Luận văn nhằm mục tiêu tìm hiểu hiện trạng sản xuất nông lâm kết hợp trên quy mô cảnh quan tại tổ 1 thôn 1 và trên quy mô nông hộ tại thôn 1và thôn 2 xã Biển Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MÔ TẢ KỸ THUẬT NÔNG LÂM KẾT HỢP TRÊN QUY MÔ
CẢNH QUAN VÀ TRÊN QUY MÔ NÔNG HỘ
TẠI THÔN 1 VÀ THÔN 2 XÃ BIỂN HỒ
TP PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Ngành: LÂM NGHIỆP Niên khóa: 2005 - 2009
Tháng 07/2009
Trang 2MÔ TẢ KỸ THUẬT NÔNG LÂM KẾT HỢP TRÊN QUY MÔ CẢNH QUAN VÀ TRÊN QUY MÔ NÔNG HỘ TẠI THÔN 1 VÀ THÔN 2
XÃ BIỂN HỒ, TP PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Tác giả
LÊ HỒNG TRÚC MAI
Luận văn được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành Lâm nghiệp
Giáo viên hướng dẫn ThS ĐẶNG HẢI PHƯƠNG
Tháng 7/2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả như ngày nay, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Trước tiên con xin cảm ơn bố mẹ và gia đình đã nâng đỡ, nuôi dưỡng con nên người
Tôi xin cảm ơn ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, ban giám hiệu khoa Lâm nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và rèn luyện
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các Thầy, Cô trường Đại học Nông Lâm đã tận tình truyền đạt những kiến thức trong thời gian học tập Đặc biệt là lời cảm ơn đến Thầy Đặng Hải Phương - cán bộ giảng dạy khoa Lâm nghiệp đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Để đề tài này hoàn thành tốt đẹp phải kể đến sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND
xã Biển Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến chú Cựng - chủ tịch hội nông dân xã Biển Hồ và người dân trong xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ trong quá trình tôi thu thập số liệu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn cùng toàn thể lớp DH05LNLG đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Lê Hồng Trúc Mai
Trang 4TÓM TẮT
Luận văn tốt nghiệp “Mô tả kỹ thuật NLKH trên quy mô cảnh quan và trên
quy mô nông hộ tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai” được
thực hiện từ ngày 17.2.2009 đến ngày 11.7.2009
Luận văn nhằm mục tiêu tìm hiểu hiện trạng sản xuất nông lâm kết hợp trên quy mô cảnh quan tại tổ 1 thôn 1 và trên quy mô nông hộ tại thôn 1và thôn 2 xã Biển
Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống NLKH tại địa điểm nghiên cứu góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống nông lâm kết hợp là một trong những phương thức sản xuất chủ yếu đem lại sự ổn định sản xuất cho người dân tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ Hiện tại địa điểm nghiên cứu có nhiều mô hình NLKH khác nhau, rất đa dạng và phong phú (tiêu biểu là các mô hình: 1 Cà phê - Hoa màu - Ao cá; 2 Tiêu - Cà phê - Tre; 3 Cà phê - Bời lời - Khoai mì - Heo; 4 Tiêu - Sầu riêng - Chuối;
5 Tiêu - Cà phê - Xoài - Heo) Trong đó cà phê và tiêu thường được chọn là cây trồng chính còn các cây trồng/vật nuôi khác được chọn để tận dụng thời gian nhàn rỗi đồng thời tạo thêm thu nhập trong gia đình Các mô hình này vẫn đang phát triển, tuy nhiên
hệ thống NLKH ở đây cũng gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, năng suất cây trồng giảm khi thời tiết thay đổi
Dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích SWOT, luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống NLKH tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vi
Danh sách các sơ đồ và các hình minh hoạ vii
Danh sách các bảng xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 2
1.4 Giới hạn của luận văn 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển NLKH 3
2.2Địa điểm nghiên cứu 5
2.2.1 Điều kiện tự nhiên xã Biển hồ 5
2.2.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội xã Biển Hồ 6
2.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 8
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 Mục tiêu 9
3.2 Nội dung nghiên cứu 9
3.3 Phương pháp nghiên cứu 10
3.3.1 Các nội dung và phương pháp thu thập thông tin 10
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 11
Trang 6CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12
4.1 Giới thiệu 12
4.2 Mô tả kỹ thuật NLKH trên quy mô cảnh quan tại tổ 1, thôn 1 xã Biển Hồ .14
4.2.1 Mô tả kỹ thuật canh tác của các thành phần trong mô hình 17
4.2.2 Mô tả và phân tích sự tương tác giữa các thành phần trong mô hình NLKH trên quy mô cảnh quan 23
4.3 Mô tả kỹ thuật canh tác NLKH đang áp dụng ở các nông hộ tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ 24
4.3.1 Mô hình Cà phê - Hoa màu - Ao cá 25
4.3.2 Mô hình Tiêu - Cà phê - Tre 28
4.3.3 Mô hình Cà phê - Bời lời - Khoai mì - Vật nuôi (Heo) 32
