Đi từ phân tích nguồn gốc, sự ra đời của nhà nước Lênin đã khẳng định: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được” (tr. 9). Người đã đã chỉ rõ bản chất của nhà nước là “bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác
Trang 1CÂU 1 : BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC
Từ việc xem xét nguồn gốc, quá trình hình thành nhà nước, có thể đi đến một định
nghĩa chung về nhà nước như sau: Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt trong xã hội có giai cấp, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội, thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị.
Quan điểm ngoài Mác xít.
Khi đưa ra những giải thích khác nhau về nguồn gốc nhà nước, các nhà tư tưởng cổ,trung đại đều không chỉ ra được bản chất thực sự của nhà nước Họ hoặc là thần bí hoáquyền lực nhà nước, hoặc coi nhà nước chỉ như một thiết chế xã hội cần phải có để duy trì
xã hội tồn tại, phát triển, một trọng tài để giải quyết các tranh chấp Với cách giải thíchnhà nước là sản phẩm của khế ước xã hội, các nhà tư tưởng tư sản đã loại trừ tính giai cấpcủa nhà nước, không coi nhà nước là công cụ thống trị của một giai cấp
Một số nhà tư tưởng tư sản hiện nay mặc dù không thể không thừa nhận rằng xung đột lợiích giai cấp và nhu cầu áp đặt sự thống trị giai cấp là lý do tồn tại của nhà nước, nhưng lại chorằng nhà nước tư bản chủ nghĩa hiện đại đã khắc phục được hạn chế của các nhà nước “cổđiển” trước đây và đã trở thành nhà nước phi giai cấp, phục vụ cho những nhu cầu của xã hội,đảm bảo phúc lợi cho tất cả mọi người Đã xuất hiện hàng loạt những học thuyết như “thuyếthội tụ”, “thuyết xã hội hậu công nghiệp”, “thuyết giải thể hệ tư tưởng”, “thuyết nhà nước phúclợi chung”… nhằm che dấu bản chất của nhà nước tư sản
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khi bàn về bản chất nhà nước đã cho
rằng cần xem xét trên nhiều phương diện, trong đó trên phương diện chính trị - xã hội, bản chất giai cấp là yếu tố mấu chốt nhất, cơ bản nhất trong các yếu tố cấu thành bản chất của nhà nước Ngoài ra, bản chất xã hội của nhà nước cũng giữ vai trò quan trọng.
Đi từ phân tích nguồn gốc, sự ra đời của nhà nước Lênin đã khẳng định: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được” 1 (tr 9) Người đã đã chỉ rõ bản chất của nhà nước là “ bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác” 4
1 Như vậy, nhà nước chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp và luôn mang tính giai cấp sâu sắc Nhà nước là bộ máy cưỡng chế đặc biệt do giai cấp thống trị tổ chức ra,
nằm trong tay giai cấp thống trị để thống trị giai cấp khác Lê-nin chỉ rõ : “Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt, nó là tổ chức bạo lực dùng để trấn áp một giai cấp nào đó” 2
Sự thống trị của nhà nước được thể hiện trên cả 3 mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng.Trong đó sự thống trị về kinh tế giữ vai trò quyết định Đồng thời đây cũng là những cơ sởquy định bản chất giai cấp của nhà nước
Nhà nước chính là một công cụ sắc bén nhất, có hiệu lực nhất Có nhà nước trong tay, giai cấp chiếm
ưu thế về kinh tế mới bảo vệ được quyền sở hữu của mình, đàn áp được sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột, duy trì được quan hệ bóc lột Cũng thông qua nhà nước, với tư cách là một thiết chế đặc biệt của quyền lực chính trị, giai cấp thống trị mới tổ chức và thực hiện được quyền lực chính trị của mình, hợp pháp hoá
1 V.I.Lênin toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2008, tr.9
4 4 V.I.Lênin toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.118.
