Và cả trong trường hợp này, mặc dù các đảng đó luôn có sự đấu tranh gay gắt với nhau nhưng ở những chừng mực nhất định họ vẫn phải thoả hiệp với nhau để bảo đảm cho quyền lực nhà nước có
Trang 1
hững năm gần đây, vấn đề quyền lực nhà
nước là thống nhất có sự phân công và
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp đã và đang được bàn luận nhiều Nhờ
những nỗ lực của các nhà khoa học và các nhà
lãnh đạo quản lí, một số cạnh khía của vấn đề
nêu trên đã được làm sáng tỏ Tuy nhiên, còn
nhiều câu hỏi lớn đang được đặt ra đòi hỏi
phải phân tích, luận giải về mặt khoa học và
thực tiễn Bài viết này chỉ đề cập một số vấn
đề nhằm góp thêm tiếng nói vào việc tiếp tục
nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên
1 Quyền lực
Quyền lực được hợp thành từ quyền và lực,
trong đó quyền được hiểu là khả năng được
thực hiện những hành vi (công việc, nhiệm vụ,
hoạt động nhất định) và lực là sức mạnh (uy
tín, trí tuệ, lực lượng, điều kiện và tiềm lực
kinh tế…) bảo đảm cho quyền có tính hiện
thực và tính khả thi Quyền có nội dung rất
rộng và nhiều loại vì quyền hình thành từ
những nhu cầu khách quan và sự ước muốn
chủ quan, phạm vi quyền lực luôn có xu hướng
mở rộng Nhưng lực thì luôn có những giới hạn
nhất định Vì vậy, nội hàm của khái niệm
quyền lực luôn thể hiện sự giới hạn bởi mức độ
kết hợp và mức độ tương tác giữa quyền và
lực Theo đó, quyền lực là khả năng được bảo
đảm bằng sức mạnh để thực hiện những hành vi hoặc buộc người khác phải thực hiện những hành vi nhất định theo ý chí của người có quyền hoặc được trao quyền lực Nói một cách khác, quyền lực là sức mạnh có thể khiến người (chủ thể) này phải phục tùng người (chủ thể) kia;
quyền lực biểu thị mức độ kiểm soát và mức độ phụ thuộc của người này với người khác
Quyền lực là khái niệm vừa có tính khái quát lại vừa có tính cụ thể Nhờ có tính khái quát và tính cụ thể mà quyền lực vừa có chiều sâu bản chất thâm trầm lại vừa có những hình thức biểu hiện phong phú, vừa thống nhất lại vừa đa dạng Mức độ khái quát và cụ thể của quyền lực được biểu hiện tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, tạo ra sự ẩn hiện linh hoạt của quyền lực Có nhiều loại quyền lực khác nhau như: Quyền lực luân lí, quyền lực kinh tế, quyền lực tư tưởng, quyền lực chính trị… Mỗi loại quyền lực đó có nguồn gốc, cơ sở tồn tại và được bảo đảm bằng những sức mạnh với các thiết chế khác nhau Chẳng hạn, quyền lực luân lí có nguồn gốc từ nhu cầu hành xử nhằm đạt được những mục đích luân lí nhất định; cơ sở tồn tại của quyền lực luân lí là các giáo lí có tính đạo đức,
N
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2được bảo đảm bằng uy tín (của cá nhân hay
nhóm xã hội nhất định) và sức mạnh của dư
luận xã hội với các thiết chế của các phong
tục, tập quán và kinh nghiệm; quyền lực kinh
tế có nguồn gốc từ nhu cầu được hành xử
nhằm đạt được những mục đích, lợi ích kinh
tế nhất định, được bảo đảm bằng sức mạnh
của tiềm lực và các điều kiện kinh tế với các
thiết chế tương ứng Trong mỗi loại quyền
lực đó lại có những biến dạng quyền lực rất
phong phú Tuy nhiên, trong thực tiễn của đời
sống xã hội các quyền lực này thường có sự
tương tác và thâm nhập lẫn nhau, vì vậy khó
có thể tách bạch một cách rạch ròi mỗi loại
hay các biến dạng của mỗi loại quyền lực đó
Quyền lực luôn có sự vận động, phát triển
theo thời gian, không gian cùng với sự biến
đổi của các điều kiện chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội Trong quá trình vận động và phát
triển đó, sự tương tác và thâm nhập lẫn nhau
giữa các loại quyền lực và giữa các biến dạng
của mỗi loại quyền lực ngày càng gia tăng,
