Bệnh lao da có thể được cho ngoại sinh hoặc nội sinh và hiện tại như vô số hình thái khác nhau trên lâm sàng Chẩn đoán dựa vào các tổn thương nhiều thể khó khăn, vì nó có nhiều thể l
Trang 1BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN LAO TẦNG (SCROFULODERMA)
BS VÕ BÉ BA
Trang 21 Tóm tắt
Bệnh lao da là thể lao ít gặp, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh lao chung tại Việt Nam tăng cao hàng năm trong đó loại
Trang 3Bệnh lao da có thể được cho ngoại sinh hoặc nội sinh và hiện tại như
vô số hình thái khác nhau trên lâm
sàng
Chẩn đoán dựa vào các tổn thương nhiều thể
khó khăn, vì nó có nhiều thể lao da khác nhau,
đa dạng trên lâm sàng Hơn nữa, việc chẩn đoán dựa vào các cận lâm sàng, vi sinh, mô học
chưa xác định rõ ràng là một vấn đề còn tranh cải, mặc dù tiến bộ khoa học, chẳng hạn như
việc sử dụng phản ứng chuỗi polymerase[1,4]
Trang 42 Giới thiệu
Nguyên nhân có thể do sử dụng các thuốc
ức chế miễn dịch ngày càng nhiều, đại
dịch HIV/AIDS ngày càng tăng và sự phát triển du lịch, di cư, nhập cư
Trang 5Tuy nhiên lao da là một bệnh
không phổ biến và khó chẩn đoán nên nhiều trường hợp bệnh không
Trang 6Chúng tôi xin giới thiệu một trường hợp bệnh nhân Scrofuloderma được chẩn đoán muộn nhưng đáp ứng tốt với các thuốc chống lao.
3 Mô tả trường hợp bệnh
Trang 7Bệnh nhân TRANG X, nam 33 tuổi, nghề nghiệp làm rẫy trồng khóm Bệnh diễn biến trên 20 năm
nay
Trang 8có màu đỏ hồng đến màu đỏ
nâu, đôi khi tiết vẩy trắng
nhiều sẩn tập trung lại thành mảng da rối loạn sắc tố, tổn thương da nhô cao hơn
bề mặt da quằn quèo, ranh giới rõ
Trang 9vị trí: mặt trước cẳng chân( P) Thương tổn về sau nung mủ,
chảy dịch, mủ vàng, một thời gian khoảng 4 -7 tuần tự lành, khi lành không để lại sẹo nhăn nhúm, mà da vùng thương tổn chỉ thay đổi sắc tố.(hình a,b)
Trang 10a b
Trang 11Nguồn: Nguyễn Trung Hậu
Sau đó xuất hiện thêm nhiều thương tổn
mới lân cận cách tổn thương cũ 1- 2
cm( mặt ngoài cẳng chân P) với các tính chất và diễn biến tương tự, tạo thành lỗ loét lớn 1 x 2 mm chảy dịch mủ ( Hình a)
Trang 12Một năm nay( 2013) xuất hiện thêm thương tổn ở khớp gối(P) làm hạn chế vận động chân( P)
Bệnh nhân tự mua kháng sinh uống trên 10 ngày giảm chảy dịch, tổn thương không
lành, có uống kháng sinh không rõ loại
uống trong 14 ngày, bệnh không giảm,
Trang 13Tiền Sử: Bản thân mắc viêm khớp hơn 5 năm, không có tiền sử chấn thương, không sốt, không ho kéo dài, không hút thuốc lá, không
nghiện chất, không sử dụng các
thuốc ức chế miễn dịch?
• Khám lâm sàng
Trang 14Thương tổn cơ bản: Da cẳng chân P thay đổi sắc tố da, có
nhiều sẹo lành
Thương tổn là một sẩn viêm chắc quanh nang lông, có màu đỏ đến màu đỏ nâu, đôi khi tiết vẩy trắng, nhiều sẩn tập trung lại thành mảng da rối loạn sắc tố,
Trang 15tổn thương da nhô cao hơn bề mặt da quằn quèo, ranh giới rõ
Vị trí: mặt trước cẳng chân P
• Loét kích thước 1 x 1cm ở khớp gối P và khoảng 0,5 ở mặt ngoài cẳng chân (P)
Trang 16đang chảy dịch lượng ít, nhiều vảy tiết vàng, khô/ hoặc ướt, chảy mủ trắng vàng khi nắn ấn xuống.
