Tuy nhiên, nguyên nhân, cơ chế nào đã khiến các em phải bỏ học để đi lang thang kiếm sống trên đường phố, và giải pháp nào trợ giúp trẻ lang thang cũng như biện pháp giải quyết vấn đề nà
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG-XÃ HỘI (CƠ SỞ II)
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
TIỂU LUẬN MÔN: TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI
PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRẺ
LANG THANG
Tp.Hồ Chí Minh, Tháng 12/2012
Trang 2Danh mục các từ viết tắt
1. LĐTB&XH: Lao động thương binh và xã hội
2. Tp: Thành phố
3. UBND: Uỷ ban nhân dân
4. UNICEF: tổ chức
5. TDH: Tổ chức Terre des homes Foundation
6. QĐ: Quyết định
7. Ttg: Thủ tướng
MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trẻ em lang thang hiện nay đang là vấn đề bức xúc của Thế giới nói chung và Việt nam nói riêng Từ trước đến nay, hình ảnh những trẻ em lang thang đường phố bán báo, bán kẹo cao su, vé xổ số, đánh giày… không còn xa lạ đối với người dân ở các Thành phố lớn như Hà nội, TP.Hồ Chí Minh Tuy nhiên, nguyên nhân, cơ chế nào
đã khiến các em phải bỏ học để đi lang thang kiếm sống trên đường phố, và giải pháp nào trợ giúp trẻ lang thang cũng như biện pháp giải quyết vấn đề này vẫn đang là một vấn đề cần phải phân tích sâu và cụ thể hơn
Nhằm phục vụ yêu cầu môn học, đồng thời để tìm hiểu về trẻ em lang thang, các nguyên nhân dẫn tới trẻ lang thang để từ đó đưa ra những giải pháp giải quyết vấn
đề đó, em đã thực hiện bài tiểu luận này
Trong quá trình viết bài, mặc dù đã được sự hướng dẫn nhiệt tình từ phía Giảng viên, và em cũng đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu nhiều tài liệu nhưng do kiến thức còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm nên sẽ không tránh khỏi những sai sót và hạn chế Chính vì thế, kính mong các Thầy, Cô đóng góp ý kiến để các bài tiểu luận lần sau đạt kết quả tốt hơn
Trang 4Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đời sống con người được nâng cao, vì thế vấn đề chăm sóc và bảo vệ trẻ em được thực hiện tốt hơn Với tinh thần tương thân, tương ái, yêu thương con người của tân tộc ta, nhiều cá nhân, gia đình và
tổ chức thu nhận nhiều trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trên các Thành Phố, Thị trấn trong nước về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp đỡ các em học tập, rèn luyện và có cuộc sống lành mạnh, tốt đẹp Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không
ít những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Thực tế trên các đường phố của các Thành phố trong nước, tiêu biểu là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà nội vẫn còn tồn tại nhiều trẻ em sống lang thang, ngủ bờ ngủ bụi…
Trước tình trạng trẻ em lang thang xuất hiện ngày càng nhiều tại các Thành phố, tôi đã thực hiện đề tài về “Nguyên nhân và giải pháp giải quyết vấn đề trẻ em lang thang ở nước ta hiện nay” để tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề này
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Trẻ em lang thang là một hiện tượng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Hiện tượng này đã và đang được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới điển hình như Mỹ, Trung Quốc, Nhật bản, Thái Lan, Philippin…
Ở nước ta, hiện tượng này cũng đã được nghiên cứu nhiều Năm 2000, Tổ chức Terre des homes Foundation (TDH)- Tổ chức phi chính phủ Thụy sĩ đã có một nghiên cứu về trẻ lang thang tại Thành phố Hồ Chí Minh Năm 2001, Bộ LĐTB&XH cùng với tổ chức UNCEF đã thực hiện nghiên cứu về các giải pháp giải quyết vấn đề trẻ em đường phố Năm 2003, có các nghiên cứu về trẻ em đường phố ở Hà Nội và đánh giá
về dự án trẻ em đường phố ở Hà Nội, Thanh Hóa và Hưng Yên (Bond) Trong những năm gần đây cũng có rất nhiều nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân, tiểu biểu như
tổ chức UNICEF, Terre des Hommes, Bộ LĐTB&XH, Cục bảo vệ trẻ em, …
III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trang 61. Mục đích nghiên cứu