4.3.4 Mô hình Tiêu - Sầu riêng - Chuối 36
4.3.5 Mô hình Tiêu - Cà phê - Xoài - Vật nuôi (Heo) 38
4.4 Phân tích SWOT và các đề nghị cải tiến hệ thống NLKH tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ 43
4.4.1 Kết quả phân tích SWOT 43
4.4.2 Các đề nghị cải tiến hệ thống NLKH 43
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 50
Trang 7DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KNKL : Khuyến nông khuyến lâm
SWOT : Strength, Weakness, Opportunity, Threat
SALT : Sloping Agrocultural Land Technology
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
FAO : Tổ chức Lương Nông (FAO) thuộc Liên Hiệp Quốc
UBND : Uỷ Ban nhân dân
CT : Chủ tịch
TP : Thành phố
SSI : Phỏng vấn bán cấu trúc SSI
STT : Số thứ tự
Trang 8DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ CÁC HÌNH MINH HỌA
Trang
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ lát cắt mô hình NLKH trên quy mô cảnh 16
Sơ đồ 4.2: Sự tương tác giữa các thành phần trong mô hình cảnh quan 23
Sơ đồ 4.3: Sơ đồ bố trí các thành phần trong mô hình 1 26
Sơ đồ 4.4: Sơ đồ bố trí các thành phần trong mô hình 2 30
Sơ đồ 4.5: Sơ đồ bố trí các thành phần trong mô hình 3 34
Sơ đồ 4.6: Sơ đồ bố trí các thành phần trong mô hình 4 37
Sơ đồ 4.7: Sơ đồ bố trí các thành phần trong mô hình 5 41
Hình 4.1: Ao cá - Lúa - Đồng cỏ 16
Hình 4.2: Lúa - Muồng đen - Cà phê - Bạch đàn 16
Hình 4.3: Cà phê - Chuối - Ngô - Ao cá 27
Hình 4.4: Tiêu 31
Hình 4.5: Cà phê - Tre 31
Hình 4.6: Cà phê - Bời lời đỏ 35
Hình 4.7: Cà phê - Khoai mì 41
Hình 4.8: Sầu riêng - Tiêu 38
Hình 4.9: Cà phê - Tiêu .42
Hình 4.10: Xoài 42
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Các loại hình sản xuất trong mô hình cảnh quan 14
Bảng 4.2: Các thành phần trong mô hình cảnh quan 15
Bảng 4.3: Các thành viên trong gia đình của mô hình 1 25
Bảng 4.4: Các thành viên trong gia đình của mô hình 2 28
Bảng 4.5: Các thành viên trong gia đình của mô hình 3 32
Bảng 4.6: Các thành viên trong gia đình của mô hình 4 36
Bảng 4.7: Các thành viên trong gia đình của mô hình 5 39
Bảng 4.9: Phân tích SWOT 43
Trang 10Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, kỹ thuật NLKH được áp dụng ở những khu vực khác nhau
đã đem lại hiệu quả về nhiều mặt như là góp phần tăng thu nhập cho người dân, giải quyết công ăn việc làm và tác động tích cực đến môi trường như làm giảm dòng chảy
bề mặt, giảm xói mòn rửa trôi đất, duy trì độ phì và cải thiện tính chất đất
Đất đỏ bazan ở Tây Nguyên có tầng phong hóa sâu, giàu chất dinh dưỡng, ở độ cao 500 - 1000 m so với mặt nước biển, lại phân bố tập trung với những mặt bằng rộng lớn, thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp lâu năm (như cà phê, hồ tiêu, ca cao) Việc trồng các cây lâu năm đó có thể kết hợp với cây đa mục đích để che bóng chắn gió hay các loài cây thân thảo trong những năm đầu của thời kỳ kiến thiết, cơ bản
đã giải quyết được nguồn lương thực tại chổ và tăng thu nhập cho người dân, tạo điều kiện ổn định sản xuất cho họ
Thành phố Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai có nhiều đồi núi và là đô thị phía Bắc Tây Nguyên Nhiệt độ trung bình hàng năm của thành phố là 23oC, có lượng mưa khoảng
2600 - 2800 mm, một năm có hai mùa (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Bên cạnh điều kiện tự nhiên thuận lợi thành phố còn được đặc trưng bởi đất đỏ bazan, nên người dân chủ yếu canh tác cây cà phê và tiêu -
là những loại cây có giá trị kinh tế cao, nhưng đồng thời cần đầu tư trong thời gian dài (2 - 3 năm mới có thể thu hoạch) Một số hộ để có thêm nguồn đầu tư thì thường trồng thêm hoa màu hay nuôi cá nhằm lấy ngắn nuôi dài đầu tư trở lại cây trồng chính Tuy không đem lại hiệu quả kinh tế cao nhưng hình thức sản xuất này góp phần giảm rủi ro trong sản xuất và ít bị ảnh hưởng của các biến động về giá cả nông sản trên thị trường Phương thức canh tác này đem lại những lợi ích trực tiếp cho cộng đồng tại địa phương và toàn xã hội
Trang 11Biển Hồ là một xã trực thuộc TP Pleiku, tỉnh Gia Lai, dân cư ở đây phần lớn di
cư từ nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước Họ đem đến đây những kinh nghiệm của bản thân cộng với việc học hỏi kỹ thuật canh tác các loài cây trồng/vật nuôi trên phương tiện thông tin đại chúng Người dân đã xây dựng nên các hệ thống NLKH phù hợp với hoàn cảnh lập địa tại địa phương và đáp ứng được các yêu cầu của chính họ Trong đó, hệ thống NLKH tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ được xem là đặc trưng của các hệ thống NLKH đang được áp dụng tại khu vực này
