1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình

116 864 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Các Hình Thức Và Xu Hướng Phát Triển Nông Lâm Kết Hợp Tại Tỉnh Hoà Bình
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông Lâm Kết Hợp
Thể loại Luận Văn Cao Học
Thành phố Hoà Bình
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông lâm kết hợp là phương thức canh tác khoa học dựa trên những lợi thế tự nhiên của các hệ sinh thái khác nhau Thông qua áp dụng nông lâm kết hợp, con người đã khai thác hợp lý tiềm năng sinh thái, lợi thế về điều kiện tự nhiên của các vùng lâm nghiệp, góp phần phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái vùng trung du và miền núi

ở Việt Nam, từ khi Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ra đời nền sản xuất nông nghiệp đã chuyển đổi mang tính chiến lược, từ sản xuất độc canh sang kinh doanh đa dạng và lợi dụng tổng hợp theo từng vùng sinh thái, nhiều mô hình nông lâm kết hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao, sử dụng đất dốc bền vững đã xuất hiện Có nhiều vùng (như huyện Lục Ngạn - Bắc Giang) trước kia tưởng chừng không thể phát triển được kinh tế lâm nghiệp thì nay nông lâm kết hợp đã phát triển và đã làm giàu cho họ Xu hướng phát triển kinh tế nông - lâm kết hợp ngày càng thay đổi cả về phạm vi và hình thái: từ trồng trọt chuyển sang chăn nuôi; từ cây ngắn ngày chuyển sang cây dài ngày

Mặt khác, kinh tế thị trường cũng tác động mạnh đến nông lâm kết hợp, nhờ

đó mà tạo ra giá trị kinh tế rất cao trên mỗi đơn vị diện tích của mô hình canh tác nông lâm kết hợp

Hiện nay, các vùng kinh tế lâm nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống tàn phá rừng trong quá trình phát triển kinh tế Do đó, nông - lâm kết hợp là một xu hướng tạo ra nhiều giải pháp có triển vọng để góp phần giải quyết những khó khăn trở ngại

đó Vì vậy, vai trò của nông lâm kết hợp ngày càng được nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều địa phương quan tâm phát triển

Hoà Bình là một tỉnh miền núi có địa hình phức tạp và đa dạng về cấu tạo địa chất với nhiều loại đất (khoảng 23 loại) Diện tích đất trống, đồi trọc rất lớn (chiếm trên 50% diện tích đất lâm nghiệp)[10] nhưng lại có nguồn nước phong phú, nhiều

Trang 2

sông suối và hồ chứa nước rất thuận lợi cho việc cung cấp nước tưới tiêu cây trồng nông - lâm nghiệp nên có thể kết hợp nhiều loại cây trồng lâm - nông - công nghiệp trên các vùng đất dốc Vùng đất trống đồi núi trọc có thể phủ xanh bằng các loại cây lấy gỗ hoặc cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc và tiểu gia súc Vùng đồi núi thấp và ruộng có thể phát triển trồng cây lương thực, kết hợp với cả cây công nghiệp, cây lấy gỗ để tăng hiệu quả sử dụng và bảo vệ tốt hơn môi trường sinh thái

Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và tìm các giải pháp phát triển các mô hình nông lâm kết hợp tại Hoà Bình là việc làm có ý nghĩa cả

về lý luận và thực tiễn Chính vì lẽ đó tôi đã chọn chủ đề “Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh Hoà Bình” làm đề tài luận

văn cao học của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về hình thức và các xu hướng phát triển nông - lâm kết hợp ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng phát triển các hình thức nông - lâm kết hợp và nghiên cứu sự hình thành các xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tỉnh Hoà Bình dưới tác

động của một số chính sách trong quá trình đổi mới nền kinh tế

- Góp phần đề xuất một số định hướng chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển các hình thức nông lâm kết hợp tại tỉnh Hoà Bình phù hợp với điều kiện của địa phương

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Các hình thức canh tác nông - lâm kết hợp tại một số vùng sinh thái của tỉnh Hoà Bình

1.4 Phạm vi nghiên cứu

• Về không gian

Luận văn chỉ đề cập khái quát chung về các hình thức canh tác nông lâm kết hợp dưới góc độ kinh tế trong phạm vi toàn tỉnh và không đề cập đến các hình thái tổ

Trang 3

chức sản xuất nông - lâm cụ thể như doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, trang trại,… Luận văn đi sâu điều tra, nghiên cứu các mô hình NLKH ở một số xã thuộc huyện Lương Sơn, Đà Bắc - nơi có sự phát triển mạnh của các hình thức canh tác NLKH

• Về thời gian

Các số liệu sử dụng để nghiên cứu có thể chia 3 giai đoạn chính:

- Giai đoạn 1988 - 1993 (giai đoạn có Nghị quyết 10)

- Giai đoạn 1993 - 1998 (giai đoạn có Nghị quyết Trung ương 5)

- Giai đoạn 1998 - 2002 (giai đoạn có Nghị quyết 6 của Bộ Chính trị)

Các số liệu về quá trình phát triển NLKH, tổng quan nghiên cứu về NLKH được tập hợp ở các tài liệu từ năm 1993 đến năm 2002

• Về nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về các hình thức canh tác kết hợp nông - lâm nghiệp ở

vùng trung du, miền núi, cơ sở tự nhiên và kinh tế của sự hình thành các xu hướng nông lâm kết hợp

- Đánh giá thực trạng, xác định các nhân tố ảnh hưởng và những vấn đề cản trở

đến sự hình thành xu hướng phát triển nông - lâm kết hợp ở tỉnh Hoà Bình những năm gần đây

- Đề xuất quan điểm, định hướng các hình thức nông lâm kết hợp thích hợp cho tỉnh Hoà Bình theo hướng hiệu quả kinh tế cao và bền vững

Trang 4

2 Cơ cở lý luận và thực tiễn của phát triển

Nông lâm kết hợp

2.1 Lịch sử phát triển các phương thức nông lâm kết hợp trên thế giới và ở nước ta

sự phân ngành rõ rệt Ang ghen đã mô tả: “Thời thơ ấu của loài người, loài người ít nhất là từng bộ phận hãy còn sống trên cây, hãy còn trú ngụ ở những nơi nguyên thuỷ của nó, những rừng nhiệt đới hay là á nhiệt đới Họ dùng những quả có vỏ hay không có vỏ và những rễ cây làm thức ăn…” [dẫn theo (dt.) 2]

Qua trạng thái mông muội ở giai đoạn thấp, con người đã bắt đầu biết trồng trọt và chăn nuôi gia súc Nhưng cũng phải đến giai đoạn cao của thời kỳ này, khi

mà các công cụ bằng đá, bằng đồng đã được thay thế bằng sắt; con người đã sản xuất ra cày sắt do súc vật kéo, mai sắt, rùi sắt… thì nông nghiệp bắt đầu hình thành

và nó tách dần ra khỏi hệ thống nông, lâm tự nhiên

Khi nông nghiệp ra đời, sự khác biệt giữa nông và lâm ngày càng rõ rệt Một bên là với sức lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật… ngày càng đầu tư lớn để thâm canh tăng năng suất, còn một bên là khai thác tự nhiên, chủ yếu nhờ sức thiên nhiên tái tạo lại, mức độ đầu tư thâm canh thấp,… ở nhiều nơi hầu như vẫn còn dừng lại ở trình độ hái lượm của thiên nhiên Cùng với sự tách xa nhau thì rừng ngày càng bị thu hẹp về diện tích, những đất bằng, đất tốt đều biến thành ruộng, vườn sản xuất nông nghiệp, thậm chí do nhu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn

mà trên đất dốc - địa bàn hoạt động chủ yếu của lâm nghiệp cũng bị khai phá để sản xuất lương thực, thực phẩm Tình trạng này diễn ra trong thời gian dài, đặc biệt mạnh và nghiêm trọng là ở các quốc gia chậm phát triển hiện nay

Trang 5

Thực tiễn sản xuất của loài người cho thấy rằng: nông nghiệp tách khỏi lâm nghiệp đã nảy sinh ra mâu thuẫn khá gay gắt đó là: rừng mất thì đồng thời mất luôn cả nguồn nước và do đó nông nghiệp cũng không thể phát triển được vì đất đai trở nên khô cằn, bạc màu, khí hậu khắc nghiệt đối với thực vật và động vật, vì “khi phá rừng để có đất trồng trọt, họ không ngờ là làm như thế, họ đã tạo ra cơ sở cho sự tiêu

điều hiện tại của các nước ấy; vì khi phá rừng họ đã phá luôn cả những trung tâm chứa nước và giữ nước”[dt.2]

Từ thực tiễn cuộc sống đã dần dần chỉ ra cho con người thấy rõ hơn các mâu thuẫn mang tính chất cục bộ và tìm ra các biện pháp giải quyết các mâu thuẫn đó

Do đó, từ hàng ngàn năm nay, đặc biệt từ khoảng trên 100 năm có rất nhiều hành

động kết hợp nông với lâm một cách tự phát và chừng mực nào đó mang tính tự giác Những hành động kết hợp mang tính tự phát hay tự giác này đều nhằm mục

đích tạo ra thêm nhiều sản phẩm trước hết là lương thực, thực phẩm và hạn chế sự thay đổi quá đột ngột môi trường rừng, tránh gây ra những hiện tượng thiên tai lớn

ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống Nhưng khó mà nói được rằng, những hành động kết hợp nông lâm có chính xác tự bao giờ, ở quốc gia nào

đầu tiên ở đây tạm thời ghi nhận lại một số cách làm ăn theo lối kết hợp nông lâm

ở một số quốc gia khác nhau như: “ở Spesard, Hesse Darmstad (hiện nay là Cộng hoà liên bang Đức) đã trồng nhiều rừng Quercus từ 1813 với việc kết hợp trồng xen khoai lang” [dt.2] hoặc ‘‘ở Thuỵ Sĩ, tái sinh nhân tạo bằng biện pháp nông lâm phối hợp đã được thực hiện từ rất lâu đời và trở thành phổ biến từ sau những năm 1840” [dt.2] Còn ‘‘ở Miến Điện thì phương thức Taungya đã được Upanhle đề xướng cùng với việc phát triển rừng tếch từ năm 1956 - đây là phương thức kinh doanh lâm nghiệp có xen nông nghiệp mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng’’[dt.2] Năm

1978, tại Hội nghị lâm nghiệp thế giới lần thứ 8, FAO đã đưa ra một số hình thức nông lâm kết hợp mà các nước trên thế giới thường áp dụng, các hình thức đó là:

• Trồng cây nông nghiệp theo chế độ luân canh với các loài cây rừng theo từng thời gian nhất định

• Trồng cây nông nghiệp vào các rừng trồng trong những năm đầu (như trong phương thức Taungya)

Trang 6

• Trồng cây nông nghiệp lưu niên đồng thời với cây lâm nghiệp

Cho đến tháng 12/1977, Hội nghị lâm nghiệp thế giới lần thứ 8 họp tại Samarang thuộc Indonesia đã đi đến khẳng định vị trí của hình thức kinh doanh nông lâm kết hợp trong việc giải quyết lương thực, thực phẩm, xây dựng vốn rừng, bảo vệ đất đai và góp phần giải quyết tận gốc nạn du canh du cư Đây là hội nghị

