Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
Trang 1Bộ GIáO DụC Vμ ĐμO TạO Bộ TƯ PHáP
TRƯờng đại học luật hμ nội
Nguyễn đình thơ
Hoμn thiện pháp luật trọng tμi thương mại của việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
LUậN áN TIếN Sĩ LUậT HọC
Hμ nội - 2007
Trang 2Bộ GIáO DụC Vμ ĐμO TạO Bộ TƯ PHáP
TRƯờng đại học luật hμ nội
Nguyễn đình thơ
Hoμn thiện pháp luật trọng tμi thương mại của việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chuyên ngμnh: Luật Kinh tế
M∙ số: 62 38 50 01
LUậN áN TIếN Sĩ LUậT HọC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Dũng
PGS.TS Dương Đăng Huệ
Hμ nội – 2007
Trang 32 Pháp luật TTTM của Việt nam, về cơ bản, đã thể hiện được
những nguyên tắc chung về TTTM trên thế giới, tiếp thu những điểm
hợp lý và phổ biến trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài của một số nước và xu thế phát triển của TTTM trên
thế giới Tuy vậy, quá trình thực hiện đến nay cho thấy các quy định
của pháp luật TTTM của chúng ta đã bộc lộ những bất cập, dẫn đến
quá trình thực hiện có những vướng mắc, chưa tạo ra được một cơ chế
thật sự thông thoáng cho hoạt động của TTTM Thực tế này đòi hỏi
pháp luật TTTM phải được tiếp tục hoàn thiện mới có thể đáp ứng
được yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay và trong
thời gian tới
3 Hiện nay, nhiệm vụ quan trọng của giới luật gia là nghiên
cứu để góp phần hoàn thiện cơ sở pháp luật cho TTTM hoạt động có
hiệu quả hơn Tuy nhiên, công việc này chỉ có thể thành công khi
chúng ta nắm bắt được bản chất của TTTM, các yếu tố chi phối sự
thành công hay thất bại trong hoạt động của nó, tình hình và xu thế
phát triển của TTTM của các nước trên thế giới và đặc biệt là các yêu
cầu mới mà nền kinh tế nước ta đang đặt ra cho các cơ quan tài phán
kinh tế, trong đó có TTTM Tác giả đã dành nhiều thời gian và công
sức cho việc nghiên cứu những vấn đề này và coi những thành công,
kết quả nghiên cứu chúng là cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa ra các
kiến nghị cụ thể của mình nhằm hoàn thiện pháp luật TTTM mại của
nước ta thời gian tới
4 Trên cơ sở nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện các vấn đề
lý luận và thực tiễn của TTTM trên thế giới và Việt Nam ta, luận án
đã đưa ra một loạt các kiến nghị liên quan đến thể chế, thiết chế và
các lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động của TTTM Những kiến
nghị này sẽ là những nội dung quan trọng, cơ bản mà cơ quan có
trách nhiệm soạn thảo Luật Trọng tài thương mại (đã được đưa vào
Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội Khóa XII (2007
-2012) sẽ phải quan tâm giải quyết.
LờI Mở ĐầU 1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Cùng với việc thực hiện chủ trương đổi mới quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Một trong những yêu cầu của quá trình hội nhập này là bảo đảm tôn trọng và thực thi những quy định của các tổ chức quốc tế cũng như những cam kết trong các hiệp định
Điều đó đòi hỏi Nhà nước ta phải đổi mới hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật kinh tế để đảm bảo sự tương thích của nó với pháp luật quốc
tế và các nước trên thế giới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã yêu cầu: “…Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác…Chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện các cam kết sau khi nước ta gia nhập WTO Khẩn trương đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các
quy định, thông lệ quốc tế”
Trong lĩnh vực pháp luật về tài phán kinh tế, Pháp lệnh TTTM (được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/02/2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2003), là một văn bản pháp luật được xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá các văn bản pháp luật về trọng tài ở Việt Nam, có tiếp thu một số nội dung cơ bản của Luật Mẫu UNCITRAL Pháp lệnh đã khắc phục được những bất cập của các văn bản pháp luật về trọng tài trước đó, mà bước chuyển biến có tính đột phá là đã tạo ra được mặt bằng pháp lý chung cho hoạt động của trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế ở Việt Nam; xây dựng được mối quan hệ hỗ trợ giữa Toà án và trọng tài; tạo ra
được cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết trọng tài Tuy nhiên, qua thời gian thi hành từ ngày 1/7/2003 đến nay cho thấy, Pháp lệnh TTTM chưa phát huy được đầy đủ vai trò của mình trong đời sống kinh tế - xã hội Nguyên nhân của tình hình này chủ yếu là do: nhận thức của giới doanh nhân về trọng tài chưa đầy đủ; chất lượng đội ngũ TTV chưa cao; kinh nghiệm của các Thẩm phán trong việc thực hiện
hỗ trợ trọng tài chưa nhiều; tổ chức và hoạt động của các TTTT còn nhiều yếu kém và đặc biệt là các quy định pháp luật về TTTM chưa
được hoàn thiện đến mức cần thiết Pháp lệnh TTTM 2003 với tư cách
là nguồn pháp luật chủ yếu của pháp luật về TTTM đã bộc lộ không ít
Trang 4hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến hoạt động của TTTM ở nước ta
trong thời gian qua
Trong khi đó, thực tiễn sôi động của hoạt động kinh doanh,
thương mại trong nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến việc tranh
chấp phát sinh ngày càng nhiều về số lượng, lớn về quy mô, đa dạng
về nội dung và phức tạp về tính chất Đồng thời, quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế với việc phải thực hiện đúng các nghĩa vụ quy định
trong các hiệp định đa phương và song phương, tôn trọng tập quán
thương mại quốc tế đòi hỏi pháp luật về TTTM phải được tiếp tục sửa
đổi, bổ sung để hoàn thiện, “bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn
định và minh bạch”, đáp ứng yêu cầu của việc giải quyết các tranh
chấp thương mại Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ
bản về TTTM và thực trạng pháp luật TTTM, phát hiện ra những bất
cập trong quy định pháp luật để từ đó đề xuất những phương hướng,
giải pháp hoàn thiện pháp luật TTTM là vấn đề hết sức cần thiết hiện
nay Đề tài “Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt
Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế ”được thực hiện là nhằm góp
phần đạt được mục đích đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Vấn đề pháp luật về trọng tài đã được giới luật gia trong nước
và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, khi Nghị định 116/CP
ngày 5/9/1994 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của
trọng tài kinh tế phi chính phủ đã tỏ ra có nhiều bất cập và việc soạn
thảo Pháp lệnh TTTM đang được tiến hành một cách khẩn trương thì
các nhà khoa học pháp lý của Việt Nam lại càng có nhiều bài viết,
nghiên cứu về vấn đề này TS Nguyễn Am Hiểu có bài “Một số đặc
điểm của pháp luật trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam hiện nay”
(Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, 1997); PGS.TS Nguyễn Như
Phát có bài “Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế” (Tạp
chí Nhà nước và pháp luật, số 11, 2001”; TS Dương Thanh Mai có
bài “Việc tiếp nhận luật mẫu của UNCITRIAL về Trọng tài thương
mại Quốc tế ở một số nước và việc xây dựng Dự thảo Pháp lệnh
Trọng tài của Việt Nam” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9, 1998);
PGS.TS Dương Đăng Huệ có bài “Trọng tài kinh tế phi chính phủ ở
Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của nó” (Thông tin khoa học pháp lý - Viện nghiên cứu
khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, số 5, 1999) Các bài viết này đã đề cập
cầu khách quan khác nên việc hoàn thiện pháp luật TTTM hiện nay vẫn còn là vấn đề thời sự, cần quan tâm nghiên cứu
2 Việc hoàn thiện pháp luật TTTM, muốn thành công, cần phải được dựa trên những yêu cầu (nguyên tắc) nhất định Vì vậy, việc tìm ra các yêu cầu đó là điều mà luận án cần phải quan tâm giải quyết Theo tác giả luận án, có rất nhiều yêu cầu mà pháp luật TTTM trong tương lai, cần phải đáp ứng Trong số các yêu cầu này, đáng lưu
ý nhất là yêu cầu cần phải mở rộng thêm thẩm quyền của TTTM để tạo cơ hội tốt hơn cho các nhà kinh doanh trong việc sử dụng TTTM như một cơ chế hữu hiệu nhằm giải quyết một cách kịp thời và đầy đủ các tranh chấp phát sinh Ngoài ra, do yêu cầu của hội nhập, pháp luật TTTM cần phải được xây dựng theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền tự
định đoạt của các bên tranh chấp trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc yêu cầu TTTM giải quyết các tranh chấp cho mình Trong