khiến cho sự phân định chúng càng trở nên
phức tạp hơn Trong tình hình đó, đòi hỏi
phải có cách tiếp cận toàn diện, hệ thống khi
giải quyết những vấn đề có liên quan đến
quyền lực
2 Quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước là một dạng đặc biệt
của quyền lực chính trị Tính chất đặc biệt của
quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ, nó là
quyền lực công khai, thống nhất, bao trùm
toàn xã hội, quyền lực nhà nước có đủ sức
mạnh để kiểm soát và ràng buộc các chủ thể
theo nghĩa rộng nhất phải phục tùng Nói cụ
thể hơn, quyền lực nhà nước có những đặc
điểm cơ bản: Thứ nhất, quyền lực nhà nước
chỉ xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến trình
độ nhất định dẫn đến sự ra đời của nhà nước Thứ hai, cơ sở tồn tại của quyền lực nhà nước bao gồm nhiều yếu tố: Được sự thừa nhận rộng rãi về mặt xã hội (của tất cả các giai cấp, tầng lớp và các lực lượng xã hội); được hợp pháp hoá dưới các hình thức pháp lí; được bảo đảm bằng sức mạnh của của bộ máy nhà nước
và các tiềm năng kinh tế hợp pháp Thứ ba, phạm vi tác động của quyền lực nhà nước rất rộng lớn về thời gian, không gian và đối tượng Thứ tư, quyền lực nhà nước có tính thống nhất cao nhất đồng thời cũng có tính thứ bậc phức tạp nhất Thứ năm, quyền lực nhà nước được biểu hiện công khai với danh nghĩa chủ quyền nhân dân, chủ quyền quốc gia và được thừa nhận về mặt quốc tế
Với tính chất và những đặc điểm cơ bản này, mặc dù quyền lực nhà nước là một dạng đặc biệt của quyền lực chính trị nhưng ở các mức độ khác nhau, quyền lực nhà nước luôn hàm chứa trong nó nhiều yếu tố của các loại quyền lực khác nhau, được kết tinh bằng các phương pháp đặc thù, biểu hiện dưới các hình thức hết sức phong phú, đa dạng, tinh tế
và được hợp pháp hoá bằng các nguyên tắc pháp lí
3 Tính thống nhất của quyền lực nhà nước
Thống nhất là một trong những thuộc tính
cơ bản của quyền lực nhà nước Thuộc tính này xuất phát từ những cơ sở sau:
Xét về nguồn gốc, quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự thân mà bắt nguồn
từ quyền lực nhân dân, nhân danh quyền lực nhân dân và luôn chịu sự kiểm soát của quyền lực nhân dân Khi chưa có nhà nước thì đã có quyền lực nhân dân với nghĩa là quyền lực của
Trang 3cả cộng đồng Lúc đầu nhà nước còn tồn tại
với quy mô nhỏ, đa số các vấn đề quan trọng
đều được cộng đồng dân cư trong quốc gia đó
trực tiếp bàn và quyết định (dân chủ trực tiếp)
Khi quy mô nhà nước lớn dần lên, phương
thức dân chủ trực tiếp không thể thực hiện
được một cách phổ biến nữa thì phương thức
dân chủ gián tiếp, thông qua cơ quan dân cử
để tổ chức ra quyền lực nhà nước, đã được tìm
ra và ngày càng được áp dụng rộng rãi
Tuy nhiên, quyền lực nhân dân vẫn là cơ
sở và sự biểu hiện dễ nhận thấy là việc các nhà
nước phải tôn trọng các quyền bầu cử, bãi
miễn những đại biểu do nhân dân bầu ra và đối
với những vấn đề trọng đại của đất nước phải
đưa ra trưng cầu dân ý… Vì vậy, có thể nói
quyền lực nhà nước là sức mạnh của quyền lực
nhân dân đã được hợp pháp hoá dưới các hình
thức pháp lí và được trao cho bộ máy nhà
nước và các chủ thể xác định của bộ máy đó
dưới hình thức uỷ quyền Do đó, xét về bản
chất và cội nguồn xã hội thì quyền lực nhà
nước là một chỉnh thể thống nhất, không thể
chia cắt thành các bộ phân biệt lập Tuy nhiên,
xuất phát từ nhu cầu của tổ chức lao động
quyền lực, việc phân định quyền lực nhà nước
thành các các bộ phận (nhánh, yếu tố) để từ đó
có sự phân công hợp lí là cần thiết Nhưng sự
phân định đó phải được đặt trên cơ sở bảo đảm
tính thống nhất và tính chỉnh thể của quyền
lực nhà nước Có thể nói, tính thống nhất của