Đề tài cố gắng chỉ ra thực trạng trẻ em lang thang hiện nay, từ đó đi tìm các nguyên nhân của vấn đề và đưa ra một số biện pháp giải quyết giúp đỡ các em có cuộc sống tốt đẹp hơn, đồng thời góp phần làm giảm vấn đề trẻ lang thang đường phố trong nước nói chung và tại Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu về nguyên nhân và biện pháp cho vấn đề trẻ lang thang, trước hết tôi đã trình bày một số lý thuyết về trẻ lang thang như khái niệm, đặc điểm tâm lý… thu thập các thông tin, các số liệu cụ thể về thực trạng trẻ lang thang trên địa bàn Thành phố, phân tích số liệu, tổng hợp thông tin, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến vấn
đề trẻ em lang thang, qua đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để giúp các em có cuộc sống tốt đẹp hơn, bên cạnh đó là những giải pháp nhằm hạn chế và từng bước đẩy lùi tình trạng trẻ em lang thang
IV. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài này là nguyên nhân và biện pháp giải quyết tình trạng trẻ
em lang thang đường phố
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các thành phố lớn ở nước ta, điển hình là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
2. Phương pháp nghiên cứu
Cũng như các đề tài khác, nghiên cứu về các biện pháp giải quyết tình trạng trẻ
em lang thang cần dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra cần phải thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến trẻ em lang thang, phân tích số liệu, thực trạng, tổng hợp, so sánh, giải thích…
V. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về trẻ em lang thang, nhưng hầu hết các nghiên cứu đó đều chỉ tập trung vào những giải pháp giải quyết đối với trẻ lang thang trước mắt mà ít đề cập đến những giải pháp lâu dài và đồng bộ Trong bài này, tôi đã cố gắng chỉ ra được những hạn chế của các biện pháp thực hiện trong những năm qua chưa triệt để, đồng bộ và lâu dài, chỉ ra những giải pháp tận gốc cho vấn đề
VI. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Đề tài gồm có 03 phần chính, đó là: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Trang 7Phần mở đầu nêu lên lý do lựa chọn đề tài (hay tính cấp thiết của đề tài), tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung gồm có 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Thực trạng trẻ em lang thang Chương 3: Nguyên nhân trẻ em đi lang thang và những biện pháp giải quyết Phần kết luận, tóm tắt lại vấn đề và đưa ra những kiến nghị, đề xuất
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRẺ EM LANG THANG
1. Một số khái niệm có liên quan
Có nhiều tổ chức, nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm về trẻ em Theo Công ước về quyền trẻ em: trẻ em là những người dưới 18 tuổi Còn theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2005 của Việt Nam: trẻ em là những người dưới 16 tuổi trong bài viết này nghiên cứu về trẻ em lang thang tại Việt Nam, vì thế sẽ sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Việt nam
Trang 8Trẻ em lang thang đường phố là trẻ hằng ngày tự kiếm sống ở những nơi không
ổn định với những lý do khác nhau (chính đáng hoặc không chính đáng), hoặc đó là những trẻ tự rời khỏi gia đình, rời bỏ quê hương đến sinh sống ở một nơi không cố định và kiếm sống bằng nhiều cách
Trẻ em lang thang được chia thành 04 loại chính, đó là:
Trẻ lang thang, bỏ hẳn gia đình, không có quan hệ gì với gia đình, ăn ngủ không cố định Số trẻ này bị bỏ rơi hoàn toàn không gia đình, không người thân, phải
tự mình kiếm sống bằng các nghề như bán báo, đánh giày, bán hang rong, bới rác… thời gian chủ yếu là lang thang trên các đường phố, vỉa hè, bến tàu, bến xe…
Trẻ lang thang nhưng đi cùng với gia đình, ban ngày chia mỗi người mỗi ngã
đi kiếm ăn, ban đêm về đoàn tụ trên vỉa hè, nhà ga…
Trẻ lang thang kiếm sống ban ngày, tối về ngủ ở gia đình
Trẻ lang thang ra đi vì lý do nghèo đói và kiếm tiền gửi về giúp gia đình
(Giáo trình tâm lý học xã hội, ThS.Bùi Thị Xuân Mai, Nhà xuất bản Lao động-Xã hội,
2007)
2. Đặc điểm tâm lý trẻ lang thang
Do cuộc sống bươn trải nên các em rất linh hoạt, thích tự do, tự lập và khả năng thích nghi cao Từ nhỏ các em đã phải tự đối mặt với cuộc sống hằng ngày, thiếu
sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội, không có điều kiện học tập, vì thế trình độ nhận thức và kỹ năng sống của trẻ còn thấp
Cuộc sống lang thang đường phố đầy cạm bẫy và tệ nạn xã hội trong khi nhận thức của các em còn thấp nên trẻ rất dễ bị lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo vào các tệ nạn xã hội