( Hình c)
Xung quanh là các sẹo màu đỏ tím, không
có dấu hiệu co kéo da lành
Trang 17• Ở giữa còn vùng da lành
• Không có các lupome
Thương tổn với tính chất tương tự ở mặt sau cẩng chân P ( Hình d) Hạch bẹn hai bên to khoảng 1 x 1cm, ấn đau, di động, không mủ
Trang 18C d
Trang 19Nguồn: Nguyễn Trung Hậu
Toàn thân
Thể trạng gầy (39kg) với các xét nghiệm:
Trang 20Thương tổn là các đám loét, chảy
mủ trắng, nhiều vảy tiết dày, dịch vàng, khi lành không để lại sẹo Nhiều ổ rò mủ từ dưới lên khi sờ nắn Hạch bẹn hai bên to nhẹ, ấn
không đau, di động.
* Nhuộm soi không thấy trực khuẩn kháng cồn, kháng toan (AFB)
Trang 21Giải phẫu bệnh: Hiện diện tăng
sinh tế bào sợi, tăng sinh mạch
máu nhỏ thăm nhập lympho bào và
tương bào
*Soi tươi nấm: không có nấm sâu
*Nuôi cấy vi khuẩn không thực hiện
*Xét nghiệm tìm BH da- thương tổn : Không thấy BH tại thương tổn
Trang 22* Máu lắng:
- 1 giờ: 45mm
- 2 giờ: 67mm
• X-quang tim phổi: lồng ngực cân đối, hai
phế trường sáng đều, không có hình ảnh lao xương, lao phổi
* Huyết học: Hc 43 (40-5,8 x1012/l ; TC 319
Trang 23*Tổng phân tích nước tiểu trong
giới hạn bình thường
Với lâm sàng và cận lâm sàng đã có chúng tôi đặt ra các chẩn đoán là: bệnh nấm
actinomyces, viêm da mủ hoại thư, Bệnh
da M avium , bệnh ấu trùng di chuyển, lao
tầng (Scrofuloderma)
Trang 241/ Actinomycose:
Vị trí thương tổn cẳng chân, thương tổn cơ bản: loét, chảy mủ vàng, có máu Hạch
bẹn to, công thức máu có khi thay đổi
Nhuộm soi và nuôi cấy không thấy nấm sâu
Trang 252/ Viêm da mủ hoại thư
Thương tổn đặc trưng vết loét, hoại tử tiến triển nhanh, chảy máu, mủ, đau nhiều
Không có bờ màu tím điển hình của hoại thư xét nghiệm không thấy nấm, vi khuẩn Chưa loại trừ được hết các nguyên nhân khác như mycobacterium
Trang 263/ Bệnh da M avium
Tính chất của thương tổn lan tỏa dạng loét thứ phát, thâm nhiễm hồng ban ở đầu chi, mụn mủ, và sưng mô mềm Xảy ra trên cơ địa suy giảm miễn dịch
Trang 27đa dạng Các vị trí phổ biến nhất thường hay gặp nhất là bàn chân, khe ngón chân, ngón chân tay, đầu gối và mông.( hình e)
Trang 295/ Lao tầng( Scrofuloderma)
Vị trí thương tổn Tiến triển của thương tổn
là sẩn chắc quanh lổ nang lông có màu đỏ nâu, tróc vẩy, bề mặt gồ ghề
Vị trí thương tổn thường gặp ở thân mình
Mô bệnh học có thể thấy u hạt quanh lổ
nang lông Phản ứng PCR lao âm tính,
nuôi cấy âm tính
Trang 304 Bàn luận
Lao da là một bệnh ít gặp, với tỷ lệ 3,5% trong số các bệnh nhân lao nội tạng [5] Lao tầng (Scrofuloderma) là thể lao da phổ biến nhất, hầu hết có nguồn gốc từ lao
xương, khớp, hạch [2]
Trang 31nguồn gốc lao hạch vì ban đầu có nhiều thương tổn tái đi tái lại nhiều lần tập trung cẳng chân P kèm theo
hạch to, không chảy mủ
Trên phim chụp tim phổi không thấy thương tổn lao ở xương, phổi
Trang 32Mặc dù xét nghiệm nuôi cấy vi
khuẩn không thực hiện tại cơ sở chúng tôi, nhưng phản ứng PCR với lao âm tính lâm sàng đưa ra
nhiều chẩn đoán khác nhau nhưng chẩn đoán lao tầng là phù hợp nhất
