Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.Báo cáo về vấn đề trẻ em lang thang.
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 TELT : Trẻ em lang thang
2 CTXH : Công tác xã hội
3 GD-ĐT : Giáo dục và đào tạo
4 NCKH: Nghiên cứu khoa học
5 BVCSTE: Bảo vệ chăm sóc trẻ em
MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề
1.1 Lý do chọn đề tài
“ Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” Đó là khẩu hiệu mà các quốc gia và
cộng đồng quốc tế nhằm hướng tới mục đích chăm sóc, bảo vệ tương lai của mỗi quốc gia và nhân loại Việt Nam cũng là một trong những quốc gia trên rất đề cao khẩu hiệu này Trong những năm qua, nền kinh tế thị trường khá phát triển,
từ sự chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế-xã hội , đã đưa Việt Nam dần hội nhập với thế giới Quá trình CNH-HĐH dần phát triển giúp người dân có cuộc sống về tinh thần và vật chất tốt hơn so với trước kia, bộ mặt đời sống người dân
đã có những thay đổi tích cực : tỉ lệ đói nghèo ngày càng được giảm bớt, người dân đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực…Vì vậy trẻ em ngày càng được sự chăm sóc tốt hơn Tuy nhiên, vấn đề nào cũng luôn có những mặt trái của nó Cũng chính từ quá trình Đô thị hóa và phát triển kinh tế thị trường không phải ai cũng được hưởng lợi Đi đôi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thì các loại hình tệ nạn xã hội ngày càng hình thành nhiều hơn và phát triển theo những chiều hướng phức tạp như chủ nghĩa thực dụng, chạy theo đồng tiền, bỏ rơi con cái, các tệ nạ trộm cắp, ma túy, mại dâm…Hơn nữa, tình hình thiên tai , dịch bệnh ngày càng một phát triển.Và đặc biệt là khoảng cách giàu nhiều ngày càng chênh lệch, Khi nông thôn được đô thị hóa thì người dân có nguy cơ thất nghiệp cao, gia đình rơi vào những khủng hoảng dẫn đến nhiều
Trang 2biến động chính vì vậy mà xung đột gia đình xuất hiện cùng với kinh tế gia đình khủng hoảng và khó khăn, tỉ lệ ly hôn ngày càng gia tăng và hậu quả cuae những cuộc ly hôn đó là nguyên nhân dẫn tới những đứa trẻ từ có cha mẹ trở thành những đứa trẻ lang thang đường phố Và do hoàn cảnh gia đình nghèo đói, đã làm cho các em phải đi lao động sớm khi còn rất nhỏ Hiện nay quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển, báo động tình trạng TELT, trẻ em đi làm sớm tập trung đông ở các khu công nghiệp, khu đô thị lớn ngày càng tăng Đó là những nơi phải gánh chịu nạn di dân từ mọi miền đất nước, TELT cơ nhỡ rất dễ trở thành nạn nhân của tình trạng bóc lột sức lao động Do bị bóc lột sức lao động
đã làm ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác của các em Chính vì vậy, TELT đã
và đang là vấn đề cấp bách của toàn nhân loại Để giúp các em có một mái ấm tình thương và trở về với gia đình, chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung, TELT nói riêng lại càng đóng một vai trò quan trọng, nó không còn là trách nhiệm của bậc làm cha làm mẹ, người thân cuae các em mà còn là trách nhiệm của cộng đồng và toàn xã hội Với những tư liệu sẵn có, đồng thời bằng phương pháp thu thập và tìm kiếm thông tin, được quan sát những trẻ em đường phố Thông qua bài viết này sinh viên muốn tất cả mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn về tình trạng đáng báo động này Và muốn nhấn mạnh đến vai trò của người nhân viên CTXH Đồng thời qua bài viết sinh viên cũng kêu gọi mọi người hãy cùng nhau thắp lửa những mảnh đời bất hạnh không nơi nương tựa, hãy tạo ra những nụ cười trên những gương mặt còn non nớt, để một ngày không xa khắp nơi trên đất nước mình không còn tình trạng TELT “ Hãy lau khô giọt nước mắt bằng trái tim con người Việt Nam” Đó chính là thông điệp mà sinh viên muốn gửi tới thông qua bài viết này