Do cuộc sống thiếu thốn về vật chất và tinh thần nên các em có nhu cầu đủ ăn, đủ mặc, có nhà cửa, ngoài ra có nhu cầu được học hành, có công việc, được sự quan tâm của người khác…
3. Những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về trẻ lang thang 3.1 Pháp luật Quốc tế
Điều 20 và 21 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định:
Trang 9Trẻ em sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp và bảo vệ của Nhà nước Các quốc gia thành viên đảm bảo việc chăm sóc bảo vệ cho những trẻ em lang thang
Phương thức trợ giúp nhóm trẻ em này: nhận làm con nuôi hoặc đưa vào các trung tâm trợ giúp xã hội
3.2 Pháp luật Việt Nam
Điều 55 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định:
1 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trẻ em đến lang thang phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trẻ em đi lang thang trong việc tổ chức, giúp đỡ đưa trẻ em trở về với gia đình; đối với trẻ em lang thang mà không còn nơi nương tựa thì được tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình thay thế hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em; đối với trẻ
em lang thang của hộ nghèo thì được ưu tiên, giúp đỡ để xoá đói, giảm nghèo
2 Đối với trẻ em cùng gia đình đi lang thang thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi
có trẻ em cùng gia đình đến lang thang có trách nhiệm yêu cầu và tạo điều kiện để gia đình lang thang định cư, ổn định cuộc sống và để trẻ em được hưởng các quyền của mình
3 Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em lang thang được sống trong môi trường an toàn, không rơi vào tệ nạn xã hội
II. VAI TRÒ CỦA ĐỀ TÀI
- Cung cấp thông tin về thực trạng trẻ em lang thang trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Chỉ ra những tồn tại của các biện pháp đã thực hiện trên địa bàn
- Góp phần vào việc giúp các nhà quản lý xã hội tìm ra giải pháp cụ thể cho vấn
đề trẻ lang thang
Trang 10CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRẺ EM LANG THANG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, về trẻ em lang thang thì: năm 1996 cả nước có 14.596 em; năm 1997 có 16.263 em; năm 1998 có 19.024 em; năm 1999 có 23.000 em; năm 2000 lên đến khoảng 25.000 em Vào thời điểm thống
kê tháng 2 năm 2003 cả nước còn khoảng 21.000 trẻ em lang thang Tháng 8 năm
2003 ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em điều tra tại 2 thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh số trẻ em lang thang có mặt tại hai thành phố này có trên 10.000 em Riêng thành phố Hồ Chí Minh có trên 8 ngàn em và Hà Nội có gần 2000 em (số trẻ
em lang thang được thống kê gồm cả trẻ em là người của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) Số trẻ em này có tới trên 50% không đi cùng gia đình và khoảng 40% đi cùng gia đình, cùng người thân tạm thời đến thành phố rồi lại về quê hương hoặc di chuyển
đi nơi khác Một số khác đi cùng gia đình (di dân tự do) đến các vùng đô thị Các tỉnh, thành phố tập trung nhiều trẻ em đến lang thang kiếm sống là: Hà Nội, thành phố Hồ
Trang 11Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Dương, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng Các địa phương có nhiều trẻ em đi lang thang gồm: Quảng Ngãi, Phú Yên, Thanh Hóa, Hưng Yên…
Trong báo cáo tham luận về mô hình dạy nghề cho trẻ em lang thang hồi gia và trẻ em nguy cơ lang thang của Tp.Hồ Chí Minh năm 2010, Thành phố hiện nay có hơn 1.800.000 trẻ em chiếm tỷ lệ 27,3% dân số thành phố Trong đó gần 18.000 trẻ em là con gia đình nhập cư, chiếm tỷ lệ 10% số trẻ em toàn thành phố và có 1.150 trẻ em phải lang thang kiếm sống Hầu hết trẻ em lang thang kiếm sống bằng nhiều công việc như: Bán báo, bán vé số, đánh giầy, bán mỳ gõ, thuốc lá, tranh ảnh, bánh kẹo, lượm rác và ăn xin
Theo khảo sát của bộ LĐTB&XH, ngày 11/9/2010, tính từ năm 2004 đến năm
2010, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có trên 10.000 trẻ em lang thang kiếm sống trên các đường phố, không nhà, không có nơi che chở chăm sóc Tuy nhiên Thành phố mới chỉ hồi gia chưa được 2.000 em Trong số 10.000 em có đến 70-80%
em là trẻ nhập cư, khoảng 5.000 em không biết chữ hoặc bỏ học, khoảng 28% trẻ em gái Những trẻ em này rất dễ bị tổn thương và là nạn nhân bị bóc lột sức lao động, nguy cơ nhiễm HIV/AIDS, bị lạm dụng tình dục và đối xử tàn tệ