đánh dấu sự chuyển biến các hành động kết hợp nông lâm từ tự phát sang giai đoạn

tự giác trên phạm vi thế giới

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển phương thức nông lâm kết hợp ở nước ta

Qua một số tư liệu lịch sử cho thấy, ở nước ta, nền nông nghiệp ra đời và tách dần khỏi hệ thống nông, lâm tự nhiên ít nhất từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên Cũng từ đó nông nghiệp càng phát triển đi lên theo hướng thâm canh như đã đạt

được như ngày nay Ngược lại, lâm nghiệp thì ngày càng bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về tài nguyên và chung lại vẫn còn dừng ở trình độ quảng canh lạc hậu, dựa vào thiên nhiên là chính cho đến tận ngày nay [2]

Vậy từ khi nông nghiệp tách ra khỏi hệ thống nông, lâm tự nhiên và hình thành nên ngành nông nghiệp và lâm nghiệp đến nay thì ở nước ta những hành động kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp xuất hiện từ bao giờ? Điều này thật khó xác

định, song căn cứ vào các tư liệu lịch sử có thể cho phép đánh giá rằng, lối làm ăn kết hợp giữa nông nghiệp với lâm nghiệp đã hình thành ở nước ta rất sớm và phong phú, có thể kể sơ lược như luân canh với rừng quế thuần loại của đồng bào Cor ở Trà

My, Trà Bồng (Quảng Nam - Đà Nẵng), phát triển nghề trồng quế ở Yên Bái, Thanh Hoá và nghề trồng hồi ở Lạng Sơn đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá…

Ngoài ra, còn có cách làm ăn gắn với hình thức nông lâm kết hợp được phát triển khá phổ biến ở các vùng miền núi, trung du của nước ta, đó là hình thức “luân canh giữa rẫy và rừng” Đây là một hình thức kết hợp tự phát lạc hậu của đồng bào các dân tộc ít người với mục tiêu chủ yếu là làm sao tạo ra được lương thực, thực phẩm nuôi sống họ, còn chu kỳ 10 - 20 năm để cây rừng mọc tự nhiên là nhằm mục

đích cải tạo đất nương rẫy sau một vài vụ sản xuất cây nông nghiệp đã lấy đi một khối lượng màu đáng kể, ở đây chưa có sự chủ động phát triển cây rừng Đây là một

Trang 7

hình thức canh tác cổ truyền, lạc hậu, chỉ phù hợp với điều kiện đất rừng còn rộng lớn và mật độ dân số thấp (theo FAO chỉ phù hợp với mật độ 15 người/km2)[4] Khi mật độ dân số tăng lên, thì hình thức này không còn phù hợp nữa mà nó trở thành một trong những nhân tố phá rừng Cách làm ăn này thể hiện lối canh tác quảng canh, lạc hậu dựa vào thiên nhiên là chính, song trong đó đã biết lợi dụng các mối quan hệ mật thiết giữa rừng với cây nông nghiệp, biết dùng cây rừng với tư cách là biện pháp bảo vệ và cải tạo, phục hồi độ phì cho đất để bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp có năng suất cao Vì vậy, cũng có thể nói rằng nó là một hình thức làm ăn kết hợp nông với lâm nhưng còn đang ở thời kỳ thô sơ và dựa vào thiên nhiên theo lối quảng canh

Dưới thời Pháp đô hộ, khoảng những năm 1930, các nhà khoa học người Pháp đã du nhập phương thức Taungya của Miến Điện vào nước ta để phát triển các rừng cao su, tếch, cà phê ở Tây Nguyên

Bên cạnh những hình thức kết hợp nông với lâm như đã nêu trên, nhân dân ta còn có rất nhiều hình thức kết hợp phong phú khác như: kinh nghiệm nuôi hươu rừng để lấy nhung ở huyện Hương Sơn, Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, kinh nghiệm thuần dưỡng voi của đồng bào Bản Đôn - Đắc Lắc,… hoặc là kinh nghiệm gây trồng các đồi cây, vườn cây đa tác dụng vừa cho thu hoạch sản phẩm ngắn ngày, vừa cho

gỗ, củi của nhân dân

Việc kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp ở đồng bằng, ven biển cũng có nhiều kinh nghiệm quý, nó vừa giúp cho việc bảo vệ đồng ruộng, vừa tạo ra được sản phẩm hàng năm trên các đai phòng hộ và gỗ, củi cung cấp cho nhân dân

Qua lịch sử phát triển của nông, lâm nghiệp từ chỗ gắn chặt với nhau trong một hệ thống tự nhiên, rồi nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng lên do tăng dân

số, tri thức loài người phát triển dần lên, của cải vật chất trong xã hội đòi hỏi mỗi ngày một lớn, sự phân công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hoá ngày càng cao… đã dẫn tới sự tách rời giữa 2 ngành để tập trung thâm canh, tạo ra năng suất cao và thoả mãn nhu cầu của xã hội loài người Nhưng khi tách rời giữa nông và lâm thì lập tức loài người đã vấp phải một mâu thuẫn lớn đó là sự quan hệ hữu cơ giữa nông và lâm trong một hệ thống môi trường thống nhất không thể tách rời, làm trái

Trang 8

quy luật này sẽ gây ra những tổn thất không lường hết đối với cả nông và lâm Nhận thức được điều này, loài người đã sớm tìm ra những biện pháp hữu hiệu để khắc phục biện pháp đó vừa phải tuân thủ được sự đúng đắn của quy luật tự nhiên, môi trường vừa đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của loài người để tồn tại và phát triển Lịch sử phát triển này biểu hiện khá rõ nét quy luật phát triển theo hình xoáy

ốc và ngày càng đạt tới những trình độ cao hơn [2]

2.2 Các đặc điểm của nông lâm kết hợp

2.2.1 Định nghĩa về nông lâm kết hợp

Định nghĩa về nông lâm kết hợp đã được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới là: nông lâm kết hợp bao gồm các hệ canh tác sử dụng đất khác nhau; trong đó, các loài cây thân gỗ sống lâu năm (bao gồm cả cây bụi thân gỗ, các loài cây trong

họ dừa và họ tre, nứa) được trồng kết hợp với các loài cây nông nghiệp hoặc vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác, đã được quy hoạch trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi hoặc thuỷ sản Chúng được kết hợp với nhau hợp lý trong không gian, hoặc theo trình tự về thời gian Giữa chúng luôn có tác động qua lại lẫn nhau cả về phương diện sinh thái, kinh tế theo hướng có lợi (King 1979); Lundgren và Raintree (1983); Hurley (1983), Nair (1989), Chun - Lai (1991)[dt.3]

Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học độc lập Nó được hình thành và xây dựng trên cơ sở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, có liên quan đến các phương thức sử dụng đất đai như nghề làm ruộng, nghề chăn nuôi, nghề làm rừng, nghề làm vườn, nghề nuôi trồng thuỷ sản, thậm chí cả nghề nuôi ong

Tóm lại, phương thức sản xuất nông lâm kết hợp phải được thực hiện trên các cơ sở khoa học của bản thân nó, biểu hiện qua trình độ thiết kế, điều chế các hệ canh tác NLKH trên một địa bàn sản xuất cụ thể

2.2.2 Sự bố trí trồng xen kết hợp giữa cây nông nghiệp với các cây lâm nghiệp

Cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp thường được kết hợp dưới các hình thức

bố trí trồng xen theo các cách sau

* Theo không gian nằm ngang

Trang 9

- hồ tiêu leo lên cây sầu riêng và măng cụt (vùng Lái Thiêu, Đông Nam Bộ)

Hình 2.1: Sơ đồ bố trí trồng xen theo không gian

(theo Nair, 1985; có cải biên)

Trang 10

• Trồng xen hỗn hợp dầy (mixed dense)

• Trồng xen hỗn hợp thưa (mixed sparce)

• Trồng xen theo băng (strip)

• Trồng xen băng hẹp (narrow strip)

• Trồng xen băng rộng (wide strip)

• Trồng xen theo vùng (zonal)

• Trồng xen theo kiểu vành đai biên (boundary

• Trồng xen theo vùng rộng (marozonal)

* Trồng xen theo chiều không gian thẳng đứng

• Trồng xen các cây nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), dược liệu chịu bóng dưới tán rừng

* Theo thời gian

Tồn tại có

giai đoạn

- Trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng trong giai đoạn đầu khi rừng chưa khép tán

Tồn tại không

liên tục

- Trồng xen cây nông nghiệp dưới tán rừng dừa, trong mùa mưa Xen kẽ nhiều

Hình 2.2: Sơ đồ bố trí trồng xen theo thời gian

(Theo Hurley (1983), Kronick (1984) và Young (1984)

Trang 11

• Cùng tồn tại

• Tồn tại có giai đoạn

• Tồn tại không liên tục

• Xen kẽ nhiều giai đoạn, nhiều lớp

địa bàn tự nhiên khắc nghiệt

2.2.3.2 Hệ canh tác nông lâm kết hợp là sự đúc kết những kinh nghiệm lâu đời của người nông dân giữa các hệ tự nhiên và hệ canh tác

Hệ canh tác nông lâm kết hợp (NLKH) là sự đúc kết những kinh nghiệm lâu

đời của người nông dân sống ở vùng có những điều kiện tự nhiên không thuận lợi Trên thế giới không hoặc rất ít có những hoàn cảnh thiên nhiên thuận lợi cho canh tác nông lâm và chăn nuôi: đồng bằng ít, đồi núi nhiều, mưa đều và nắng ẩm quanh năm hầu như không có Vì vậy, con người phải tạo ra bằng một hệ canh tác có hiệu quả khống chế được những nhân tố bất lợi của tự nhiên như: gió nóng, rét lạnh, bão, xói mòn… và cao hơn nữa là cải tạo tự nhiên biến những điều kiện không thuận lợi thành có lợi

Như vậy, cần phải xem xét trên quan điểm nông lâm sinh học các hệ tự nhiên

Trang 12

và các hệ canh tác NLKH, thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hệ và sự cần thiết phải thiết lập hệ canh tác sao cho phù hợp với hệ tự nhiên

2.2.3.3 Nông lâm kết hợp là phương thức sản xuất thâm canh cao và hợp lý

NLKH không chỉ có nghĩa là trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng, trồng xen cây nông nghiệp sau khi trồng rừng, tận dụng khoảng đất trống giữa các hàng cây rừng mới trồng để trồng đậu, lúa, khoai Mà NLKH còn bao gồm một loạt phương thức trong đó người nông dân sử dụng cây rừng để tạo ra hoàn cảnh sinh thái tốt nhất cho cây nông nghiệp, giảm được công tưới nước, giảm được sức nóng (đốt cháy cây nông nghiệp), tạo thêm mùn, đạm, hạn chế sức lay lắc nguy hại của gió Nông lâm kết hợp không những chỉ là thực hiện sự cân bằng sinh học trong từng

hệ thống mà còn trên cả những vùng rộng lớn, xây dựng bức khảm nông lâm ruộng, nương, vườn, vườn rừng, rừng cây bãi cỏ và rừng Trong điều kiện đồi núi thì người

ta thực hiện hệ canh tác đó trên quan điểm nhất thể hoá nghĩa là coi các thành viên trong hệ canh tác đó như những bộ phận của một cơ thể sống, có quan hệ chặt chẽ tồn vong