số các quyền tự định đoạt này có quyền của các bên tranh chấp là các doanh nghiệp Việt Nam được lựa chọn TTTT thương mại nước ngoài, TTV nước ngoài và pháp luật nước ngoài để giải quyết các tranh chấp cho mình
3 Việc hoàn thiện pháp luật TTTM Việt Nam cần phải được tiến hành một cách đồng bộ, trên nhiều phương diện Theo tác giả, trước hết, phải thay Pháp lệnh TTTM 2003 bằng một đạo luật về TTTM và sau đó là phải nghiên cứu để hoàn thiện một loạt các quy
định trong pháp luật hiện hành đã tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới của nước ta cũng như yêu cầu của hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Luận án đã đưa ra 10 nhóm kiến nghị với tổng cộng 20 đề xuất giải quyết các vấn đề đang tồn tại của pháp luật TTTM hiện hành Ngoài những kiến nghị về mặt thể chế, luận án còn
đưa ra các kiến nghị về mặt thiết chế và các kiến nghị trong các lĩnh vực khác nhằm tạo cơ chế pháp luật hoàn thiện hơn cho TTTM nước
ta hoạt động trong tương lai
Kết luận
1 Trọng tài thương mại với tính chất là một hình thức tài phán tư, đã và đang được các nhà kinh doanh trên thế giới ưa chuộng và tin dùng trong việc giải quyết tranh chấp ở Việt Nam, do còn nhiều hạn chế nên TTTM chưa thể hiện được các ưu thế của mình, chưa khẳng
định được uy tín mà TTTM các nước đã làm được trong giới doanh nhân
Trang 5Thứ mười, về nguyên tắc ra quyết định trọng tài
Để khắc phục bất cập trong quy định tại Điều 42 của Pháp lệnh
TTTM về nguyên tắc ra quyết định trọng tài, đề nghị bổ sung thêm
vào Điều này như sau:“Trong trường hợp không đạt được đa số, quyết
định trọng tài được lập theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng trọng
tài”
3.2.1.3 Những kiến nghị nhằm bảo đảm sự thống nhất trong
các quy định pháp luật khác có liên quan đến Trọng tài thương mại
Thứ nhất, thống nhất về nội hàm của khái niệm hoạt động
thương mại, tranh chấp kinh doanh, thương mại trong các văn bản
pháp luật, tạo điều kiện cho việc xác định thẩm quyền của Trọng tài
thương mại
Thứ hai, thống nhất việc xác định yếu tố nước ngoài trong
quan hệ thương mại
Thứ ba, cần có quy định hướng dẫn, giải thích thống nhất về
nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài
3.2.2 Các giải pháp về mặt thiết chế có liên quan đến Trọng tài
thương mại
Cần tăng cường tổ chức và hoạt động của các cơ quan Toà án,
thi hành án dân sự, trong đó chú ý nâng cao năng lực, trình độ chuyên
môn của Thẩm phán và Chấp hành viên để thực hiện tốt nhiệm vụ hỗ
trợ hoạt động giải quyết tranh chấp của TTTM, thi hành quyết định
trọng tài
3.2.3 Các giải pháp khác liên quan đến Trọng tài thương mại
Cần tuyên truyền sâu, rộng pháp luật trọng tài thương mại
Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trọng tài
Kết luận chương 3
1 Pháp luật TTTM ở nước ta, mà văn bản có tính chất nền tảng
là Pháp lệnh TTTM năm 2003, về cơ bản đã khắc phục được nhiều
yếu kém, hạn chế của Nghị định 116/CP trước đó, làm cho pháp luật
TTTM nước ta trở nên hoàn thiện hơn, không chỉ phù hợp với thực
tiễn kinh tế - xã hội của Việt Nam mà còn phù hợp với pháp luật quốc
tế về TTTM Tuy nhiên, do yêu cầu của hội nhập quốc tế và các yêu
đến trọng tài và pháp luật trọng tài ở nước ta trong thời gian trước khi
có Pháp lệnh TTTM năm 2003, đồng thời đã đề xuất các yêu cầu cũng như giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật trọng tài trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sau khi Pháp lệnh TTTM được ban hành, PGS.TS Dương
Đăng Huệ đã có bài “Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003-
Động lực mới cho sự phát triển của trọng tài phi chính phủ ở nước ta”, trong đó đã phân tích, bình luận một cách tổng hợp về các quy
định của Pháp lệnh như một bước đột phá trong pháp luật về trọng tài
ở nước ta Nguyên Chánh án Toà án nhân dân tối cao, nguyên Chủ
tịch Hội Luật gia Việt Nam Phạm Hưng có bài “Tố tụng trọng tài trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại”, trong đó chủ yếu trình bày
về quy trình tố tụng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Một số luận án thạc sĩ Luật học cũng đã nghiên cứu về pháp luật TTTM ở nước ta như: “Về pháp luật Trọng tài thương mại ở nước ta hiện nay” (Luận án của Nguyễn Thị Thu Thuỷ, năm 2003); “Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003- Cơ sở pháp lý mới cho sự thành lập và hoạt