2 V.I.Lênin toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2005, tr.30
Trang 2ý chí giai cấp của mình thành ý chí nhà nước và do đó buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự có lợi cho giai cấp thống trị, từ đó trở thành giai cấp thống trị về chính trị Nắm quyền lực về kinh tế và về chính trị, bằng con đường nhà nước, giai cấp thống trị có đủ điều kiện đưa hệ tư tưởng của giai cấp mình thành
hệ tư tưởng thống trị trong xã hội, làm cho các giai cấp khác phải lệ thuộc về tư tưởng.
* Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện :
+ Nhà nước là bộ máy cưỡng chế nằm trong tay giai cấp cầm quyền, là công cụ sắcbén để duy trì sự thống trị của giai cấp tổ chức ra nó
+ Nhà nước là bộ máy đặc biệt để giai cấp thống trị bảo vệ quyền lợi và địa vị của mình
Như vậy, bản chất nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị trong
xã hội có giai cấp, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và chức năng quản lý đặc biệt nhằm bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, duy trì trật tự xã hội
2 Ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp và mang bản chất giai cấp sâu sắc, song nhà
nước còn là một tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức bảo đảm lợi ích chung của xã hội - đó chính là vai trò xã hội của nhà nước Bởi một nhà nước sẽ không thể tồn
tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính tới lợi ích, nguyện vọng và
ý chí của các giai tầng khác trong xã hội Ăngghen khẳng định: “Chức năng xã hội là cơ
sở của sự thống trị xã hội, và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó” 5 Trong thực tế, nhà nước nào cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong xã hội Nó phải duy trì các giá trị xã hội đã có, đảm bảo xã hội trật tự, ổn định và phát triển, thực hiện những yêu cầu chung của xã hội và bảo đảm lợi ích của các giai tầng khác.
Tính giai cấp và vai trò xã hội đều là thuộc tính thể hiện bản chất của nhà nước, có quan
hệ chặt chẽ, không tách rời, trong đó tính giai cấp là mặt chủ đạo Khi nghiên cứu bản chấtcủa nhà nước phải xác định rõ nhà nước đó phục vụ trước hết cho lợi ích giai cấp nào, đồngthời phải thấy vai trò xã hội của nhà nước đó Nếu không thấy hết được điều đó thì quá trìnhthực hiện sự thống trị giai cấp và quản lý xã hội sẽ gặp không ít khó khăn, thậm chí thất bại.Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi các mối quan hệ giai cấp đang biến đổi đa dạng thì việcchú ý đúng mức tới vai trò xã hội của nhà nước lại càng hết sức cần thiết
Trong các nhà nước của các giai cấp bóc lột, tính giai cấp và vai trò xã hội về cơ bảnkhông thống nhất với nhau Giai cấp thống trị luôn phải giải quyết mâu thuẫn khó có thểđiều hoà giữa lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích của xã hội, của quốc gia, của cộngđồng Kết cục tất yếu là khi lợi ích của giai cấp thống trị đối lập gay gắt với lợi ích của cácgiai tầng khác trong xã hội, nhà nước đó sẽ đứng trước yêu cầu bị thay thế bằng một nhànước khác Để ngăn ngừa xu hướng đó, đồng thời trước sức ép của cuộc đấu tranh củanhân dân lao động, tận dụng những thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại, các nhà nước tư bản chủ nghĩa hiện nay đã phải chú ý, quan tâm nhiều hơn đếnviệc thực hiện chức năng công quyền và vai trò xã hội của nhà nước, tìm cách điều chỉnh,giải quyết các xung đột về lợi ích trong khuôn khổ chế độ tư sản Một số nhà tư tưởng tưsản đã thổi phồng những kết quả mà nhà nước tư bản chủ nghĩa hiện đại đã đạt được trongviệc thực hiện chức năng công quyền và vai trò xã hội để che dấu bản chất giai cấp của nó.Trong chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, tính giai cấp và vai trò xã hội của nhà nước về
cơ bản là thống nhất, hoà quyện vào nhau Những chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước xãhội chủ nghĩa giải quyết trong khi đảm bảo lợi ích giai cấp công nhân cũng đồng thời bảođảm lợi ích toàn xã hội, toàn dân tộc Vì vậy, đó là một nhà nước kiểu mới
55 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.1994, tr.253.