2.2.3.4 Nông lâm kết hợp là sự kết hợp mùa vụ trên cùng một diện tích, nâng cao thu nhập, tận dụng được lao động, giảm bớt được chi phí

NLKH không chỉ là biện pháp kết hợp mang tính kỹ thuật mà việc thực hiện các mô hình NLKH còn phải biết kết hợp mùa vụ để tạo các công việc trong những ngày nông nhàn, tận dụng được lao động nhàn rỗi trong nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân, bảo đảm cuộc sống ổn định cho nhân dân miền núi

2.3 Vai trò của nông lâm kết hợp

2.3.1 Nông lâm kết hợp là một bộ phận quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi

Nhiều nhà khoa học đã nhận ra tính cấp thiết phải có phương pháp khoa học

để phát triển NLKH, vì nước ta là một nước có nhiều đồi núi, trong số 64 tỉnh thành chỉ có 2 tỉnh ở phía Bắc và 11 tỉnh ở phía Nam là hoàn toàn đồng bằng và 64% số

Trang 13

huyện là trung du, miền núi Diện tích đất liền Việt Nam trên 33 triệu ha thì có đến hơn 72% là vùng đất dốc, đó là nơi sinh sống của khoảng 1/3 dân số cả nước và là quê hương của 52/54 dân tộc ở Việt Nam [14]

Vì vậy, phát triển NLKH là rất cần thiết trong canh tác nông nghiệp bền

vững Hệ thống nông nghiệp bao gồm nhiều hệ thống con cấu thành nên nó

Hệ thống NLKH là một hệ thống con của hệ thống nông nghiệp, tiến hành trên một không gian rộng lớn phù hợp với canh tác trên đất dốc bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái Mặt khác, xét về mặt xã hội thì vùng trung du miền núi có truyền thống văn hoá phong phú và có nhiều tiềm năng phát triển sản xuất Phát triển NLKH đem lại hiệu quả cao, nâng cao đời sống nhân dân là một vấn đề quan trọng trong phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn miền núi

2.3.2 Nông lâm kết hợp có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái

Năm 1992, Hội nghị Riode Janero (Brazil) đã đưa ra một loạt các khái niệm,

định nghĩa để đồng thời vừa thoả mãn nhu cầu phát triển của con người vừa để thực hiện 3 chức năng trên một cách lâu bền Thảm thực vật nói chung và hệ sinh thái rừng nhiệt đới nói riêng giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và làm cho môi trường sống ngày càng trở nên tốt hơn xét trên nhiều phương diện Đã từ lâu, người ta thừa nhận rằng, rừng cây xanh không chỉ có tác dụng duy trì và bảo vệ nguồn nước, hạn chế lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn mà còn có tác dụng làm trong sạch khí quyển và các nguồn nước bị ô nhiễm Sự phát triển NLKH sẽ góp phần hạn chế sự đáng tiếc về thực tế rừng nhiệt đới bị thu hẹp, góp phần tích cực trong bảo vệ môi trường sống cho cộng đồng không chỉ ở vùng núi mà cả ở đồng bằng, không chỉ giải quyết môi trường cho một quốc gia mà cho cả thế giới

2.3.3 Nông lâm kết hợp có vai trò an ninh lương thực và đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người dân vùng cao

Vùng cao Việt Nam có đặc điểm đất đai chủ yếu là đất dốc, giao thông khó khăn, đời sống kinh tế, văn hoá còn thấp Giải quyết vấn đề lương thực cho đồng bào vùng cao là một vấn đề rất quan trọng và cấp bách của Đảng và Nhà nước ta Để đáp

Trang 14

ứng lương thực cho đồng bào vùng cao cần phải có phương pháp canh tác hợp lý vừa tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu trước mắt, đồng thời bền vững trong tương lai

Phương thức sản xuất NLKH là giải pháp đáp ứng được yêu cầu trên Các nhà khoa học đã thực hiện rất nhiều thí nghiệm và đi đến kết luận về sự cần thiết phải ứng dụng các biện pháp kỹ thuật trong canh tác bền vững trên đất dốc chủ yếu bằng phương thức NLKH [14]

Trong nền kinh tế thị trường, giải quyết vấn đề lương thực không chỉ là vấn

đề trồng cây lương thực mà còn phải tận dụng lợi thế của địa phương, phát triển các cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu… theo phương thức sản xuất hàng hoá,

từ đó có tiền sẽ mua được lương thực Bảo đảm đời sống nông dân không phải chỉ trong thời gian trước mắt mà phải bảo đảm lâu dài, muốn vậy trong việc canh tác dù

là cây lương thực hay cây công nghiệp, cây ăn quả thì vẫn phải bảo đảm tính bền vững của đất đai, trong đó NLKH được các nhà khoa học đánh giá là biện pháp tốt

để canh tác bền vững trên đất dốc và an ninh lương thực cho đồng bào vùng cao

2.3.4 Nông lâm kết hợp tận dụng năng lượng mặt trời, phát huy tiềm năng sinh thái học cao

Các hệ sinh thái NLKH là một hệ sinh thái mở trên phương diện trao đổi vật chất và năng lượng Vật chất từ bên ngoài đi vào hệ sinh thái là năng lượng mặt trời, không khí và đất đai…; những tác động của con người như kỹ thuật gieo trồng, giống, phân bón… là những tác động tạo ra năng suất cao cho các sản phẩm đầu ra

Trên thực tế, ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam, phát triển NLKH là một hướng đi đúng đắn và mang lại hiệu quả cao Một hệ sinh thái tối ưu không chỉ có trong tự nhiên, mà ở đây con người giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết lập nên một sự cân bằng sinh thái mới, gắn liền với hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội đó là hệ sinh thái NLKH Ngày nay, các mô hình kết hợp VAC, RVAC… ở nước ta là những hệ sinh thái rất bền vững khi được quản lý và điều tiết một cách khoa học Trên cơ sở đúc rút các kinh nghiệm sản xuất, kết hợp với những hiểu biết mới của con người về các đặc điểm sinh thái học, đặc điểm sinh vật học của các loài cây, loài con được nuôi trồng, con người đã biết được cách sử dụng đất một cách

Trang 15

tổng hợp, biết phát huy cao độ năng lực tiềm tàng của mỗi điều kiện để tạo ra các

hệ sinh thái tối ưu [5,14]

2.3.5 Nông lâm kết hợp sản xuất có hiệu quả và bền vững trên đất dốc

Hệ thống NLKH bao gồm hai hợp phần chính là nông nghiệp và lâm nghiệp Cây, con nông nghiệp có đặc điểm là thời gian sinh trưởng, phát triển và cho thu hoạch ngắn, đáp ứng nhu cầu trước mắt về lương thực, thực phẩm và đời sống nông dân Hợp phần về cây lâm nghiệp có chu kỳ sinh trưởng, phát triển lâu dài nhưng cho thu hoạch lớn, đồng thời cây lâm nghiệp kết hợp với cây nông nghiệp có tác dụng trong việc giữ nước, chống xói mòn đất, hạn chế rửa trôi các chất dinh dưỡng bảo đảm tính bền vững trong sản xuất và làm trong sạch môi trường Ngoài việc giữ gìn cho dinh dưỡng khỏi bị mất đi, sự kết hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp trong

hệ thống còn có khả năng sinh khối cao, nếu lựa chọn sự kết hợp hợp lý năng suất cây trồng vật nuôi nông nghiệp không những không giảm đi mà còn tăng lên Như vậy, trước mắt đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm và đời sống của nông dân Xét về phương diện khác, sự sinh khối cao sẽ tạo cho đất đai màu mỡ, môi trường sống tốt hơn và như vậy, sản xuất trong hiện tại sẽ đạt hiệu quả, nhưng đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và thu nhập trong các thế hệ tương lai [5,14]

2.3.6 Sản xuất nông lâm kết hợp đầu tư chi phí thấp phù hợp với điều kiện phát triển nông nghiệp nông thôn miền núi, vùng cao

Để canh tác bền vững trên đất dốc có thể có nhiều phương pháp như xây dựng các công trình tạo bờ làm ruộng bậc thang, xây mương rãnh theo đường đồng mức xung quanh các lô để bắt các dòng chảy theo ý muốn, tạo chất dải phủ bề mặt như rơm, rạ hay chất không sống như nilon, mút, xốp,… những phương pháp này cũng cho hiệu quả về chống xói mòn, hạn chế cỏ dại, tạo năng suất cao và bền vững

hệ thống, nhưng đầu tư lớn, chi phí cao không phù hợp với điều kiện nông dân miền núi còn nghèo, vì vậy khó có thể thực hiện được và nếu phương án đưa ra như vậy là không có tính khả thi

Trang 16

NLKH với đầu tư thấp nhưng vẫn giữ được tính bền vững cho sản xuất và bảo

vệ môi trường sinh thái, đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế là phương pháp canh tác phù hợp trong điều kiện đất dốc của nước ta nói chung và ở khu vực miền núi, vùng cao nói riêng

2.4 Các yếu tố chủ yếu tác động đến hệ nông lâm kết hợp

2.4.1 Đất đai và chính sách đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp Trong sản xuất nông lâm nghiệp, thành phần cơ giới, tính chất vật lý, hàm lượng chất hữu cơ và vô cơ trong đất, kết cấu đất… quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất từ đó hình thành nên việc triển khai các mô hình NLKH phù hợp với từng khu vực

Chính sách đất đai của Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp Luật Đất đai ban hành năm năm 1993 và Luật bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và năm 2001 đã tạo động lực cho các chủ thể sử dụng đất có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong Luật Đất đai có viết “Nhà nước giao đất cho các đơn vị kinh tế, cho nông dân và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” và “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”[dt.11] Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, cải tạo, bồi dưỡng, sử dụng một cách hợp

lý có hiệu quả

2.4.2 Nguồn nước và chế độ nước

Nguồn nước và chế độ nước cũng là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều ít, mạnh yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, cây rừng, gia súc và thuỷ sản

2.4.3 Nông lâm nghiệp truyền thống

Đây là một trong các nhân tố trực tiếp quyết định đến việc tổ chức sử dụng

đất đai Việc triển khai các mô hình NLKH cũng được dựa trên tập quán canh tác

Trang 17

nông lâm nghiệp truyền thống kết hợp với kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp hiện

đại sao cho các diện tích rừng, trồng cây nông nghiệp và chăn thả được phân bố sắp xếp một cách hài hoà, phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế của địa bàn, để phát huy cao nhất sự hỗ trợ lẫn nhau giữa thảm rừng, đất trồng cây nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, thuỷ sản

2.4.4 Thị trường nông lâm sản với khả năng phát triển nông lâm kết hợp và tình trạng bảo vệ rừng

ở Việt Nam, thị trường nông lâm sản cũng đang ngày một đa dạng và lớn dần lên; nhất là hiện nay đang trong thời kỳ hội nhập với quốc tế, đặc biệt sau khi nước ta trở thành thành viên của hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) năm

1995 và đang trong quá trình gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Với việc gia nhập AFTA thì nước ta lại càng có cơ hội để trao đổi hàng hoá, dịch vụ,… và thị trường lại càng được mở rộng, yêu cầu về chủng loại và chất lượng hàng hoá nông lâm sản cũng ngày một cao hơn