Trang 3
NỘI DUNG
I.Bàn về vấn đề Phương pháp luận NCKH trong CTXH
1.1.CTXH với quan điểm hệ thống-cấu trúc
Quan điểm hệ thống – cấu trúc là một luận điểm quan trọng của phương
pháp luận, nó yêu cầu phải xem xét các đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong những hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng
Chức năng của quan điểm hệ thống cấu trúc trong CTXH:
Phương pháp này giúp ta xem xét chúng một cách toàn diện, nhiều mặt, phân tích chúng ra thành các bộ phận để nghiên cứu chúng một cách sâu sắc, tìm ra được tính hệ thống của đối tượng
Nhận ra được các mối quan hệ hữu cơ của các thành tố trong hệ thống để tìm ra quy luật phát triển nội tại từng bộ phận và của toàn bộ hệ thống
Thấy được mối quan hệ chi phối giữa đối tượng và môi trường, thầy được tính quy định của môi trường và phát triển những điều kiện cần thiết cho sự phát triển thuận lợi của đối tượng
Tạo thành một hệ thống chặt chẽ, có tính logic cao, trình bày rõ ràng, khúc triết
• Như vậy, NCKH theo quan điểm hệ thống – cấu trúc cho ta tri thức đầy đủ toàn diện, khách quan về đối tượng, thấy được mối quan hệ của hệ thống với
Trang 4các sự vật hiện tượng khác, từ đó thấy được cái triệt để khách quan của các tri thức khoa học
2.1.2 CTXH với quan điểm lịch sử - logic
Trong NCKH là quan điểm hướng dẫn tiến trình tìm tòi sáng tạo khoa học Thực hiện quan điểm này một mặt cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc của các đối tượng khách quan, mặt khác giúp ta phát hiện quy luật tất yếu của sự phát triển đối tượng, điều cần đạt tới trong mọi công trình nghiên cứu
Chức năng của quan điểm lịch sử trong CTXH:
• Dùng các sự kiện lịch sử để minh họa, làm sáng tỏ các luận điểm của sự vật hiện tượng, các nguyên lý trong đời sống
• Dùng các tài liệu lịch sử, theo một chuẩn mực, để đánh giá những kết luận của sự vật hiện tượng, đánh giá chân lí khoa học đời sống
• Dựa vào các kết luận lịch sử, với các quy luật tất yếu các logic khách quan
mà xây dựng giả thuyết và chứng minh giả thuyết đó
• Dựa vào xu thế phát triển của lịch sử để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra những khả năng mới, dự đoán các khuynh hướng phát triển của các sự vật hiện tượng
• Dựa vào lịch sử để thiết kế mô hình các biện pháp, các hình thức mới
• Sưu tập, xử lý thông tin, kinh nghiệm để giải quyết các hiện tượng, ngăn ngừa và tránh những sai lầm khuyết điểm có thể có trong tương lai
• Như vậy, đảm bảo sự thống nhất giữa tính lịch sử và tính logic trong NCKH
là tôn trọng lịch sử khách quan, là hiểu thấu được những điều kiện có thật của mọi sự phát sinh, phát triển, diễn biến của các hiện tượng trong đời sống,
để tìm ra các quy luật phát triển chung nhất của sự thật lịch sử ấy, giúp người nghiên cứu tránh được những sai sót
2.1.3 CTXH với quan điểm thực tiễn
Đòi hỏi NCKH phải bám sát thực tiễn, phục vụ cho thực tiễn đời sống xã hội
Trang 5NCKH thực chất là hướng vào khám phá các sự kiện, phát hiện các quy luật phát triển của hiện thực Những tri thức này có ý nghĩa to lớn bởi vì nó hướng tới phục vụ trực tiếp cho cuộc sống của con người
Chính vì thế mà mọi đề tài nghiên cứu khoa học phải có tính cấp thiết xuất phát
từ thực tiễn và phải có ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn
Chức năng quan điểm thực tiễn trong CTXH:
• Giúp chúng ta thu thập được thông tin từ thực tiễn
• Kiểm chứng các lý thuyết, giả thiết đã có
• So sánh các kết quả trong nghiên cứu với thực nghiệm
II Cở sở lý luận
2.1 Hệ thống khái niệm
2.1.1 Khái niệm “Trẻ em”