Trang 3CÂU 2: TRƯỚC SỰ ĐIỀU CHỈNH THÍCH NGHI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN NAY, CÓ Ý KIẾN CHO RẰNG BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC TBCNCÓ SỰ ĐIỀU CHỈNH Đ/C CHO BIẾT Ý KIẾN CỦA MÌNH.
Mặc dù có sự điều chỉnh thích nghi , song bản chất của CNTB là không hề thay đổi.Điều này xuất phát từ bản chất kinh tế và chế độ xã hội của xã hội TBCN quy định Đánhgiá về vấn đề này, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Khẳng định : “Chủ nghĩa
tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xó hội hoỏ ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ”
Thật vậy:
Bản chất của nhà nước tư bản chủ nghĩa là thiết chế quyền lực để thực hiện sự thống trị của giai cấp tư sản nhằm duy trì địa vị kinh tế của giai cấp cầm quyền, thực hiện quản lý, điều hành và duy trì trật tự xã hội Bản chất của nhà nước tư bản chủ nghĩa được quy định bởi cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội - giai cấp của nó.
Cơ sở kinh tế của nhà nước tư bản chủ nghĩa là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu tư nhân của giai cấp tư sản đối với tư liệu sản xuất
và chế độ bóc lột lao động làm thuê, cơ sở xã hội - giai cấp của nó là giai cấp tư sản.
Nhà nước tư bản chủ nghĩa phát triển qua các giai đoạn khác nhau và được
tổ chức với những hình thức khác nhau, nhưng bao giờ cũng là thiết chế đại diện tập trung, đầy đủ nhất ý chí và lợi ích của giai cấp tư sản Về mặt lịch sử, nhà nước tư bản chủ nghĩa với những thể chế dân chủ tư sản là một bước tiến dài so với nhà nước phong kiến, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Tuy nhiên, do tồn tại trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư, trong quá trình phát triển, nhà nước tư bản chủ nghĩa đã và sẽ không thể là một nhà nước thực sự tiến bộ và dân chủ Những hạn chế của nhà nước tư bản chủ nghĩa đã bộc
lộ ngay từ giai đoạn phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản cổ điển
Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, để thích nghi với sự thay đổi của tình hình, nhà nước tư bản chủ nghĩa đã có những điều chỉnh nhất định về hình thức tổ chức,
bộ máy, cơ chế, phương thức quản lý, điều hành xã hội Nhiều nhà nước tư bản chủ nghĩa đã áp dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ vào việc nâng cao năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường hiệu quả quản lý xã hội… Một số nhà nước tư bản đã tích cực tham gia giải quyết những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu như bảo vệ môi trường, chống khủng bố, tội phạm, bệnh tật, đói nghèo…và đóng góp cho các chương trình viện trợ nhân đạo, quỹ phát triển quốc tế Những tiến bộ và thành tựu của nhà nước tư bản chủ nghĩa hiện đại là không thể phủ nhận Tuy nhiên, điều đó không làm thay đổi bản chất của nhà nước tư bản chủ nghĩa Nhà nước tư bản chủ nghĩa hiện đại vẫn
Trang 4là công cụ chuyên chính để bảo vệ quyền thống trị của giai cấp tư sản đối với toàn
xã hội, bảo vệ trật tự xã hội, lợi ích quốc gia và dân tộc tư bản chủ nghĩa.
CÂU3:BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự thể hiện cụ thểbản chất của kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa, phù hợp với cơ sở kinh tế - xã hội, đặc điểmcủa việc tổ chức quyền lực nhà nước trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.Đây là những biểu hiện tốt đẹp khẳng định tính ưu việt trong bản chất của nhà nước CHXHCNVN.
- Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thể hiện trước hết ở chỗ nhà nước
+ Nhà nước có sứ mệnh lịch sử là xây dựng thàng công CNXH và CNCS ở ViệtNam Sẵn sàng trấn áp mọi âm mưu cản trở quá trình đó- vừa thể hiện rõ mục tiêu của nhànước, vừa khẳng định sứ mệnh lịch sử của GCCN (so sánh với nhà nước tư sản)
+ Nhà nước CHXHCNVN lấy chủ nghĩa Mác-lênin, tt HCM làm nền tảng, tư tưởng,thực hiện nguyên tắc TTDC trong tổ chức và hoạt động
+ Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Hiến pháp và phápluật do nhà nước xây dựng, sử dụng để quản lý, điều hành mọi mặt hoạt động của đất nướcđều là sự thể chế hoá đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam Mọi chủ trương,chính sách, phương thức tổ chức và hoạt động của nhà nước đều thể hiện quan điểm, lậptrường của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của nhân dân và dân tộc- thể hiện sự thốngtrị của đa số đối với thiểu số Khác hẳn về chất đối với nhà nước tư sản
NQTƯ8/K7 khẳng định: “Trong mọi lĩnh vực từ C.trị, T.tưởng, K.tế, Xã hội, QPAN, Đ.ngoại , xây dựng và thực hiện pháp luật đến tổ chức cán bộ đều phải thể hiện bản chất GCCN của nhà nước.”
- Tính nhân dân - Đây là nét độc đáo của nhà nước XHCNVN Thể hiện
+ Chủ thể của quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhà nước của dân, do dân
và vì dân tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân
+ Nền tảng xã hội là liện minh C-N -T
+ Mục đích phục vụ nhân dân;
+ Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa;
+ Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước;
+ Sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào việc tổ chức xây dựng và sử dụngquyền lực nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thực hiện dân chủ hoá trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội kinh tế, chính trị - xã hội, đối ngoại…( Phân tích)
Trang 5Thực tiễn: Từ khi chưa có nhà nước, ta đã có mặt trận dân tộc thống nhất, đây là nền
tảng, là cơ sở chính trị dảm bảo tính nhân dân sâu sắc
- Tính dân tộc của Nhà nước thể hiện
+ Trước hết ở việc nhà nước ra đời từ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc;
+Trong mọi giai đoạn cách mạng, nhà nước luôn tổ chức mọi tầng lớp nhân dân đấutranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, gắn lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích củadân tộc
+ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của cộngđồng các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, biểu hiện tập trung của khối đạiđoàn kết các dân tộc anh em Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợgiữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
So với nhà nước tư sản, đây là điểm nổi bật độc đáo của nhà nước ta Bởi lẽ, nhà nước tư sản về phương diện vật chất nó không có tính nhân dân và tính dân tộc Việc thực hiện điều chỉnh của nó suy cho cùng là để bảo vệ lưọi ích của nó và chính quá trình điều chỉnh là quá trình bóc lột tàn bạo nhất Mác: “ nhà nước của giai cấp tư sản không có tính dân tộc Từ công xã Pa ri mà xem xét Vì lợi ích của nó mà nó đã bán rẻ Pa ri cho Phổ”(Nội chiến ở Pháp)
Bản chất giai cấp công nhân có mối quan hệ chặt chẽ với tính nhân dân và tính dân tộc, hợp thành bản chất tốt đẹp của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản chất giai cấp công nhân giữ vị trí cốt lõi, là hạt nhân chính trị sâu sắc trong các nhân tố cấu thành bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc giữ
vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân là vấn đề có tính qui luật của quá trìnhxây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân trong mọi giai đoạn cách mạng, là điều kiệnbảo đảm cho việc phát triển tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam
Để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dântộc của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cần tiếptục giữ vững, tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nướctrong điều kiện mới; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa;xây dựng bộ máy và đội ngũ công chức trong sạch, đủ năng lực thực hiện chức trách,nhiệm vụ; tăng cường cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; nâng caohiệu quả quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong tình hình hiện nay, khi các thế lực thù địch đang tìm mọi thủ đoạn thủ tiêu chủnghĩa xã hội, việc giữ vững bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam baohàm cả nội dung đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-lý luận để bảo vệ những quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin về bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, những quan điểm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam, phê phán những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, đập tannhững âm mưu và thủ đoạn chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân
Trang 6CÂU 4:VẤN ĐỀ TĂNG CƯỜNG BẢN CHẤT TỐT ĐẸP CỦA NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
Vì sao phải tăng cường:
+ Từ nguồn gốc, tính chất, bản chất tót đẹp của nhà nước CHXHCNVN
+ Từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay, sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhậpkinh tế quốc tế
+ Từ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Những thuận lợi và thách thức của bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới
+ Từ thực trạng những yếu kém, bất cập của nhà nước ta hiện nay
Bộ máy nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế, xã hội
Những yếu kém của bộ máy quản lý nhà nước và công tác cán bộ chậm được khắc phục Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu, chưa gắn với xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, chưa phối hợp chặt chẽ với cải cách và đổi mới hoạt động tư pháp Cải cách tư pháp chưa theo kịp yêu cầu phát triển Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ, công chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hoá, biến chất Dân chủ ở nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm Quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, nhất là ở các cơ quan giải quyết công việc cho dân và doanh nghiệp Bộ máy chính quyền cơ sở nhiều nơi yếu kém.
Những thành tựu đạt được trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự chưa thật vững chắc Việc đấu tranh chống âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch có lúc còn thiếu chủ động, chưa kịp thời Chất lượng các tuyến phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ở một số nơi chưa đạt yêu cầu.
Công tác đối ngoại còn có việc thiếu chiều sâu và chưa thật chủ động; công tác tuyên truyền đối ngoại còn kém; quản lý nhà nước về công tác đối ngoại chưa chặt chẽ.
Các yếu kém và bất cập về kinh tế, xã hội do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:
Thứ nhất, chậm đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; chậm xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, chưa có chính sách và giải pháp đủ mạnh để huy động và sử dụng được tốt nhất các nguồn lực,
cả nội lực và ngoại lực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba, cải cách hành chính còn chậm và kém hiệu quả; công tác tổ chức, cán bộ chậm đổi mới, chưa
đáp ứng yêu cầu.
Thứ tư, chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là một khâu yếu nhất.
+ Từ sự chống phá của kẻ thù
Những nội dung tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho nhà nước.
- Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với NN , phân định rõ chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đảng và nhà nước “ Đảng lãnh đạo NN bằng đường lối quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá thành hiến pháp và pháp luật… đảng lãnh đạo nhưng không bao biện làm thay NN”- NQĐH X.
- Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế XHCN “Dõn chủ xó hội chủ nghĩa vừa
là mục tiờu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân.”
Trang 7- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch đủ năng lực, tăng cường đấu tranhchống tham nhũng quan liêu “Xây dựng một xó hội dõn chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chứcphải thực sự là công bộc của nhân dân”
- Nâng cao năng lực quản lý điều hành của NN để NN ta trở thành NN của dân “Xâydựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
- Đấu tranh chống lại những âm mưu chống phá của kẻ thù Chúng đòi xóa bỏ điều
4 hiến pháp nước cộng hòa XHCNVN
CÂU 5: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN
Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự thể hiện cụ thểbản chất của kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa, phù hợp với cơ sở kinh tế - xã hội, đặc điểm
của việc tổ chức quyền lực nhà nước trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam .Đó là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc
Để xây dựng và phát huy tốt vai trò của nhà nước pháp quyền trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, cần thực hiện tốt những phương hướng và nội dung sau
Phương hướng: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của NN, phát huy
dân chủ tăng cường pháp chế, xây dựng NN của dân do dân vì dân
Nội dung Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhànước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiệnquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể,khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra,giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan côngquyền
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằmnâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huytốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội Tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốchội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội Đổimới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh Thực hiện tốt hơnnhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao
Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theohướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại Luật hoá
cơ cấu, tổ chức của Chính phủ; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinhgọn và hợp lý Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địaphương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực,thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương
Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,bảo vệ công lý, quyền con người Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020 Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm
Trang 8trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra Xây dựng cơ chế phánquyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân, bảo đảmquyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương.Thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơquan, cán bộ, công chức Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theoyêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức Thực hiện chế độtrách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấpphó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định Có cơchế kịp thời đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những công chức không xứng đáng, kém phẩmchất và năng lực
Câu 6: NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CHXHCNVN? PHƯƠNG HƯỚNG CẢI CÁCH BMNN
Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ươngđến cơ sở, được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chếđồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành và pháttriển sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, là bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên
ở Đông Nam Á
*Những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:
1- Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân,vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức Nguyên tắc này đã được khẳng định ngay tại Điều 1 Hiến pháp năm 1946 “Tất cảquyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam” và tiếp tục được qui định tạiĐiều 4 Hiến pháp năm 1959, Điều 6 Hiến pháp năm 1980, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 Nhân dân bằng con đường bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp vàkín đã bầu ra Quốc hội với vị trí là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyềnlực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyền quyết địnhnhững vấn đề cơ bản nhất của nhà nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn
bộ hoạt động của nhà nước; bầu ra Hội đồng nhân dân ở địa phương mình với vị trí là cơquan đại diện của nhân dân, bầu và giám sát Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môncủa Uỷ ban nhân dân, cũng như giám sát hoạt động đối với cơ quan Toà án và Viện kiểmsát
2- Nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội
+ Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đến bản chất gccn.
+ Thông qua sự lãnh đạo của đảng đối với NN mới thực hiện quyền LĐ của mình đối với toàn xh
+ Sự lãnh đạo của đảng là tăng cường hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan NN và là điều kiện tiên quyết phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Trang 9+ Trong tình hình hiện nay việc tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với NN là vấn
đề cơ bản cấp bách chống lại âm mưu phi ctrị hoá NN của kẻ thù.
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội đã trở thành nguyên tắc hiến định, được qui định tại Điều 4 Hiến pháp năm 1992 “Đảng cộng sản ViệtNam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lónh đạo Nhà nước và xó hội.” và đựơc cụ thể hóa nhữngNội dung sau:
- Đảng đề ra đường lối chủ trương c/s lớn cho hoạt động của NN, quyết định nhưngx vấn đề quan trọng về ộ máy NN.
- Đảng chỉ đạo NN trong quá trình xây dựng pháp luật để thể chế hoá chính sách
- Giới thiệu những cán bộ của đảng đủ phẩm chất năng lực đảm nhận các chức vụ của NN.
- Thông qua vai trò của tổ chức Đảng và vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên chấp hành nghiêm PL của NN.
- Đảng lãnh đạo NN trên cả 3 mặt lập pháp, tư pháp và hành pháp.
Để thực hiện nguyên tắc này, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, đổi mới nộidung và phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo ngang tầm với nhiệm vụ củacách mạng trong từng giai đoạn
3- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 4- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
5- Nguyên tắc bảo đảm của đông đảo của nhân dân lao động vào công việc quản
ý của nhà nước.
6- Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc
* Phương hướng đổi mới tổ chức hoạt động của bộ máy NN XHCNVN.
