bảng cân đối), tình trạng thu nhập ròng của nông

hộ và ngân sách của nông hộ Tất cả thành viên của nông hộ đều phải tham gia trong quá trình sử dụng các công cụ trên nhằm đảm bảo rằng tất cả công cụ trên đảm bảo rằng tất cả các suy nghĩ của họ đều được ghi nhận và có cùng quyết định Trước khi bắt đầu dùng các công cụ trên, xác định mỗi thành viên của nông hộ bằng con số, tuổi và

Trang 34

giới tính Ngoài ra, cũng phải xác định sử dụng lao động của tất cả thành viên nông hộ

ai làm gì, khi nào, ởđâu? chịu trách nhiệm gì?

Bảng 3 Thí dụ về bản kiểm kê trang trại

Thí dụ: Kiểm kê nông hộ (bản cân đối)

Tài sản

Tài sản nông trại

Trang 35

Bảng 4: Thí dụ về bản thu chi của trang trại

Thí dụ: Thu nhập hàng năm của trang trại

Thu nhập từ hoa màu/gia súc

Thu nhập khác:

Thí dụ: (cân đối thu chi) Ngân sách hàng

năm của nông hộ:

Tình trạng thu nhập hàng năm của trang

trại

Công cụ này diễn tả nguồn và tổng số thu

nhập của nông hộ Đó là một dụng cụ rất

hữu ích cho nông hộ để phân biệt tầm quan

trọng của các hoạt động tạo thu nhập cho họ

1 Liệt kê các thu nhập do bán hoa màu và

vật nuôi quanh năm:

-Số lượng của sản phẩm tính bằng đơn vị

cái, con hay khô cho từng thứ

-Ước lượng giá hiện thời của từng sản phẩm

2 Liệt kê các nguồn thu nhập khác

3 Điền thêm vào các khoản thu nhập từ

nông trại và các nguồn khác đóng góp vào

tổng thu nhập của nông hộ Để tính thu nhập

thuần, các chi phí cho mỗi nguồn thu nhập

phải được trừđi Đây là chi phí để sản xuất

(như phân bón, hạt giống, thức ăn gia súc )

Cân đối thu chi của nông hộ

Ngân sách hàng năm của nông hộ dùng cho

nhiều mục đích:

1- Nó giúp gia đình so sánh chi tiêu của họ đối với thu nhập, 2 - Giúp họ thảo luận và đồng ý khoản nào hay hoạt động nào họ sẽ chi tiêu và 3 - Giúp

họ lập nên giới hạn (trên cơ sở tháng hay năm) để chi tiêu trong gia đình Cho các nhà phát triển nông thôn, thông tin này có thể rất ích lợi để xác định ai

là người cần được hô trợ một kỹ thuật cá biệt nào

đó (cho một lượng lao động cố định nào đó) và khả năng của nông hộ đầu tư vào các hoạt động mới với các giả định may rủi của chúng

1 Mời toàn thành viên của gia đình liệt kê các khoản chi tiêu của họ từ thu nhập

2 Liệt kê chi tiêu bình quân hàng tháng

3 Nhân với 12 tháng để tính được chi tiêu hàng năm của mỗi khoản

4 Cộng tổng số các chi tiêu hàng năm của mỗi khoản chi để có được tổng chi tiêu hàng năm của nông hộ

Số lượng

Giá đơn

vị Tổng số

Trang 36

2.2.3 Kỹ thuật quản lý trang trại giúp tăng cường bảo vệđất và nước

Cần quan tâm đến các kỹ thuật sau:

Áp dụng các kỹ thuật luân canh tết như luân canh cây lương thực với các hoa màu

họ đậu

Nên trồng xen cho vụ canh tác thứ hai Gieo các loại hoa màu thứ 2 khi loại thứ nhất còn đang phát triển, tránh làm đất them Trồng xen như trên giúp bảo vệ đất nhờ một lớp che phủ tiếm sau vụ thu hoạch đầu

Luôn luôn canh tác và trồng hoa màu dọc theo đường đồng mức để nước chảy qua các công trình phòng hộ tốt như các bờ tường đá hay đai cây bụi sống ở băng cây đồng mức

Sử dụng toàn bộ chất hữu cơ có sẵn để bón cho đất Chất hữu cơ giúp cải thiện cấu tượng đất, làm đất tơi xốp hơn và tăng khả năng giữẩm của đất Không nên đốt các

bã cây sau thu hoạch dọn vệ sinh đồng ruộng

Dùng các sản phẩm thân cành nhánh của cây và hoa màu để tạo các rào cản cơ giới giảm xói mòn