Khái niệm “Trẻ em“ là một khái niệm bao quát dành cho một bộ phận công dân còn hạn chế nhất định trong năng lực ứng xử và năng lực pháp lý của bản thân Khái niệm “Trẻ em” hiện nay và tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong đó có sự khác biệt nhất định đối với việc quy định ngưỡng tuổi chính xác của trẻ em ở từng quốc gia, tuy nhiên mọi quan điểm đều thống nhất quan điểm cho rằng trẻ em là đối tượng yếu thế, cần được chăm sóc, bảo vệ và hưởng các quyền lợi tốt nhất để phát triển Theo Công ước quốc tế về quyền Trẻ
em (mà Việt Nam là quốc gia đầu tiên tại Châu Á và là quốc gia thứ 2 trên thế giới ký kết tham gia), ngay tại điều 1 đã nêu rõ rằng “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ những trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có quy định tuổi vị thành niên thấp hơn” Tại một số quốc gia Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan…có nền kinh tế phát triển ổn định, chú ý nhiều hơn vấn đề an sinh cho con người thì có quy định lớn hơn về mức tuổi trẻ em, cụ thể luật pháp các quốc gia này quy định trẻ em là người dưới 20 tuổi Tại Việt Nam, theo luật BVCS&GDTE sửa đổi năm 2001, điều 1 cũng quy định rằng: “Trẻ em quy định
Trang 6trong luật này là những người công dân dưới 16 tuổi” Theo định nghĩa sinh học:
“Trẻ em là người trong giai đoạn phát triển, từ khi còn trong trứng nước đến tuổi trưởng thành” Tâm lý học cho rằng: “Trẻ em là giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý-nghiên cứu con người” Nhìn dưới góc độ XHH: “Trẻ em là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi con người” Như vậy tuy mỗi văn bản luật của mỗi quốc gia trong văn kiệt quốc tế dều có sự khác biệt nhất định trong việc quy định tuổi của trẻ em Nhưng tất cả đều thống nhất cho rằng trẻ em là những người công dân còn nhỏ tuổi, càn được bảo vệ Cách hiểu này căn cứ từ sự phân tích thực tế, về
cả mặt thể chất, tâm sinh lý và sự phát triển về mặt xã hội, ý thức tự lập, tự chủ của con người từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành…
2.1.2 Khái niệm “Trẻ em lang thang
” Theo luật BVCS&GDTE năm 2004 “Trẻ em lang thang là những trẻ em rời
bỏ tổ ấm gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định” Như vậy, có thể nói trẻ em lang là những trẻ em mà sự nuôi dưỡng của chúng trong gia đình là suy yếu khiến chúng phải chia sẻ trách nhiệm để gia đình được sống bằng cách làm lụng vất vả, trên các đường phố bằng các nghề khác nhau như bán vé số, bán báo, đánh giày…và nơi chúng thường tập trung tới là đô thị, thành phố lớn “Trẻ em lang thang” có nghĩa đồng với khái niệm “Trẻ em đường phố” là những trẻ em hàng ngày kiếm sống đơn độc, không được sự nâng đỡ của gia đình Trên thế giới, người ta thường gọi trẻ em lang thang là trẻ em đường phố, vì dấu hiệu rõ nét để nhận biết số trẻ em này là các em có mặt thường xuyên trên đường phố Trẻ em đường phố chia thành 3 nhóm:
- Trẻ em lang thang bỏ hẳn gia đình, không có quan hệ với gia đình Số trẻ em này bị bỏ rơi hoàn toàn, không gia đình, không người thân phải tự kiếm sống, thời gian chủ yếu lang thang trên đường phố hoặc trên các bãi rác, bến tầu, bến xe…
Trang 7- Trẻ em lang thang kiếm sống có liên hệ với gia đình, nhưng ít khi về thăm Đây thường là nhóm có cha mẹ, nhưng do cha mẹ quá nghèo để con đi kiếm sống trên đường phố
- Trẻ em lang thang nhưng đi cùng gia đình (gia đình từ nông thôn vrrg thành thị), ban ngày chia mỗi người mỗi ngả để kiếm ăn, tối về “đoàn tụ” trên vỉa hè, nhà ga hoặc nhà trọ rẻ tiền Dưới góc độ di dân, đây là một hình thức di dân tự
do từ nông thôn về thành thị
Việc làm của trẻ em đường phố tạm thời có thể chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm trẻ đường phố: gồm các em kiếm sống bằng các nghề trên đường phố như bán sách báo, đánh giầy, bán xổ số, tạp hoá, bán bánh mỳ, bơm xe, bốc vác, rửa bát, thu nhặt phế liệu, ăn xin, v.v…