Tính tất yếu:
+ Cải cách là vấn đề có tính quy luật của mọi NN phát triển
+ Là đòi hỏi khách quan của sự ngiệp CNH,HĐH của nước ta
+ Để đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng NN pháp quyền VN của dân do dân… + Để đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới, nhằm khắc phục những yếu kém đang tồn tạiđẩy lùi các nguy cơ thách thức
Phương hướng xây dựng và hoàn thiện
+ Quan điểm chỉ đạo
- Cải cách bộ máy NN là song với phát triển kinh tế xh và xây dựng đấ0t nước
- Phải giữ vững sự lãnh đạo của đảng, giữ vững bản chất cách mạng của đảng
- Phải căn cứ các yếu tố truyền thống và điều kiện hoàn cảnh VN đồng thời tham khảonhững kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới
- Phải đồng bộ kiên quyết khẩn trương nhưng thận trọng tránh nóng vội
+ Biện pháp:
- Kiện toàn tổ chức nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của quốc hội
- Xây dựng một nền hành chính trong sạch đủ năng lực sử dụng đúng quyền lực vàtừng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu quả
- Cải cách tổ chức hoạt động tư pháp
Trang 10- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với NN
- Đấu tranh kiên quyết chống lại các hành vi quan liêu tham nhũng, lãng phí
CÂU 7: VỊ TRÍ CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI, ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HOẠT
ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI?
Đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của QUỐC HỘI, văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định:
Mạnh: “ Quốc hội có những đổi mới quan trọng trong công tác lập pháp, tiếp tục sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và
hệ thống pháp luật; cải tiến quy trỡnh xây dựng luật, đó thụng qua 58 luật và 43 phỏp lệnh mới, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước, vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế ”
Hạn chế: “ Quốc hội cũn lỳng tỳng trong việc thực hiện chức năng giám sát Bộ máy quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở cũn yếu kộm Tỡnh trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trỏch nhiệm ở một bộ phận cụng chức, nhất là ở cỏc cơ quan trực tiếp giải quyết công việc của dân và doanh nghiệp, chậm được khắc phục Mụ hỡnh tổ chức chớnh quyền địa phương, nhất là tổ chức hội đồng nhân dân, cũn những điểm bất hợp lý Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi cũn mang tớnh hành chớnh, hỡnh thức Dõn chủ trong xó hội cũn bị vi phạm Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm ”
*Vị trí: Điều 83 hiến pháp 92.
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước caonhất của nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh
tế - xó hội, quốc phũng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức vàhoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xó hội và hoạt động của công dân
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước
_ Là cơ quan đại biểu cao nhất là vì:
+ Trong bộ máy NN là cơ quan dân cử do cử tri cả nướcbầu ra theo nguyên tắc phổ thông bình đẳng bằng phiếu kín.
+ QH đại biểu cho mọi tầng lớp nhân dân lao động trong cả nước, thành phần của QH thể hiện sinh động đại đoàn kết toàn dân.
_ QH là cơ quan quyền lực cao nhất.
+Thể hiện ở phạm vi rộng lớn các lĩnh vực các vấn đề mà QH thảo luận quyết định.
Trang 11+ Tính chất đặc biệt quan trọng của các quyết định của QH đối với sự phát triển của xh.
+ Mức độ chi phối của các quyết định của QH đối với tổ chức hoạt động của nhà nước.
_ Chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước:
+ Giám sát của đại biểu quốc hội: giám sát trong và ngoài kỳ họp.
+ Cơ chế giám sát của UBTVQH.
+ Giám sát của kỳ họp quốc hội: QH xem xét thảo luận các báo cáo của các cơ quan NN.
+Giám sát của HĐND và các uỷ ban dân tộc.
* Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của QH và HĐND.
_ Sự cần thiết phải đổi mới.
+ Xuất phát từ vị trí vai trò của QH và HĐND.
+ Đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dân chủ, bảo đảm trên thực tế quyền lợi thuộc về nhân dân + Xuất phát từ thực tiễn trong tổ chức, hoạt động của QH và HĐND còn nhiều hạn chế.
_ Một số nội dung chủ yếu.
vào trong quá trình đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của QH và HĐND.
+ Tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động của QH.
+ Nâng cao hiệu quả của kỳ họp QH và HĐND
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của UBTVQH, hội đồng dân tộc, các UB của QH, hiệu quả của HĐND, các ban của HĐND.
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu QH và HĐND trong và ngoài kỳ họp, tăng cường giám sát của cử tri.
Theo nghị quyết đại hội đảng X “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.
Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội Tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc
và các Uỷ ban của Quốc hội Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và
chức năng giám sát tối cao.” (Tr126)