quyền lực nhà nước là vấn đề có tính nguyên
tắc và bảo đảm tính thống nhất của quyền lực
là yêu cầu có tính khách quan
Sự tương tác giữa quyền và lực, tính chất
và đặc điểm của quyền lực nhà nước tự nó đã
đòi hỏi quyền lực nhà nước phải được tổ chức
thống nhất Để tổ chức, quản lí và điều hành các vấn đề của một quốc gia trên các lĩnh vực rộng lớn, phức tạp, linh hoạt và nhạy cảm đòi hỏi nhà nước phải có một bộ máy có đủ các cơ cấu và sức mạnh theo nghĩa rộng nhất của từ này Bộ máy đó phải được tổ chức một cách khoa học, hợp lí, trên các cơ sở pháp lí vững chắc và phải có đủ sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự… Quyền lực được trao cho các cho các chủ thể mà tập trung quá mức hay phân tán, chia cắt, không rõ ràng về mặt pháp
lí thì sẽ dẫn đến sự gia tăng quyền, lạm quyền, tuỳ tiện, khó kiểm soát và tất yếu sẽ dẫn đến mâu thuẫn với tiềm năng sức mạnh bảo đảm cho việc thực hiện các quyền đó Sức mạnh
mà phân tán tất sẽ yếu và không thể bảo đảm cho việc thực hiện các quyền của các chủ thể quyền lực nhà nước Vì thế, trong bất cứ quốc gia nào bộ máy quyền lực nhà nước cũng được
tổ chức với mục tiêu bảo đảm tính thống nhất tối đa của quyền lực trong khả năng, điều kiện cho phép Cũng chính vì vậy mà bộ máy quyền lực đó thường do một lực lượng (một đảng chính trị) mạnh nhất nắm giữ Khi một đảng chính trị nắm giữ quyền lực nhà nước thì có điều kiện để bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước Tuy nhiên, quyền lực nhà nước xuất phát từ quyền lực nhân dân nên khi đảng chính trị cầm quyền là lực lượng tiên tiến, đại diện cho ý chí và lợi ích của nhân dân thì bộ máy quyền lực nhà nước được tổ chức nhằm bảo vệ và phục vụ lợi ích nhân dân Ngược lại, nếu đảng cầm quyền đại diện cho lực lượng phản động thì bộ máy quyền lực nhà nước có thể được sử dụng chỉ
để phục vụ cho lợi ích của lực lượng cầm quyền, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng
Trang 4của nhân dân Thực tế lịch sử nhân loại đã cho
thấy rõ điều này Thực tiễn tổ chức quyền lực
của nhiều nước cũng cho thấy, chỉ trong
trường hợp không có một đảng nào có đủ
sức mạnh và uy tín để nắm quyền lực nhà
nước thì vấn đề liên minh giữa các đảng mới
được đặt ra Và cả trong trường hợp này,
mặc dù các đảng đó luôn có sự đấu tranh gay
gắt với nhau nhưng ở những chừng mực nhất
định họ vẫn phải thoả hiệp với nhau để bảo
đảm cho quyền lực nhà nước có được sự
thống nhất tương đối để bảo đảm nhà nước
có thể quản lí và điều hành xã hội trong một
thời gian nhất định
Tính thống nhất của quyền lực nhà nước
hoàn toàn không phải là sự tập trung quyền
lực Tính thống nhất là thuộc tính thể hiện bản
chất của quyền lực còn tập trung quyền lực
hay phân tán quyền lực là phương thức, cơ chế
tổ chức và thực thi nội dung của quyền lực
Quyền lực nhà nước bao giờ cũng có tính
thống nhất nhưng cách thức và cơ chế tổ chức
và thực thi quyền lực nhà nước thì lại rất khác
nhau Trong chính thể quân chủ chuyên chế,
quyền lực tối cao tập trung trong tay một
người; trong chế độ quân chủ hạn chế quyền
lực tối cao đó đã có sự phân định tuy mức độ
còn hạn chế; trong chế độ cộng hoà sự phân
định quyền lực đã trở thành nguyên tắc phổ
biến, nhất là trong chính thể cộng hoà dân chủ
4 Sự phân định tương đối của quyền
lực nhà nước
Nếu như tính thống nhất của quyền lực nhà
nước là vấn đề tất yếu và xuyên suốt quá trình
tồn tại và phát triển của quyền lực nhà nước
thì sự phân định tương đối của quyền lực nhà
nước cũng xuất phát từ nhu cầu có tính khách