Khi kết hợp nông lâm nghiệp nghĩa là chúng ta đã sử dụng phương thức canh tác khoa học dựa trên những lợi thế tự nhiên của các hệ sinh thái Khi đó, con người khai thác hợp lý các tiềm năng sinh thái, lợi thế về điều kiện tự nhiên của các vùng lâm nghiệp và bảo vệ rừng, đất rừng, chống xói mòn đất, bảo vệ được tính đa dạng vốn có của nó nhằm phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

2.5 Tính phù hợp và mâu thuẫn trong hệ canh tác nông lâm nghiệp, hình thành

xu hướng tích cực

Về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố tự nhiên, xã hội trong NLKH được Chu Than Nair và Sreedhanran - ấn Độ, nghiên cứu mô hình nông hộ đã diễn tả bằng Hình 2.3

Nghiên cứu sự ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên tới sự tồn tại của các hệ canh tác NLKH trên diện rộng, ICRAF đã đưa ra những đặc trưng cơ bản ở các vùng sinh thái chính: á nhiệt đới ẩm, vùng bán khô hạn, vùng khô hạn và các vùng cao,

Trang 18

bằng những đặc trưng: khí hậu, thảm thực vật đất, sự mở rộng trên các vùng địa lý lớn, các hệ sử dụng đất chủ yếu, những vấn đề sinh thái và tầm quan trọng của NLKH nhằm tạo điều kiện áp dụng các hệ canh tác NLKH phù hợp [14]

Cây lương thực để

ăn và chăn nuôi Phân xanh

Củi, gỗ

Phân bón

Phân bón

Hình 2.3: Mối quan hệ tương tác giữa các thành phần chủ yếu

trong mô hình NLKH của hộ nông dân

Tiếp đó để đánh giá các hệ canh tác NLKH, tháng 9 năm 1982 Chương trình

điều tra thống kê các hệ canh tác NLKH được đưa vào hoạt động Kết quả của Chương trình này cho phép ICRAF có cơ sở phân loại các hệ canh tác sử dụng đất trên thế giới

Với những tiêu chuẩn phân loại dựa vào các cơ sở: cấu trúc, chức năng, tương quan kinh tế xã hội và cơ sở sinh thái học

tiền

Trang 19

+ Hệ nông lâm: cây trồng bao gồm cả cây gỗ, cây bụi và các cây thân thảo (những cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp), trong đó cây nông nghiệp là thành phần chính

+ Hệ lâm nông: bao gồm các cây lâm nghiệp kết hợp với cây nông nghiệp, trong đó cây lâm nghiệp là thành phần chính

+ Hệ lâm súc: bao gồm các cây nông nghiệp, lâm nghiệp với đồng cỏ chăn nuôi gia súc

+ Các hệ canh tác nông lâm nghiệp khác như nuôi ong với cây rừng, nuôi trồng thuỷ sản ở các rừng ngập mặn, các khu đất trồng cây nhiều tác dụng…

Theo tài liệu của Trung tâm Quốc tế Tái thiết nông thôn [14], hệ canh tác NLKH có thể phân loại theo các tiêu thức sau

• Theo thành phần cách thức phối hợp NLKH bao gồm các hệ canh tác: hệ lâm - trồng trọt, hệ lâm - đồng cỏ, hệ nông - lâm - đồng cỏ, hệ lâm - ngư, hệ cây - ong, hệ nuôi tằm

• Theo chức năng hệ thống, bao gồm: hệ NLKH sản xuất sản phẩm, hệ NLKH bảo tồn

• Theo sự phối hợp thời gian thì hệ NLKH bao gồm: hệ NLKH tạm thời, hệ NLKH cố định

• Theo phối hợp từng loại cây trong không gian thì hệ canh tác NLKH bao gồm:

- Hệ NLKH đều đặn: là hệ canh tác có sự phối hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp một cách đều đặn

- Hệ NLKH không đều: là hệ canh tác mà sự phối hợp giữa cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp không đều đặn nhưng phù hợp với điều kiện cụ thể như độ dốc, độ cao, tính chất đất…

Ngoài ICRAF còn phải kể đến các kết quả nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật canh tác trên đất dốc SALT (Sloping Agriculture Land Technology) của Trung tâm

Đời sống nông thôn Mindano (Philippines) Các hệ canh tác SALT bao gồm 4 loại chính:

ã SALT - 1 là hệ canh tác đơn giản dễ áp dụng, đầu tư thấp, có hiệu quả Theo hệ canh tác này, người ta bố trí trồng những cây ngắn ngày xen kẽ với những

Trang 20

cây dài ngày phù hợp với điều kiện đất đai và bảo đảm có thu hoạch đều đặn Cây nông nghiệp được trồng trong các băng cây xanh, các băng cách nhau 4 - 6 m Các băng này được trồng những cây cố định đạm để giữ đất, chống xói mòn, làm phân xanh và lấy gỗ, củi Tỷ lệ giữa cây nông nghiệp và các băng cây cố định đạm là 3/4 Trong số 75% cây nông nghiệp thì 50% là cây hàng năm và 25% là cây lâu năm

ã SALT - 2 là hệ canh tác phát triển cho những hộ nông dân có sự kết hợp cả trồng trọt và chăn nuôi, đây là hệ cải tiến từ SALT - 1 Các loại gia súc có thể nuôi

là bò, trâu, dê,… gia súc một mặt cung cấp các nguồn thực phẩm, mặt khác cung cấp phân hữu cơ phục vụ cho trồng trọt Cơ cấu đất đai của mô hình này được bố trí: 40% dành cho nông nghiệp và 60% dành cho lâm nghiệp và chăn nuôi

• SALT - 3 là hệ canh tác ở vùng đất có độ phì thấp, hệ canh tác gồm 3 hợp phần: ngoài việc sản xuất kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi nông nghiệp kết hợp với cây lâm nghiệp, các hộ nông dân còn dành một phần đất để trồng cây chuyên lâm nghiệp với các loại cây gỗ có giá trị Cơ cấu đất đai là 40% cho cây nông nghiệp, 20% cho cây lâm nghiệp và 40% dành cho chăn nuôi Những hộ nông dân có quy mô diện tích lớn hơn hoặc bằng 2 ha có thể áp dụng mô hình này

• SALT - 4 là hệ canh tác kết hợp giữa SALT - 3 và cây ăn quả Hệ canh tác này phát triển dựa trên nhận thức rằng: để nâng cao đời sống nông dân ở vùng đồi núi, việc trồng trọt các loại cây cho sản phẩm như bố trí một phần diện tích trồng cây ăn quả có giá trị Tuỳ theo điều kiện độ màu mỡ, độ dốc… của đất đai mà có thể trích một phần từ diện tích cây nông nghiệp hoặc cây lâm nghiệp hay chăn nuôi để trồng cây ăn quả Các nhà khoa học đã xác nhận khả năng chống xói mòn và sản xuất bền vững trên đất dốc theo hệ canh tác SALT rất có hiệu quả

Xu hướng phát triển NLKH ở vùng đất dốc đã được các nhà khoa học tổng kết và đưa ra những kết luận là: để nông nghiệp phát triển bền vững trên đất dốc thì trước hết phải bảo vệ vốn rừng, nâng độ che phủ hữu hiệu của rừng lên 50% Nghề rừng phải phát triển theo hướng NLKH, làm rừng như làm vườn, làm rừng như làm ruộng… Trong phát triển nông nghiệp cần ưu tiên cây công nghiệp dài ngày, với những cây có ưu thế cả về kinh tế lẫn môi trường như chè, cà phê,… Cây công nghiệp ngắn ngày như đậu tương, mía, cây có sợi,… Cây ăn quả tập trung cùng với

Trang 21

chăn nuôi đại gia súc Nương rẫy cần phải được tiến hành theo mô hình SALT với các băng cây cố định đạm, đa canh và xen canh cây trồng để giữ đất và chống xói mòn [14]

Về phương pháp khoa học nghiên cứu phát triển NLKH có 2 xu hướng [14]:

• Xu hướng 1: gọi là cải tiến tiềm năng chi phí cao Theo xu hướng là cải tạo giống có tiềm năng sinh học cao, đầu tư các công trình và tăng đầu vào đáp ứng tiềm năng để đạt được đầu ra cao Xu hướng này có nhược điểm là kém bền vững về mặt

hệ thống Đầu tư cao không phù hợp với điều kiện nông dân, mặc dù có ưu điểm là tạo đà phát triển nhanh về kinh tế

• Xu hướng 2: là cải tiến tiềm năng chi phí thấp Theo xu hướng này NLKH

sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên sẵn có của địa phương bằng các cách phối hợp khác nhau giữa hệ canh tác cây trồng, vật nuôi, đất, nước, khí hậu, con người, từ đó chúng

sẽ bổ sung cho nhau tạo hiệu quả tổng hợp lớn nhất, với mục tiêu là: đảm bảo tính bền vững, tỷ lệ rủi ro thấp, chi phí thấp, dễ thích ứng, dễ áp dụng, ít gây trở ngại cho hoạt động khác, được chấp nhận cả về mặt tâm lý xã hội

2.6 Các kiểu sinh thái lâm nghiệp kết hợp nông nghiệp

2.6.1 Hệ canh tác nông lâm kết hợp

2.6.1.1 Hệ canh tác nông lâm kết hợp lấy lâm nghiệp làm hướng ưu tiên

Trong hệ canh tác NLKH, mục đích sản xuất gỗ, củi, tre, nứa là chính, việc tiến hành trồng xen các cây nông nghiệp thân thảo ngắn ngày kết hợp là để:

• Cung cấp lương thực, thực phẩm tại chỗ cho nhân dân địa phương

Việc trồng xen các cây nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm với cây rừng trên đất canh tác lâm nghiệp trên nguyên tắc không làm giảm năng suất và chất lượng gỗ của rừng

Trang 22

Trong hệ canh tác NLKH lấy lâm nghiệp làm hướng ưu tiên có hai hệ phụ: trồng xen cây nông nghiệp trong giai đoạn đầu, khi trồng rừng chưa khép tán Taungya, trồng xen cây nông nghiệp, dược liệu chịu bóng dưới tán rừng

2.6.1.2 Hệ canh tác nông lâm kết hợp lấy nông nghiệp làm hướng ưu tiên

Trong hệ canh tác NLKH, mục đích sản xuất nông nghiệp là cơ bản, việc kết hợp trồng xen các loài cây gỗ sống lâu năm (sản xuất lâm nghiệp), nhằm mục đích phòng hộ cho các cây trồng nông nghiệp là chính, để thâm canh tăng năng suất các cây trồng nông nghiệp, kết hợp cung cấp thêm củi đun, gỗ gia dụng, phân xanh, thức

ăn gia súc, phục vụ trực tiếp tại chỗ cho nhu cầu của nhân dân địa phương Bởi vậy, việc thiết kế trồng xen các cây thân gỗ sống lâu năm (cây lâm nghiệp) trên đất canh tác nông nghiệp, không được làm giảm sút năng suất của các cây trồng nông nghiệp

Tiếp theo đó, dựa vào sự khác biệt về cơ cấu các loài cây trồng xen và cấu trúc của nó trong mô hình trồng xen, do điều kiện kinh tế xã hội và tập quán canh tác của nhân dân địa phương quyết định mà được phân chia thành các mô hình (practies) nông lâm kết hợp