Xuất phát từ thực tế đó, luận văn được thực hiện nhằm: “Mô tả kỹ thuật NLKH trên quy mô cảnh quan và trên quy mô nông hộ để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống NLKH tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai” dưới sự hướng dẫn của ThS Đặng Hải Phương cùng với sự giúp đỡ của người dân
và UBND xã Biển Hồ
1.2 Mục đích
Mô tả kỹ thuật NLKH trên quy mô cảnh quan tại tổ 1, thôn 1 và kỹ thuật NLKH đang được áp dụng ở các nông hộ tại thôn 1 và thôn 2 để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống NLKH góp phần nâng cao thu nhập cho người dân tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ
1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trong thời gian từ ngày 17.2.2009 đến ngày 11.7.2009 tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai
1.4 Giới hạn của luận văn
Do thời gian nghiên cứu có hạn, các số liệu thu thập chưa đầy đủ, do đó các nội dung nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu chỉ giới hạn tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ,
TP Pleiku, tỉnh Gia Lai
Trang 12Tại khu vực nông thôn miền núi, nơi đặc trưng bởi sự cách biệt về mặt địa lý, nhiều hệ thống canh tác theo kiểu NLKH đã được hình thành và phát triển dựa trên sự
đa dạng của các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội để đáp ứng các nhu cầu khác của người dân Các hệ thống NLKH này thường rất đa dạng do đó chúng có những đặc trưng riêng Điều này cho thấy sự thích ứng cao của người dân với các điều kiện cụ thể
Các khái niệm về NLKH đã không ngừng phát triển, phản ánh một thực tế là các hình thức sản xuất nông lâm kết hợp trong thực tế vô cùng đa dạng Trong nỗ lực
để định nghĩa NLKH theo ý nghĩa tổng thể, mang đậm tính sinh thái môi trường hơn, Leaky (1996) đã mô tả NLKH như là các hệ thống quản lý tài nguyên đất đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuấtgiúp gia tăng các lợi ích về mặt xã hội, kinh tế và môi trường các nông trại nhỏ Vào năm 1997, Trung Tâm Quốc
Tế Nghiên Cứu về NLKH (ICRAF) đã xem xét và phát triển nó rộng hơn như là một
hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại NLKH là “trồng cây trên nông trại”,
từ việc phối hợp trồng ở khu vực có diện tích lớn, thì giờ chúng được xây dựng trong nông trại nhỏ dựa trên đặc tính sinh thái của từng địa phương Ngoài ra NLKH còn được hiểu theo góc độ cảnh quan, nghĩa là không chỉ là việc phối hợp cây lâu năm với cây ngắn ngày trên một đơn vị diện tích mà còn có thể hiểu ở góc độ rộng hơn trên
Trang 13một lưu vực, trong một lưu vực từng loại cây trồng, vật nuôi được phối trí một cách hài hoà ở các phần diện tích khác nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau tạo ra sự đa dạng
và bền vững (ICRAF, dẫn theo Nguyễn Văn Sở, 1998)
Ở Việt Nam, tập quán canh tác theo kiểu NLKH đã có từ lâu, trong đó có thể kể đến các hình thức canh tác nương rẫy truyền thống của các đồng bào dân tộc ít người,
hệ sinh thái vườn hộ ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên cả nước Từ những năm 1960,
kỹ thuật NLKH được phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều cải tiến khác nhau để thích hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể Các dự án ODA cũng giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi (Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006) Đặc biệt, trong hai thập niên gần đây, phát triển nông thôn miền núi theo phương thức NLKH ở các khu vực có tiềm năng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước
Khu vực vùng cao Tây Nguyên có tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp rất lớn Với diện tích hai triệu hecta đất bazan màu mỡ, tức chiếm đến 60% diện tích đất bazan
cả nước, có khí hậu cận xích đạo rất phù hợp với các loại cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu và chăn nuôi gia súc Đặc biệt là sự
đa dạng trong thành phần dân cư là một trong các yếu tố quan trọng làm cho hệ thống canh tác ở đây thêm phong phú hơn Cũng như các khu vực nông thôn khác, trong bối cảnh giá nông sản có nhiều biến động và các rủi ro về tự nhiên đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất NLKH và tác động đến việc lựa chọn các kỹ thuật canh tác của người dân, nhất là người dân nghèo, ít nguồn lực và hạn chế về kỹ thuật Hiện nay các nghiên cứu về những hệ thống NLKH tại Việt Nam nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng còn chưa đầy đủ và thiếu tính hệ thống, việc mô tả chúng là bước đầu tiên nhằm làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo và quan trọng hơn, các nghiên cứu theo dạng này sẽ góp phần cũng cố các hệ thống canh tác NLKH hiện có, gia tăng hiệu quả canh tác và ổn định cuộc sống của người dân, tạo ra sự phát triển năng động của Tây Nguyên trong môi trường sinh thái bền vững