- Nhóm trẻ lao động là nhóm trẻ làm thuê cho các cửa hàng ăn uống, quán cơm bình dân, làm thuê trong các xưởng sản xuất thủ công
- Nhóm trẻ giúp việc gia đình gồm những em (chủ yếu là em gái) làm thuê hay làm người giúp việc trong các gia đình
2.1.3 Khái niệm “Bảo vệ trẻ em”
Thuật ngữ “BVTE”được nhiều tổ chức sử dụng khác nhau Tuy nhiên khái niệm sau đã được nhiều nhà phân tích chấp nhận và sử dụng như sau: “BVTE là khái niệm chung về công tác phòng ngừa, ngăn chặn các nguy cơ và hành động lạm dụng, bóc lột trẻ em” (từ điển Bách Khoa Việt Nam_tập I, trang 641) Nói cách khác thì BVTE chính là thực hiện những hành động để nhằm phòng ngừa và ngăn chặn không để trẻ em bị sao lãng bị lạm dụng hoặc xâm hại, bóc lột cũng như hỗ trợ môi trường an toàn và lành mạnh Ở hình thức đơn giản nhất của BVTE là đảm bảo cho trẻ em không bị xâm hại BVTE chính là một công tác chung của không chỉ những người có trách nhiệm trực tiếp với các em như cha
mẹ, người thân trong gia đình mà nó còn là trách nhiệm xã hội của cộng đồng và
nhà nước
2.1.4 Công tác xã hội – công tác xã hội với trẻ em:
Trang 8Công tác xã hội là một nghề chuyên hổ trợ, giúp đở những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội ( người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già…) Sứ mạng của nghành công tác xã hội
là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu: những rào cản trong xã hội, sự bất công,
và sự bất bình đẳng
Công tác xã hội với trẻ em là sử dụng các kỹ năng chuyên nghiệp để nhằm hổ trợ, giúp đở những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn, mang lại cho trẻ niềm tin vào cuộc sống; để các em có thể phát triển một cách đầy đủ , đúng đắn
và khỏe mạnh
2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ em và trẻ em lang thang
2.2.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ em nói chung
Trẻ em từ 0->16 tuổi là giai đoạn đã có đầy đủ những đặc điểm tâm lý phát triển lứa tuổi, đây là giai đoạn quan trọng để các em hình thành và phát triển nhân cách sống, cụ thể là những nhận thức về sau này Đồng thời, những đặc điểm tâm lý trong lứa tuổi này có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tình cảm của mỗi người trong các giai đoạn tiếp theo, chúng ta có thể thấy rõ quá trình phát triển tâm lý của trẻ em giai đoạn này, trong những nghiên cứu về tâm lý học lứa tuổi (tâm lý của trẻ em từ 0->16 tuổi) Dưới đây là những đặc điểm tâm lý cơ bản của trẻ em nói chung: Trẻ em nói chung trong giai đoạn này đang hình thành
và phát triển nhân cách một cách mạnh mẽ Trong giai đoạn đầu (nhỏ tuổi) tức là trong giai đoạn tuổi mẫu giáo, trẻ có nhu cầu được quan tâm, chăm sóc về mặt tinh thần rất lớn Những nhu cầu về mặt tình cảm gia đình đặc biệt quan trọng trong giai đoạn này, nó có ý nghĩa đặt nền móng cho những tình cảm xã hội sau này của trẻ Từ giai đoạn lớn hơn, trẻ em có nhu cầu thể hiện cái “tôi” của mình rất lớn Trẻ có yêu cầu được mọi người xung quanh chấp nhận những suy nghĩ của mình và coi mình là một người lớn, bắt đầu có khả năng suy xét mọi vấn đề
Trang 9Đặc biệt, đối với trẻ đang trong giai đoạn dậy thì, tuổi vị thành niên xuất hiện một sự thay đổi lớn không chỉ trong đặc điểm sinh lý mà còn cả trong tâm lý của trẻ Lúc này, nhu cầu tự khẳng định mình của trẻ lớn, tư tưởng độc lập và không muốn chịu sự chi phối của người khác Trẻ có thể tự làm những gì mà mình muốn, kể cả khi chưa có sự cho phép của người lớn Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này, những khả năng nhận thức của trẻ cũng đã phát triển nhanh, trẻ nhận định những sự việc mà mình gặp phải như những người lớn có trách nhiệm thực sự Đó là những đặc điểm tâm lý cơ bản nói chung của trẻ em trong độ tuổi