động có hiệu quả của Trọng tài thương mại Việt Nam” (Luận án của Huỳnh Thị Thanh Thảo, năm 2003); “Vai trò của Toà án trong hoạt
động giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở Việt Nam” (Luận án của Vũ ánh Dương, năm 2006); “Pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài” (Luận án của Phạm Thị Phương Thuỷ, năm 2004) Các luận án này chủ yếu đề cập đến những vấn đề chung về TTTM như khái niệm, đặc điểm, bản chất của trọng tài và các quy định trong Pháp lệnh TTTM dưới góc độ là những điểm mới; về thực trạng tổ chức và hoạt động giải quyết tranh chấp của các Trung tâm TTTM trong nước, nguyên nhân của tình hình và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật mang tính đơn lẻ Riêng luận án thạc sĩ của
Vũ ánh Dương nghiên cứu ở một phạm vi hẹp hơn nhưng là vấn đề mới lần đầu tiên được quy định trong Pháp lệnh TTTM - vấn đề mối quan hệ giữa Toà án và trọng tài và đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm khắc phục những điểm còn bất cập của quy định pháp luật TTTM liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Cũng đã có một số luận án tiến sĩ Luật học nghiên cứu về tài phán kinh tế, trong đó có đề cập đến TTTM với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế như: “Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Đào Văn Hội, năm 2003; “Tài phán kinh tế ở nước ta hiện nay” của Trần Văn
Trang 6Trung, năm 2003 Các luận án này đều có đề cập đến TTTM, nhưng
dưới góc độ là một hình thức tài phán kinh tế tồn tại song song với tài
phán Toà án Vì vậy, nội dung các luận án chỉ dành một phần (ít hơn
so với phần về tài phán Toà án) để nghiên cứu về phương thức giải
quyết tranh chấp kinh tế bằng hình thức trọng tài; việc nghiên cứu
một cách đầy đủ về pháp luật TTTM chưa được thực hiện
Các bài viết và công trình nghiên cứu nói trên chỉ đề cập đến
TTTM ở một phạm vi nhất định, như: đặc điểm của TTTM, mối quan
hệ giữa Toà án và trọng tài, tài phán trọng tài, tố tụng trọng tài…hoặc
đúc rút những điểm mới của Pháp lệnh TTTM Mặt khác, cũng chưa
có công trình nào nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật TTTM dưới
góc độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Vì vậy, có thể nói, đây
vẫn là vấn đề còn mới trong khoa học pháp lý Việt Nam, cần phải
nghiên cứu giải quyết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề
lý luận cơ bản về TTTM, phát hiện những điểm còn hạn chế, bất cập
của pháp luật TTTM ở nước ta, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn
thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt
Nam đang tích cực tham gia
Để đạt được mục đích trên, luận án phải hoàn thành một số
nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về
TTTM và pháp luật TTTM; phân tích làm rõ những yếu tố chi phối
chất lượng hoạt động của TTTM
- Đánh giá đúng thực trạng pháp luật TTTM Việt Nam, qua
đó tìm ra sự tương đồng và bất tương đồng trong các quy định của
pháp luật TTTM Việt Nam với pháp luật TTTM quốc tế và các nước
khác
- Nghiên cứu làm rõ thực trạng hoạt động của các Trung tâm
TTTM ở nước ta, tìm ra những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải
quyết tranh chấp của các Trung tâm này trong thời gian qua
- Phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật
TTTM làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về lĩnh vực này
các bên phải chịu do việc Toà án từ chối áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời gây nên
3 Đề nghị quy định thời điểm các bên được quyền yêu cầu Toà án
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là khi đơn kiện được TTTT thụ
lý (đối với trọng tài thường trực) và khi Hội đồng Trọng tài được thành lập (đối với trọng tài vụ việc)
Thứ bảy, về vấn đề địa điểm trọng tài
Đề nghị bỏ đoạn “nhưng phải bảo đảm thuận tiện cho các bên
trong việc giải quyết” ở cuối Điều 23 Pháp lệnh TTTM để bảo đảm
cho HĐTT được chủ động trong việc giải quyết tranh chấp
Thứ tám, về tiêu chuẩn Trọng tài viên
Trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước, đề nghị vẫn nên quy định
về tiêu chuẩn TTV, nhưng nên linh động hơn nhằm tạo ra một đội ngũ TTV thật sự có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp bằng TTTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay và trong tương lai