Với những lợi ích mà hệ thống NLKH mang lại, cộng với những điều kiện tự nhiên thuận lợi thì trong những năm gần đây mỗi năm hội nông dân và trung tâm KNKL xã Biển Hồ thường tổ chức 2 - 3 buổi tập huấn kỹ thuật cho nông dân, kỹ thuật chăm sóc cây trồng và vật nuôi Xuất phát từ nhu cầu canh tác, nhu cầu đời sống xã hội
Trang 14người dân đã xây dựng nên hệ thống NLKH phù hợp với điều kiện địa phương và nhanh chóng chấp nhận phương thức sản xuất này, nó trở thành nguồn thu nhập chính cho đa phần người dân Đồng thời, sự kết hợp nhiều loại cây trồng trên địa bàn sẽ tạo
ra nhiều sản phẩm tạo thêm thu nhập cho cộng đồng
2.2 Địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên xã Biển hồ
2.2.1.1.Vị trí địa lý
Biển Hồ là một xã vùng ven nằm ở phía Bắc tỉnh Gia Lai, cách trung tâm TP Pleiku khoảng 8 km, xã được chia 10 thôn, làng Trong đó có 5 thôn người Kinh và 5 làng đồng bào dân tộc thiểu số Xã có diện tích tự nhiên là 19786 ha, có địa giới hành chính như sau:
- Phía Đông giáp huyện Đắc Đoa
- Phía Tây giáp phường Yên Thế
- Phía Nam giáp xã Trà Đa
- Phía Bắc giáp xã Tân Sơn
Tọa độ địa lý của xã như sau:
Độ cao tương đối của xã Biển Hồ khoảng 700 - 800 m Địa hình xã Biển Hồ có
xu hướng thấp dần về hai phía Tây Bắc và Đông Nam, là nơi bắt nguồn của nhiều suối nhánh thuộc các hệ thống suối lớn lân cận xã Nhìn chung xã có hai dạng địa hình chính:
- Dạng địa hình cao nguyên lượn sóng (trung bình và mạnh) phân bố hầu hết trên địa bàn xã, độ cao trung bình 750 - 800 m, đột xuất có những độ cao lớn hơn 800 m, độ dốc từ 3 - 8o
- Dạng địa hình vùng thung lũng dốc tụ Đặc điểm là chứa những sản phẩm dốc tụ của đá bazan, cao từ 700 - 720 m, độ dốc từ 0 - 8o phân bố khu vực ven suối phía Tây, dùng làm ranh giới hành chính
Trang 152.2.1.3 Khí hậu
Cũng như TP Pleiku, Biển Hồ mang nét đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè mát dịu, mùa đông khô và lạnh, biểu hiện là sự phân hoá và tương phản sâu sắc giữa hai mùa Nhiệt độ tương đối điều hoà, mùa nóng không rõ rệt, nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình, biên độ nhiệt năm so với một số nơi khác thường thấp hơn Theo quan trắc của trạm khí tượng thuỷ văn Pleiku ở độ cao quan trắc 800 m cho thấy:
- Nhiệt độ trung bình năm là 22oC
- Nhiệt độ tối cao là 36 oC (tháng 4)
- Nhiệt độ tối thấp là 5 oC (tháng 1)
Độ ẩm trung bình năm 80%, tháng có độ ẩm trung bình đạt trị số cao nhất 35%
và độ ẩm thấp nhất tuyệt đối có thể xuống đến 12% rơi vào tháng 3, mùa khô từ tháng
1 đến tháng 3, độ ẩm thấp nhất trung bình đạt 7% (tháng 3) Mùa mưa bắt đầu vào cuối tháng 4 đến đầu tháng 10 chiếm 90%, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 Tổng lượng mưa bình quân năm 2.234 mm, lượng mưa ngày lớn nhất 189 mm
2.2.1.4 Tài nguyên đất: Loại đất chủ yếu ở xã Biển Hồ là đất đỏ bazan (vì xã Biển hồ
nằm gần Biển Hồ là miệng của một núi lửa tạm ngừng hoạt động) Đây chính là thuận
lợi cho sự phát triển của các loại cây trồng, đặc biệt là cây cà phê
2.3.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội xã Biển hồ
2.3.2.1 Về dân số, y tế, giáo dục
Dân số
• Xã Biển Hồ có 1.621 hộ gồm 7101 nhân khẩu, trong đó có 350 hộ là dân tộc thiểu số với 1.616 nhân khẩu chiếm 27% Toàn xã có 3 dân tộc là dân tộc Kinh, dân tộc Jarai và dân tộc Banar Người Kinh chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc vào xây dựng kinh tế mới, còn Jarai và Banar là người dân bản địa
Y tế
• Trong năm 2008 trạm y tế xã có 5 cán bộ chuyên trách Tất cả các nhân viên trong trạm đảm bảo thời gian làm việc tại công sở, luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm chăm sóc bệnh nhân, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng Giáo dục
Trang 16• Trên địa bàn xã có một trường mầm non và hai trường tiểu học Năm học
2008 - 2009, an ninh học đường được giữ vững, sỉ số học sinh được duy trì, không có học sinh bỏ học, cơ sở vật chất trường lớp bảo đảm
• Trong năm 2008, xã phối hợp với trường dạy nghề tỉnh Gia Lai đã mở được hai lớp dạy nghề (thợ nề) cho nhân dân 10 thôn, làng với số lượng 65 học viên, đã cấp chính chỉ
2.3.2.2 Kinh tế
Số hộ nghèo trong xã đầu năm 2008 là 144 hộ, trong đó có 95 hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số (gồm người Jarai và Banar) Tuy nhiên số lượng các hộ nghèo đang có xu hướng giảm dần do được hỗ trợ vốn sản xuất, được hỗ trợ giống cây trồng/vật nuôi và phân bón để người dân có tư liệu sản xuất và ổn định đời sống (đến
cuối năm 2008 còn 43 hộ nghèo)