2.6.1.3 Hệ canh tác súc - lâm kết hợp, lấy chăn nuôi làm hướng ưu tiên

Hệ canh tác súc - lâm mục đích chủ yếu là thâm canh các đồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc, việc kết hợp trồng xen các cây thân gỗ và nhất là các cây gỗ họ

đậu có khả năng cố định đạm trên đồng cỏ chăn nuôi là nhằm mục đích: nâng cao năng suất đồng cỏ, tạo bóng mát cần thiết cho gia súc, tạo thành các hàng rào ngăn cản súc vật để thực hiện việc chăn thả súc vật trên các đồng cỏ luân phiên

2.6.1.4 Hệ canh tác lấy cả nông lâm ngư làm trọng tâm phát triển

Hệ canh tác nông lâm ngư kết hợp là hệ canh tác trên các dạng đất đai được ngập nước, (ngập nước triều khi triều cường và ngập nước ngọt trong mùa mưa) Mục đích cơ bản là nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây nông nghiệp và trồng rừng

Trang 23

2.6.1.5 Hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thuỷ sản

Hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thuỷ sản là hệ canh tác trên các dạng đất đai

được ngập nước, ngập nước triều khi triều cường và ngập nước ngọt trong mùa mưa

Mục đích cơ bản là nuôi trồng thuỷ sản, bởi vì nguồn lợi thuỷ sản mang lại trên 1 đơn vị diện tích canh tác cao hơn từ 2 đến 5 lần so với trồng cây nông nghiệp

và trồng rừng Để nuôi trồng thuỷ sản có năng suất cao và bền vững phải kết hợp trồng xen cây rừng nhằm: tạo nguồn thức ăn cho các loài thuỷ sản, giảm nhiệt độ nước trong mùa nắng và hạn chế hiện tượng sắc mặn trong mùa khô, giảm độ đục của nước, hạn chế quá trình phèn hoá… Trong hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thuỷ sản có hai hệ phụ: lâm ngư kết hợp, ngư lâm kết hợp [19]

2.6.2 Hệ canh tác cây đa tác dụng kết hợp nông lâm nghiệp

Các cây gỗ đa tác dụng là chúng có thể thoả mãn được các yêu cầu về cung cấp gỗ, củi, lương thực, thức ăn gia súc, dược liệu, có khả năng cố định đạm từ khí quyển để nâng cao độ phì của đất, trên cùng một đối tượng cây trồng Tuy hệ này nằm trong khái niệm mở rộng của phương thức NLKH, nhưng nó có tầm quan trọng rất lớn trong vấn đề sử dụng đất đai hiện nay, đặc biệt là đất vùng đồi núi

Trong hệ canh tác này, có sự kết hợp hài hoà giữa các kỹ thuật canh tác lâm nghiệp (giải quyết mối quan hệ giữa các cá thể cây gỗ trong quần thể rừng, kết cấu

và cấu trúc của quần thể) với các kỹ thuật canh tác nông nghiệp (như chọn giống, làm đất, chăm sóc, bón phân) và kỹ thuật làm vườn (chiết, ghép, tạo tán…)

2.7 Kinh nghiệm phát triển các mô hình nông lâm kết hợp của một số nước trên thế giới

2.7.1 Các mô hình nông lâm kết hợp ở Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, diện tích đồi núi chiếm 6,3 tỷ ha, gần bằng 66% tổng diện tích lãnh thổ Khoảng 1/3 dân số, 2/5 diện tích đất canh tác và 90% đất rừng ở những khu vực đồi núi Kỹ thuật NLKH ở Trung Quốc đã có một lịch sử lâu đời Nhưng sơ lược có thể kể đến các mô hình NLKH dưới đây:

• Mô hình NLKH dựa trên các loại hoa màu là chính

Trang 24

ở các mô hình này, NLKH dựa trên cây hoa màu thân thảo là thành phần chính, cây gỗ là thành phần phụ Ưu điểm của các mô hình này là có thể cung cấp nông sản và gỗ, cải thiện được môi trường và gia tăng sức sản xuất của nông trại

• Mô hình NLKH dựa vào thành phần cây ăn quả là chính

Sự xen canh của cây ăn quả với hoa màu thân thảo là những kỹ thuật lâu năm của người nông dân Trung Quốc Các mô hình này có ưu điểm là có thể sử dụng đất triệt để và tận dụng được nguồn lao động, tạo nên một thảm thực vật che phủ trên mặt đất để bảo vệ đất và nước tốt hơn, đồng thời cung cấp sản phẩm cho người, cỏ cho vật nuôi và phân xanh để cải tạo độ màu mỡ của đất Việc xen canh cũng làm gia tăng nhiệt độ của đất, kích thích rễ cây và hoạt động vi sinh vật trong mùa đông, giảm công lao động và hạn chế sự cạnh tranh về dưỡng chất và ánh sáng Nhưng các mô hình đó cũng có những mặt hạn chế là những sản phẩm từ cây ăn quả có thể mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng có thể rủi ro lớn khi sản lượng vượt quá nhu cầu của thị trường Ngoài ra, cũng có những rủi ro về mặt sinh thái khi trồng độc canh cây ăn quả trên diện rộng có thể xuất hiện các loại sâu bệnh lây lan hoặc những năm thời tiết bất thường có thể gặp rủi ro lớn

• Mô hình NLKH dựa trên cây chè là chính: cây chè thường được trồng xen canh với cây ăn quả hoặc cây gỗ và các loại hoa màu khác Nhiều loại hoa màu thân thảo khác nhau, đặc biệt là các cây họ đậu được trồng xen giữa hàng chè

Ưu điểm của mô hình này là việc trồng xen cây lấy gỗ và cây ăn quả trong hệ thống có thể cải thiện được điều kiện tiểu khí hậu (nhiệt độ, ẩm độ, tán xạ ánh sáng…), tăng sản lượng và chất lượng chè Hơn nữa, bên cạnh sản xuất chè các mô hình này còn cho nhiều sản phẩm khác như các loại trái cây, chất đốt, thức ăn gia súc và phân xanh Việc xen canh cây trong vườn chè còn có tác dụng ngăn cản dòng chảy, giảm xói mòn đất, điều hoà nhiệt độ cao trong mùa hè Tuy vậy, mô hình này cũng có những mặt hạn chế là có nhiều loại cây có chung sâu bệnh với chè

Mặt khác, có nhiều loại cây không thích hợp trồng xen với chè sẽ làm giảm năng suất và hiệu quả kinh tế Có thể có nhiều loại cây phù hợp trồng xen với chè nhưng mật độ không thích hợp cũng không đem lại hiệu quả kinh tế Vì vậy, lựa chọn cây gỗ, cây ăn quả để trồng xen với chè với mật độ thích hợp là một điều rất

Trang 25

cần thiết trong mô hình này

• Mô hình NLKH trong đó cây rừng là chính: đối với mô hình này, bao gồm rừng trồng với quy mô lớn để sản xuất gỗ, các cây trồng xen chủ yếu là hoa màu trong giai đoạn đầu mới trồng rừng [14]

2.7.2 Các mô hình nông lâm kết hợp chủ yếu ở Indonesia

• Mô hình NLKH theo kiểu nông trại

- Mô hình NLKH theo kiểu vườn hộ (pekarangan) là một sự kết hợp giữa cây ngắn ngày, cây lâu năm và vật nuôi trong khu vườn quanh nhà Nó là một hệ thống canh tác tương hỗ với ranh giới được xác định để phục vụ nhiều chức năng khác nhau về kinh tế, sinh học tự nhiên và văn hoá xã hội

Điển hình cấu trúc của mô hình này là vườn hộ trồng xen nhiều tầng

- Mô hình 3 tầng: một phương thức trồng và thu hoạch cỏ, cây họ đậu, cây bụi và cây trồng làm thức ăn cho gia súc Tầng thứ nhất, bao gồm cỏ và cây họ đậu, nhằm cung cấp cỏ cho chăn nuôi gia súc trong mùa mưa Tầng thứ 2 bao gồm cây bụi dùng để cung cấp nguyên liệu lợp mái, làm hàng rào và có thể tận dụng lá của chúng làm thức ăn gia súc Tầng thứ 3, bao gồm các cây thân gỗ nhằm cung cấp gỗ, củi và trái cây

• Mô hình NLKH dựa vào rừng: ở mô hình này chủ yếu là canh tác nương rẫy (hay còn gọi chặt, phá, đốt, bỏ hay làm nương, rẫy du canh) Canh tác nương rẫy bao gồm rất nhiều kỹ thuật theo sự đa dạng của điều kiện tự nhiên

ở Apo Kayan (Đông Kalimantan), đa số là rừng tái sinh được phát, đốt và dọn sạch để sản xuất nông nghiệp, giai đoạn bỏ hoá 10 đến 30 năm Người nông dân tin rằng giai đoạn bỏ hoá như vậy đủ lâu để giảm cỏ dại và ngăn chặn sự thoái hoá ngắn hạn của rừng biến thành rừng cây lau, cây bụi Một số nơi ở khu vực này có thể

bỏ hoá dài hơn (40 đến 50 năm) để ngăn ngừa giảm độ phì nhiêu của đất đai và xâm chiếm của cỏ dại Những người nông dân đã lấy được giá trị của việc bỏ hoá dài hạn trong canh tác nương rẫy

ở Long Segar (cũng ở Đông Kalimantan), người ta canh tác nương rẫy bằng cách phát dọn sạch rừng (chủ yếu rừng nguyên sinh) để canh tác nương rẫy

Trang 26

• Hệ canh tác Taungya: đây là mô hình khuyến khích trồng rừng theo phương thức truyền thống Tumpangsari, nông dân được quyền trồng cây lương thực giữa các hàng cây (trồng trong 2 năm đầu) Ngoài ra, mô hình Tumpangsari này còn cho phép trồng cây ăn quả, cỏ và các loại cây trồng khác giữa những hàng cây rừng trong suốt luân kỳ của rừng trồng

2.7.3 Các mô hình nông lâm kết hợp chủ yếu ở Philippines

Hiện trạng đất đai vùng cao ở Philippines là 17,5 triệu ha, chiếm 50% tổng diện tích cả nước trong đó khoảng 12,2 triệu ha thuộc đất vùng cao khó canh tác Dân số vùng cao khoảng hơn 3 triệu hộ với trên 18 triệu người, trong đó có khoảng 8,5 triệu người đang sống ở khu vực miền núi (6 triệu người dân tộc thiểu số và 2,5 triệu người di cư từ đồng bằng lên) Mức tăng dân số hàng năm là 2,6%, ước tính

đến năm 2025 sẽ có thêm 5,25 triệu ha rừng bị khai quang [dt.14] Sau đây là các mô hình NLKH chủ yếu ở Philippines:

• Mô hình canh tác xen theo băng: canh tác theo băng là một kỹ thuật trồng những hàng dậu họ đậu và xen hoa màu giữa hai hàng của chúng Những hàng dậu này là những cây hoặc bụi cây họ đậu được trồng cách đều nhau (khoảng từ 4 - 6m) dọc theo đường đồng mức Khoảng đất trống ở giữa những hàng dậu này được trồng những hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả Tiêu biểu cho hệ thống này là kỹ thuật canh tác trên đất dốc SALT Cách một hoặc hai hàng cây lâu năm được trồng những băng hàng cây họ đậu bằng gieo hạt trực tiếp hoặc cành giâm, dọc theo