Đa dạng hoá cây trồng ở nông trại về cấu trúc và chức năng để phòng hộ đất giảm xói mòn Chú ý đến cây lâu năm trong trang trại đặc biệt ở các điểm nhạy cảm của đất trang trại

Bảo vệ rừng ở phần cao nhất của nông trại Các khu rừng này vừa phòng hộ vừa cung cấp gỗ củi và các sản phẩm có ích khác nhằm tăng thu nhập cho nông trại 8 Bảo vệ đất trong giai đoạn bỏ hoá Sử dụng các chất liệu che phủ mặt đất để bảo vệ đất khỏi phơi ra nắng gắt, bị bào mòn do gió và các trận mưa lớn…

9 Nuôi gia súc trong chuồng hay buộc tại chỗ Chăn thả tự do có thể là một trong những nguyên nhân chính gây ra xói mòn ở vùng cao Nuôi gia súc trong chuồng để tận dụng nguồn phân cải tạo đất đai

2.2.4 Kiểm soát lửa rừng trong trang trại Nông lâm kết hợp

Lửa là một tai hoạ chính trong suốt mùa khô ở các rừng mới trồng, đặc biệt là các nơi tiếp giáp với các vùng có cỏ tranh, cỏ Mỹ Sự hiện diện của cỏ khô và các loài cây che phủở rừng trồng trong suất mùa khô làm tăng nguy cơ cháy Hơn nữa do bất cẩn, một mẩu thuốc lá cháy dở vất bừa bãi cũng dễ gây cháy ở những vùng trên Để giảm nhiều nhất khả năng gây cháy trong rừng trồng, cần điều phối cỏ khô và các loài cây che phủ trong canh tác Các biện pháp kiểm soát lửa trong trong trang trại nông lâm kết hợp nhỏ có thể là:

1 Đai ngăn lửa tự nhiên: là các băng không có thực vật tự nhiên để ngăn lửa cháy lan thí dụ sông, suối, kênh đào, và đường xá là các đường ngăn lửa tự nhiên hiệu

quả Xử lý sạch hay làm giảm thực bì quanh các đai cản lửa trong mùa khô cũng làm tăng khả năng phòng lửa của chúng

2 Đường cản lửa: là các băng xử lý sạch thảm cây rộng khoảng 10m tạo nên ranh giới của rừng trồng Có thể dùng cày để tạo nên các băng cản lửa này hoặc dùng biện

Trang 37

pháp đất trước các thực bì, bồi khô nằm trên băng vào đầu mùa khô

3 Đốt lửa chặn đầu: để loại trừ các bồi khô và thực bì tránh lửa có thể cháy đến Nếu một đám cháy được phát hiện đủ sớm và gió chuyển hướng thổi đến nơi cháy thì nên tạo các đám lửa cháy lan từ ngoài đến điểm cháy để loại trừ khả năng phát triển rộng của lửa nhờđó ngọn lửa có thể được ngăn cháy lan đến rừng Đất sửa chặn đầu

ở phần cao của một sườn dốc trên ngọn lửa chính để cháy lan lên phía trên

Trang 38

2.2.5 Quản lý dịch bệnh tổng hợp trong trang trại Nông lâm kết hợp (IPM)

Quản lý dịch bệnh tổng hợp (Integrated Pest Management) là một lĩnh vực khoa học hướng về sinh thái một biện pháp quản lý quần thể loài dùng phương pháp phối hợp tất cả các biện pháp phòng trừ thành một hệ thống quản lý sâu hại Trong thực tế IPM là một chiến lược có nhiều chiến thuật nhưng trong những chiến thuật đó khuyến khích lợi dụng các nhân tố phòng trừ tự nhiên, lúc cần thiết mới dùng phương pháp phòng trừ nhân tạo

IPM cần phải chú ý:

• Phải phòng trừ sâu hại trên nguyên tắc sinh thái học

Không nên tiêu diệt hết sâu hại mà chỉ làm cho số lượng sâu hại duy trì ở mức không gây tổn thất cho kinh tế

• Phải coi trọng nhân tố khống chế tự nhiên, đặc biệt chú ý đến khống chế tự nhiên của các thiên địch, ít hoặc không dùng thuốc hoá học

Như vậy phòng trừ sinh học là một bộ phận quan trọng trong IPM và khi thực hiện IPM cho trang trại nông lâm kết hợp cần phải xem xét quyết định các biện pháp phòng trừ theo thứ tựưu tiên như:

• Xác định loài sinh vật gây hại có cần thiết phòng trừ không và quyết định biện pháp phòng trừ