quan Nhưng đó là phương thức tổ chức và thực thi quyền lực và quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của nó có những đặc riêng: Sự xuất hiện chậm hơn, có nhiều biến dạng và luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Có thể giải thích về điều này như sau: Lúc đầu, khi quy mô nhà nước còn nhỏ, phương pháp dân chủ trực tiếp được sử dụng một cách phổ biến thì quyền lực nhà nước rất gần với quyền lực nhân dân, sự hài hoà giữa quyền và lực được bảo đảm, tình trạng lạm quyền, độc đoán chưa phổ biến, vấn đề phân định và phân công quyền lực chưa trở thành nhu cầu bức xúc Trong thời k× cổ đại và trung
cổ, mặc dù quy mô nhà nước đã lớn, tình trạng độc đoán, chuyên quyền đã diễn ra phổ biến, khiến cho quyền lực nhà nước ngày càng xa cách với quyền lực nhân dân, nhu cầu về phân định và phân công lao động quyền đã được được đặt ra nhưng nó mới chỉ được giải quyết trong giới hạn hẹp của những lực lượng nắm quyền, được sự bảo vệ bằng sức mạnh của giai cấp thống trị và dưới những sắc mầu thần bí của tôn giáo Nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân loại nhận thức được điều này đã tìm cách lí giải và phổ biến những tư tưởng tiến bộ đòi hỏi phải có những cải cách trong việc tổ chức
và thực thi quyền lực nhà nước Cuộc đấu tranh về tư tưởng đã diễn ra ở nhiều nơi trên nhiều hướng khác nhau, trong đó xu hướng đòi hỏi phải có sự phân định và phân công quyền lực một cách hợp lí nhằm tránh sự tập trung, cực quyền là một trong những hướng phổ biến Tuy nhiên, phải đến khi chế độ phong kiến bị lật đổ thì tư tưởng về phân định quyền lực để chống độc đoán, chuyên quyền mới có điều kiện để thực hiện
Trang 5Thêm vào đó, sự phát triển của mạnh mẽ
của khoa học kĩ thuật đã làm cho xã hội biến
đổi không ngừng trên những quy mô lớn hơn
và với nhịp độ nhanh hơn, các quan hệ xã hội
trở nên hết sức phong phú và phức tạp, đòi hỏi
nhà nước phải giải quyết Trong tình hình đó,
quyền lực nhà nước cũng có những thay đổi về
nội dung, hình thức và phương pháp tác động
Nhu cầu về tổ chức lao động quyền lực một
cách khoa học ngày càng trở nên bức xúc và
sự phân định và phân công quyền lực một cách
hợp lí đã được chấp nhận như một giải pháp
có thể đáp ứng nhu cầu khách quan đó
Nhu cầu về phân định và phân công quyền
lực nhà nước còn xuất phát từ chính nhà nước
Là đại diện chính thức của toàn xã hội, hoạt
động của nhà nước bao trùm tới tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, vì thế bộ máy nhà
nước là thiết chế lớn nhất và có cơ cấu phức
tạp nhất Tình hình đó đòi hỏi phải có sự tổ
chức lao động quyền lực một cách khoa học và
sự phân định quyền lực một cách tương đối sẽ
là giải pháp có thể vừa bảo đảm tính thống
nhất của quyền lực nhà nước, vừa phát huy
được sức mạnh của mỗi bộ phận quyền lực
trong quản lí và điều hành xã hội và tạo ra cơ
chế để bảo đảm cho quyền lực nhà nước được
tổ chức công khai, có thể kiểm soát được
nhằm chống độc đoán, lạm quyền vi phạm tự
do dân chủ của nhân dân
Việc phân định các bộ phận của quyền lực
nhà nước để làm cơ sở cho việc phân công lao
động khoa học là hết sức cần thiết Tuy nhiên,
sự phân định đó chỉ có tính tương đối Mỗi bộ
phận quyền lực nhà nước đều có những giới
hạn nhất định và trong giới hạn đó, những đặc
điểm riêng của mỗi bộ phận cần được tính đến
nhằm tìm ra những phương thức tổ chức và thực thi phù hợp nhưng mặt khác những nội dung cụ thể của mỗi bộ phận quyền lực cũng như giữa các bộ phận quyền lực lại có sự hoà quyện vào nhau để tạo ra quyền lực thống nhất Nhìn chung, sự phân định này là phương thức được áp dụng chủ yếu đối với những cơ cấu lớn của quyền lực nhà nước tối cao chứ không phải là phương thức có thể áp dụng đầy đủ cho mọi cơ cấu của quyền lực nhà nước