Thứ chín, về lựa chọn pháp luật nước ngoài, áp dụng pháp luật nước ngoài và lựa chọn Trọng tài viên nước ngoài
- Đề nghị không nên giới hạn quyền của các bên được lựa chọn TTV nước ngoài chỉ đối với những vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, mà nên quy định cho phép các tổ chức, cá nhân Việt Nam cũng
được quyền chọn TTV là người nước ngoài để giải quyết tranh chấp
- Để các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư tại Việt Nam được quyền lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài trong việc giải quyết tranh chấp,
đề nghị Khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh TTTM cần được sửa đổi, bổ sung
như sau: “Đối với vụ tranh chấp giữa các bên Việt Nam, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết tranh chấp Trường hợp vụ tranh chấp có một bên hoặc các bên là Doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam thì
được quyền thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài theo nguyên tắc quy định tại Khoản 2 Điều này”
Trang 7HĐTT có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp thì đương nhiên quyết
định trọng tài có hiệu lực thi hành
Thứ năm, về thời hiệu khởi kiện
1 Đề nghị sửa lại cách tính thời hiệu khởi kiện cho phù hợp
với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Luật Thương mại là thời
hiệu khởi kiện tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm
2 Sau khi Toà án xác định trọng tài không có thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp thì việc đương sự khởi kiện tại Toà án phải áp
dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
chứ không phải theo quy định của Pháp lệnh TTTM Bởi vậy, câu
cuối cùng của Khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh TTTM cần được sửa đổi
như sau: “Thời hiệu khởi kiện ra Toà án theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự, nhưng không tính thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện
tại trọng tài đến ngày Toà án ra quyết định quy định tại Điều này”
3 Khoản 6 Điều 53 Pháp lệnh TTTM không quy định về thời
hiệu khởi kiện trong trường hợp sau khi Toà án huỷ quyết định trọng
tài Do vậy, để bảo đảm thống nhất về thời hiệu khởi kiện, cần sửa đổi
khoản này bằng cách bổ sung thêm câu sau đây: “Thời hiệu khởi kiện
ra Toà án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng không
tính thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện tại trọng tài đến ngày Toà
án ra quyết định quy định tại Điều này”
Thứ sáu, về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
1 Đề nghị Luật TTTM cần quy định Tòa án hỗ trợ trọng tài
trong việc thu thập chứng cứ đang do người thứ ba nắm giữ và triệu
tập nhân chứng tham gia tố tụng trọng tài Theo đó, các biện pháp
khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 33 Pháp lệnh TTTM cần bổ sung
thêm biện pháp “thu thập chứng cứ đang do người thứ ba nắm giữ;
triệu tập nhân chứng tham gia tố tụng” Quy định này phù hợp với
Luật Mẫu UNCITRAL (Điều 27) và Luật Trọng tài của các nước trên
thế giới
2 Đề nghị cần quy định trách nhiệm của Toà án phải có văn
bản thông báo cho các bên đương sự về việc không chấp nhận yêu
cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và quyền khiếu nại, thủ tục
giải quyết khiếu nại đối với việc Toà án không áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời; trách nhiệm của Toà án đối với những thiệt hại mà
- Đề ra các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật TTTM đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam, phục vụ cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu:
Luận án không có mục đích nghiên cứu tất cả các vấn đề của pháp luật TTTM, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về pháp luật TTTM, thực trạng pháp luật cũng như thực trạng hoạt động của các Trung tâm TTTM ở nước ta, phát hiện những điểm còn hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật thực định, trên cơ sở đó, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật TTTM đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, tác giả đã vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về bảo đảm quyền tự do kinh doanh, về việc hoàn thiện hệ thống các cơ quan tài phán kinh tế