đường đồng mức với trung bình khoảng cách giữa hai hàng băng là 5 m Tuy một số diện tích đất bị chiếm bởi các băng này nhưng hiệu quả kinh tế vẫn cao hơn và hệ thống bền vững hơn ở phần đất trên cao được trồng cây lâu năm như cà phê, cây ăn quả… Còn 2 băng đất xen giữa 3 hàng băng dưới chân đồi được dành cho trồng hoa màu ngắn ngày Với việc sắp xếp như trên thì tỷ lệ canh tác trên đất của các băng cây xanh chiếm khoảng 20%, cây lâu năm chiếm khoảng 25% và hoa màu ngắn ngày chiếm khoảng 55% tổng diện tích Những hàng dậu phải được cắt tỉa thường xuyên ở độ cao khoảng 0,5 m để giảm tối thiểu che bóng hoa màu trong băng Sinh khối từ phẩm vật cắt tỉa có thể sử dụng ủ lên đường băng làm phân xanh hoặc làm

Trang 27

thức ăn cho gia súc

Ưu điểm của mô hình này là bảo vệ bền vững đất và nước, gia tăng năng suất hoa màu đồng thời tăng thu nhập cho nông trại Ngoài ra, mô hình này còn có ý nghĩa làm giảm sự phụ thuộc vào phân bón vô cơ vì việc cắt tỉa các băng cây họ đậu

được sử dụng như nguồn phân hữu cơ đáng kể

Tuy vậy, mô hình này còn có hạn chế là không phù hợp với những nơi có độ dốc thấp bởi vì: đất canh tác bị mất do trồng nhiều hàng dậu, cắt tỉa không đúng và khoảng cách 2 hàng dậu quá gần có thể làm giảm ánh sáng ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây trồng

• Mô hình NLKH nhiều tầng: trong mô hình này, những loài cây trồng hỗn giao nhau chiếm giữ các tầng khác nhau của tán ở tầng trên được chiếm ưu thế bởi cây gỗ lâu năm ở những tầng phía dưới được trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và hoa màu Mô hình phổ biến là trồng xen các loại cây dừa, cà phê, chuối (phổ biến ở tỉnh Cavite), cà phê, ca cao được trồng chung (thường thấy ở các tỉnh Mindano)

Ưu điểm của các mô hình này là tận dụng tối đa tài nguyên đất, ánh sáng, thúc đẩy hiệu quả chu trình của dưỡng chất, hạn chế xói mòn Gia tăng đa dạng sinh học do vậy hoa màu ít bị sâu bệnh hại Canh tác đa dạng hoa màu bảo đảm nguồn lương thực và tổng thu nhập đồng thời tận dụng tối đa được thời gian lao động

Hạn chế của mô hình này là có thể xảy ra sự cạnh tranh về ánh sáng và dưỡng chất giữa các loại hoa màu và cây trồng chung

• Mô hình NLKH chăn thả vật nuôi dưới tán rừng: ở hệ thống này bao gồm gia súc như trâu, dê, cừu được chăn thả tự do dưới tán rừng trồng đã trưởng thành

Theo mô hình này, gia súc được chăn thả dưới tán cây (aleurites moluc cana) nơi mà các loại cỏ đã được gây trồng trước đó Hệ thống này đã chứng tỏ về mặt kinh tế và sinh thái bởi vì đất chưa được sử dụng tối đa mà vẫn duy trì được chăn nuôi Ngoài ra, gia súc còn dẫm cỏ rạp xuống tạo điều kiện để thu lượm quả lumbang dễ dàng hơn

• Mô hình Taungya: Taungya là một hệ thống NLKH trong những khu vực rừng mới trồng được xen canh với hoa màu Khi rừng cây đã khép tán không đủ ánh

Trang 28

sáng cho hoa màu bên dưới, nông dân di chuyển sang khu rừng khác và quy trình này lại được tiếp tục Ưu điểm của mô hình này là trồng rừng ít tốn kém đồng thời sản xuất ra lương thực và hoa màu

2.7.3 Các mô hình nông lâm kết hợp chủ yếu ở Thái Lan

Thái Lan là nước có tổng diện tích toàn lãnh thổ là 51.311.500 ha, bao gồm

76 tỉnh với dân số là 56,6 triệu người (năm 1996), mật độ dân số bình quân là 1,1 người/ha Đất rừng bao gồm: 18,9% diện tích, trong đó có 1.215 khu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, 58 vườn quốc gia và 30 khu bảo tồn động vật hoang dã

• Mô hình NLKH theo kiểu nông trại: vườn hộ là một kiểu NLKH nhiều tầng tán được trồng cấy xung quanh nhà Những cộng đồng định cư ở vùng cao đã canh tác vườn hộ trong nhiều thế kỷ qua Hầu hết, vườn hộ có cấu trúc từ 3 - 5 tầng Cây vông (ervthrina dadap) và chuối là những loài cây thường được dùng để che bóng cho hoa màu và rau Các loài cây chùm như cây ngây (moringa oleifera) và cây so

đũa (sebania grandiflora) được trồng như là loài đa dụng ở miền Nam, những loài cây lớn như sầu riêng dại (durio spp.), cây họ sao dầu (dipterocarp spp.), cây mít (artocarpus integer) chiếm ưu thế ở tầng trên trong khu vườn Mận (eugenia caryphvllus) được trồng xen với cây ăn quả để tăng tổng thu nhập

• NLKH dựa vào rừng: trong mô hình này còn bao gồm các loại rừng bản địa

và cây ăn quả, nằm ngoài diện tích đất thổ cư nhưng không cách xa nhà lắm (trong tầm đi bộ) Mô hình này có ưu điểm là cây và hoa màu được trồng cùng một lúc nên vườn rừng là một hệ sinh thái tốt cho môi trường Tuy vậy, mô hình này vẫn còn những hạn chế: vì nằm cách xa làng và đất thổ cư vườn rừng rất khó quản lý và thường bị thiệt hại do lửa, thú vật và trộm cắp

• Mô hình rừng trồng và vật nuôi: mô hình này kết hợp chăn thả gia súc dưới tán rừng - đó là một kỹ thuật được áp dụng phổ biến ở những nơi rừng đã trưởng thành và bãi chăn thả gia súc hiếm Những loại cây thường được chọn trồng trong mô hình này là tếch (tectona gradis), sao dầu (dipterocarpys spp.), cao su (hevea brasiliensis) và những loại cây mọc nhanh khác như bạch đàn (eucalyptus spp.) và xoan ấn Độ (azadirachta indica)

Trang 29

Ưu điểm của mô hình này là giảm bớt lớp bổi khô dưới mặt đất nên giảm rủi

ro do lửa gây ra trong mùa khô Nhưng có hạn chế như cây ăn quả, hoa màu và những thực vật khác không thể trồng được ở đây vì gia súc làm hại và nếu không quản lý thích hợp về số vật nuôi trên đơn vị diện tích chăn thả, mùa chăn thả,… đất

có thể bị nén chặt bởi gia súc

Qua kinh nghiệm về phát triển các mô hình NLKH ở một số nước trên thế giới có điều kiện gần giống với Việt Nam, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

- Phát triển các mô hình NLKH phù hợp với canh tác trên đất dốc, đem lại nhiều loại sản phẩm trên cùng một đơn vị điện tích Trong đó, sản phẩm nông nghiệp đáp ứng nhu cầu đời sống nông dân trước mắt, sản phẩm lâm nghiệp cho thu hoạch lớn mang tính lâu dài, đồng thời bảo đảm hệ thống sản xuất bền vững và bảo

vệ môi trường sinh thái

- Đa số các mô hình NLKH có nhiều ưu điểm có thể ứng dụng vào vùng trung du và miền núi Việt Nam như mô hình NLKH dựa vào rừng kết hợp với chăn thả gia súc; mô hình trồng theo các băng chống xói mòn (SALT); mô hình trồng mới

có canh tác xen cây nông nghiệp trong thời gian rừng chưa khép tán (Taungya)…

- Tuy vậy cũng còn có các mô hình có rất nhiều nhược điểm trong sản xuất, hiệu quả kinh tế thấp và ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái cần kìm hãm và loại bỏ như phát nương làm rẫy với chu kỳ bỏ hoá ngắn Khi mô hình này phát triển, nhiều nước cho đó là nguyên nhân chính dẫn đến sự mất rừng mà hậu quả hết sức nghiêm trọng và việc khắc phục rất khó khăn

Trang 30

3 đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí, địa lý, địa hình

Hoà Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng núi Tây Bắc, có diện tích tự nhiên 4.662,5 km2, chiếm 1,43% diện tích cả nước, với tọa độ 20040’ vĩ độ Bắc và 106020’kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ

- Phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình

- Phía Đông giáp tỉnh Hà Tây

- Phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hoá

Toàn tỉnh gồm 9 huyện, 1 thị xã (trong đó có 197 xã, 6 phường, 11 thị trấn),

có 63 xã cao thuộc huyện Mai Châu, Đà Bắc và một số xã thuộc huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn [15]

Hoà Bình là một tỉnh có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh và thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được chia thành 2 vùng rõ rệt:

• Vùng núi cao phân bố ở phía Tây Bắc, độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 600 - 700 m, nơi cao nhất là đỉnh Phu Canh (Đà Bắc) cao 1.373 m Độ dốc trung bình từ 30 - 350 , có nơi dốc trên 400 Địa hình hiểm trở đi lại khó khăn

• Vùng núi thấp phân bố ở khu vực Đông Nam của tỉnh Địa hình là các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 - 250, độ cao trung bình 100 - 200 m,

ít hiểm trở so với vùng cao [15]

3.1.1.2 Khí hậu

Nằm trong vành đai nhiệt đới nên khí hậu của tỉnh Hoà Bình mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 11 và mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Do sự chi phối của địa hình, địa thế nên tạo ra các tiểu vùng khí hậu khác nhau ở khu vực núi cao có khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới Khu vực xung

Trang 31

quanh hồ thuỷ điện Hoà Bình, khí hậu tương đối mát mẻ, mưa nhiều Khu vực đồi

thấp phía Nam có khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa [5]

3.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất: gồm 3 nhóm chính: nhóm đất feralit phát triển trên đá trầm tích

và biến chất có kết cấu hạt thô trên các loại đá chủ yếu là sa thạch poofirit spilit

Nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn, trên các loại

đá phiến thạch sét, diệp thạch Nhóm đất feralít phát triển trên đá vôi và biến chất

của đá vôi (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Đất đai của tỉnh Hoà Bình năm 2002

1 Theo phân loại sử dụng

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hoà Bình năm 2002

Trong 3 loại đất trên, đất phát triển trên phiến thạch, diệp thạch và đá vôi có

độ phì cao, thích hợp với nhiều loại cây rừng, cây ăn quả, cây công nghiệp

• Tài nguyên nước: Hoà Bình có mạng lưới sông, suối phân bổ tương đối đều trên

các huyện, thị Trong đó, sông lớn nhất chảy qua tỉnh là sông Đà, qua các huyện

Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn có tổng chiều dài 151 km, với tổng lưu vực là