Hiện nay, thuyết phân lập quyền lực thành
ba bộ phận (nhánh) quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp được thừa nhận rộng rãi trên thế giới và nhiều nước đã vận dụng lí thuyết này để tổ chức bộ máy quyền lực của nhà nước mình Tuy nhiên, mức độ và hiệu quả nhiều sử dụng các yếu tố của lí thuyết này rất khác nhau Chẳng hạn, nhà nước Mĩ được tổ chức theo mô hình phân lập quyền lực cứng với cơ chế kiềm chế và đối trọng mạnh mẽ giữa ba nhánh quyền lực, trong khi đó bộ máy nhà nước Pháp, quê hương của Montersquier, lại được tổ chức không hoàn toàn theo lí thuyết này, khác xa với cơ chế kiềm chế đối trọng của Mĩ Một số nước khác đã tổ chức bộ máy quyền lực của mình theo phương thức phân định quyền lực nhà nước thành bốn quyền, trong đó quyền bầu cử được coi là một nhánh quyền quan trọng Một số nước khác lại phân định thành năm quyền, trong đó có quyền thanh tra cũng được tách ra thành một nhánh riêng… Điều này cho thấy sự cần thiết phải xem xét sự phân định quyền lực một cách đầy đủ hơn theo quan điểm kết hợp các yếu tố truyền thống và hiện đại mà trước hết là đặt nó trong mối quan hệ tương tác
Trang 6toàn diện trong một chỉnh thể thống nhất của
quyền lực nhà nước và tính đến các yếu tố
tác động từ bên ngoài tới quá trình tổ chức
và thực thi quyền lực nhà nước
5 Sự giới hạn, tương tác giữa các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp và sự cần
thiết phải có sự phân công phối hợp trong
việc thực hiện các quyền
Quyền lập pháp theo nghĩa chung nhất là
quyền làm ra pháp luật Quyền lập pháp được
coi là quyền lực thiêng liêng vì pháp luật là
những chuẩn mực pháp lí có tính xác định,
phổ biến, công khai, ổn định (tương đối) và có
thể dự liệu trước được; là phương tiện quan
trọng nhất để tổ chức, thực thi và kiểm soát
quyền lực nhà nước và bảo đảm tự do dân chủ
của công dân Quyền lập pháp được giao cho
cơ quan đại diện cao nhất do nhân nhân dân
bầu ra (quốc hội, nghị viện - sau đây gọi
chung là quốc hội) vì quốc hội được thành
lập ra bằng phương pháp dân chủ trực tiếp
và rộng rãi nhất, các đại biểu của quốc hội
do cử tri bầu ra và bãi miễn, quyền lực của
quốc hội là sự tiếp theo gần nhất của quyền
lực nhân nhân dân và do đó quốc hội được
xác định là cơ quan cao nhất của quyền lực
nhà nước
Quốc hội được trao những quyền rất quan
trọng và rộng lớn như: Quyền xác lập cơ cấu
tổng thể của bộ máy quyền lực nhà nước nói
chung và cơ cấu, bộ máy, chức năng thẩm
quyền và trách nhiệm của quyền hành pháp và
tư pháp nói riêng; quyền quyết định chính sách
tài chính, tiền tệ, ban hành các sắc thuế, phân
bổ và phê chuẩn ngân sách; quyền quyết định
vấn đề chiến tranh, hoà bình và các biện pháp
đặc biệt để bảo đảm quốc phòng và an ninh
quốc gia; quyền quyết định trưng cầu dân ý; quyền giám sát tối cao đối với các cơ quan hành pháp, tư pháp trong việc thực hiện hiến pháp và luật Xét trên bình diện tổng thể, quyền lập pháp của quốc hội là không có giới hạn vì trên tất cả các lĩnh vực đều cần phải có pháp luật Nhưng xét trên những bình diện cụ thể thì quyền lập pháp luôn có những giới hạn của nó Trước hết, quyền lập pháp của quốc hội luôn bị giới hạn bởi chính những nguyên tắc của pháp luật: a) Bảo đảm tính xác định pháp lí của các đạo luật do quốc hội ban hành
để các chủ thể pháp luật được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách an toàn, chắc chắn, tin tưởng và tự do; b) Bảo đảm tính phổ biến của các đạo luật, những chuẩn mực pháp lí phải là sự mô hình hoá của những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến, không chấp nhận sự tuỳ tiện; c) Bảo đảm tính công khai của pháp luật để mọi người liên quan đều được biết một cách nhanh nhất các quyền và nghĩa vụ của họ và để kiểm chứng tính đúng đắn của chúng; d) Bảo đảm tính ổn định tương đối của pháp luật, các chuẩn mực pháp lí phải có sự nhất quán, có hiệu lực thống nhất và ít thay đổi; đ) bảo đảm tính có thể dự liệu trước của pháp luật, các chuẩn mực pháp