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, luật học so sánh
6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được các nhà lập pháp tham khảo để hoàn thiện pháp luật TTTM, nhất là trong việc bảo đảm
sự tương thích của pháp luật TTTM Việt Nam với pháp luật quốc tế và các nước trên thế giới Luận án cũng là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà kinh doanh về TTTM và các quy định pháp luật TTTM để áp dụng trong giải quyết tranh chấp Các kết quả nghiên cứu của luận án cũng rất bổ ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về TTTM ở các trung tâm đào tạo cán bộ khoa học pháp lý ở nước ta
7 Những đóng góp mới của luận án:
Là công trình ở cấp độ luận án tiến sĩ Luật học nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về TTTM và pháp luật TTTM của
Trang 8Việt Nam kể từ khi Pháp lệnh TTTM năm 2003 ra đời, luận án có
những điểm mới về khoa học sau đây:
- Chứng minh được rằng, TTTM đích thực chỉ có thể ra đời, tồn
tại và phát huy tác dụng trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất
định Những điều kiện đó là: tự do sở hữu, tự do kinh doanh, tôn
trọng sự thoả thuận của các nhà kinh doanh trong mọi lĩnh vực hoạt
động, trong đó, có lĩnh vực giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ
với nhau Cũng chính dựa trên những cơ sở này mà luận án cũng đã
giải thích được tại sao trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước
đây không thể có TTTM đích thực mà chỉ có thể có những biến dạng
của nó dưới hình thức Trọng tài kinh tế nhà nước
- Làm rõ về mặt lý luận khái niệm TTTM và bản chất của nó
với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả
thuận; phân tích một cách đầy đủ các ưu thế của TTTM làm cơ sở cho
việc nhận thức đúng đắn vai trò, tác dụng của TTTM, qua đó, giúp
các thương nhân tin tưởng và sử dụng trọng tài như một giải pháp hữu
hiệu cho việc giải quyết tranh chấp
- Xác định và phân tích một cách sâu sắc 7 yếu tố chi phối chất
lượng hoạt động của TTTM (tính chất của chế độ chính trị - kinh tế
của mỗi quốc gia, trình độ phát triển của nền kinh tế, mức độ hoàn
thiện của pháp luật về TTTM và các văn bản pháp luật khác có liên
quan, truyền thống văn hoá và nhận thức của giới doanh nhân về
TTTM, yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, sự hỗ trợ của nhà nước
đối với TTTM và cuối cùng là phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên
môn của các TTV), qua đó tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề
xuất các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt
động của các Trung tâm TTTM ở nước ta trong thời gian tới
- Nêu và phân tích được những điểm tương đồng và khác biệt
trong các quy định của pháp luật TTTM Việt Nam với pháp luật
TTTM quốc tế, qua đó phát hiện những vấn đề cụ thể cần phải được
sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới nhằm hoàn thiện pháp luật TTTM
Việt Nam theo xu hướng nhất thể hoá pháp luật TTTM đang diễn ra
trên thế giới hiện nay
- Phát hiện được những bất cập của các quy định của pháp luật
TTTM hiện hành trong nhiều vấn đề, đặc biệt là trong các quy định
về thoả thuận trọng tài nhằm định hướng cho các giải pháp hoàn
thiện
2 Đề nghị sửa đổi khái niệm hoạt động thương mại trong Pháp lệnh TTTM cho phù hợp với quy định của Luật Thương mại năm
2005
3 Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 5 Pháp lệnh TTTM để có căn
cứ giải quyết các trường hợp vụ tranh chấp có thoả thuận trọng tài mà thoả thuận đó không thực hiện được hoặc không thể thực hiện được
4 Đề nghị huỷ bỏ quy định tại điểm 1.2.b của Nghị quyết số 05/2003/NQ- HĐTP ngày 31/7/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh TTTM, vì quy định này trái với Điều 5 Pháp lệnh TTTM và không phù hợp với thông lệ chung về TTTM trên thế giới
Thứ ba, về yêu cầu Toà án xem xét huỷ bỏ quyết định trọng tài
Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 54 Pháp lệnh TTTM cho phù hợp với quy định tại Điều 30 của Pháp lệnh Cụ thể: Khoản 2 và
Khoản 4 Điều 54 cần bổ sung thêm đoạn: “trừ trường hợp đã có quyết
định giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh này”
Thứ tư, về xem xét thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài
1 Đề nghị pháp luật TTTM của Việt Nam cần tiếp nhận quy