51.800 km2 Hồ sông Đà có dung tích 9,5 tỉ m3 nước phục vụ cho nhiều mục tiêu

Trang 32

kinh tế và quốc phòng, nhưng trong đó phục vụ cho việc phát điện của Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, nguồn cung cấp điện năng quan trọng của cả nước và có nhiệm

vụ cắt lũ về mùa mưa, điều tiết nước chống hạn về mùa khô cho đồng bằng sông Hồng - là quan trọng nhất Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, đầm lớn nhỏ khác với tổng diện tích mặt nước 1294,4 ha là nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phục vụ đời sống, cơ sở chăn nuôi thuỷ sản, nguồn tích trữ nước mùa hè dự phòng và sử dụng cho các mùa Đông - Xuân

• Tài nguyên rừng: độ che phủ rừng hiện nay vào khoảng 37% diện tích Hiện tại,

tài nguyên rừng tỉnh Hoà Bình còn nghèo, vì phần lớn là rừng non mới phục hồi, mới trồng, trữ lượng gỗ còn ít và trên 100 nghìn ha đất chưa có rừng Diện tích có rừng 194.308 ha, trong đó rừng tự nhiên 146.477 ha, rừng trồng 47.831 ha Sản lượng gỗ cây đứng 3,333 triệu m3 Động vật rừng nghèo về số loài và số lượng, bởi vì do phá rừng làm rẫy nên môi trường sống của động vật rừng bị thu hẹp

3.1.2 Một số đặc điểm về kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Hoà Bình

- Quy mô GDP: cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước trong thời

kỳ đổi mới, những năm qua nền kinh tế của tỉnh Hoà Bình đã có sự tăng trưởng đáng

kể Chỉ tiêu GDP trong giai đoạn 1991 - 2002 có xu thế tăng Năm 2002, GDP của tỉnh đạt 1810,89 tỷ đồng gấp 2,82 lần năm 1991 (giá 1994)[15] Theo trung bình các năm, quy mô GDP của Hoà Bình chỉ xấp xỉ bằng 0,55% GDP toàn quốc

- Nhịp độ tăng trưởng kinh tế: thời kỳ 1991 - 2000, nhịp độ tăng GDP của

tỉnh khá cao, trung bình đạt 9,4%/năm Trong đó thời kỳ 1991 - 1995 đạt 12,2%/năm và 6,7% thời kỳ 1996 - 2000, với xu hướng giảm dần theo xu hướng chung của cả nước

- Cơ cấu kinh tế: cùng với sự tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của tỉnh

cũng có sự chuyển đổi theo xu thế chung của cả nước tuy hiện nay trong cơ cấu kinh

tế của tỉnh, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao Song đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ theo Bảng 3.2

Trang 33

Bảng 3.2: Tỷ trọng các ngành kinh tế tỉnh Hoà Bình qua một số năm

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hoà Bình [dt.5]

Sau 10 năm chuyển dịch cơ cấu, tỷ trọng GDP nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn Tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ tăng khá nhanh Tăng trưởng công nghiệp khá, nhưng tỷ trọng còn nhỏ bé, chưa tạo được mặt hàng mũi nhọn làm đòn bẩy kinh

tế phát triển

- Các vùng kinh tế của tỉnh: Hoà Bình là một tỉnh miền núi, địa hình bị chia

cắt mạnh và dốc Trên cơ sở xem xét các nguồn lực phát triển, nhằm phát huy lợi thế

so sánh của các vùng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, Hoà Bình được chia thành 4 vùng kinh tế

Vùng 1: Vùng phòng hộ và hồ Hoà Bình

Vùng này bao gồm vùng núi cao, vùng hồ và các dải đất ven hồ gồm 23 xã thuộc vùng lòng hồ sông Đà, thuộc huyện Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Kỳ Sơn và thị xã Hoà Bình Đây là vùng phòng hộ xung yếu, vì vậy việc trồng rừng phòng hộ

và bảo vệ rừng là trọng tâm Cây lâm nghiệp được trồng chủ yếu ở đây là luồng, bương, tre, vầu, nứa Cư dân ven hồ đã tận dụng mặt nước để nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản

Đối với các vùng núi cao phòng hộ đầu nguồn phát triển NLKH, với các loại cây trồng chính như luồng thanh, keo lai, các loại cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày (quế, chè tuyết…) nhằm bảo vệ và giữ nước đầu nguồn lòng hồ sông Đà Nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhằm mục tiêu phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn rửa trôi, giữ nước lâu bền cho các công trình thuỷ điện và cải tạo môi trường sinh thái của khu vực, phòng chống lũ lụt [16]

Trang 34

Vùng 2: Các cánh đồng nhỏ, các khu vực thấp phía Đông và Nam của tỉnh

Vùng bao gồm những dải núi thấp và những cánh rừng nhiệt đới - đây là nơi tập trung sinh sống của người Mường Hoà Bình Bốn cánh đồng Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng và Mường Động (ở huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn và Kim Bôi) là nơi người Mường sống tập trung đông nhất Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh Các loại cây trồng chính của vùng là cây lưong thực, cây công nghiệp

Phương hướng đến năm 2005, diện tích trồng cây ăn quả sẽ tăng lên 15.000

ha và đến năm 2010 sẽ lên 20.000 ha Chăn nuôi sẽ dần chuyển hướng sang chăn nuôi theo kiểu công nghiệp, tăng tỷ trọng gia súc, gia cầm làm sản phẩm hàng hoá Thay thế các giống cũ thoái hoá bằng các giống mới có giá trị thương phẩm cao [16]

Vùng 3: Vùng núi cao

Gồm các xã vùng núi cao thuộc các huyện còn lại trong tỉnh - đây là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Vùng này có đặc điểm địa hình hiểm trở, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp, vẫn còn tình trạng du canh du cư,

đốt rừng làm rẫy

Hiện nay, việc giao đất giao rừng đến từng hộ gia đình vẫn đang được tiếp tục thực hiện Các mô hình vườn rừng, trang trại rừng kết hợp trồng cây lâm nghiệp với cây ăn quả và chăn nuôi hoặc mô hình trại rừng kết hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi,…đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Về phát triển lâm nghiệp, tập trung trồng các loại cây lấy gỗ, cây nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản

Định hướng phát triển vùng này là phát triển nông lâm kết hợp, trọng tâm là phát triển lâm nghiệp với các loại cây rừng kinh doanh như quế, cây lấy gỗ, cây nguyên liệu công nghiệp Mục tiêu quan trọng hàng đầu là bảo vệ, khoanh nuôi diện tích rừng tự nhiên và rừng tái sinh còn khá lớn trong vùng; kết hợp giữa trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán của dân cư theo hướng phát triển lâm nghiệp xã hội Kết hợp giữa trồng rừng với phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và canh tác nông nghiệp [16]

Trang 35

Vùng 4: Thị xã Hoà Bình và vùng phụ cận

Đây là vùng trung tâm, khu kinh tế đô thị trọng điểm của tỉnh Về sản xuất nông nghiệp: phát triển thâm canh cây lương thực, tập trung trồng các loại cây công nghiệp có giá trị cao như mía, chè trên cơ sở ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật Gắn vùng cây nguyên liệu với cơ sở chế biến và các cơ sở hạ tầng phát triển Phát triển kinh tế trang trại với nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh đa dạng

Chăn nuôi: phát triển theo phương thức chăn nuôi công nghiệp áp dụng các tiến bộ sinh học và giống mới để phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá

Lâm nghiệp: bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ sông Đà, khoanh nuôi và trồng rừng tập trung

Thuỷ sản: tận dụng các diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với khai thác tự nhiên

3.1.2.2 Một số đặc điểm về mặt xã hội

Dân số: tính đến ngày 31/12/2002, toàn tỉnh Hoà Bình có 789.300 người

Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh là 169 người/km2 Dân số nông thôn 676.955 người, chiếm 85,77% dân số toàn tỉnh Dân cư phân bổ không đều giữa các huyện:

Đà Bắc 62 người/km2, Lương Sơn 213 người, thị xã Hoà Bình 606 người [15]

Lao động: dân số trong độ tuổi lao động toàn tỉnh có khoảng 440.000 người

(năm 2000) bằng 57% dân số toàn tỉnh Lao động tập trung chủ yếu trong nông, lâm nghiệp (83,6%), lao động xây dựng và công nghiệp (5,7%), làm việc trong các ngành khác (10,7%) Tỷ lệ thiếu việc làm ở thành thị còn khá lớn (6,6%), lao động nông nghiệp mới sử dụng được 74% thời gian

Chất lượng lao động đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển, lao động

đã tốt nghiệp tiểu học chiếm 34,6%, đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở chiếm 35,1%, đã tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 12% Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và công nhân kỹ thuật trở lên chỉ chiếm 8% Như vậy, lực lượng lao động chủ yếu có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp [16]

Dân tộc: Hoà Bình có 6 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Mường chiếm

60,3%, dân tộc Kinh chiếm 31%, các dân tộc Thái, Tày, H’mông, Dao chiếm 8,7%

Trang 36

Như vậy, 69% dân số của tỉnh là người dân tộc ít người Đây là một đặc thù cần

được quan tâm trong các chính sách kinh tế - xã hội, nhất là chính sách dân tộc [5]

Cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng kinh tế là điều kiện hết sức quan trọng trong

việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng Nó trực tiếp tác động đến việc hình thành các hình thức và xu hướng phát triển NLKH tại tỉnh Hoà Bình Trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu như hệ thống điện, đường giao thông, thuỷ lợi, hệ thống thông tin… luôn được quan tâm và

đầu tư xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau

Hệ thống điện phục vụ nông nghiệp và nông thôn ngày càng được tăng cường

và mở rộng Tổng đường dây 35 KV và 655 km Toàn tỉnh có 475 trạm biến áp với tổng dung lượng là 167.375 KVA Tuy vậy, đến năm 2000 số xã có điện là 137/214 (chiếm 64%), số hộ có điện 77.224 hộ (chiếm 54,4%)

Hệ thống đường giao thông đã được chú trọng phát triển trong thời gian qua,

đường bộ toàn tỉnh dài 3.668 km, với chất lượng đường nhựa chiếm 53,6%, đường cấp phối chiếm 42,4%, đường đất chiếm 4,0% Đường thuỷ dài 143 km, với 8 cảng sông và 10 cầu tầu Hệ thống thuỷ lợi có 617 công trình tưới (gồm hồ chứa 353 công trình, đập bai dâng nước 250 công trình, trạm bơm điện 14 công trình) và 2 công trình tiêu nước với năng lực thiết kế tiêu là 857 ha Đảm bảo nước tưới phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp và cấp nước sinh hoạt cho người dân

Hiện nay, toàn tỉnh có 2 trung tâm bưu điện, 9 cơ sở bưu điện huyện và 37 bưu điện khu vực, 100 cơ sở điểm bưu điện văn hoá xã [15]

3.1.3 Một số đặc điểm về văn hoá

3.1.3.1 Lịch sử phát triển lâm nghiệp và văn hoá rừng của Hoà Bình

Vùng đất Hoà Bình ngày nay được xác định là một trong những cái nôi sinh sống của ngườiViệt cổ Khoảng một vạn năm trước đây, trong khi hầu hết đồng bằng Bắc Bộ còn bị chìm sâu dưới nước biển hoặc lầy lội không thể ở được, thì vùng núi rừng Hoà Bình chính là một trung tâm cư dân quan trọng của nền “Văn hoá Hoà Bình” Hoạt động kinh tế của cư dân vùng này thời bấy giờ chủ yếu là săn bắt, hái lượm song hoạt động sản xuất nông nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và là hoạt động