Hoạt động kinh tế của xã có 81% là từ sản xuất nông nghiệp và 19% từ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế đem lại thu nhập chính cho người dân Trong sản xuất nông nghiệp, cà phê và tiêu là hai loại cây được nhiều hộ gia đình chọn là cây trồng chính Năm 2008, diện tích thu hoạch cây hàng năm là 152,9 ha, cây cà phê là 209,4 ha, cây tiêu là 16 ha Ngoài ra cây trồng thường được kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi cá (với tổng đàn gia súc, gia cầm khoảng 7.646 con và diện tích ao nuôi cá gần 2.000 m2)
2.3.2.3 Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông, hệ thống kênh mương và hệ thống lưới điện đang được hoàn thiện, đáp ứng tương đối đầy đủ cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra xã Biển Hồ còn gần với quốc lộ 14 nên thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa
2.3.2.4 Công tác khuyến nông
Hội nông dân cùng cán bộ KNKL của xã phối hợp với phòng kinh tế TP Pleiku thường tổ chức các buổi hội thảo và các buổi tập huấn kỹ thuật chuyên đề về các loài cây trồng và vật nuôi, phổ biến kiến thức phòng bệnh và phương pháp vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi nhằm phát triển kinh tế nông thôn Trong năm 2008, có 7 buổi tập huấn kỹ thuật với 580 người tham
dự
Trang 17Về công tác phòng chống dịch trên đàn gia súc, gia cầm thì hàng năm xã Biển
Hồ kết hợp với trạm thú y thành phố tiến hành tiêu độc chuồng trại (2lần/năm) và tiêm phòng vaccin lở mồm long móng cho gia súc (như năm 2008 tiêm phòng 1 lần cho 710 con trâu, bò)
Tuy các buổi tập huấn chỉ mang tính hình thức, chưa đi sâu vào hoạt động sản xuất của người dân nhưng nó lại góp phần làm cho hệ thống NLKH tại địa phương thêm đa dạng hơn Cụ thể là sau các buổi hội thảo đó người dân thường tìm ra các loài cây/con mới có thể bổ sung thêm vào hệ thống canh tác của gia đình, nhằm tránh những rủi ro khi có biến động về giá/năng suất của cây trồng chính
2.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội
Thuận lợi
• Địa hình và khí hậu cơ bản thuận lợi cho việc phát triển cây trồng và vật nuôi Hệ thống giao thông, thủy lợi, lưới điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được đảm bảo, đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu sản xuất của người dân
• Nhân dân có truyền thống cần cù và kinh nghiệm sản xuất phong phú, có tinh thần học hỏi cao
• Nông dân được miễn thuế nông nghiệp
• Hệ thống NLKH không gây ô nhiễm môi trường
Khó khăn
• Thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và thu nhập của người dân Như năm 2008 khi thu hoạch lúa do ảnh hưởng của thời tiết mưa lớn nên năng suất giảm so với kế hoạch là 57 tấn (giảm khoảng 20%)
• Đội ngũ cán bộ kỹ thuật khuyến nông khuyến lâm của xã còn yếu và thiếu, chưa đi sâu quan tâm hoạt động sản xuất của người dân (Chủ tịch hội nông dân, thôn trưởng thôn 1, người dân xã Biển Hồ)
• Giá cả thị trường không ổn định, ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất của người dân Như năm 2007 giá tiêu là 75000đ/kg, nhưng năm 2009 giá tiêu
hạ còn 30000đ/kg, điều này làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân
• Trong quá trình chăm sóc cây tiêu dễ bị nhiễm bệnh và có thể bị chết
Trang 18Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu
Bắt đầu từ năm 1995, một số vùng ngoại thành TP Pleiku (như xã Biển Hồ) có
xu hướng hình thành các hệ thống NLKH với quy mô vừa và nhỏ Nhằm tìm hiểu hiện trạng của các mô hình sản xuất nông lâm kết hợp này để từ đó có cơ sở đề xuất một số biện pháp để phát triển hệ thống NLKH tại thôn 1 và thôn 2 xã Biển Hồ, luận văn này được thực hiện với các mục tiêu cụ thể sau:
• Mô tả hiện trạng của hệ thống NLKH tại thôn 1và thôn 2 xã Biển Hồ
• Mô tả kỹ thuật NLKH trên quy mô cảnh quan tại tổ 1, thôn 1 và trên phạm
vi nông hộ tại thôn 1 và thôn 2
• Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống NLKH tại địa điểm nghiên cứu góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng các mục tiêu trên, luận văn sẽ có các các nội dung nghiên cứu như sau:
• Giới thiệu hệ thống NLKH tại thôn 1 và thôn 2
• Mô tả kỹ thuật NLKH trên quy mô cảnh quan (tại tổ 1, thôn1) và trên quy
mô nông hộ (tại thôn 1 và thôn 2)
- Mô tả kỹ thuật NLKH của các thành phần trong mô hình canh quan
- Mô tả và phân tích sự tương tác giữa các thành phần trong mô hình canh quan
- Xây dựng các đề nghị cải tiến hệ thống NLKH tại thôn 1 và thôn 2 về kỹ thuật và chính sách
Trang 193.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Các nội dung và phương pháp thu thập thông tin
Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp
• Số liệu thứ cấp được thu thập tại phòng địa chính xã Biển Hồ, các báo cáo cuối năm 2008 của UBND xã Biển Hồ
• Số liệu sơ cấp phụ vụ cho luận văn được mô tả ở bảng 3.1 như sau:
Bảng 3.1: Nội dung và phương pháp thu thập thông tin
Thời gian/địa điểm
- Các loại vật nuôi
- Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, bảo quản sản phẩm
- Chi phí đầu tư, năng suất và giá cả của sản phẩm
- Phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát, chụp ảnh
- Người dân đang canh tác NLKH tại thôn
- Mô tả, quan sát định tính, phỏng vấn
- Người dân đang canh tác NLKH tại tổ 1, thôn 1
- Các vấn đề khác
- Tổng hợp, phân tích số liệu, phỏng vấn
- Người dân đang canh tác NLKH tại thôn
1 và thôn 2
Trang 203.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thứ cấp
• Tổng hợp và chọn lọc những thông tin phục vụ cho luận văn
• Xác định và phân tích định tính tình hình thực hiện các hệ thống NLKH trong xã và các chế độ, chính sách hỗ trợ của địa phương đối với việc thực hiện canh tác NLKH
Số liệu sơ cấp Các thông tin thu thập được sắp xếp, tổng hợp, phân tích mô tả định tính:
• Sắp xếp các thông tin có được theo trình tự của luận văn
• Tiến hành lấy thông tin cần thiết trong bảng câu hỏi theo mục tiêu của luận văn bao gồm: hiện trạng của hệ thống NLKH, kỹ thuật canh tác NLKH và
sự tương tác giữa các thành phần trong mô hình NLKH trên quy mô cảnh quan
• Phân tích định tính các mô hình NLKH trên quy mô cảnh quan và trên quy
mô nông hộ để nhận xét hoặc rút ra kết luận cần thiết
Trang 21di dân tự do từ đồng bằng lên miền núi Năm 1995, nhằm giúp cho công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực đất đai có nhiều thuận lợi đồng thời giúp ổn định đời sống của người dân và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự
xã hội, xã Biển Hồ được chia thành 10 thôn, làng (thôn 1, thôn 2, thôn 3, thôn 4, Đồng Bàng, Phung 1, Phung 2, làng Sơ, làng Đal, làng Bhi)
Vào thời gian từ năm 1976 đến năm 1990 người dân ở xã thường trồng cây lúa nước, cây lúa rẫy, cây ăn trái, hoa màu và vật nuôi Trong đó, cây lúa nước và lúa rẫy được trồng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu lương thực Tuy nhiên, do đặc điểm của địa hình tại khu vực này dễ bị xói mòn rửa trôi, đất đai ngày càng bạc màu, canh tác lúa không đem lại hiệu quả
Đầu năm 1990, UBND xã Biển Hồ mua cây giống tại các vườn ươm của địa phương và hướng dẫn đồng bào trong xã trồng cây bạch đàn trên những mảnh đất thuộc quyền sở hữu của họ với tổng diện tích khoảng 110 ha Năm 1994, ông Lê Văn Năm ở tại tổ 3 thôn 1 là hộ nông dân đầu tiên trong xã trồng cây cà phê với số lượng khoảng 80 cây, vào thời điểm đó ông thảo luận với những người hàng xóm và khuyến khích họ trồng theo trên diện tích vườn nhà Năm 1997 giá cà phê nhân là 26.000 đ/kg, năm 1998 nhận thấy hiệu quả kinh tế của viêc trồng cà phê nên nhiều hộ nông dân trong xã chọn cà phê là cây trồng chính Vì thiếu đất canh tác nên diện tích đất trồng bạch đàn và đất trống lần lượt được thay thế bởi diện tích cà phê (hiện nay diện tích bạch đàn còn khoảng 10 ha) Một số hộ khác lại trồng cà phê kết hợp với cây ăn trái trong vườn, có hộ trồng cà phê trên đất dốc khi canh tác lúa không hiệu quả
Trang 22Năm 2001 giá cà phê xuống thấp (4.200 đ/kg cà phê nhân), tại thôn 1 một số hộ nông dân chuyển đổi cây trồng từ cà phê sang bời lời đỏ, điển hình là ông Nguyễn Văn Dũng với diện tích khoảng 1,5 ha Tuy nhiên năng suất cây bời lời đỏ chưa ổn định, năm 2005 giá cà phê lại tăng (17.000 đ/kg cà phê nhân) nên người dân trồng bời lời đỏ xung quanh các lô cà phê Trong thời gian giá cà phê giảm, tiêu biểu là ông Nguyễn Văn Thành tại thôn 2 đã trồng kết hợp cà phê với tre nhằm hạn chế những rủi ro trong sản xuất
Vào năm 2000 hộ nông dân đầu tiên trồng tiêu trong xã là ông Trần Văn Bài ở tại thôn 2 với diện tích khoảng 0,5 ha Năm 2001 khi hiệu quả kinh tế từ cây cà phê giảm thì cây tiêu được vài hộ nông dân chọn để canh tác thay thế cho cà phê Tuy nhiên trong quá trình trồng tiêu đòi hỏi đầu tư vốn và kỹ thuật cao, để phù hợp với điều kiện kinh tế của gia đình nên một số hộ lựa chọn trồng tiêu kết hợp với cây cà phê
Giữa các hàng cà phê trong những năm đầu chưa khép tán người dân thường trồng cây ngắn ngày để hạn chế cỏ dại và che phủ đất, trong quá trình canh tác các loại cây trồng đó nông dân còn nuôi bò/nuôi heo để cung cấp phân bón Vào năm 1998 điển hình là hộ ông Đặng Thanh Xuân ở tại thôn 2, chọn hình thức sản xuất này vì phù hợp với nguồn lao động của gia đình Đến năm 2005 tiêu biểu là bà Ngọc Diệp tại tổ 1, thôn 1 trồng cà phê và nuôi heo theo quy trình công nghệ tiên tiến với số lượng ban đầu khoảng 350 con Cùng thời gian năm 1998, ông Phan Văn Thiết tại tổ 1, thôn 1 là