định tại Điều 4 của Luật Mẫu UNCITRAL để giải quyết trường hợp khước từ quyền khiếu nại đối với thẩm quyền của HĐTT Một khi các bên đã biết rằng trọng tài không có thẩm quyền nhưng vẫn “im lặng” hoặc vẫn tham gia tố tụng nhưng không có phản đối thì được coi là đã chấp nhận thẩm quyền của trọng tài hoặc được coi là từ bỏ quyền phản đối của mình
2 Đề nghị bổ sung vào Điều 30 Pháp lệnh TTTM để quy định
rõ trong thời gian Toà án đang xem xét giải quyết đơn khiếu nại của
đương sự về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của HĐTT thì HĐTT vẫn tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp bình thường để bảo đảm tính nhanh chóng của trọng tài Nếu sau đó Toà án quyết định HĐTT không có thẩm quyền thì HĐTT ra quyết định đình chỉ tố tụng trọng tài Trường hợp quyết định trọng tài đã được công bố thì các bên có quyền yêu cầu Toà án huỷ quyết định đó Nếu Toà án quyết định
Trang 9luật khác có liên quan
3.1.5 Việc hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại phải phù hợp
với đặc điểm tập quán kinh doanh của người Việt Nam
3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật
Trọng tài thương mại Việt Nam
3.2.1 Những giải pháp về mặt thể chế
3.2.1.1 Giải pháp tổng thể:
Cần ban hành Luật TTTM thay thế cho Pháp lệnh TTTM hiện
nay Với việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và
đang tiếp tục đưa nền kinh tế đất nước hoà nhập sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới, thì việc ban hành Luật TTTM không chỉ là ý muốn
riêng của chúng ta, mà còn là đòi hỏi cấp thiết của tiến trình hội nhập
quốc tế
3.2.1.2 Những kiến nghị cụ thể cần đưa vào Luật Trọng tài
thương mại
Thứ nhất, về thoả thuận trọng tài
1 Hình thức thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 9 Pháp lệnh
TTTM cần được xây dựng lại cho phù hợp với quy định trong Luật
Mẫu của UNCITRAL
2 Đề nghị bỏ quy định thoả thuận trọng tài vô hiệu khi “không
quy định hoặc quy định không rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp” tại Khoản 4 Điều 10 Pháp lệnh TTTM
Luật TTTM và các văn bản hướng dẫn nên quy định cơ chế giải
quyết bảo đảm cho ý chí của các bên về việc sử dụng trọng tài để giải
quyết tranh chấp được thực hiện, phù hợp với Luật Mẫu UNCITRAL
Thứ hai, về thẩm quyền của Trọng tài thương mại
1 Đề nghị nên quy định thẩm quyền của TTTM theo phương
pháp loại trừ như quy định của pháp luật trọng tài nhiều nước thên thế
giới Theo đó, TTTM không được giải quyết một số loại tranh chấp
nhất định (ví dụ các tranh chấp về hôn nhân gia đình, về giám hộ,
thừa kế, phá sản, tranh chấp hành chính,…), ngoài các loại tranh chấp
đó ra thì đều thuộc thẩm quyền của TTTM
- Phân tích được một cách cụ thể, đầy đủ các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và sự tác động của chúng đối với việc hoàn thiện pháp luật về TTTM ở nước ta Theo tác giả, trong số các yêu cầu đó
đáng lưu ý nhất là yêu cầu về việc mở rộng thẩm quyền của TTTM và
mở rộng quyền của các bên tranh chấp là các nhà kinh doanh Việt Nam nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các nhà kinh doanh trong nước với các nhà kinh doanh nước ngoài trong việc sử dụng trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp
- Đề ra những phương hướng, giải pháp cụ thể để hoàn thiện
pháp luật TTTM đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam
8 Kết cấu của luận án:
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có 3 chương
nội dung của luận án
Chương 1 những vấn đề lý luận về trọng tμi thương mại
Vμ PHáP LUậT TRọNG TμI THƯƠNG MạI
1.1 Trọng tài thương mại - một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm, bản chất và ưu thế của Trọng tài thương mại
1.1.1.1 Khái niệm Trọng tài thương mại
Trong khoa pháp lý, Trọng tài thương mại được nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu dưới hai phương diện: trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp và trọng tài là một thiết chế giải quyết tranh chấp
Qua phân tích, tác giả đưa ra khái niệm: TTTM là một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên thoả thuận đưa vụ việc ra trước một bên thứ ba trung lập để xem xét và ra phán quyết, bên thứ
ba này có thể là một TTV hoặc một HĐTT; phán quyết của bên thứ
ba có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên
Trang 101.1.1.2 Bản chất của Trọng tài thương mại
Sự hình thành TTTM là một tất yếu khách quan Quyền lực của
trọng tài là “quyền lực hợp đồng” hay “quyền lực đại diện”, do các
bên tranh chấp giao phó, uỷ nhiệm Phán quyết của trọng tài không
mang tính quyền lực nhà nước mà mang tính đại diện cho ý chí của
các bên tranh chấp, có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành
Pháp lệnh TTTM của Việt Nam thể hiện khá đầy đủ bản chất
phi nhà nước và tính tài phán của trọng tài, phù hợp với những nguyên
tắc chung trong thông lệ quốc tế
1.1.1.3 Ưu thế của Trọng tài thương mại
So với các hình thức giải quyết tranh chấp khác như thương
lượng, hoà giải, Toà án, TTTM có những ưu thế nổi bật sau đây: (1)
Bảo đảm bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp của các bên tranh
chấp; (2) Trọng tài giải quyết mang tính thân thiện, tạo ra khả năng
tiếp tục duy trì được quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên; (3) Thủ tục
giải quyết của trọng tài đơn giản, bảo đảm giải quyết nhanh chóng
các tranh chấp, tiết kiệm được thời gian; (4) Trọng tài giải quyết có
tính linh hoạt, bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên; (5) Trọng
tài giải quyết bảo đảm tính chính xác cao, nhất là những vụ
việc có nội dung tranh chấp từ những vấn đề kinh tế- kỹ thuật
chuyên sâu; (6) Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của
Nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết những tranh chấp mà các
bên có quốc tịch khác nhau; (7) Phán quyết trọng tài được công nhận
và thi hành ở nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó thì
trọng tài cũng có một số hạn chế Với ưu thế của mình, TTTM được
các nhà kinh doanh ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển ưa
chuộng và đã trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp phổ
biến
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của Trọng tài thương mại
Trên thế giới, nhất là ở những nước có nền kinh tế thị trường
phát triển, trọng tài ra đời từ rất sớm ở Việt Nam, trọng tài ra đời khá
muộn Vào đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, trọng tài ở
Việt Nam ra đời và được chia thành hai loại: trọng tài giải quyết tranh
chấp trong nước (TTKT nhà nước) và trọng tài giải quyết tranh chấp
quốc tế (HĐTT Ngoại thương và HĐTT Hàng hải) TTKT nhà nước
Những hạn chế này cần phải được khắc phục sớm để pháp luật TTTM Việt Nam thật sự “ hội nhập” với pháp luật TTTM quốc tế và các nước trên thế giới, góp phần phát huy vai trò, tác dụng của TTTM trong hoạt động giải quyết tranh chấp ở nước ta
4 Ngoại trừ TTTT Quốc tế Việt nam mỗi năm thụ lý giải quyết trung bình khoảng 20 vụ tranh chấp, các Trung tâm TTTM khác ở nước ta tồn tại mang tính hình thức, hoạt động cầm chừng Từ những hạn chế, bất cập của pháp luật TTTM và thực tiễn hoạt động kém hiệu quả của các Trung tâm TTTM đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải tiếp tục hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này Muốn vậy, chúng ta phải xác
định được những yêu cầu, định hướng cơ bản cho mục tiêu hoàn thiện pháp luật TTTM và có những giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm cho hoạt động giải quyết tranh chấp của TTTM đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế thị trường trong điều điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay và trong tương lai
Chương 3
PHƯƠNG HƯớng hoμn thiện pháp luật
về trọng tμi thương mại Việt Nam
3.1 quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật Trọng tài thương mại của Việt Nam
Việc hoàn thiện pháp luật TTTM trong điều kiện nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phải đáp ứng được các tiêu chí như sau:
3.1.1 Pháp luật trọng tài thương mại phải đáp ứng được những đòi hỏi cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng x∙ hội chủ nghĩa của Việt Nam
3.1.2 Pháp luật trọng tài thương mại phải bảo đảm tương thích với với pháp luật trọng tài quốc tế và pháp luật trọng tài của các nước trên thế giới
3.1.3 Pháp luật trọng tài thương mại phải thể hiện sự minh bạch, thống nhất
3.1.4 Việc hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại phải được tiến hành trong sự đồng bộ với việc hoàn thiện các lĩnh vực pháp