từ 0->16 tuổi Từ những đặc điểm tâm lý nói chung này mà đặt ra cho những người có trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ, có cách dạy dỗ phù hợp để các em có được sự phát triển nhân cách toàn diện
2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ em lang thang
TELT là những đứa trẻ thường xuyên kiếm sống hàng ngày trên đường phố bằng những công việc khác nhau, chỗ ăn ở không cố định và hầu như là những việc không được tốt lắm so với những gì mà chúng ta mong muốn ở trẻ Cho dù
là trẻ còn sống với gia đình hay không thì trẻ vẫn thiếu đi sự quan tâm và chăm sóc của gia đình đối với trẻ Sự tổn thương về mặt tinh thần và tình cảm của trẻ
là nguyên nhân gây nên những hậu quả nghiêm trọng Quan trọng hơn hết là chúng đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại Trẻ lang thang là những đứa trẻ thích tự do và sự tự do đó không giống nhau mà tùy vào từng hoàn cảnh, nguyên nhân của từng trẻ Thông thường thì TELT không chịu sống trong khuôn khổ và nơi ở cũng sẽ thay đổi theo nhu cầu cuộc sống và công việc, các em thường có tính phòng vệ cao, đôi khi hơi hung hãn với những người lạ mặt Tuy vậy, ở trong tâm trí và bản chất của các em thì thông thường bộc lộ nhiều cách trong các cử chỉ hào hiệp, tương trợ và thông cảm với những người bạn cùng lứa tuổi, cùng cảnh ngộ, cùng hoàn cảnh với nhau Đặc biệt là các em có tính tự lập cao
và biết cách tổ chức cho cuộc sống riêng của mình
2.3 Nhu cầu của trẻ em và trẻ em lang thang
Trang 102.3.1 Nhu cầu của trẻ em nói chung
Mọi con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi đều có những nhu cầu nhất định cần được đáp ứng để đảm bảo cho cuộc sống của mình được phát triển đầy
đủ và bình thường Giai đoạn trẻ em từ 0->16 tuổi là giai đoạn đầu trong cuộc đời của mỗi con người Trong giai đoạn này trẻ em đã có những nhu cầu cơ bản tất yếu cần được đáp ứng để đảm bảo cho sự phát triển và đặt tiền đề cho những giai đoạn sau: Theo lý thuyết về nhu cầu mà nhà tâm lý học Masllow đã đưa ra trong thế kỷ XVII và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay, thì mọi người và đặc biệt là trẻ em dều có những nhu cầu cơ bản sau, cần được đáp ứng ở mức độ nhất định Đó là những nhu cầu theo các mức thang: Nhu cầu sinh lý và thể chất ( là những nhu cầu về ăn uống, chỗ ở, trang phục…cần phải đảm bảo một cách đầy đủ, để mỗi con người có thể tồn tại và phát triển) Nhu cầu an toàn ( nhu cầu được bảo vệ và cần được bảo về: trẻ em phải được bảo vệ tránh mọi sự phân biệt đối xử; được bảo vệ trước các tệ nạn xã hội; được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh
tế, lạm dụng sức lao động; trẻ em cần được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư Quyền được bảo về an toàn bao gồm cả không bị tra tấn, đánh đập trong trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ, nhu cầu về những môi trường xung quanh được an toàn, như: gia đình, nhà trường, xã hội…) Nhu cầu giao tiếp hay còn gọi là nhu cầu được thuộc về một nhóm xã hội nhất định (trong đó có gia đình, bạn bè…) Nhu cầu được tôn trọng ( tức là nhu cầu cần được công nhận vị trí, vai trò trong xã hội, được tôn trọng nhân phẩm và những quan điểm, ý kiến của mỗi cá nhân) Nhu cầu được hoàn thiện
và phát triển: trẻ em cần phải được đảm bảo đầy đủ các nhu cầu trên để có mức sống tốt về thể chất, tâm lý, trí tuệ, đạo đức; được tiếp xúc với các nguồn thông tin cần thiết; được học hành theo khả năng, năng khiếu của mình;…và mục đích cuối cung cần hướng tới đó là phát triển một cách toàn diện nhất trên mọi mặt đời sống
2.3.2 Nhu cầu của trẻ em lang thang