hộ nông dân đầu tiên trong xã nuôi cá với diện tích khoảng 600 m2 do đặc điểm địa hình phía dưới cà phê là mảnh đất gần ruộng phù hợp với việc nuôi cá
Vì ảnh hưởng của yếu tố thị trường, địa hình, nguồn lao động trong gia đình mà người dân lựa chọn cây trồng hay vật nuôi Theo thời gian, trên địa điểm nghiên cứu các loại cây trồng và vật nuôi liên kết với nhau và dần xuất hiện các mô hình NLKH trên quy mô cảnh quan và trên quy mô nông hộ
4.2 Mô tả kỹ thuật canh tác NLKH trên quy mô cảnh quan tại tổ 1, thôn 1 xã Biển Hồ
Tại tổ 1, thôn 1 xã Biển Hồ có 17 hộ người Kinh và làng Phung 1 cùng tham gia sản xuất Trong đó có hộ canh tác độc canh (bạch đàn, cà phê, lúa), có hộ kết hợp nhiều loại cây trồng với hoa màu hay chăn nuôi Các thành phần đó gắn kết với nhau
Trang 23trong quá trình sử dụng đất của cộng đồng dân cư tại tổ 1 và dần hình thành mô hình
NLKH trên quy mô cảnh quan Các loại hình sản xuất trên quy mô cảnh quan được
trình bày ở bảng 4.1 như sau:
Bảng 4.1: Các loại hình sản xuất trong mô hình cảnh quan
Trang 24Trong mô hình cảnh quan bao gồm các thành phần như rừng trồng, cây dài ngày, cây ngắn ngày và chăn nuôi, với tổng diện tích canh tác gần 30 ha và được trình bày ở bảng 4.2 sau:
Bảng 4.2: Các thành phần trong mô hình cảnh quan
(ha)
Năm bắt đầu trồng
Chủ sở hữu
1 Rừng trồng 5,5 1990 Làng Phung 1
2 Cây dài ngày
- Cà phê, Muồng đen
- Tiêu
- Cỏ sả
11 3,8 0,2
Trang 25Theo không gian, các thành phần trong mô hình được sắp xếp theo vị trí từ trên cao xuống thấp Từ trên cao xuống thấp dần là diện tích cây cà phê và tiêu - thành phần đem lại thu nhập chính cho người dân, chiếm diện tích lớn nhất; kế tiếp là nhà ở, chuồng trại hoa màu và ao nuôi cá; phía dưới là ruộng lúa và đồng cỏ; tiếp theo là diện tích cây cà phê kết hợp với cây chắn gió, cây chắn gió ở đây là cây Muồng đen được trồng với mục đích phân lô, chắn gió, che nắng, cản nước mưa và giữ đất; phía trên là rừng trồng cây bạch đàn Sự sắp xếp các thành phần trong mô hình được trình bày ở sơ
đồ 4.1 và được minh họa ở các hình 4.1 và 4.2 như sau:
Cà phê + tiêu Nhà ở +
Chăn nuôi + Hoa màu
Ao
cá
Lúa + Đồng cỏ
Cà phê + Muồng đen
Bạch đàn
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ lát cắt mô hình NLKH trên quy mô cảnh
Hình 4.2: Ao cá - Lúa - Đồng cỏ Hình 4.1: Lúa - Muồng đen - Cà phê - Bạch đàn
Trang 264.2.1 Mô tả kỹ thuật canh tác của các thành phần trong mô hình cảnh quan
4.2.1.1 Rừng trồng thuần loài: Cây Bạch đàn (Eucalyptus tereticornis)
Trước năm 1990 tại tổ 1, thôn 1 xã Biển Hồ là một khu vực hoang hóa Năm
1990 và 1991 xã khuyến khích đồng bào trồng Bạch đàn - là cây cung cấp nguyên liệu giấy nhằm tạo thu nhập cho người dân
Cây giống mua tại các vườn ươm ở địa phương Hố được đào với kích thước 10
x 10 x 10 cm và không có bón lót phân trước khi trồng
Bạch đàn được trồng vào đầu mùa mưa khi đã có mưa nhiều Từ khi trồng đến
20 - 25 ngày, phải thường xuyên kiểm tra rừng đã trồng Nếu phát hiện cây con bị chết hoặc đỗ gãy phải vứt bỏ và kịp thời trồng lại cây mới để đảm bảo tỷ lệ thành rừng cao
Trong 3 năm đầu, rừng bạch đàn phải được chăm sóc bảo vệ chu đáo, tránh mọi tác động gây hại, tạo điều kiện cho cây con sinh trưởng và phát triển tốt Sau 7 - 8 năm, rừng trồng Bạch đàn đến tuổi khai thác trắng để làm nguyên liệu chế biến bột giấy Sau đó trên một gốc lựa chọn 2 - 3 chồi tốt nhất chừa lại, chăm sóc gốc chồi để tiếp tục kinh doanh các chu kỳ sản xuất tiếp theo
4.2.1.2 Cây dài ngày
a Cà phê (Cofea arabica)
Trang 27giàn che, để nắng hoàn toàn cho cây cứng cáp Cây suất vườn cao 20 - 25 cm, thân khỏe lá xanh đều, không sâu bệnh
Hố trồng có kích thước 40 x 40 x 40 cm, cự ly trồng 3 x 3 m Hố được chuẩn bị phân chuồng, phân hữu cơ và một ít super lân trước khi trồng
Thời điểm trồng cà phê tốt nhất là đầu mùa mưa (tháng 5 - 6), lúc này có nước
sẽ tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt khi mới trồng Cây mới trồng còn yếu, cần cung cấp nước thường xuyên cho cây nếu trời không mưa để cây thích nghi sớm với điều kiện ngoại cảnh Khi trồng cà phê lúc lấp đất người dân thường chừa lại hố khoảng 20 cm để giữ nước cho cà phê đồng thời tạo điều kiện cho việc tạo bồn sau này
Làm cỏ một năm 2 - 3 lần vào mùa mưa, nếu có trồng cây ngắn ngày thì công làm cỏ ít hơn, bón phân cùng với đợt làm cỏ Sau khi thu hoạch cây ngắn ngày lấy lá
tủ gốc cho cây dài ngày Tỉa cành, tạo tán, tỉa chồi khi cây còn nhỏ, nhằm tạo cho cây
có một thế đẹp vững chắc, khi cây lớn thì tạo năng suất cao, ổn định qua các năm Tưới nước cho cà phê vào mùa khô thường một tháng tưới một lần, tùy theo mức độ khô hạn mà số lần tưới khác nhau từ 3 - 5 lần/năm