lí phải có tính định hướng, kế thừa và phát triển, không chấp nhận các chuẩn mực pháp lí hồi tố và những yêu cầu của pháp luật không thể thực hiện được Thứ hai, do bị quy định bởi tính tối cao của chủ quyền nhân dân nên quyền lực của quốc hội cũng chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định do hiến pháp quy định trong sự hài hoà với các quyền thuộc hành pháp, tư pháp và các quyền của công dân (trong hiến pháp của một số nước còn quy
Trang 7định những việc quốc hội không được làm);
đồng thời, quyền lập pháp của quốc hội còn bị
hạn chế bởi cơ chế kiểm tra, bảo đảm tính hợp
hiến của đạo luật do quốc hội ban hành (sự can
thiệp của tư pháp); bởi yêu cầu về tính hợp lí,
tính khả thi của các đạo luật trong thực tế, cơ
chế quản lí, điều hành và các điều kiện bảo đảm
cho tổ chức và hoạt động của quốc hội nói
riêng và cho việc thực thi pháp luật nói chung
(sự can thiệp của hành pháp) Thứ ba, thực tiễn
còn cho thấy quốc hội không thể một mình thực
hiện quyền lực của mình mà luôn cần đến sự
phối hợp của hành pháp và tư pháp Chẳng hạn,
trong công tác lập pháp, kiểm tra việc thực thi
hiến pháp và luật quốc hội luôn cần đến sự
phối hợp với các cơ quan hành pháp và tư pháp
và các cơ quan này luôn có vai trò quan trọng
Quyền hành pháp được hiểu là quyền thi
hành (chấp hành) pháp luật và quyền này được
giao cho các cơ quan hành chính nhà nước
(chính phủ, các bộ ) Tuy nhiên, xuất phát từ
tính chất và đặc điểm đặc thù của hệ thống cơ
quan hành chính nhà nước, nội hàm của quyền
hành pháp được mở rộng, bao gồm hai nội
dung chính là quyền chấp hành pháp luật do
quốc hội ban hành ra và quyền hành chính,
chủ động, linh hoạt trong việc quản lí, điều
hành các lĩnh vực của đời sống xã hội Như
vậy, quyền hành cần được hiểu là quyền chấp
hành và quyền điều hành của cơ quan hành
chính nhà nước Hai tính chất này của quyền
hành pháp cho thấy tính hợp pháp và có thể dự
liệu trước được là yêu cầu có tính nguyên tắc
đối với cơ quan hành pháp đồng thời cũng cho
thấy tính chủ động, quyết đoán, linh hoạt và
sáng tạo của cơ quan hành pháp cũng là yêu
cầu không thể thiếu Chính vì thế, quyền lực
của cơ quan hành chính nhà nước mặc dù bị giới hạn bởi những khuôn khổ pháp luật do cơ quan lập pháp đề ra nhưng phạm vi các quyền của bộ máy hành pháp lại rất rộng lớn và đòi hỏi bộ máy đó phải là cơ cấu lớn nhất của bộ máy nhà nước, được tổ chức theo những nguyên tắc đặc thù, bảo đảm thực hiện một cách thống nhất, thông suốt và rộng khắp trên toàn lãnh thổ các chức năng: a) Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, một trong những chức năng đặc thù của quyền hành pháp, hết sức phức tạp, được tiến hành thường xuyên về thời gian, rộng khắp về không gian và địa điểm và có tác động trực tiếp tới tất cả mọi người dân, mọi tổ chức và luôn được chú trọng đầu tư nhiều nhất cả về tổ chức bộ máy, lực lượng con người và các điều kiện vật chất kÜ thuật; b) Chức năng quản lí điều hành, một chức năng có nội dung rất rộng, xuyên suốt tất cả các lĩnh vực như kinh
tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng với các mặt hoạt động hết sức phong phú và phức tạp gồm tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán, kiểm toán, thống kê, chứng khoán, tín dụng, bảo hiểm, tài sản công, khoa học, công nghệ, môi trường, tài nguyên thiên nhiên, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng cơ bản, bưu chính viễn thông, nông nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, du lịch, đô thị Chức năng quản lí và điều hành của quyền hành pháp một mặt phải phù hợp với hiến pháp và luật nhưng mặt khác nó đòi hỏi
cơ quan hành pháp phải có đủ năng lực và thẩm quyền để giải quyết tất cả các vấn đề thuộc phạm vi quản lí, điều hành một cách nhanh chóng và có hiệu quả Chính nhu cầu quản lí điều hành các hoạt động thực tiễn và
Trang 8việc chủ động, sáng tạo giải quyết các vấn đề,
nhất là các vấn đề có sự biến đổi hoặc phát
sinh mới một các kịp thời và có hiệu quả của
cơ quan hành pháp là một trong những yếu tố
quan trọng để hình thành cơ sở khoa học và
thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách, pháp
luật bảo đảm tính thống nhất và phát huy sức
mạnh của quyền lực nhà nước nói chung; c)
Chức năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, thể hiện trách nhiệm của
nhà nước đối với công dân Chức năng này
bao gồm nhiều hoạt động cụ thể và được tiến
hành một cách chủ động, linh hoạt bằng nhiều
phương pháp khác nhau như theo dõi, kiểm
tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời các
hành vi vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân đồng thời cũng là những hoạt
động thường nhật được tiến hành theo đề nghị,
yêu cầu của công dân Trong xu hướng mở
rộng dân chủ và phát huy quyền lực nhân dân,
phát huy yếu tố con người, các quyền con
người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá và
xã hội được tôn trọng, khối lượng các quyền
cơ bản của công dân ngày càng được ghi nhận
nhiều hơn thì phạm vi của chức năng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ngày
càng mở rộng và việc thực hiện có hiệu quả
chức năng này có ý nghĩa chính trị xã hội ngày
càng lớn, tạo ra niềm tin của nhân dân đối với
quyền hành pháp nói riêng và quyền lực nhà
nước nói chung; d) Chức năng tổ chức thực thi
pháp luật, cơ quan hành pháp phải tiến hành
các hoạt động để bảo đảm cho pháp luật được
tôn trọng như: Phổ biến, giáo dục pháp luật
cho cán bộ và nhân dân, kiểm tra việc thực
hiện pháp luật, kịp thời ngăn chặn và xử lí kịp
thời các vi phạm pháp luật Bên cạnh đó, các
cơ quan hành pháp còn có chức năng lập quy, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để
cụ thể hoá, giải thích, hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật do các cơ quan lập pháp ban hành, kịp thời điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh, đáp ứng nhu cầu quản lí, điều hành Hoạt động lập quy có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần khắc phục sự thiếu pháp luật và bảo đảm cho hệ thống hành pháp hoạt động thông suốt, nhất quán; đ) Chức năng kiểm tra, thanh tra, mặt hoạt động không thể thiếu của các cơ quan hành pháp để tiến hành xem xét và xử lí đối với các vi phạm của công dân hoặc nhân viên của bộ máy nhà nước, khi các vi phạm này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng trách nhiệm dân sự Các chế tài được áp dụng trong trường hợp này là các chế tài hành chính, vật chất và kỉ luật Chức năng này có ý nghĩa quan trọng, nó bảo đảm cho quyền hành pháp được tôn trọng, bảo vệ trật tự
xã hội, bảo đảm kỉ luật lao động và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; e) Chức năng tổ chức bộ máy hành pháp: Các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành pháp nói riêng do cơ quan lập pháp ban hành giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, cơ sở pháp lí đó chưa
đủ để có thể xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp theo yêu cầu, vì vậy, đòi hỏi phải có sự