• Tăng cường biện pháp phòng trừ sinh học

Coi trọng các biện pháp nông lâm nghiệp chọn các loài cây trồng xen bố trí khoảng cách giữa các loài, tăng tính đa dạng sinh học trong trang trại nông lâm kết hợp

• Chọn lọc các loại thuốc hoá học có thể phòng trừ sâu bệnh (ví dụ các chế phẩm sinh học, vi sinh ức chế côn trùng)

Xác định ngưỡng gây hại của sâu bệnh

Tính toán các chi phí và lợi ích để xác định hiệu quả kinh tế

Trang 39

2.3 KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÁC LOÀI CÂY TRONG TRANG TRẠI NHỎ NÔNG LÂM KẾT HỢP

2.3.1 Xây dựng và quản lý vườn ươm cây cho trang trại và cộng đồng

Khó khăn trong cung cấp hạt giống và chi phí hạt giống ngày càng cao khiến cho cần phải tìm các cách khác nhau làm tăng tỷ lệ sống còn và sinh trưởng của cây con Vườn ươm đưa lại sự kiểm soát cần có về độ ẩm, ánh sáng, đất và các yếu tố khác, do

đó cho phép sản xuất với tỷ lệ cao cây con khoẻ mạnh và cứng cáp Sau đây là một số bước công việc để xây dựng một vườn ươm thành công

* Chọn địa điểm tốt cho vươn ươm:

Địa điểm lý tưởng là một nơi gần nhà (Do vậy, vườn ươm thường được kiểm tra, chăm sóc tốt), đất tốt gần nguồn nước hữu hiệu, không bị che bóng và không bị đọng nước Nên tránh chọn địa điểm vườn ươm gần nơi đang sản xuất cây cùng loài để khỏi lây lan bệnh tật và côn trùng

Bố trí các luống, các khu vực ươm cây

Xây dựng các cơ sở tại vườn ươm

Chuẩn bị luống gieo hạt, luống cấy cây

Nếu cần nhiều cây con cho trồng rừng làm chất đốt hay làm gỗ, sản xuất cây con

rễ trần và trồng rừng bằng phương pháp cây con rễ trần sẽ dễ dàng hơn và rẻ tiền hơn

so với các biện pháp và phương pháp trồng rừng khác Kỹ thuật này thích hợp nhất đối với các loài cây con khoẻ, chịu đựng tốt, có rễ cọc khoẻ như Nhạc ngựa hay Phi lao Vận chuyển và trồng cây con rễ trần đơn giản hơn so với cây con nuôi dưỡng trong bầu tạo sẵn Hạt giống các loài có tỷ lệ nảy mầm hay có xuất xứ không rõ ràng nên, tết hơn, gieo trong luống hay hộc gieo, khay gieo sau đó cấy cây mạ vào bầu đất tạo sẵn, nếu cần

• Làm bằng mặt luống Dùng dao hay cây nhọn để tạo các rãnh cạn gieo hạt

• Gieo hạt (có xử lý nếu cần) theo các rãnh phải để đủ khoảng trống cho cây con sinh trưởng nếu được nuôi thành cây con rễ trần tại luống Nếu cây con còn ở dạng mạ

ra bầu hay luống, có thể gieo hạt dày hơn

• Tủ rãnh gieo mỏng bằng đất không dày quá bề dày của hạt gieo

Rải đều tro trên khắp mặt tiếp để phòng ngừa kiến và ốc sên ăn cây mới nảy mầm

Trang 40

Tưới nước cho luống gieo Tránh làm hạt gieo bị cuốn trôi bởi các trận mưa lớn bằng cánh phủ nên mặt luống các mảnh ngon mỏng, cách mặt luống 5-10 cm

Ngày đăng: 30/09/2016, 20:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Thí dụ về bản kiểm kê trang trại - kỹ thuật nông lâm kết hợp
Bảng 3. Thí dụ về bản kiểm kê trang trại (Trang 34)
Bảng 4: Thí dụ về bản thu chi của trang trại   Thí dụ: Thu nhập hàng năm của trang trại - kỹ thuật nông lâm kết hợp
Bảng 4 Thí dụ về bản thu chi của trang trại Thí dụ: Thu nhập hàng năm của trang trại (Trang 35)
Hình chữnhật hay hình thuẫn được áp dụng cho nhiều loại cây ăn quả - kỹ thuật nông lâm kết hợp
Hình ch ữnhật hay hình thuẫn được áp dụng cho nhiều loại cây ăn quả (Trang 44)
Bảng 5: Các loài dược thảo có có công dụng để chữa từ các bệnh thông thường ở gia súc - kỹ thuật nông lâm kết hợp
Bảng 5 Các loài dược thảo có có công dụng để chữa từ các bệnh thông thường ở gia súc (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w