Tùy vào từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây mà công việc bón phân, làm cỏ, tỉa cành, phun thuốc cần linh động Lượng phân thay đổi qua các năm và ổn định khi cây đi vào thời kỳ kinh doanh Các loại phân thường được sử dụng là đạm, lân, kali bón khi trời mưa hay trước khi tưới để đảm bảo phân được hòa tan, tạo điều kiện thuận lợi cho cây hấp thu Sau khi thu quả, cắt tỉa cành khô, sâu bệnh
• Thu hoạch và bảo quản
Cà phê được thu hái khi quả chuyển từ màu xanh sang màu đỏ Cà phê được thu hái làm nhiều lần và một lần sau cùng vào cuối vụ khi mà vườn chín trên 90%
Quả thu vào tháng 11 đến tháng 1 năm sau, trái cà phê sau khi thu hoạch được bán tươi hay được phơi khô rồi bán cho thương lái tại địa phương
b Muồng đen (Cassia siamea)
• Đặc điểm và công dụng
Muồng đen là cây họ Đậu có khả năng cải tạo đất tốt, cành nhánh phát triển nhanh và dẻo, cản nước, cản gió tốt, không gây hại đất, lá rụng xuống làm đất tốt hơn Cây thích hợp trồng chắn gió, làm đai hàng rào bảo vệ các hệ thống vườn, trang trại
Trang 28Trong mô hình ở khu vực nghiên cứu cây Muồng đen được ưa chuộng làm cây bóng mát, cây tầng cao che bóng và thường được trồng xung quanh cây cà phê
• Kỹ thuật trồng và chăm sóc
Giống cây Muồng đen được mua tại các vườm ươm ở địa phương
Cây mọc nhanh, sức nảy chồi khỏe, 3 - 5 tuổi bắt đầu ra hoa
Kỹ thuật trồng: Đào hố với kích thước 40 x 40 x 40 cm, hố cách hố 2 - 3 m Hố được chuẩn bị phân chuồng hoai và một ít super lân, tỷ lệ giữa đất và phân là 2:1 Cây Muồng đen dễ thích nghi với ngoại cảnh, chăm sóc đơn giản Có thể kết hợp việc bón phân/tưới nước cho cà phê đồng thời với việc chăm sóc cây Muồng đen
c Tiêu (Pier nigrum)
và super lân Khoảng cách cây cách cây hàng cách hàng là 2,5 m
Trồng nọc trước khi trồng tiêu theo vị trí định trước Khi trồng tiêu thì moi một
lổ nhỏ giữa hố Lấp đất sâu kín ngang mặt bầu, hoặc 1/3 hom tiêu, trung bình một hố trồng khoảng hai dây tiêu Khi mới trồng xong cần tủ gốc giữ ẩm, che chắn kỹ, không
để cho nhiệt độ tăng quá cao ở vùng gốc, có thể làm cháy xém và chết dây tiêu
Khi cây còn nhỏ cần che bóng để tránh bốc thoát hơi nước trong khi bộ rễ của cây chưa hoàn thiện Cần làm cỏ nhiều lần vào mùa mưa vì cỏ phát triển nhanh và tránh làm tổn thương bộ rễ Công việc cắt tỉa cành cho tiêu đòi hỏi kỹ thuật cao vì vừa phải đảm bảo cây tiêu phát triển cân đối vừa phải đảm bảo mang lại năng suất cao, ổn định trong các năm kinh doanh
Công việc chăm sóc bao gồm tủ gốc, làm cỏ, bón phân, tưới nước Tùy thuộc vào từng thời kỳ phát triển của cây mà có cách thực hiện khác nhau
Khi phát bệnh rất khó trị, do vậy cần chú ý phát hiện sâu bệnh kịp thời, tránh lây lan Các bệnh thường gặp ở cây tiêu là thối gốc, chết dây, héo nhánh, vàng héo rũ
• Thu hoạch và bảo quản
Trang 29Tiêu chín khi màu sắc quả thay đổi từ màu xanh sang đỏ Thu hoạch khi trời nắng ráo để tránh hư hại quả Phải đảm bảo thu hoạch quả chín vì như thế mới giữ được hương vị và chất lượng quả
Quả sau khi thu hái đem phơi khô và bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát
d Cỏ sả (Panicum maxium)
• Đặc điểm và công dụng
Cỏ dùng để cung cấp thức ăn cho bò Đây là giống cỏ thảo lâu năm, chỉ sinh nhánh và mọc thành bụi giống như bụi sả Cỏ sả sinh trưởng mạnh, năng suất cao, chịu hạn khá, chịu nóng, chịu bóng cây
• Kỹ thuật trồng và chăm sóc
Cày vỡ đất ở độ sâu khoảng 20 cm, sau đó bừa và cày đảo, làm sạch cỏ dại và san phẳng đất Cỏ được trồng thành khóm và thời vụ trồng tốt nhất là đầu mùa mưa Trồng hàng cách hàng 50 cm, khóm cách khóm 40 cm
Cách chuẩn bị khóm giống: Cắt bỏ phần ngọn các khóm cỏ sả giống và để lại chiều cao khoảng 20 - 30 cm để hạn chế việc thoát hơi nước khi mới vừa trồng Dùng cuốc đánh gốc cỏ lên, rũ sạch đất cát và cắt bớt rễ già Sau đó tách thành những khóm nhỏ, mỗi khóm khoảng 3 - 4 cây rồi đem đi trồng
Khi trồng, đặt các khóm vào rãnh, lấp đất sâu khoảng 1/2 độ dài của thân cây giống, giậm chặt đất để tạo điều kiện giữ độ ẩm cho cây
Sau khi trồng khoảng 15 - 20 ngày kiểm tra khả năng ra mầm chồi, đồng thời xới đất xung quanh gốc, làm cỏ dại và dùng phân đạm bón thúc
• Thu hoạch và bảo quản
Trồng được 60 ngày thì thu hoạch lứa đầu, cắt phần trên và cách mặt đất 10 cm Các lứa thu hoạch cách nhau 40 ngày Mỗi năm cắt dọn gốc già một lần
4.2.1.3 Cây ngắn ngày
Cây hàng năm thường được trồng là ớt, cà chua, khổ qua, bầu, bí, dưa leo, mì, ngô, đậu, lúa Giống các loài cây đó được mua từ trung tâm sản xuất cây giống của nhà nước, có các thương hiệu như Hai mũi tên, giống Trang Nông, giống Hoa Sen Thay đổi cây trồng theo mùa, theo thị trường hay thay đổi cây trồng cùng họ vì chúng dễ bị bệnh Hoa màu thường bị các bệnh như đạo ôn, khô vàng, sâu đục thân, rầy, thối ngọn