Theo như các Báo cáo trước đây, đa số trẻ em lang thang thuộc diện mồ côi bị
bỏ rơi, gia đình khó khăn về vật chất, bố mẹ ly hôn, sống trong môi trường bị bạo hành… Độ tuổi phổ biến là khoảng từ 10 đến 16 tuổi, trình độ chỉ đạt THCS, Tiểu học, có một số em bị mù chữ
Trang 12( Trẻ em lang thang có mặt hầu hết trên các đường phố TP.HCM)
Kết quả khảo sát ở 51 xã thuộc 8 tỉnh Dự án hỗ trợ trẻ em lang thang (pha2) của các tỉnh: Vĩnh Phúc; Hưng Yên; Thanh Hóa; Hà Tĩnh; Thừa Thiên Huế; Quảng Ngãi; Phú Yên; Khánh Hòa vào tháng 9 năm 2010 xác định có 7.716 em, trong đó có 977 trẻ em lang thang và 6.739 trẻ em có nguy cơ lang thang Độ tuổi của TELT từ khoảng 10 đến dưới 16 tuổi là phổ biến, độ tuổi dưới 10 tuổi chiếm khoảng 4-5% Khoảng hơn 90% số TELT có trình độ tiểu học và THCS, còn lại 3-4% số TELT mù chữ, một số ít khoảng 2% số em đã được học tới lớp 10 THPT TELT kiếm sống tập trung nhiều ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, và đến từ nhiều tỉnh, thành khác nhau Công việc chủ yếu của các em là đánh giầy, bán vé số, giúp việc gia đình, phụ giúp việc trong các nhà hàng, quán cơm với mức thu nhập bình quân khoảng
từ 700.000đ đến 2.000.000đ/tháng
II. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
1. Thuận lợi
Hiện nay, vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được xã hội rất quan tâm, các
cơ quan, ban ngành có sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện các chính sách, hoạt động, có sự hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá nhiệt tình của Bộ LĐTB&XH Hệ thống các trung tâm, mái ấm, nhà mở được xây dựng và đầu tư phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung trẻ, cán bộ nhân viên xã hội cũng đã được quan tâm, công tác xã hội được công nhận là một nghề, được cấp mã ngành, mã nghề, tạo sự yên tâm công tác cho cán bộ xã hội để họ thực hiện tốt hơn công việc của mình
2. Khó khăn
Bàn về trẻ lang thang, do có quá nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau nên việc thu thập số liệu rất khó khăn Hơn nữa, trẻ lang thang thường sống không ổn định, nay đây mai đó, di chuyển trên địa bàn rộng lớn, và hay ẩn tránh, đề phòng, ít tiếp xúc với người lạ, nên việc tiếp cận các em vô cùng khó khăn Cuộc sống chốn đô thị đầy rẫy những cạm bẫy, tệ nạ xã hội đe dọa đến tình trạng sức khỏe và tính mạng
Trang 13của trẻ thang thang Hơn nữa, người dân chủ yếu nhập cư từ nơi khác đến, vì thế mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội rời rạc, xa cách
CHƯƠNG III BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRẺ LANG THANG
I. NGUYÊN NHÂN VẤN ĐỀ TRẺ EM LANG THANG
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em đi lang thang, chẳng hạn như nghèo đói, gia đình tan vỡ, nạn đói, hậu quả của các thảm họa thiên nhiên, di dân, bị lạm dụng, bóc lột sức lao động, bị cha mẹ bỏ rơi, do sự biến đổi xã hội… Tuy nhiên, trong bài này tôi xin trình bày 3 nguyên nhân cơ bản là do di cư vì mục đích kinh tế,
do gia đình tan vỡ và do nhận thức sai lệch
1. Di cư vì mục đích kinh tế
Nghèo là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em lang thang đường phố Do gia đình nghèo, cha mẹ buộc phải cho con cái nghỉ học để đi kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, dĩ nhiên địa bàn mà các em di chuyển đến sẽ là các thành phố lớn, vì kinh tế ở đó phát triển, các em có thể dễ dàng kiến việc hơn Các em không có điều kiện đi học và vui chơi, thiếu sự chăm sóc của người lớn và phải lao động trong điều kiện môi trường không tốt cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ
Ở nước ta, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói như thiên tai, mất mùa, thất nghiệp, ốm đau, bệnh tật… chính vì thế, phần lớn trẻ em lang thang xuất thân từ các vùng nông thôn ra thành thị để kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình
2. Do gia đình tan vỡ
Nhóm trẻ này bao gồm các trẻ có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn như trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, cha mẹ li dị, hoặc là những trẻ sống trong các gia đình có bạo hành, lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động…
Vấn đề ly hôn ngày càng tăng đang tạo ra những áp lực lớn cho xã hội, mà đằng sau các cuộc ly hôn đó trẻ em luôn là nạn nhân Sự tan vỡ mái ấm gia đình là cú sốc lớn