vì hình ảnh lâm sàng khá điển hình,
hình ảnh mô bệnh học không phản ứng
Trang 33Trong khi đó bệnh nhân này đáp ứng rất tốt với các thuốc chống lao
Mặc dù nuôi cấy lao dương tính là tiêu
chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh lao, PCR
có thể có độ nhạy cao hơn nuôi cấy Một
ưu điểm khác của PCR là cho phép chẩn đoán sớm và xây dựng phác đồ điều trị
cho những bệnh nhân này
Trang 34Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Liên so sánh độ nhạy của
xét nghiệm PCR
• với nhuộm soi thông thường bằng
Ziehl-Neelsen (ZN), nuôi cấy trên môi trường Lowenstein - Jensen cho thấy sự khác
biệt có ý nghĩa về độ nhạy như sau:
Trang 35PCR 74,4%; nhuộm soi ZN 33,79%; nuôi cấy 48,9%
kết quả PCR âm tính trong một lần xét
nghiệm, điều này một phần có thể do
bệnh nhân đã được điều trị bằng thuốc
kháng sinh phổ rộng hoặc thuốc chống lao trước đó hoặc lấy mẫu bệnh phẩm không chính xác
Trang 36Các tác giả ở Singapore cho rằng khi nghi ngờ thương tổn lao ít vi
khuẩn
PCR âm tính không loại trừ được chẩn đoán lao da, nhưng khi kết quả dương tính có
thể củng cố thêm chẩn đoán lao da và
bệnh nhân nên được điều trị bằng thuốc
Trang 37Một nghiên cứu khác cho thấy
chỉ có 1 trong 3 bệnh nhân scrofuloderma
có kết quả PCR dương tính và bệnh nhân
đó cũng có kết quả dương tính khi nhuộm soi và nuôi cấy M tuberculosis [2]
Trang 38Sau 1 tháng điều trị bằng thuốc
chống lao kết hợp độ ăn uống, nghĩ
ngơi
toàn trạng của bệnh nhân được cải thiện,
chất lượng cuộc sống tốt hơn, xét nghiệm chức năng gan thận trong giới hạn bình
Trang 39không có biểu hiện dị ứng với
thuốc chống lao
Hiện tại bệnh nhân vẫn tiếp tục uống thuốc chống lao với ba loại Rifamicine,
Pyrazinamid và isoniazid theo phác đồ
điều trị lao da
Trang 405 Kết luận
Lao tầng là một thể lao da ít gặp, các xét nghiệm để chẩn đoán thường ít khi cho kết quả dương tính
Trang 41chẩn đoán trở nên khó khăn
hơn
Khi triệu chứng lâm sàng gợi ý lao tầng và
có xét nghiệm củng cố chẩn đoán, bệnh nhân nên được điều trị kịp thời bằng các thuốc chống lao
Trang 42TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thị Huyền (2010) “ Bài giảng sau đại
học” Bệnh Da Liểu Trung Ương
2 Ngô Thanh Bình, Đinh Minh Lộc(2013),” Phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng và các thể chẩn đoán bệnh lao trên
bệnh nhân lao/HIV tại tỉnh Đồng Tháp”,
Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh,tập 17, số
Trang 433 Nguyễn Văn Út(2005),” Lao da ”, Bài giảng bệnh da liễu, 267-277.
4 Nhà xuất bản y học(2010),” Lao
da và các trực khuẩn không điển hình”, Cập nhật da liễu , tập 6, số 3, 23-35.
5 Nguyễn Thị Bích Liên, Nguyễn Tất Thắng(2012),” Xác
định tỷ lệ dương tính của Mycobacterium Tuberculosis
và Mycobacterium khác Mycobacterium Tuberculosis
trong các trường hợp lao da bằng phản ứng chuỗi
Polymerase(Polymerase Chain Reaction)” Tạp chí y học
TP Hồ Chí Minh,tập 16, số 1 tr 198-205.
Trang 44Xin chân thành cám ơn!