cụ thể hoá bằng các văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan hành pháp Ví dụ, để một bộ
có thể hoạt động có hiệu quả theo đúng chức năng, thẩm quyền được giao thì cần phải có nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về
vị trí, tính chất, chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế tổ chức và hoạt động; để sắp xếp, bố trí cán bộ, phát triển và quản lí nguồn
Trang 9nhân lực của bộ máy hành pháp thì cần phải có
các văn bản quy định cụ thể về tiêu chuẩn,
cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm, khen thưởng,
kỉ luật Bên cạnh đó những quy định về thủ
tục tiến hành các hoạt động để giải quyết các
mối quan hệ theo chiều dọc và chiều ngang,
giữa các cơ quan hành pháp với nhau, giữa cán
bộ của cơ quan đó với công dân cũng hết sức
phức tạp và thuộc về quyền hành pháp Ngoài
ra, các hoạt động tác nghiệp đặc thù trong lĩnh
vực tổ chức bộ máy của quyền hành pháp cũng
là những nội dung thuộc chức năng này
Quyền tư pháp được hiểu theo nghĩa chung
nhất là quyền tài phán và quyền này được giao
cho toà án Trước đây quyền tư pháp được
hiểu theo nghĩa hẹp, chủ yếu đó là quyền xét
xử của toà án đối với các việc về hình sự và
dân sự Cùng với thời gian, khái niệm quyền
tư pháp được mở rộng tới cả những pham vi
xét xét tính hợp hiến của văn bản luật, tính
hợp pháp của các hành vi hành chính và lao
động Các thiết chế toà án mới ra đời, bên
cạnh các toà án tư pháp truyền thống trong
nhiều nước các toà án mới như: Toà án hiến
pháp, toà án hành chính, toà án lao động đã
được thành lập Cơ quan thực hành quyền tư
pháp được đặc trưng bởi tính độc lập của toà
án, khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật nhưng nguyên tắc này tự nó đã
giả định rằng pháp luật mà cơ quan lập pháp
đề ra là đúng và đủ Đồng thời, nếu như vậy
thì tính độc lập của toà án cũng hàm ý là thẩm
phán phải phục tùng đối với pháp luật; mọi
hành vi của thẩm phán đều phải tuân thủ các
quy tắc pháp lí Thực tiễn lại cho thấy dường
như điều đó là không thể có được Những
nguyên tắc pháp luật đặt ra đối với cơ quan lập pháp dường như chỉ là mô hình lí tưởng, các luật do quốc hội lập ra hoặc là không đủ hoặc
là có những bộ phận pháp luật không có tính khả thi và thậm chí có thể trái với hiến pháp Thực tiễn đó đã làm phát sinh nhu cầu phải
mở rộng khái niệm về quyền tư pháp, phải cổ
vũ cho việc sử dụng án lệ như một nguồn bổ sung của pháp luật; toà án có quyền phán xử
về tính hợp hiến của những đạo luật do cơ quan lập pháp đặt ra và cả tính hợp pháp của các văn bản dưới luật cũng như các hành vi hợp pháp của các cơ quan hành pháp Kết quả
là, nguyên tắc tư pháp độc lập cũng không thể
có nghĩa toàn vẹn của nó nữa và với xu hướng mở rộng quyền tư pháp đó, đặt ra nhu cầu phải có sự kiểm soát về tính hợp pháp của các cơ quan tư pháp
Tóm lại, các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp là những bộ phận quyền lực nhà nước Mỗi bộ phận đều có sự độc lập nhất định nhưng giữa chúng luôn có sự tác động qua lại, đan xen và hoà quyện với nhau Việc phân định rạch ròi mỗi bộ phận quyền lực đó chỉ có thể thực hiện được về mặt lí thuyết còn trên thực tiễn là không thể thực hiện được Vì vậy, giải pháp tốt nhất và có ý nghĩa tực tiễn nhất
là trên cơ sở xác định rõ tính chất, đặc điểm, nội dung, hình thức và phương pháp biểu hiện đặc thù của mỗi loại quyền lực để xây dựng cơ sở khoa học cho việc tìm ra mức độ hợp lí trong việc phân công và phối hợp thực hiện có hiệu quả cao nhất mỗi loại quyền lực
đó nói riêng và quyền lực nhà nước nói chung (chúng tôi sẽ bàn kĩ về vấn đề này trong bài viết sau)./