Trang 11Như vây, xét trên góc độ chung mọi TELT đều có và cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản như trên để đảm bảo cho sự hình thành và phát triển nhân cách Ở mức độ thấp nhất, TELT cần được thỏa mãn các điều kiện như ăn, uống, chỗ ở,…Đó là những yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự sống của các em Khi những nhu cầu cơ bản đó đã được đáp ứng thì các em cũng có nhu cầu ở một mức cao hơn đó là cần được bảo vệ Ta thấy nhu cầu này đối với trẻ em đặc biệt quan trọng và cần được đáp ứng bởi vì các em vẫn chưa đạt được sự phát triển đầy đủ, chưa độc lập, chưa có khả năng bảo vệ chính bản thân mình thậm chi còn phụ thuộc vào nhiều người khác Các nhu cầu còn lại đều ở bậc cao hơn để đảm bảo cho các em hòa nhập được với cộng đồng, phát triển hoàn thiện nhân cách của mình Lý thuyết nhu cầu của Masllow cũng hoàn toàn phù hợp với những quyền
cơ bản mà không phải chỉ trẻ em mà mọi đối tượng trong xã hội đều cần được hửng như trong tuyên ngôn về quyền con người và công ước quốc tế về quyền trẻ em đã khẳng định: “ quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia và quyền được phát triển”( điều 09->điều 15, công ước quốc tế về quyền trẻ em) Ta có thể thấy được rằng, những nhu càu cơ bản mà mỗi con người, đặc biệt là với TELT cần được đáp ứng, nếu thiếu hụt hoặc không đáp ứng một hay nhiều những nhu cầu đó thì chúng khó mà đạt được sự hình thành và phát triển nhân cách bình thường được và những phát triển trong giai đoạn này khó có thể làm tiền đề cho những giai đoạn tiếp sau Vì vậy, chúng ta cần đặc biệt chú ý, quan tâm đến việc tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu cơ bản của TELT TELT có nguy cơ bị mất đi một trong những quyền cơ bản nêu trên vì:
- Không có cơ hội đi học
- Suy giảm sức khỏe
-Dễ khủng hoảng tinh thần, mất niềm tin vào cuộc sống
Trang 12- Dễ bị lôi kéo vào hoạt động trái pháp luật như ăn trộm, ăn cắp hoặc sử dụng
ma túy
III Cơ sở thực tiễn
3.1 Thực trạng về trẻ em lang thang hiện nay
Một thực tế cho thấy, số TELT,cơ nhỡ kiếm sống trên các đường phố ngày càng tăng lên một cách đáng kể Dù chất lượng cuộc sống của toàn xã hội chúng
ta càng được nâng cao, nhưng với nhiều lý do khác nhau, nhưng vẫn còn nhiều trẻ em phải sống ở góc phố, vỉa hè Hiện trạng này đòi hỏi xã hội phải có những
kế hoạch, những giải pháp mang tính kịp thời và cụ thể hướng tới mục đích không còn TELT Theo thống kê của Bộ LĐ-TBXH, về trẻ em lang thang thì: năm 1996 cả nước có 14.596 em; năm 1997 có 16.263 em; năm 1998 có 19.024 em; năm 1999 có 23.000 em; năm 2000 lên đến khoảng 25.000 em Vào thời điểm thống kê tháng 2 năm 2003 cả nước còn khoảng 21.000 TELT
Tháng 8 năm 2003 ủy ban DSGD&TE điều tra tại 2 thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh số trẻ em lang thang có mặt tại hai thành phố này có trên 10.000 em Riêng thành phố Hồ Chí Minh có trên 8 ngàn em và Hà Nội có gần 2000 em (số trẻ em lang thang được thống kê gồm cả trẻ em là người của
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) Số trẻ em này có tới trên 50% không đi cùng gia đình và khoảng 40% đi cùng gia đình, cùng người thân tạm thời đến thành phố rồi lại về quê hương hoặc di chuyển đi nơi khác Một số khác đi cùng gia đình (di dân tự do) đến các vùng đô thị
Các tỉnh, thành phố tập trung nhiều trẻ em đến lang thang kiếm sống là: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Dương, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng Các địa phương có nhiều trẻ em đi lang thang gồm: Quảng Ngãi, Phú Yên, Thanh Hóa, Hưng Yên
Thực hiện kế hoạch đưa trẻ em lang thang về với gia đình và hòa nhập cộng đồng và triển khai Đề án Ngăn chặn và trợ giúp trẻ em lang thang kiếm sống, năm 2005 tại 38 tỉnh, thành phố còn từ 100 trẻ em lang thang trở lên đã đem lại những kết quả khả quan Hiện nay, theo báo cáo của 38 tỉnh, thành phố, số