Trang 37

kinh tế thứ yếu, bổ sung Họ đã biết đẵn cây rừng, đốt nương, trồng trọt cây có củ và cây ăn quả Canh tác nương rẫy của người Hoà Bình đã xuất hiện từ thời bấy giờ và tồn tại mãi cho đến ngày nay

Mặc dù đã trải qua nhiều đổi thay và có sự tác động nhất định của kinh tế thị trường, song nhìn chung yếu tố phong tục tập quán vẫn ảnh hưởng đến xu hướng phát triển NLKH của Hoà Bình

ở Hoà Bình, nền canh tác nương rẫy xuất hiện khi con người chưa biết trồng lúa nước, tồn tại lâu dài và trở thành tập quán của đồng bào dân tộc trước hết bởi sự giới hạn của ruộng đất Những người nông dân không có đất luôn tìm cách khai phá nương rẫy để mở rộng diện tích canh tác của họ Việc khai thác, canh tác nương rẫy

đều phải trải qua những quy trình được tuân thủ nghiêm ngặt và được truyền từ đời này sang đời khác Phương thức canh tác theo “lối hồi canh” Sau ba năm canh tác, người ta cho đất nghỉ, sau đó 3 năm khi đất màu được phục hồi, cây rừng tái sinh xanh tốt trở lại, người ta lại tiếp tục đẵn cây đốt rừng và canh tác nương rẫy Cách làm đất và gieo hạt của đồng bào dân tộc trong canh tác nương rẫy thể hiện tính hợp

lý trong việc bảo vệ đất đai và mùa màng Phương thức chọc lỗ trong làm đất và gieo hạt của canh tác nương rẫy một mặt bảo đảm cho hạt giống không bị mưa làm cuốn trôi trên đất dốc, mặt khác vừa bảo vệ được đất ít bị rửa trôi [16]

3.1.3.2 Sự phân hoá giàu nghèo

Sự phát triển nhanh của nông nghiệp, lâm nghiệp trong những năm qua đã tạo

ra sự phân cực khá rõ trong khu vực nông thôn Hoà Bình Một bộ phận nông dân đã giàu nên khá nhanh do thực hiện các phương thức NLKH - kinh doanh đa dạng và lợi dụng tổng hợp gắn liền với hiệu quả kinh tế trong việc canh tác trên đất dốc Nhưng còn một bộ phận nông dân sản xuất nông lâm nghiệp theo phương thức sản xuất cũ, lạc hậu hoặc sử dụng phương thức sản xuất NLKH chưa phù hợp với điều kiện sinh thái sẽ lâm vào cảnh đói nghèo

Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội ảnh

Trang 38

hưởng đến xu hướng phát triển nông lâm kết hợp ở vùng nghiên cứu

Những thuận lợi: Hoà Bình nằm ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc xuống vùng

đồng bằng sông Hồng trù phú và tam giác tăng trưởng kinh tế (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh); mặt khác, hệ thống giao thông nối giữa tỉnh Hoà Bình với các tỉnh vùng Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng, thủ đô Hà Nội và các tỉnh dọc dãy Trường Sơn thuận lợi Vì vậy sự chuyển biến vùng Tây Bắc sẽ gắn với Hoà Bình Về lâu dài khi chuỗi đô thị Hoà Lạc - Xuân Mai - Miếu Môn hình thành, sẽ có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế của Hoà Bình

Đất đai và khí hậu phù hợp với nhiều loại cây ăn quả và cây công nghiệp, diện tích đất chưa sử dụng để phát triển nông lâm nghiệp còn nhiều

Có nguồn điện, nguồn nước dồi dào tạo ra lợi thế trong việc thu hút các ngành công nghiệp sử dụng nhiều điện năng

Hồ Hoà Bình cùng với sông Đà và sông Kim Bôi tạo ra hệ thống giao thông

đường thuỷ quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh

và toàn vùng Tây Bắc

Đây là tỉnh miền núi có nền văn hoá Hoà Bình đặc sắc, với kiến thức bản địa phong phú và các phương thức sản xuất NLKH đã có từ xa xưa nên việc triển khai các mô hình NLKH sẽ ngày càng phong phú với hiệu quả kinh tế cao nhưng vẫn

đảm bảo được môi trường bền vững

Nguồn lao động tại chỗ dồi dào, trẻ, khoẻ và cần cù Vì vậy, tỉnh Hoà Bình không chỉ có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của vùng Tây Bắc

mà còn có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sản xuất hàng hoá

Các điều kiện thuận lợi trên là nguồn lực to lớn cho phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

Những khó khăn chủ yếu: điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp, phần lớn còn

sản xuất tự cung tự cấp GDP đầu người năm 2000 mới đạt 178 USD, trong khi đó trung bình cả nước đã đạt 317 USD; tỷ lệ tích luỹ đầu tư của tỉnh mới đạt 9% DGP,

Trang 39

trong khi đó cả nước là 25% [dt.5]

Là tỉnh có nhiều dân tộc, phần lớn dân cư có trình độ dân trí còn thấp, lao

động phổ thông chiếm tỷ lệ cao, số người đào tạo nghề còn ít, ngoài ra còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu, đã phần nào hạn chế đến khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của người lao động

Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất còn thiếu về số lượng (điện, đường, trường, trạm), chưa đảm bảo về chất lượng Hệ thống dịch vụ triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật như trạm giống cây trồng, vật nuôi và các cơ sở kỹ thuật khác chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

3.2.1.1 Thu thập tài liệu thứ cấp

Thu thập những tư liệu trong và ngoài nước liên quan đến những vấn đề về nghiên cứu phát triển trong các hệ canh tác NLKH được thu thập từ các viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức quốc tế

3.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

- Chọn điểm điều tra, khảo sát: địa điểm điều tra, khảo sát trực tiếp đảm bảo các tiêu thức đại diện cho các mô hình NLKH tại tỉnh Hoà Bình Trên cơ sở đó lựa chọn điểm điều tra, khảo sát trực tiếp gồm 100 hộ gia đình sử dụng các mô hình NLKH ở 2 huyện Lương Sơn, Đà Bắc

- Phương pháp thu thập số liệu: kết hợp phương pháp điều tra truyền thống với phương pháp PRA: điều tra theo câu hỏi, biểu mẫu chuẩn bị trước và áp dụng phương pháp phỏng vấn linh hoạt Khảo sát một số mô hình NLKH và gặp gỡ những người dân trực tiếp canh tác NLKH để thấy được mức độ chuyển dịch các công thức sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và sử dụng hợp lý các yếu tố sản xuất, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, tạo điều kiện cho nông thôn miền núi Hoà Bình phát triển bền vững về môi trường và sinh thái

- Phương pháp chuyên gia: trao đổi, thảo luận với Sở Nông nghiệp và Phát

Trang 40

triển nông thôn, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Trung tâm khuyến nông khuyến lâm tỉnh Hoà Bình

3.2.2 Tổng hợp, phân tích số liệu

3.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả và so sánh

Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh

tế xã hội bằng việc mô tả thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này được sử dụng trong luận văn để mô tả thực trạng các hình thức NLKH ở Hoà Bình

Phương pháp so sánh được áp dụng để so sánh khi thay đổi cơ cấu sản xuất hợp lý thì hiệu quả kinh tế của từng hình thức sẽ thay đổi như thế nào so với cơ cấu sản xuất hiện nay để từ đó thấy rõ tác dụng của sự chuyển dịch các công thức sản xuất

3.2.2.2 Phương pháp phân tích so sánh

Căn cứ vào kết quả khảo sát ở một số mô hình NLKH điển hình Trong mô hình này có bao nhiêu phương thức canh tác (kiểu canh tác) được cụ thể bằng các công thức sản xuất Từ đó đánh giá các mô hình với các chỉ tiêu cụ thể:

- Hiệu quả kinh tế của từng mô hình

Để phù hợp với điều kiện phân tích NLKH trên đất dốc miền núi, chúng tôi

áp dụng một số chỉ tiêu theo tài liệu của hệ canh tác của tổ chức FAO đã được các tác giả Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Hữu Hồng, Đặng Văn Minh dịch và biên soạn [14], các chỉ tiêu được sử dụng như sau:

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ miêu tả  Thí dụ - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Sơ đồ mi êu tả Thí dụ (Trang 9)
Sơ đồ miêu tả  Thí dụ - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Sơ đồ mi êu tả Thí dụ (Trang 10)
Hình 2.3: Mối quan hệ t−ơng tác giữa các thành phần chủ yếu - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Hình 2.3 Mối quan hệ t−ơng tác giữa các thành phần chủ yếu (Trang 18)
Bảng 4.3: Tình hình phát triển nông nghiệp Hoà Bình thời kỳ 1991 - 2002 - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.3 Tình hình phát triển nông nghiệp Hoà Bình thời kỳ 1991 - 2002 (Trang 48)
Bảng 4.5: Quy mô và cơ cấu diện tích các hệ canh tác nông lâm kết hợp - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.5 Quy mô và cơ cấu diện tích các hệ canh tác nông lâm kết hợp (Trang 51)
Bảng 4.10: Quy mô và cơ cấu sử dụng đất nông lâm nghiệp trong các mô hình - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.10 Quy mô và cơ cấu sử dụng đất nông lâm nghiệp trong các mô hình (Trang 58)
Bảng 4.11: Diễn biến về quy mô chăn nuôi trong các mô hình nông lâm - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.11 Diễn biến về quy mô chăn nuôi trong các mô hình nông lâm (Trang 59)
Bảng 4.19: Quy mô và cơ cấu sử dụng đất nông lâm nghiệp trong các mô - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.19 Quy mô và cơ cấu sử dụng đất nông lâm nghiệp trong các mô (Trang 67)
Bảng 4.27: Quy mô và cơ cấu sử dụng đất nông lâm nghiệp trong các mô - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.27 Quy mô và cơ cấu sử dụng đất nông lâm nghiệp trong các mô (Trang 73)
Bảng 4.33: Thu nhập nông, lâm nghiệp trong các mô hình - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.33 Thu nhập nông, lâm nghiệp trong các mô hình (Trang 76)
Bảng 4.42: Tổng hợp kết quả thu nhập nông, lâm nghiệp của các hệ canh - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.42 Tổng hợp kết quả thu nhập nông, lâm nghiệp của các hệ canh (Trang 83)
Bảng 4.47: Những yếu tố chính cản trở đến sự phát triển nông lâm kết hợp - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 4.47 Những yếu tố chính cản trở đến sự phát triển nông lâm kết hợp (Trang 87)
Bảng 2: Cơ cấu trồng cây nông nghiệp qua một số năm - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 2 Cơ cấu trồng cây nông nghiệp qua một số năm (Trang 103)
Bảng 7: Tình hình sử dụng lao động qua một số năm - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Bảng 7 Tình hình sử dụng lao động qua một số năm (Trang 107)
Hình thức tiếp cận thị tr−ờng 1993  1998  2003 - Nghiên cứu các hình thức và xu hướng phát triển nông lâm kết hợp tại tỉnh hoà bình
Hình th ức tiếp cận thị tr−ờng 1993 1998 2003 (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w